Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngânhàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đ
Trang 1THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG
NHỮNG NĂM QUA
I.Thực trạng đầu tư vào ngành du lịch của tỉnh
1 Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch của tỉnh
1.1 Hệ thống giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh những năm gần đây đã được xây dựngtương đối hợp lí, rộng khắp toàn tỉnh ô tô đi được tới tất cả các xã trong tỉnh, việc đi lạithuận tiện, nhanh chóng Toàn tỉnh hiện có 2.278,2km đường bộ và 496 km đường sôngvới các tuyến quan trọng nối liền thị xã với các huyện thị và tỏa đi các xã Các tuyếnđường từ tỉnh xuống huyện được nâng cấp rải nhựa Mạng lưới giao thông của Tỉnhđược phân bố tương đối đều: đường sắt, đường bộ, đường thủy
٭Đường bộ: bao gồm hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, liên huyện,
đường xã và liên xã với tổng chiều dài 2.278,2 km Ngoài quốc lộ 1A , trên địa bàn tỉnhNinh Bình còn có các tuyến quốc lộ chạy qua như 10, 12B, 45, trong đó:
Đường quốc lộ: có 110,5 km
Đường tỉnh lộ: có 261,5 km
Đường huyện lộ: có 194,92 km
Đường xã, liên xã: có tổng chiều dài 911,5 km
Hiện nay mạng lưới giao thông đang được cải thiện ngày một tốt hơn Tuy nhiên
hệ thống giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Hệthống các đường nội thị vẫn còn yếu kém, nhiều tuyến đường cần được cải tạo và mởrộng Đặc biệt cần nâng cấp, cải tạo toàn tuyến 1A trên địa bàn tỉnh nhất là đoạn đi quathành phố Ninh Bình Đây chính là tuyến đường chủ đạo trong giao lưu kinh tế giữaNinh Bình với các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hànghóa và hành khách qua Ninh Bình ngày càng lớn Hệ thống giao thông nông thôn,đường liên thôn liên xã đã được nâng cấp, rải nhựa, cải tạo và làm mới Điều này có ýnghĩa rất quan trọng trong việc khai thác thế mạnh của vùng, nhằm phát triển kinh tế,nâng cao mức sống người dân đặc biệt là mở rộng giao lưu với các địa phương trongtỉnh, phát triển các tour liên huyện
Trang 2٭ Đường sắt: Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt quốc gia Bắc Nam, đây là tuyến
đường sắt đóng góp một phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh vàcác địa phương khác trong vùng kinh tế và trên toàn quốc Toàn tỉnh có 4 ga là : gaGhềnh, ga Đồng Giao, ga Cầu Yên và ga Ninh Bình Ngoài ra tuyến tàu chạy Hà Nội –Vinh đi qua Ninh Bình đi các tỉnh phía Nam
٭Đường thủy: Ninh Bình có 22 sông có thể khai thác vận tải đường thủy với tổng
chiều dài 387,3km Mật độ sông là 27,3km/km2 ( lớn hơn mật độ bình quân cả nước),phần lớn là sông cấp II, III và IV mang đặc điểm chung của sông, kênh khu vực đồngbằng sông Hồng Toàn tỉnh có các sông chảy qua là sông Đáy, sông Hoàng Long, sôngVạc, sông Vân, sông Lạng, giúp cho Ninh Bình có điều kiện thuận lợi và là đầu mốiquan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng vàtoàn vùng Bắc Bộ rộng lớn
1.2 Hệ thống cấp điện
Mạng lưới điện trong cả tỉnh đã được xây dựng với tổng chiều dài các đoạnđường dãy trung cao áp là 770km Hiện nay Tỉnh có 1 nhà máy điện Ninh Bình và 4trạm điện phân phối Nguồn điện hiện nay bao gồm cả mạng lưới điện phân phối về cơbản có thể đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt
1.3 Hệ thống cấp thoát nước và vệ sinh môi trường
Trong những năm gần đây tỉnh Ninh Bình đã từng bước phát triển đảm bảo nướcsinh hoạt cho vùng đô thị ( thành phố Ninh Bình, thị xã Tam Điệp và các thị trấn, huyệnlỵ) Các công trình cấp nước: giếng đào, bể chứa nước, nước tự chảy và giếng khoan.Trong đó các khu tập trung dân cư và các khu vực thị trấn chủ yếu dùng nước tự chảy
