Đặc biệt hiện nay cùng với sự tiến bộ của công nghệ số, máy tính có thể tính toán một cách nhanh chóng những phép tính phức tạp và nhờ vậy đã có nhiều phần mềm tính toán hóa học lượng tử
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
VŨ THỊ HUYỀN ANH
KIỂM NGHIỆM CƠ CHẾ PHẢN ỨNG 2NO(k) → N2 (k)+ O2(k) BẰNG
PHƯƠNG PHÁP TÍNH HÓA HỌC LƯỢNG TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
VŨ THỊ HUYỀN ANH
KIỂM NGHIỆM CƠ CHẾ PHẢN ỨNG 2NO(k) → N2 (k)+ O2(k) BẰNG
PHƯƠNG PHÁP TÍNH HÓA HỌC LƯỢNG TỬ
Chuyên ngành: Hóa lý thuyết và hóa lý
Mã số: 60440119
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN NHIÊU
TS VŨ VIỆT CƯỜNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Lời cảm ơn
===***===
Em xin gửi tới PGS.TS Phạm Văn Nhiêu và TS Vũ Việt Cường lời cảm ơn với lòng tri ân sâu sắc nhất Em rất cảm ơn các thầy đã tận tình hướng dẫn, dành thời gian, công sức để giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn này, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy, cô trong khoa Hóa học – trường ĐHKHTN – ĐHQGHN với lòng tri ân sâu sắc Trong suốt quá trình học tập tại trường, các thầy cô đã chỉ bảo cho em cái nhìn tổng quan, một định hướng vững chắc trong việc tư duy và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới GS.Keiji Morokuma – Đại học Kyoto và
GS Richard Wang – Đại học Quốc gia Singapore đã cho chúng tôi sử dụng phần mềm Gaussian 09 để phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp của mình
Đồng thời, con cũng xin gửi lời cảm ơn tới bố mẹ, các anh chị em, bạn bè
và người thân đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ con trong quá trình hoàn thành khóa luận của mình
Do còn giới hạn về mặt thời gian cũng như những kinh nghiệm của bản thân nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Trong quá trình học tập về sau em sẽ cố gắng học hỏi và tìm hiểu thêm để bổ sung những hạn chế trên Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến trực tiếp của quý thầy cô và bạn bè
Một lần nữa, em xin trân trọng cảm ơn với tất cả tấm lòng!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Người thực hiện
Vũ Thị Huyền Anh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I Lí do chọn đề tài 1
II Mục đích nghiên cứu 2
III Nhiệm vụ nghiên cứu 3
IV Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Cơ sở lý thuyết hóa học lượng tử 4
1.1.1 Phương trình Schrodinger 4
1.1.2 Sự gần đúng Born – Oppenheirmer 5
1.1.3 Phương pháp biến phân 6
1.1.4 Thuyết trường tự hợp Hartree – Fock 8
1.1.5 Phương trình Roothaan 9
1.2 Cơ sở của các phương pháp tính gần đúng lượng tử 11
1.2.1 Giới thiệu các phương pháp tính gần đúng lượng tử 11
1.2.2 Tương quan electron 18
1.2.3 Bộ hàm cơ sở 19
1.2.4 Phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT) 22
1.3 Bề mặt thế năng ( Potential Energy Surface: PES) 27
1.3.1 Bề mặt thế năng 27
1.3.2 Điểm yên ngựa và đường phản ứng 28
1.3.3 Tọa độ phản ứng thực ( Intrinsic Reaction Coordinate – IRC) 29
1.4 Cơ sở lí thuyết về động hóa học 30
1.4.1 Tốc độ phản ứng 30
1.4.2 Cơ chế phản ứng, phân tử số và bậc của phản ứng 32
1.4.3 Hằng số tốc độ phản ứng 35
1.4.4 Phương pháp nghiên cứu động học của phản ứng phức tạp 37
Trang 51.4.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tốc độ phản ứng Năng lượng hoạt hóa 37
1.4.6 Chất xúc tác 39
1.4.7 Thuyết phức hoạt động (Còn gọi là trạng thái chuyển tiếp) 41
CHƯƠNG 2: HỆ CHẤT NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Hệ chất nghiên cứu 43
2.2 Phương pháp nghiên cứu 50
2.2.1 Phần mềm tính toán 50
2.2.2 Lựa chọn phần mềm và phương pháp tính toán 52
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 54
3.1 Lựa chọn bộ hàm và phương pháp tính 54
3.2 Kết quả tính toán 55
3.2.1 Kết quả tính toán lí thuyết 55
3.2.2 Kết quả tính toán hóa học lượng tử 57
KẾT LUẬN 84
ỨNG DỤNG TRONG GIẢNG DẠY HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ………
THÔNG……… 86
Trang 6DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Kí hiệu Tiếng Anh Tiếng Việt
NPA Natural Population Analysis Phân tích mật độ thuần khiết
phương
GGA Generalised Gradient Approximation Sự gần đúng gradient suy
rộng
Trang 7TS Transition State Trạng thái chuyển tiếp
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: So sánh năng lượng E (au) , thời gian t (s) của các phương pháp tính và
bộ hàm khác nhau (thực hiện tính toán với phân tử O2) 54
Bảng 3.2 Năng lượng liên kết của phân tử N2O, NO và nguyên tử O 57
Bảng 3.3: Năng lượng E (au) các trạng thái của phản ứng:2NO→N2O+ O 60
Bảng 3.4: Năng lượng E (kcal/mol) các trạng thái của phản ứng:2NO→N2O+O 62
Bảng 3.5: Năng lượng E các trạng thái của phản ứng 2NO → N2O + O 64
Bảng 3.6 Năng lượng liên kết của phân tử N2O, N2 và nguyên tử O 65
Bảng 3.7: Năng lượng E (au) các trạng thái của phản ứng N2O→N2+O 66
Bảng 3.8 Năng lượng liên kết của phân tử O2, NO và nguyên tử O, N 68
Bảng 3.9: Năng lượng E (au) các trạng thái của phản ứng:NO+Ok2 N+O2 69
Bảng 3.10: Năng lượng E (kcal/mol) các trạng thái của phản ứng:
NO+O 2 N + O2 70
Bảng 3.11: Năng lượng E các trạng thái của phản ứng:NO+O2 N+O2 72
Bảng 3.12 Năng lượng liên kết của phân tử O2, NO và nguyên tử O, N 73
Bảng 3.13: Năng lượng E các trạng thái của phản ứng:N+NOk3 N2+O 75
Bảng 3.14 Năng lượng liên kết của phân tử O2 và nguyên tử O 76
Bảng 3.15: Năng lượng E các trạng thái của phản ứng: 2O+M↔O2+ M 77
Bảng 3.16: Giá trị các đại lượng động học Hcorr, Gcorr, H0, G0, 0 298K H , 0 298K G của nguyên tử, phân tử trong cơ chế phản ứng 80
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Chu kì phản ứng xúc tác 40
Hình 1.2: Diễn biến năng lượng của hệ phản ứng có và không có xúc tác 41
Hình 1.3 Biến thiên thế năng theo đường phản ứng 42
Hình 2.1: Cấu tạo của N2O 44
Hình 2.2: Cấu tạo của nito mono oxit NO 45
Hình 2.3: Cấu tạo của N2 46
Hình 2.4: Chu trình nitrogen 48
Hình 2.5: Cấu tạo của O2 48
Hình 3.1 Phân tử N2O, NO và nguyên tử O sau khi chạy mô phỏng động lực học bằng Gaussian 57