và nước cấp từ bể chứa Khả năng cung cấp nước trung bình vào mùa hè là 16.000
m3/ngày; vào mùa đông 14.000m3/ngày Tổng số hộ gia đình được dùng nước sạchtrong toàn tỉnh là 26.000 hộ Trữ lượng nguồn nước ngầm của tỉnh Ninh Bình là tươngđối lớn, việc khai thác nguồn nước ngầm tương đối thuận lợi Về chất lượng, nguồnnước này đảm bảo vệ sinh đủ tiêu chuẩn cần thiết để sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt
Mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt tại các đô thị của tỉnh sử dụng hệ thốngthoát chung ( cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt) Hệ thống thoát nước mưa baogồm các lọai ống tròn bê tông cốt thép, cống hộp và mương có nắp đan Nhìn chung cáctuyến thoát nước đều hoạt động tốt nhưng do mật độ còn quá thấp chưa đáp ứng được
Trang 3nhu cầu nên ảnh hưởng không ít đến môi trường đô thị Các lọai nước thải hầu khôngđược xử lí đến giới hạn cho phép và thường được xả trực tiếp ra sông suối Nước thảicông nghiệp từ các nhà máy xi măng, nhà máy phân lân chưa được xử lí đến độ trướckhi xả ra sông suối Nước thải bệnh viện được xử lí riêng đơn giản và xả vào hệ thốngthóat nước chung, phần lớn là hơn giới hạn cho phép Lượng thu gom rác thải để xử lícòn nhỏ Các loại rác thải được xử lí chung, chôn lấp tự do Chính vì thế, hiện nayUBND tỉnh đã phê duyệt dự án và đang triển khai thi công xây dựng nhà máy xử lí rácthải với công suất 2200 tấn/ngày.
1.4 Hệ thống bưu chính viễn thông
Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong tỉnh với hệ thống tổng đàiđiện tử hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện thị xã, hệ thốngviễn thông vi ba, cáp quang Bắc – Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh chóngthuận tiện giữa Ninh Bình và các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc quốc tế
Hệ thống bưu cục: 32 trạm Các tuyến, trạm truyền thông tin: 25 tuyến, trạm Hiện toàntỉnh có khoảng 6,6 máy điện thoại/ 100 dân Mạng điện thoại di động đã phủ sóng gầnhết lãnh thổ Ninh Bình Đến cuối 2005 đã có 112 xã có điểm bưu điện văn hóa xã ( đạt82%)
1.5 Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng
Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngânhàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đến cáchuyện, thị xã, công ty bảo hiểm, các quĩ tín dụng nhân dân… Hệ thống các cơ sở dịch
vụ này hiện tại thường xuyên được cải tiến về nghiệp vụ chuyên môn và phong cáchphục vụ, tăng cường trang bị kĩ thuật hiện đại, thực hiện vi tính hóa trong quản lí vàthanh toán… đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất – kinhdoanh, đáp ứng tốt hơn các công tác thanh toán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ; phục vụkịp thời cho công tác lãnh đạo, quản lí của các cấp, các ngành; góp phần tích cực chophát triển kinh tế, caỉ thiện đời sống nhân dân trong tỉnh
1.6 Hệ thống nhà hàng, khách sạn
Thời gian qua, với vị thế đã có và khai thác có hiệu quả tiềm năng phong phú vềtài nguyên phục vụ phát triển du lịch, Ninh Bình đã dần khẳng định du lịch là mộtngành kinh tế quan trọng của tỉnh, nhiều công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng, tu bổ
Trang 4tôn tạo để phục vụ phát triển du lịch Hạ tầng Ninh Bình thay đổi mạnh mẽ và nhanhchóng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là hoạt động dulịch
Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách quốc tế ngàycàng tăng và khách nội địa có nhu cầu đi nghỉ nhiều hơn nên các khách sạn nhà trọđược xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách du lịch Ngành du lịchNinh Bình cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách dulịch Số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh cả về sốlượng và qui mô và phương thức hoạt động
Năm 1992, toàn tỉnh chỉ có duy nhất 1 khách sạn Hoa Lư được tách ra từ công ty
du lịch Hà Nam Ninh với 33 phòng nghỉ Hiện tại, Ninh Bình có 290 cơ sở lưu trú dulịch trong đó có 67 khách sạn với 1.680 phòng ngủ ( có 359 phòng đạt tiêu chuẩn quốctế); 8 bể bơi, 1 sân golf, 48 sân tennis, 82 phòng xông hơi - massage - vật lí trị liệu và
128 cơ sở phục vụ ăn uống với 9.107 chỗ ngồi Trong đó có 7 cơ sở với 266 buồng đãđược thẩm định đạt tiêu chuẩn 2 sao và 1 cơ sở với 17 buồng đạt tiêu chuẩn 1 sao Côngsuất sử dụng khách sạn bình quân đạt khoảng 50% Qui mô xây dựng hầu hết là vừa vànhỏ, trang thiết bị nội thất chưa đồng bộ Nhìn chung chất lượng của các khách sạn củatỉnh còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt làkhách du lịch thương mại Giá phòng trung bình của các cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnhcũng không cao lắm Mức giá tương đối cạnh tranh so với hầu hết các địa phương kháctrong vùng
Bảng 2.1 Cơ cấu cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2004-2008
Phân theo loại hình Cơ sở
Nguồn: Cục thống kê Ninh Bình
Trang 5Trong năm 2008, cả tỉnh có 10 cơ sở lưu trú mới xây dựng Trong đó có 1 kháchsạn 1 sao, 1 khách sạn 2 sao với tổng số vốn là 50 tỷ đồng So với nhu cầu thực tế, khảnăng đáp ứng về cơ sở lưu trú của Ninh Bình còn rất thiếu, nhất là các cơ sở lưu trú caocấp
2 Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư
2.1 Đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường không mang lại những lợi ích kinh tế cụ thểhay thời gian thu được lợi nhuận là rất dài, đồng thời đây là lĩnh vực yêu cầu nguồn vốnkhá lớn Chính vì vậy các nhà đầu tư thường không đủ khả năng hoặc không mongmuốn đầu tư vào lĩnh vực này Nhưng cơ sở hạ tầng lại là yếu tố tiên quyết để phát triểnkinh tế - xã hội Vậy để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhà nước
có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn vốn Trong thời gian qua, nhữngcông trình lớn, trọng điểm đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường là do Nhà nước đầu tư Sự
hỗ trợ từ ngân sách, kết hợp cả nguồn vốn địa phương và nguồn vốn đầu tư phát triển
hạ tầng du lịch của Trung ương thật sự là “xúc tác” góp phần quan trọng trong việc tạo
ra môi trường thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế Tỉnh NinhBình có nguồn tài nguyên du lịch phong phú nhưng với ngân sách địa phương eo hẹpnên những năm trước đây đã không cho phép tỉnh đầu tư phát triển trong lĩnh vực này
Từ năm 2000 đến nay, với nguồn vốn hỗ trợ của Ngân sách Trung Ương nhiều dự ánđầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ chiến lược phát triển du lịch đã được triển khai
Bảng 2.2 Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2001-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Thời gianthực hiện
Dự toánđược duyệt
Vốn giải ngânđến31/12/2008
Trang 6Cốc- Bích Động 2006
1.Khu du lịch Kênh Gà, Vân Trình, Vân
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình
Tính đến 31/12/2008, cơ sở hạ tầng của du lịch Ninh Bình đã được đầu tư913,2546 tỷ đồng tập trung vào 11 dự án, bằng 29,1% tổng mức đầu tư đã được duyệt.Trong đó vốn đầu tư từ Ngân sách Trung ương là 908,9196 tỷ đồng, riêng khu du lịchTràng An được xác định là điểm nhấn quan trọng để thu hút khách du lịch đến NinhBình Cùng với đó Tỉnh phối hợp với Viện Kiến trúc nhiệt đới – Trường Đại học Kiếntrúc Hà Nội từng bước hoàn chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình giaiđoạn 2007 – 2015, có một số khu du lịch đã quy hoạch đến năm 2020 Các bản quyhoạch của từng vùng du lịch được công bố công khai để từng người dân được biết, từ