Hình 3.2: Đường cong thế năng giả định của phản ứng 2NO → N2O + O theo góc liên kết ONN = 1800, 1500, 1350, 1200, 900 62
Hình 3.3: Hình học tối ưu của các chất trung gian, trạng thái chuyển tiếp của phản ứng 2NO → N2O + O 63
Hình 3.4: Đường cong thế năng giả định của phản ứng 2NO → N2O + O 64
Hình 3.5: Phân tử N2O, N2 và nguyên tử O sau khi chạy mô phỏng động lực học bằng Gaussian 65
Hình 3.6: Hình học tối ưu của các chất trung gian, trạng thái chuyển tiếp của phản ứng N2O → N2 + O 66
Hình 3.7: Đường cong thế năng giả định của phản ứng N2O → N2 + O 67
Hình 3.8: Phân tử NO, O2 và nguyên tử O, N sau khi chạy mô phỏng động lực học bằng Gaussian 67
Hình 3.9: Đường cong thế năng giả định của phản ứng NO + O 2 N + O2 theo góc liên kết NOO = 1800, 1500, 1350, 1200, 900 70
Hình 3.10: Hình học tối ưu của các chất trung gian, trạng thái chuyển tiếp của phản ứng NO + O 2 N + O2 71
Hình 3.11: Đường cong thế năng giả định của phản ứng NO+O2 N+O2 72
Trang 9Hình 3.12: Phân tử NO, N2 và nguyên tử O, N sau khi chạy mô phỏng động lực học bằng Gaussian 73
Hình 3.13: Hình học tối ưu của các chất trung gian, trạng thái chuyển tiếp của phản
ứng N + NO k3 N2 + O 74
Hình 3.14: Đường cong thế năng giả định của phản ứng N+NOk3 N2+O 75
Hình 3.15: Phân tử O2 và nguyên tử O sau khi chạy mô phỏng động lực học bằng Gaussian 76
Hình 3.16: Hình học tối ưu của các chất trung gian, trạng thái chuyển tiếp của phản
ứng 2O + M ↔ O2 + M 77
Hình 3.17: Đường cong thế năng giả định của phản ứng 2O + M ↔ O2 + M 78
Trang 10MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hiện nay, khoa học công nghệ đã và đang đạt được những thành tựu vượt bậc đánh dấu những bước phát triển quan trọng trọng sự phát triển chung của toàn nhân loại Bên cạnh đó, khoa học kĩ thuật phát triển vượt bậc cũng kéo theo những hệ lụy về môi trường Ô nhiễm môi trường đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của conngười
và hệ sinh thái Trong số những thủ phạm gây ra sự ô nhiễm này phải kể sự có mặt của khí nitoxit (NO) và đinitoxit (N2O)
NO gây thiệt hại lớn cho môi trường, không những là một trong những thành phần chính của mưa axit, mà còn hình thành sương khói quang hóa trong khí quyển, phá hủy tầng ozon N2O có mặt tự nhiên trong không khí như một phần chu trình nitơ của trái đất và vô số các nguồn tự nhiên Tuy nhiên những hoat động của con người trong sản xuất nông nghiệp, đốt cháy nhiên liệu, quản lý nước thải và các quá trình công nghiệp, giao thông vận tải… đang gia tăng hàm lượng N2O trọng khí quyển Mặc dù là một khí được sử dụng trong y khoa như một loài thuốc an thần, tuy nhiên nếu nồng độ khí N2O đi vào cơ thể vượt quá 50ppm (theo viện quốc gia
về hỗ trợ kinh tế NIOSH) có thể gây đau đầu, giảm khả năng nghe nhìn, tổn thương đến hệ thần kinh N2O còn được nhìn thấy là một khí gây hiệu ứng nhà kính Theo
số liệu thống kê từ tổ chức bảo vệ môi trường Mĩ (US Environmental Protection Agency ) 1 pound (450g) N2O làm ảnh hưởng đến sự nóng lên toàn cầu gấp trên
300 lần so với một pound CO2 Vì vậy vấn đề cấp bách đặt ra cho chúng ta hiện nay
là thực hiện công cuộc cư dân toàn cầu cùng nhau hành động để bảo vệ môi trường, bảo vệ chính cuộc sống của mỗi chúng ta Đứng trên lĩnh vực nghiên cứu, để có những biện pháp tích cực và hiệu quả trong công cuộc bảo vệ môi trường thì chúng
ta cần hiểu rõ bản chất của các quá trình gây ô nhiễm trên
Chính vì vậy, sự chuyển hóa các hợp chất NOx thành các chất thân thiện với môi trường baogồm N2 đang nhận được sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu Trong đó, việc phân hủy các hợp chất của nitơ có thể theo con đường trực tiếp
Trang 112NOx → N2 + xO2 hoặc gián tiếp bằng cách sử dụng các chất khử như CO, H2 Tuy nhiên, điều kiện để phản ứng xảy ra và đạt hiệu suất cao thường đòi hỏi phải tiến hành trong những điều kiện khắc nghiệp như áp suất, nhiệt độ lớn
Hóa học lượng tử cho phép tiến hành nghiên cứu lí thuyết về cấu trúc phân
tử và khả năng phản ứng, giúp tiên đoán về khả năng phản ứng trước khi tiến hành thí nghiệm Đặc biệt hiện nay cùng với sự tiến bộ của công nghệ số, máy tính có thể tính toán một cách nhanh chóng những phép tính phức tạp và nhờ vậy đã có nhiều phần mềm tính toán hóa học lượng tử ra đời như Gaussian, Molcas, ADF, Turbomole, VASP… Áp dụng các phần mềm này để tính toán không những cung cấp các thông tin về cơ chế phản ứng, bề mặt thế năng, thông số động học… mà còn cho chúng ta biết các thông tin về phổ hồng ngoại, phổ cộng hưởng từ hạt nhân… Như vậy, các phương pháp khóa học lượng tử đã trở thành một công cụ đắc lực trong việc nghiên cứu, khảo sát các phản ứng hóa học trong các điều kiện khác nhau
mà đôi khi thực nghiệm rất khó thực hiện hoặc không thể thực hiện được
Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài:
“ Kiểm nghiệm cơ chế phản ứng 2NO(k) → N 2 (k) + O 2 (k) bằng phương pháp hóa học lượng tử”
Cấu trúc của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Hệ chất nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
II Mục đích nghiên cứu
Sử dụng lý thuyết hóa học lượng tử và các phương pháp tính toán gần đúng tốt áp dụng cho hệ nghiên cứu nhằm thu được các tham số về cấu trúc, tần số dao động và các loại năng lượng… của hệ các chất tham gia, các chất sản phẩm, các chất trung gian và các trạng thái chuyển tiếp qua đó thiết lập bề mặt thế năng đầy đủ
để giải thích cơ chế phản ứng
Trang 12Với các kết quả nghiên cứu, chúng tôi hy vọng các thông số thu được có thể được sử dụng làm thông tin đầu vào cho việc nghiên cứu nhiệt động học và động lực học tiếp theo, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu hóa học thực nghiệm
III Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý thuyết, các phương pháp tính toán và các phần mềm liên quan trọng hóa học lượng tử
Sưu tầm các bài báo và các tài liệu liên quan đến hệ chất nghiên cứu
Lựa chon phương pháp tính toán tốt nhất để kháo sát hệ chất nghiên cứu
Dự đoán, kiểm nghiệm các hướng phản ứng, xây dựng bề mặt thế năng đầy
đủ và lựa chọn được cơ chếphù hợp của phản ứng
IV Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phần mềm Gaussian 2009 và các phần mềm hỗ trợ như Gauss View, Chemcraft, Chemoffice… để nghiên cứu
Sử dụng phương pháp DFT để tối ưu hóa cấu trúc và tính năng lượng tương quan với bộ hàm 6-311G cho các nguyên tố N, O, H Cuối cùng chúng tôi dùng các kết quả tính toán năng lượng tương quan để xây dựng bề mặt thế năng (PES) của hệ chất nghiên cứu, từ đó rút ra được những kết luận quan trọng cho quá trình nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Cơ sở lý thuyết hóa học lượng tử [1, 8, 10, 12]
1.1.1 Phương trình Schrodinger
Phương trình Schrodinger được đưa ra bởi nhà vật lý Schrodinger vào năm
1926, với tên gọi phương trình Schrodinger phụ thuộc thời gian hay phương trình sóng Schrodinger
Sự biến đổi trạng thái của hạt vi mô theo thời gian của một hệ lượng tử được mô tả bởi phương trình Schrodinger có dạng tổng quát:
Trong hệ kín hoặc hệ chuyển động trong môi trường ngoài không đổi, thì toán tử Hamilton Ĥ không phụ thuộc vào thời gian và trùng với toán tử năng lượng toàn phần Ĥ(q) và trạng thái của hệ khi đó được gọi là trạng thái dừng: ψ(q,t)→ψ(q) Phương trình Schrodinger ở trạng thái dừng:
Trang 14Các hệ hóa học (nguyên tử, phân tử,…) có thể xem như là một hệ thống ổn định, bền vững theo thời gian, có thể dùng phương trình (1.2) để xác định hàm sóng
(1.4) Với A, B kí hiệu cho từng hạt nhân và i, j kí hiệu cho electron trong hệ
MA: khối lượng hạt nhân A
ZA, ZB: điện tích của hạt nhân A, B
rij: khoảng cách giữa electron thứ i và j, riA: khoảng cách giữa electron thứ i
và hạt nhân A, rAB: là khoảng cách giữa hạt nhân A và B
Khi giải phương trình Schrodinger người ta thu được các hàm sóng ψ mô tả trạng thái của hệ lượng tử và khi ở trạng thái đó, hệ lượng tử có năng lượng E Tuy vậy, nguyên tử, phân tử là những hệ vô cùng phức tạp, nên trong thực tế phương trình Schrodinger không giải được một cách chính xác Để giải phương trình Schrodinger cho các hệ lượng tử phức tạp, người ta đưa ra những quan điểm và lý thuyết gần đúng áp đặt lên hệ
1.1.2 Sự gần đúng Born – Oppenheirmer
Toán tử Hamilton đầy đủ cho một hệ phân tử:
) ( )
( )
, ( )
( )
elec
R V
r V r R V
R T
r T
Ĥeψe = Eeψe (1.5)
Trang 15Phép gần đúng Born – Oppenheirmer xem các electron chuyển động trong trường hạt nhân tĩnh điện (động năng hạt nhân bằng 0), lúc đó số hạng tương tác tĩnh điện giữa các hạt nhân nguyên tử là hằng số nên có thể tách số hạng này ra khỏi toán tử Hamilton của electron Lúc này toán tử Hamilton trở thành:
Ĥe = - ∑ ∑ ∑
Hàm ψe phụ thuộc tọa độ electron và tham số tọa độ hạt nhân
Đối với hệ nhiều electron sẽ xảy ra tương tác giữa các electron Do đó vấn
đề cốt lõi là xử lý thế năng tương tác giữa các electron Vì không thể tính chính xác đại lượng này nên trong thực tế người ta lấy giá trị trung bình ̅̅̅̅̅ nhằm mục đích làm cho phương trình Schrodinger có thể giải được mà kết quả vẫn đảm bảo độ chính xác nào đó đủ để giải thích các dữ kiện thực nghiệm
Vì phân tử không có tính đối xứng cầu nên không thể dùng phương pháp Hartree – Fock cho phân tử Roothaan đã thành công trong việc áp dụng phương trình Hartree – Fock cho các MO được xây dựng dưới dạng tổ hợp tuyến tính các obitan nguyên tử:
cij là các hệ số khai triển và m là kích cỡ của tập hàm cơ sở, cij có thể xác định bằng phương pháp biến phân
1.1.3 Phương pháp biến phân
Mục đích của phương pháp biến phân là tìm ra các cij gần đúng nhất với hàm sóng thực tế ψ ứng với năng lượng cực tiểu theo tập hàm cơ sở đã chọn Năng lượng tính theo phương trình Schrodinger:
Trang 16ψ = c1υ1 + c2υ2 + ….+ cnυn (1.10) Đặt (1.10) vào (1.8) nhận thấy các trị số của E phụ thuộc vào giá trị của cj Theo nguyên lý biến phân, những hệ số này phải chọn sao cho trị số của E là cực
tiểu Coi các cj như là các biến số và E phụ thuộc các biến số đó ∫
1C2…Cu).Điều kiện cực tiểu năng lượng: dE/dcj = 0 (1.11) Xét với hệ 2 hạt, thực hiện vi phân (1.11) ta được hệ phương trình tuyến tính thuần nhất với ψ = c1υ1 + c2υ2 là { ) )
) ) (1.12) Đối với hệ có n hạt, thực hiện vi phân (1.11) đối với hàm sóng (1.10) ta được hệ phương trình tuyến tính thuần nhất có dạng: { ) ) )
) ) )
) ) )
(1.13) Hệ phương trình (1.13) có thể viết gọn thành: ∑( ) (1.14) Trong đó i là số thứ tự của phương trình, j là số thứ tự của các số hạng Hệ phương trình (1.13) có nghiệm khác 0 khi định thức thế kỉ lập từ phương trình trong hệ trên bằng 0: | |
| |
Hay
│Hij – ESij│= 0 (1.15)
Trang 17Giải định thức thế kỉ ta tìm được biểu thức đối với năng lượng E Đặt giá trị của E vào hệ phương trình (1.13) ta tìm được các hệ số cj từ đó suy ra hàm sóng cần tìm
1.1.4 Thuyết trường tự hợp Hartree – Fock
Tất cả các phương pháp tính obitan phân tử hiện đại (ab initio và bán kinh nghiệm) đều sử dụng phương pháp tính gần đúng Hartree – Fock (HF) để giải gần đúng hàm sóng phân tử Từ quan điểm vật lý về trường thế hiệu dụng trung bình hóa đối với mỗi electron hợp bởi thế hút của hạt nhân và thế đẩy trung bình hóa do tất cả các electron khác sinh ra
Hàm sóng thích hợp mô tả trạng thái mỗi electron là hàm obitan – spin: ψ(x) được xác định bằng tích của hàm không gian ψ(q) với hàm spin χ(σ) (hàm spin
kí hiệu α nếu ms = + và β nếu ms = )
Ψ(x) = υ(q).χ(σ) (1.16) Với x là tọa độ obitan – spin; σ là tọa độ spin; q là tọa độ không gian
Hàm sóng phản đối xứng đơn giản nhất được sử dụng để mô tả trạng thái cơ bản của hệ N electron là một định thức Slater:
)
√ |
) ) ) ) ) )
| (1.17)
Với các chỉ số i ở ψi là bộ 4 số lượng tử; xi là tọa độ obitan – spin i
Theo nguyên lý biến phân “Hàm sóng tốt nhất được xác định theo định thức Slater là hàm sóng ứng với năng lượng cực tiểu:
Trang 18VHF(i) là thế năng trung bình của electron thứ i trong sự có mặt của những electron khác
Phương pháp gần đúng Hartree – Fock đã thay nhiều hệ electron phức tạp bằng N hệ một electron, trong đó sự đẩy của 2e được xử lý trung bình hóa Thế năng Hartree – Fock VHF (i) phụ thuộc vào những obitan – spin của những electron khảo sát Phương trình Hartree – Fock (1.18) không tuyến tính và phải theo phương pháp “lặp đi lặp lại” hay còn gọi là phương pháp trường tự hợp SCF (Self Consistent field) Trong phương pháp này, từ những hàm obitan – spin dự đoán ban đầu, đối với mỗi electron khác (VHF(i)) Tiếp theo giải phương trình (1.18) để xác định bộ obitan – spin mới Sau đó, dùng bộ obitan mới này để tính VHF(i) mới Lặp lại các quá trình này cho đến khi trường VHF(i) và obitan – spin không còn thay đổi nữa Kết quả tìm được sẽ là:
∑ ∑ ∑ ( ) (1.20) Trong đó: Jij và Kij là những tích phân 2 electron
Chất lượng của kết quả HF phụ thuộc vào kích cỡ và chất lượng của hệ hàm
cơ sở.Tuy nhiên độ chính xác của HF bị hạn chế bởi việc sử dụng các hiệu ứng liên
Trang 19Biểu diễn mỗi hàm sóng trong không gian trong định thức Slater dưới dạng một tổ hợp tuyến tính của các hàm cơ sở (Фμ) theo kiểu MO – LCAO:
và được gọi là phương trình Roothaan Phương trình Roothaan được viết gọn dưới dạng:
Giải phương trình Roothaan ta được εi và các hệ số cμi
Giải phương trình Roothaan sử dụng phương pháp lặp SCF Do việc giải phương trình trên gặp nhiều khó khăn, phần khó khăn nhất là lượng lớn các tích
Trang 20phân tâm 〈 〉 và các tích phân nhiều tâm hơn Đơn giản nhưu tập hàm cơ sở cực tiểu của benzene có 222111 tích phân 2 tâm cần phải tính Do đó người ta thường sử dụng các phương pháp gần đúng
1.2 Cơ sở của các phương pháp tính gần đúng lượng tử
Các phương pháp tính gần đúng được xây dựng trên cơ sở phương trình Roothaan Hầu hết các phương pháp này đều tập trung giải quyết vấn đề thế năng tương tác giữa các electron với nhau dựa vào việc giải gần đúng các phương trình chứa tích phân Coulomb và các tích phân xen phủ giữa các electron
Với một lượng lớn các electron và các tích phân đa tâm xuất hiện trong các
số hạng J, K (trong phương trình 1.20) hầu như không thể giải được Để khắc phục những trở ngại đó, người ta sử dụng một số phương pháp bán kinh nghiệm khác dựa vào một số giả thiết gần đúng sau:
- Giảm bộ hàm cơ sở
- Bỏ qua một số tích phân
- Thay thế một số tích phân bằng các hàm đơn giản có chứa tham số rút
ra từ thực nghiệm Những tham số đó có được bằng cách đo hay tính toán như thế ion hóa, ái lực electron, phổ…
- Xem xét hệ thống các electron σ và các electron π riêng rẽ
Các phương pháp tính gần đúng hiện nay bao gồm các phương pháp không kinh nghiệm ab initio và các phương pháp bán kinh nghiệm dựa trên sử dụng các tham số thực nghiệm: CNDO, NDDO, AM1, PM3, MINDO, ZINDO…
1.2.1 Giới thiệu các phương pháp tính gần đúng lượng tử
Các phương pháp tính gần đúng được xây dựng dựa trên phương trình Roothaan.Hầu hết các phương pháp đó đều tập trung giải quyết vấn đề về thế năng tương tác giữa các electron với nhau dựa vào việc giải gần đúng các phương trình chứa tích phân Coulomb và các tích phân xen phủ giữa các electron
So sánh hai phương pháp không kinh nghiệm – ab initio và phương pháp bán kinh nghiệm:
Trang 21Phương pháp Ab – initio Phương pháp bán kinh nghiệm
- Trải qua tất cả các giai đoạn ước
tính đối với phương trình Schrodinger
kiểu Gauss (GTO)
- Cần dùng lượng đĩa thời gian CPU
và so sánh với dữ liệu thực nghiệm
- Thường dùng các hàm cơ sở kiểu Slater (STO)
- Cần dùng lượng đĩa và thời gian CPU tương đối ít
1.2.1.1 Phương pháp ab – initio
Phương pháp ab – initio còn được gọi là phương pháp tuyệt đối, không kinh nghiệm hay phương pháp tính từ đầu Phương pháp này người ta sử dụng các phương pháp gần đúng toán học nhằm đơn giản hóa quá trình giải
Ưu điểm: cho phép xác định mọi tính chất của phân tử chỉ từ những yếu tố
cơ bản của bài toán như số hạt electron, điện tích electron, số hạt nhân… mà không cần biết các số liệu thực nghiệm khác Kết quả thu được rất phù hợp với số liệu đo được trong việc xác định hình học của phân tử, hàng rào năng lượng và nhiều vấn
đề khác của phân tử mà không cần tính đến năng lượng tương hỗ Độ tin cậy và chính xác cao
Có thể nói phương pháp ab – initio có một lời giải khá chính xác cho hầu hết các hệ phân tử và là sự tính từ đầu cho tất cả các tích phân bằng phép giải tích
Nhược điểm: các phép tính phức tạp, đòi hỏi sử dụng máy tính điện tử có tốc độ và dung lượng lớn Chỉ mới áp dụng cho những phân tử nhỏ và không khả thi cho những phân tử lớn
Trang 221.2.1.2 Các phương pháp bán kinh nghiệm
Phương pháp bán kính nghiệm giúp giải quyết bớt những khó khăn trong tính toán như:
- Thay các tích phân đa tâm bằng tích phân ít tâm hơn
- Thay các tích phân và các đại lượng vật lý trong phương trình hóa học lượng tử bằng các tham số kinh nghiệm
Năm 1928 Mulliken đưa ra phép tính gần đúng các tích phân, chẳng hạn xét tích phân 3 tâm:
〈 〉 [〈 〉 〈 〉 〈 〉]
) ) {
Mulliken đã thay khoảng cách giữa hai nguyên tố thể tích dτ1, dτ2 là r12bằng khoảng cách trung bình giữa hai đám mây tương tác Фi(1).Фj(1) và
Số tích phân hai electron cần thiết cho việc xây dựng ma trận Fock rất lớn,
vì thế phương pháp bán kinh nghiệm tìm cách giảm số lượng tích phân mà không ảnh hưởng đến chất lượng hàm sóng bằng cách sử dụng các tham số thực nghiệm thay thế việc tính các tích phân phức tạp đơn thuần lý thuyết Nhờ sự loại bỏ hàng loạt các tích phân mà số lượng các phép tính phức tạp giảm đi nhiều
Trang 23Ví dụ: So sánh số tích phân đẩy trong phân tử C3H8theo các phương pháp
ab – initio và phương pháp bán kinh nghiệm ở đó chỉ xét đến electron hóa trị:
Phương pháp Số tích phân đẩy Số tích phân đẩy Phương pháp
1.2.1.3 Phương pháp Huckel (HMO)
Phương pháp HMO là phương pháp tổ hợp tuyến tính các AO áp dụng đối với các electron π và áp dụng phương pháp biến phân, xác định giá trị năng lượng
và hàm sóng của hệ electron π quy về giải phương trình: | | Trong đó
vế trái được gọi là định thức thế kỉ H và S là các tích phân, Huckel đề xuất cách trình bày như sau:
{
| | | | tương ứng là tích phân Coulomb và tích phân trao đổi
Tương tự như vậy với tích phân xen phủ S:
{ Trong các trường hợp liên hợp hoặc siêu liên hợp có chứa dị tố, các giá trị α
và β bị thay đổi với các giá trị tính từ các hệ không chứa dị tố một hệ số:
Trong phương pháp HMO đã bỏ qua tương tác đẩy của các electron σ Để phát triển phương pháp HMO cho tất cả các electron vỏ hóa trị, người ta đưa ra phương pháp Huckel mở rộng Trong phương pháp Huckel mở rộng người ta tính tích phân xen phủ Sij thay cho việc gắn cho những giá trị tùy ý
Trang 24Thành công của phương pháp HMO là định lượng hóa các đại lượng mật độ electron, bậc liên kết, chỉ số hóa trị tự do rất có ý nghĩa trong việc xem xét cơ chế cũng như cấu dạng của một số hợp chất hữu cơ hệ liên hợp
1.2.1.4 Phương pháp ZDO (Zero Differential Overlap)
Đây là phương pháp gần đúng xen phủ vi phân bậc không do Pople đưa ra
Nó bỏ qua tất cả các tích phân của hàm cơ sở phụ thuộc vào cùng tọa độ electron định vị trên các nguyên tử khác nhau Giả định của Pople có nghĩa là obitan nguyên
tử định vị trên tâm A là ФA, trên tâm B là ФB, gần đúng ZDO tương đương với
ФA.ФB = 0 Vì tích các hàm cơ sở trên các nguyên tử khác nhau được đặt bằng 0 nên không có tích phân trên một tích như vậy hay ФA.ФB dτ= 0 Điều này dẫn đến các hệ quả sau:
- Ma trận xen phủ được chuyển thành ma trận đơn vị
- Các tích phân một electron ba tâm (hai từ các hàm cơ sở và một từ toán tử) được đặt bằng 0
- Tất cả tích phân electron ba và bốn tâm được bỏ qua
Để bù lại cho sự gần đúng này, các tích phân còn lại được chuyển hóa thành các tham số và các giá trị của nó được xác định trên cơ sở tính toán hoặc từ số liệu thực nghiệm Tùy theo số lượng tích phân được bỏ qua và sự thực nghiệm tham số hóa, ta có các phương pháp bán kinh nghiệm khác nhau
1.2.1.5 Phương pháp MINDO (Modified Intermediate Neglect of Differential Overlap)
Phương pháp này do Dewar (1969) đưa ra nhằm cải tiến phương pháp INDO Quá trình tính toán trong phương pháp này áp dụng phương pháp trường tự hợp Nội dung của phương pháp MINDO tương tự như phương pháp INDO nhưng chỉ khác nhau ở chỗ các tích phân đẩy hai tâm được tính theo một công thức khác (của Ohn và Klopman), và các phần tử của ma trận khung lại có dạng khác Phương pháp này cho kết quả rất phù hợp với thực nghiệm trên các phương diện: Độ dài liên kết, nhiệt tạo thành, hằng số lực và thế ion hóa với các đối tượng là các phân tử chất hữu cơ lớn, các cation, các hợp chất polynitro
Trang 25Các phiên bản tiếp theo của phương pháp MINDO là MINDO/1, MINDO/2, MINDO/3
1.2.1.6 Phương pháp INDO (Intermediate Neglect of Differential Overlap)
Phương pháp này do Pople, Beveridge và Dobosh đề ra năm 1967 được gọi
là phương pháp bỏ qua sự xen phủ vi phân trung gian Phương pháp này chủ yếu dùng để nghiên cứu cấu tạo electron và mật độ spin của các phân tử thuận từ có electron độc thân, nó khắc phục được nhược điểm của phương pháp CNDO là không phân biệt được tương tác giữa hai electron có spin song song với tương tác giữa hai electron có spin đối song Về phương diện lý thuyết, phương pháp này hoàn thiện hơn phương pháp CNDO/2, vì nó chỉ bỏ qua một số ít hơn các tích phân đẩy Ở đây không sử dụng giả thiết bỏ qua sự phủ vi phân hoàn toàn mà chỉ bỏ qua
sự phủ vi phân trung gian, tức là có thể tính đến các tích phân một tâm, trong đó các
AO Фi, Фj có thể khác nhau (theo phương pháp CNDO thì tích phân này bằng 0)
Với phương pháp này, người ta có thể tính được tất cả các kết quả thu được bằng phương pháp CNDO/2 nhưng với một kết luận tốt hơn
1.2.1.7 Phương pháp CNDO (Complete Neglect of Differential Overlap)
Phương pháp này dựa trên phương pháp ZDO bỏ qua hoàn toàn sự phủ vi phân Người ta đưa ra nhiều gần đúng khác nhau nhằm đơn giản hóa các tích phân trong phương trình Roothaan trong các bài toán về phân tử Nó được dùng để tính toán các tính chất của electron ở trạng thái cơ bản, đối với hệ vỏ mở và hệ vỏ đóng, tối ưu hóa hình học và tổng năng lượng, lớp vỏ được coi là một phần của lớp lõi, và gộp tương tác đẩy của lớp này vào tương tác của hạt nhân với electron
Cùng với sự phát triển, sự tham số hóa trong phương pháp CNDO cho ra đời các phiên bản CNDO/1, CNDO/2.Trong hai phương pháp này, phiên bản CNDO/2 có quan điểm rất gần với phương pháp INDO
1.2.1.8 Phương pháp MNDO (Modified Neglect of Diatomic Overlap)
Phương pháp này dựa trên sự cải tiến của phương pháp MINDO, trong quá trình tính toán sử dụng thuật toán tự hợp Phương pháp này áp dụng cho các phân tử
Trang 26hữu cơ có chứa các nguyên tố thuộc chu kì 1 và 2 của bảng hệ thống tuần hoàn, loại trừ các kim loại chuyển tiếp Nó được dùng để tính toán các tính chất electron và các thông số hình học các phân tử đã được tối ưu năng lượng toàn phần và nhiệt hình thành Mặc dù phương pháp AM1 và PM3 kế tục MNDO nhưng trong một số tính toán MNDO cho kết quả tốt hơn
1.2.1.9 Phương pháp PM3 (Parametric Model 3)
Đây cũng là một phương pháp bán kinh nghiệm sử dụng thuật toán tự hợp.Nó có bản chất là phương pháp AM1 với tất cả các tham số đã được tối ưu đầy đủ.Về ý nghĩa, nó có một tập tham số tốt nhất cho một tập dữ liệu đã cho Tuy vậy, quá trình tối ưu vẫn còn đòi hỏi sự can thiệp của con người trong sự lựa chọn dữ liệu thực nghiệm sao cho các yếu tố đưa vào thích hợp hơn cho mỗi tập dữ liệu PM3 áp dụng cho nhiều nhóm nguyên tố thuộc nhóm chính, loại trừ các kim loại chuyển tiếp
1.2.1.10 Phương pháp AM1 (Austin Model 1)
Phương pháp này là kết quả của việc cải tiến phương pháp MNDO do Dewar đưa ra, áp dụng cho các nguyên tử thuộc chu kì 1,2 và 3 của bảng hệ thống tuần hoàn trừ các kim loại chuyển tiếp
AM1 sử dụng thuật toán trường tự hợp và được áp dụng khá phổ biến hiện nay Cùng với phương pháp PM3, phương pháp AM1 nhìn chung là phương pháp bán kinh nghiệm có ưu thế nhất dùng để tính toán các tính chất của phân tử, tối ưu hóa hình học, năng lượng toàn phần và nhiệt hình thành
1.2.1.11 Phương pháp ZINDO (Zerner’s INDO)
Phương pháp ZINDO cải tiến từ phương pháp Huckel mở rộng, CNDO, INDO và PPP do giáo sư Zerner đề xướng đã cho phép tính toán năng lượng tương tác cấu hình Phương pháp này có thể áp dụng cho hầu hết các kiểu phân tử bao gồm các hợp chất sinh học, các chất cơ kim, các chất hữu cơ Trong tính toán, ZINDO sử dụng thuật toán trường tự hợp và quá trình này cũng mô phỏng khảo sát phân tử dưới dạng sonvat hóa trong trường điện hoặc các điện tích điểm ZINDO đã tham số hóa hơn 30 nguyên tố thuộc chu kỳ 1,2 và 3 của bảng hệ thống tuần hoàn
Trang 27kể cả các kim loại chuyển tiếp Giới hạn khảo sát đối với ZINDO thông thường là các phân tử có chứa khoảng 250 nguyên tử và khi đó ZINDO sử dụng chừng 1000 hàm cơ sở Với các phiên bản lớn hơn, ZINDO có thể mở rộng giới hạn đối với phân tử gồm 1000 nguyên tử thì hàm cơ sở đạt tới 4000
1.2.2 Tương quan electron
Theo nguyên tắc biến thiên, năng lượng thấp nhất được xem là kết quả tính tốt nhất.Tuy vậy, ý tưởng cơ bản của SCF vẫn là xem xét các electron riêng rẽ dưới tác dụng của một trường thế hiệu dụng tạo bởi phần còn lại của phân tử Do vậy, ngay cả tính toán SCF tốt nhất, năng lượng vẫn cao hơn so với giá trị thực nghiệm
Sự sai khác giữa giới hạn SCF và thực nghiệm được gọi là năng lượng tương quan Đối với một bộ hàm đủ lớn, năng lượng SCF đạt tới 99% nhưng 1% còn lại rất có ý nghĩa hóa học Tuy nhiên khi kích thước phân tử tăng lên số cặp electron thuộc các
MO khác nhau tăng nhanh hơn số electron thuộc cùng một MO Do đó, phần đóng góp vào năng lượng tương quan của cặp electron trong các MO khác nhau cũng đóng vai trò đáng kể Theo nguyên lý phản đối xứng, không có các electron với các spin cùng dấu trong một không gian nên phần tương quan chỉ được đóng góp bởi các cặp electron có spin trái dấu trong cùng MO, có spin cùng dấu trong các MO khác nhau Tương quan giữa các electron có spin trái dấu lớn hơn tương quan giữa các electron có spin cùng dấu Tương quan giữa các spin trái dấu được gọi là tương quan Coulomb, tương quan spin cùng dấu được gọi là tương quan Fecmi Cũng có thể xem xét vấn đề tương quan electron dưới dạng mật độ điện tích: trong lân cận của một electron có thể tìm thấy một electron khác xa với xác suất nhỏ Đối với electron có spin trái dấu phần tương quan đó được gọi là hố Coulomb, còn với electron có spin cùng dấu gọi là hố Fecmi
Để tính được năng lượng tương quan giữa các electron, một trong những vấn đề cần được quan tâm là bộ hàm cơ sở
Trang 281.2.3 Bộ hàm cơ sở
Bộ hàm cơ sở là sự biểu diễn toán học của các obitan trong hệ, nó được sử dụng để tính toán lý thuyết hay mô hình.Bộ hàm cơ sở tập hợp các khối chức năng xây dựng cơ bản có thể được thêm vào các tính toán mà chúng ta cần
Bộ hàm cơ sở càng lớn, obitan càng chính xác vì sự hạn chế về vị trí của các electron trong không gian càng giảm
Theo cơ học lượng tử, electron có mặt ở khắp nơi trong không gian với một xác suất nhất định, giới hạn này tương ứng với bộ hàm cơ sở vô hạn.Tuy nhiên một
bộ hàm cơ sở với vô hạn hàm sóng là không thực tế.Một MO có thể được coi như một hàm số trong hệ tọa độ vô hạn chiều được quy định bởi bộ hàm cơ sở Khi dùng
bộ hàm cơ sở hữu hạn, MO chỉ được biểu diễn theo những chiều tương ứng với cơ
sở đã chọn Bộ cơ sở càng lớn, sự biểu diễn MO càng gần đúng
1.2.3.1 Obitan kiểu Slater và kiểu Gauss (STOs và GTOs)
Có hai loại hàm sóng trong các bộ cơ sở: AO kiểu Slater do John C.Slater (1900 – 1976) đưa ra và AO kiểu Gauss do Frank Boys đến từ trường đại học Cambridge đưa ra vào năm 1950 Biểu thức tương ứng của các hàm sóng trong các
bộ cơ sở trong hệ tọa độ cầu là:
r, θ, N Y θ, r exp ξ r
ψ
m l, m
l, n, ξ,
l, n, a,
r tan với robitan là vectơ tọa độ obitan
RA là tọa độ hạt nhân A
Yl,mlà hàm cầu
là thừa số mũ của các hàm STO và GTO tương ứng
Do hàm sóng phụ thuộc vào bình phương khoảng cách r nên GTO kém STO ở hai điểm:
Trang 29- GTO mô tả kém các tính chất gần hạt nhân
- GTO rơi quá nhanh khi đi xa hạt nhân nên biểu diễn kém phần “đuôi” của hàm sóng Do vậy, để đạt độ chính xác như nhau, cần số hàm GTO gấp 3 lần số hàm STO
Tuy nhiên, GTO thuận lợi cho việc tính toán cấu trúc electron hơn vì dễ hội
tụ và cho kết quả tương đối tốt Do đó kiểu hàm Gauss được dùng nhiều hơn
Từ sự tổ hợp tuyến tính nhiều hàm GTO thu được hàm Gauss rút gọn (CGF):
n 1 i
GTO i i STO a ψ
Với ai là các hệ số rút gọn được chọn sao cho hàm ψCGF giống hàm STO nhất
1.2.3.2 Những bộ hàm cơ sở thường dùng
Bộ hàm cơ sở đưa ra một nhóm hàm cơ sở cho mỗi nguyên tử trong phân tử
để làm gần đúng các obitan của nó Bản thân những hàm cơ sở này đã là hàm Gauss rút gọn:
Bộ cơ sở tối thiểu: là bộ hàm chứa hàm số cần thiết tối thiểu cho mỗi
nguyên tử bao gồm những obitan hóa trị và các obitan vỏ trống
Bộ cơ sở hóa trị và bộ cơ sở hóa trị tách
Bộ cơ sở hóa trị: gồm các obitan vỏ hóa trị
Ví dụ: H 1s; C 2s, 2px, 2py, 2pz
Bộ cơ sở hóa trị tách: gồm các obitan hóa trị và các obitan này được nhân
lên nhiều lần, có thể là nhân đôi, nhân ba… như dạng k-nlm của Pople có 3-21G, 31G và 6-311G Chỉ số đầu tiên k là số hàm GTO dùng làm obitan lõi, bộ nlm vừa
Trang 306-chỉ số hàm obitan vỏ hóa trị được phân chia thành số hàm vừa 6-chỉ số hàm GTO được sử dụng để tổ hợp
Nếu chỉ có 2 số nl sau dấu gạch ngang là bộ hóa trị tách đôi, nếu ba số nlm
là bộ hóa trị tách ba Bộ hàm cơ sở hóa trị tách chỉ làm thay đổi kích thước chứ không làm thay đổi hình dạng của obitan
Ví dụ: H 1s và 1s‟ là các obitan khác nhau
C 1s, 2s, 2s‟, 2px, 2py, 2pz, 2px‟, 2py‟, 2pz‟
Bộ cơ sở hóa trị tách đôi như 3-21G: obitan lõi được biểu diễn bởi 3 hàm Gauss, obitan vỏ hóa trị thứ nhất với C 2s, 2px, 2py, 2pz được biểu diễn bởi 2 GTO, obitan vỏ hóa trị thứ 2 với 2s‟, 2px‟, 2py‟, 2pz‟ được biểu diễn bởi 1GTO
Bộ hàm cơ sở hóa trị tách ba: 6-31G…
Để mô tả tốt hơn sự phân bố mật độ điện tích trong không gian đòi hỏi phải
kể thêm những hàm phân cực
Bộ cơ sở phân cực: dưới tác động của các hạt nhân khác trong phân tử, các
obitan s, p thực tế sẽ không hoàn toàn đối xứng như obitan của nguyên tử hidro Để
mô tả được sự không đối xứng này, các hàm p được thêm vào để xây dựng obitan nguyên tử H, các hàm kiểu d, f sẽ được thêm vào cho các nguyên tử khác.Hàm phân cực được chỉ ra sau chữ G, kí hiệu bằng chữ thường d, f, p hoặc dấu * và **
Ví dụ: 6-31G(d): thêm các hàm d vào nguyên tử nặng
6-31(d, p): thêm các hàm p vào nguyên tử H và các hàm nguyên tử nặng
Hàm khuếch tán: là hàm Gauss với số mũ quỹ đạo khá nhỏ nhưng dùng mô
tả các obitan trong không gian lớn hơn Hàm khuyếch tán đặc biệt hữu ích cho việc
mô tả electron tương đối xa hạt nhân, chẳng hạn như cặp electron hay electron trong anion
Ví dụ: 6-31+G(d) là bộ 6-31G(d) có thêm hàm khuếch tán đối với nguyên
tử nặng
Trang 316-31++G(d) có thêm hàm khuếch tán đối với cả nguyên tử nặng và
H Dấu + thứ nhất chỉ ra rằng thêm một bộ hàm khuếch tán s- và p- trên các nguyên
tử nặng Dấu + thứ hai chỉ ra đã thêm hàm khuếch tán s- cho nguyên tử H
1.2.4 Phương pháp phiếm hàm mật độ(DFT)
Phương pháp DFT dựa trên nguyên lí là từ hàm sóng có thể suy ra hàm mật
độ của electron và ngược lại, phương pháp DFT giải phương trình Schrodinger dựa trên hàm mật độ electron ρ(x,y,z) chứ không dựa trên hàm sóng Trong phương pháp DFT, vấn đề tương quan của electron đã được xử lí nên phương pháp này có
độ chính xác tương đương các phương pháp sau HF Do hàm sóng của hệ gồm N electron là hàm của 3N tọa độ, trong khi đó hàm mật độ electron chỉ là hàm của 3 tọa độ nên phương pháp DFT cho kết quả tính toán nhanh hơn các phương pháp sau
HF Vì lí do trên mà DFT là phương pháp rất phổ biến hiện nay
Hohenburg và Kohn đã chứng minh một cách rõ ràng định lý này, Levy đã tổng quát hóa cho cả các hệ có trạng thái suy biến Nhà quang phổ học lý thuyết E.B Wilson đã chứng minh định lý này năm 1965.Luận điểm của Wilson là mật độ điện tích xác định duy nhất vị trí và điện tích của hạt nhân và vì vậy, xác định toán tử Hamilton Chứng minh này dựa trên sự thật là mật độ electron có một đỉnh ở hạt nhân:
r
rρ0ρ2
1
Trong đó ρ r là giá trị trung bình hình cầu của mật độ điện tích
Trang 32Mặc dù không tổng quát như sự chứng minh của Levy nhưng định lý này cũng đã kể đến tương tác electron với hạt nhân Định lý này có thể được phát biểu một cách tổng quát là: “Năng lượng là phiếm hàm của mật độ”
Định lý 2: Đối với một mật độ thử có giá trị dương bất kì ρt(r) và được biểu diễn bằng hệ thức:
1.2.4.2 Phương pháp Kohn – Sham (KS)
Ý tưởng cơ bản của Kohn và Sham là có thể thay bài toán nhiều electron bằng một tập hợp tương đương chính xác các phương pháp trường tự hợp 1 electron
Xét hệ có N electron đã được ghép đôi Năng lượng của hệ theo Kohn –
M l
XC 2 1 12 0
2 2 1 1
1 ll 0
2 i i
2 i i
e
2
ρErdrdrπε4
e)(rρ)(rρ2
1rd)(rρrπε4
eZr
d(r)ψ(r)ψm
2
ρ
(1.30) Trong đó: ψi r) là hàm không gian l electron, còn gọi là obitan Kohn – Sham
ρ là mật độ điện tích hay mật độ điện tích trạng thái cơ bản tại vị trí r
Trong biểu thức (1.43) số hạng thứ nhất biểu thị động năng của các electron Số hạng thứ hai biểu thị năng lượng hút hạt nhân – electron, tổng này được lấy qua tất cả các hạt nhân theo chỉ số i, nguyên tử số là Zi Số hạng thứ ba biểu thị năng lượng tương tác Coulomb giữa hai mật độ điện tích toàn phần, được lấy tổng
ρ tại r1,r2 tương ứng.Số hạng thứ tư là năng lượng
tương quan – trao đổi của hệ.Năng lượng này cũng là phiếm hàm của mật độ điện tích, biểu thị tất cả các tương tác electron – electron không cổ điển
Trang 33Áp dụng nguyên lý biến phân cho năng lượng electron toàn phần E[ρ] được biểu thị theo phương trình (1.43) thu được các phương trình Kohn – Sham có dạng:
)rψε)rψ)rVrπε4
e)rρ(
rπε4
ezm
2 2 M
1 i
12 0
2 i 2
l e
Trong đó: là năng lượng obitan Kohn – Sham
VXC là thế tương quan – trao đổi, là đạo hàm của phiếm hàm năng lượng trao đổi EXC[ρ], có biểu thức:
δρ
ρδE
Khi giải phương trình Kohn – Sham thu được các obitan không gian l
electron là ψi r1) Nếu EXC[ρ] đã biết thì thu được VXC[ρ] Như vậy, các obitan
Kohn – Sham cho phép tính được ( )
r
theo biểu thức
2 N
1
i ψi( r ) )
Thông thường năng lượng tương quan – trao đổi EXC được tách thành hai phần: năng lượng tương quan EX và năng lượng trao đổi EC Những năng lượng này thường được viết dưới dạng năng lượng một hạt tương ứng εX, εC
ρ E ρ E ρ ρ(r)ε ρ(r) drρ(r)ε ρ(r) dr
1.2.4.3 Sự gần đúng mật độ khoanh vùng
Trang 34Trong phép gần đúng mậ độ điện tích khoanh vùng (LDA), mật độ tại chỗ được xử lý như một khí electron đồng nhất
Năng lượng trao đổi đối với khí electron đồng nhất theo công thức Dirac là:
Năng lượng tương quan của hệ electron đồng thể được xác định theo phương pháp Monte Carlo đối với một số giá trị mật độ khác nhau Để dùng kết quả này vào việc tính toán theo DFT, Vosko, Wilk, Nusair (VWN) đã đưa ra phiếm nội suy giữa giới hạn không phân cực spin (𝝃= 0) và giới hạn phân cực spin (𝝃 = 1)
Sự gần đúng LSDA đánh giá năng lượng trao đổi thấp hơn khoảng 10% Phương pháp LSDA cung cấp những kết quả gần đúng tốt như các phương pháp HF nhưng phép tính đơn giản hơn nhiều
1.2.4.4 Sự gần đúng gradient tổng quát
Nội dung: cần xét hệ electron không đồng nhất, nghĩa là năng lượng tương quan và trao đổi không chỉ phụ thuộc mật độ điện tích mà còn phụ thuộc đạo hàm của nó
Đối với phiếm hàm trao đổi:
- Pardew và Wang (PW86) đề nghị cải tiến phiếm hàm trao đổi LSDA:
15 / 1 6 4
2 LSDA
x 86 PW
Trong đó x là biến gradient không thứ nguyên; a, b, c là hệ số hiệu chỉnh
Trang 35Phiếm hàm này đưa ra dựa trên cơ sở hiệu chỉnh phiếm hàm LSDA nên còn được gọi là sự gần đúng hiệu chỉnh gradient
- Becke đã đề nghị phiếm hàm hiệu chỉnh (B) đối với năng lượng trao đổi LSDA:
B x
LDSA x
B
x βsin 6 1
x βρ
2 3
/ 1 B
Tham số β được xác dịnh dựa vào dữ kiện nguyên tử đã biết
Đối với phiếm hàm tương quan:
- Phiếm hàm tương quan do Lee, Yang và Parr (LYP) đưa ra để xác định năng lượng tương quan, đây không phải là phiếm hàm hiệu chỉnh từ LSDA nhưng vẫn phụ thuộc vào mật độ điện tích và các đạo hàm của nó Phiếm hàm LYP không
dự đoán được phần năng lượng tương quan do 2 electron có spin song song
- Năm 1986, Perdew đã đề nghị một phiếm hàm hiệu chỉnh gradient cho phiếm hàm LSDA kí hiệu là P86
1.2.4.5 Phương pháp hỗn hợp
Phương pháp này kể thêm phần năng lượng trao đổi Hartree – Fock vào phiếm hàm năng lượng tương quan trao đổi DFT thuần khiết Do vậy phương pháp này được gọi là phương pháp DFT hỗn hợp
Ví dụ:Phiếm hàm Half – and – Half: năng lượng trao đổi HF góp một nửa
và năng lượng tương quan – trao đổi LSDA góp một nửa vào phiếm hàm tương quan – trao đổi:
)E(E
2
1E2
LSDA C
B X
HF X
LSDA X 3
Trang 36Phương pháp BLYP: là một phương pháp DFT thuần khiết, trong đó sử
dụng phiếm hàm trao đổi đã hiệu chỉnh gradient do Lee, Yang, Parr đưa ra Ở đây
sự gần đúng khoanh vùng chỉ xuất hiện trong B còn LYP chỉ sự gần đúng gradient
Phương pháp B3LYP: chứa phiếm hàm hỗn hợp B3, trong đó phiếm hàm
tương quan GGA là phiếm hàm LYP, ta có biểu thức:
LYP
EC
LSDA C
B X
HF X
LSDA X 3
B
Với a= 0,8; b= 0,72; c= 0,81
Phương pháp BH và LYP: gồm phiếm hàm trao đổi B (Becke), phiếm hàm
Half – and – Half và phiếm hàm tương quan LYP
Phương pháp BH & HLYP và B3LYP: là các phương pháp DFT hỗn hợp
trong đó phiếm hàm trao đổi là tổ hợp tuyến tính của số hạng trao đổi đã hiệu chỉnh gradient, số hạng trao đổi khoanh vùng và số hạng trao đổi Hartree – Fock
1.3 Bề mặt thế năng ( Potential Energy Surface: PES) [6]
( ⃗, ⃗⃗) là hàm song chung electron – hạt nhân của hệ
Trong sự gần đúng B-O, ( ⃗, ⃗⃗) gần đúng là tích của hàm sóngelectron
( ⃗, ⃗⃗) với hàm sóng hạt nhân χ( ⃗⃗) Ta có:
( ⃗, ⃗⃗) = ( ⃗, ⃗⃗).χ( ⃗⃗)(1.46)
Thay ở (1.25) vào (1.26), ta có:
Trang 37( ∑
∑ ∑
∑ ∑
) ( ⃗ ⃗⃗) ( ⃗⃗)
= E ( ⃗ ⃗⃗) ( ⃗⃗) (1.47) Mặt khác: ( ⃗, ⃗⃗) là hàm sóng electron:
( ∑
∑ ∑
∑ ∑
)
Phương trình cho thấy, khi tọa độ các hạt nhân thay đổi, năng lượng hệ cũng thay đổi và làm thành một bề mặt thế năng (đối với phân tử hai nguyên tử thì thu được một đường cong thế năng) Hàm tổng thể mô tả sự biến thiên năng lượng của hệ theo tọa độ các hạt nhân được gọi là bề mặt thế năng (PES)
1.3.2 Điểm yên ngựa và đường phản ứng
Trên bề mặt nhiều chiều, điểm yên ngựa là điểm có cực đại chỉ theo một hướng và cực tiểu theo tất cả các hướng còn lại Các điểm cực tiểu và điểm yên
Trang 38ngựa của bề mặt thế năng là các điểm tới hạn Đạo hàm bậc một đối với tất cả các tọa độ và vecto gradient bằng không ở điểm tới hạn
)) ) Theo cơ học cổ điển, chuyển động một hạt trên bề mặt thế năng có đạo hàmbậc một chính là lực trên hạt nhưng mang dấu âm Do đó, ở điểm cực tiểu hay điểm yên ngựa tất cả các lực trên các nguyên tử trong phân tử bằng không, gọi là
„„điểm dừng ‟‟
Đạo hàm bậc hai của thế năng thường cũng được gọi là hằng số Để xác địnhmột điểm dừng là cực tiểu hay yên ngựa ta phải dựa vào ma trận hằng số lực (gọi là ma trận Hessian):
1.3.3 Tọa độ phản ứng thực ( Intrinsic Reaction Coordinate – IRC)
Trong phản ứng hóa học, các chất phản ứng tương tác với nhau cần thiết phảivượt qua hang rào năng luợng.Tất cả chuyển động của các nguyên tử theo hướng tọa độ phản ứng sẽ dừng lại ở trạng thái chuyển tiếp (điểm yên ngựa)
Tọa độ phản ứng thực là một quỹ đạo tưởng tượng có năng lượng tối thiểu đingang qua trạng thái chuyển tiếp và chuyển động vô cùng chậm tới sản phẩm phản ứng hoặc chất tham gia phản ứng
Trang 39Tọa độ phản ứng được bắt đầu ở trạng thái chuyển tiếp và di chuyển theo hướng chống lại các lực tác dụng lên chúng Mỗi bước như vậy cho phép các nguyên tử bắt đầu gia tốc xuống bề mặt thế năng Sau một thời gian rất ngắn sự chuyển động của chúng bị hãm lại, các thành phần tốc độ đạt được bằng không Quá trình này được lặp lại đến khi tới cực tiểu (chất phản ứng hoặc sản phẩm)
Ở trạng thái chuyển tiếp, tất cả các lực tác dụng lên các nguyên tử bị triệt tiêu.Khi đó, muốn bắt đầu IRC phải thực hiện một sự chuyển dịch ban đầu khỏi trạng thái chuyển tiếp
1.4 Cơ sở lí thuyết về động hóa học [2, 5, 9]
Lĩnh vực hóa học nghiên cứu tốc độ phản ứng, những yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng và cơ chế phản ứng hóa học, được gọi là động hóa học
t
C C v
1
Dấu (+) cho chất sản phẩm, dấu (-) cho chất phản ứng
* Tốc độ tức thời: khi t 0, tốc độ phản ứng (v) là tức thời:
dC c dt
dC b dt
dC a
Tốc độ của một phản ứng hóa học phụ thuộc vào nhiều yếu tố như bản chất
và nồng độ của chất phản ứng, áp suất (nếu trong phản ứng có chất khí tham gia), nhiệt độ, bản chất dung môi (nếu phản ứng xảy ra trong dung dịch), chất xúc tác,
Trang 40b Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng
Ảnh hưởng của nồng độ chất phản ứng
Sự phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nồng độ thể hiện trong định luật tác dụng khối lượng:
Tốc độ của phản ứng hóa học ở nhiệt độ không đổi tỉ lệ thuận với tích nồng
độ của các chất phản ứng với số mũ là hệ số của chất trong phương trình phản ứng
Đối với phản ứng (4.3), tốc độ phản ứng:
b B a
A C C k
V là tốc độ phản ứng tại một thời điểm nào đó, CA, CB là nồng độ chất A và chất B ở tại thời điểm xác định tốc độ, k là hằng số tỉ lệ và được gọi là hằng số tốc
độ của phản ứng hóa học
Hằng số tốc độ của phản ứng hóa học là tốc độ của phản ứng đó khi nồng
độ các chất phản ứng đều bằng đơn vị (1 mol/l) Nó phụ thuộc vào bản chất của
chất phản ứng và nhiệt độ chứ không phụ thuộc nồng độ chất phản ứng
Ảnh hưởng của diện tích tiếp xúc
Nếu phản ứng xảy ra giữa chất rắn và chất khí hay giữa chất rắn và chất lỏng thì ngoài yếu tố nồng độ (hay áp suất), tốc độ phản ứng còn phụ thuộc và diện tích tiếp xúc giữa chất rắn với chất lỏng.Diện tích tiếp xúc càng lớn, tốc độ phản ứng càng lớn
Tốc độ phản ứng biến đổi liên tục theo thời gian vì nồng độ chất phản ứng biến đổi theo thời gian
Ảnh hưởng của áp suất
Nếu phản ứng xảy ra giữa các chất khí, người ta thay nồng độ trong biểu thức tính tốc độ phản ứng bằng áp suất riêng phần của mỗi khí trong hỗn hợp (áp suất riêng phần là áp suất gây nên bởi mỗi khí trong hỗn hợp khí khi nó chiếm toàn
bộ thể tích của hỗn hợp) Ví dụ với phản ứng (4.3) trên đây:
b B a A