đó họ ý thức hơn về làm du lịch, đây cũng là điều kiện thuận lợi để tiến đến xã hội hóa
du lịch Trong những năm qua, Tỉnh đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch.Những khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình được ưu tiên vốn đầu tư, đang gấp rút xâydựng và hoàn thành xong phần cơ bản về hạ tầng, bắt đầu tiến hành khai thác như khuTam Cốc – Bích Động, Tràng An, núi chùa Bái Đính, nước nóng Kênh Gà Các dự ánkhác như: Cơ sở hạ tầng tuyến du lịch đường thủy Bích Động- Hang Bụt, Thạch Bích-Thung Nắng, cơ sở hạ tầng Khu du lịch các làng nghề truyền thống cũng đang được gấprút hoàn thiện để đưa vào khai thác
Cơ sở hạ tầng được đầu tư cải thiện là đệm phóng cho những dự án đầu tư củakhu vực tư nhân Những năm gần đây, các doanh nghiệp trong Tỉnh cũng như ở trongnước đang liên tiếp đăng kí đầu tư Hiện nay, các dự án đang được triển khai thực hiện
Trang 7đầu tư theo đúng tiến độ đã phê duyệt Nhiều hạng mục công trình của các dự án đã đưavào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả
Bảng 2.3 Phân loại nguồn vốn trong nước theo khu du lịch của tỉnh Ninh Bình
tính đến 31/12/2008
Đơn vị: triệu đồng
STT Khu du lịch Vốn tư nhân
Vốn Ngân sách
Tổng vốn đầu tư
1 Khu DL Kênh Gà, Vân Trình, Vân Long 484.930 43.289 528.219
2 Khu DL vườn QG Cúc Phương 355.082 36.619 391.701
3 Khu phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn 23.583 0 23.583
4 Khu DL Hồ Yên Thắng, Đồng Thái 1.074.840 0 1.074.840
5 Khu DL Kim Sơn, nhà thờ đá Phát Diệm 10.107 0 10.107
6 Khu DL Trung tâm thành phố Ninh Bình 973.160 0 973.160
7 Khu DL Tam Cốc Bích Động, Tràng An 639.597 4.020.257 4.659.854
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình
Đến hết ngày 31/12/2008 UBND tỉnh Ninh Bình đã chấp thuận 45 dự án trongnước kinh doanh dịch vụ với tổng số vốn là 7.661,464 tỷ đồng ( trong đó có 34 dự án tưnhân) và 2 dự án 100% vốn nước ngoài Trong những năm gần đây, đầu tư trong lĩnh
Trang 8vực này tăng lên nhanh chóng cả về số dự án và vốn đầu tư Năm 2007 có 6 dự án đầu
tư được chấp thuận đầu tư với tổng mức vốn đầu tư là 610,347 tỷ đồng Năm 2008, đã
có 8 dự án lớn được chấp thuận với tổng số vốn đầu tư là 4.055 tỷ đồng Năm 2009, cácdoanh nghiệp phấn đấu đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các dự án du lịch với số vốn1.097,956 tỷ đồng
Đặc biệt là các dự án lớn đều tập trung vào các khu du lịch trọng điểm như:
♦ Khu trung tâm liên hợp du lịch và thể thao sân golf 54 lỗ Hồ Yên Thắng ( huyện Yên
Mô và Thị xã Tam Điệp), trên diện tích 670 ha, với tổng vốn đầu tư 1.757 tỷ đồng, giaiđoạn 1 là 495,6 tỷ đồng
♦ Dự án Ninh Bình Anna Mandara Resort có diện tích 16 ha do công ty Cổ phần du lịchTân Phú đầu tư với tổng vốn đầu tư là 255 tỷ đồng ( tại khu du lịch Vân Long, huyệnGia Viễn)
♦ Dự án Suối nước khoáng Kênh Gà- huyện Gia Viễn, tổng vốn đầu tư 11 tỷ đồng (tạituyến du lịch Kênh Gà – Vân Trình)
♦ Dự án Khách sạn và văn hóa Cung đình Vân Long, do công ty TNHH Thảo Sơn đầu
tư với tổng vốn đầu tư 27 tỷ đồng ( tại Vân Long, Gia Viễn)
Trong đó phải kể đến 2 dự án FDI:
♦ Dự án khu du lịch sinh thái Đông Phương Sư ( 100% vốn của Đài Loan), tổng vốnđầu tư là 32 triệu USD ( tại Vân Long, Gia Viễn)
♦ Làng quần thể du lịch Ninh Bình, cụm biệt thự bằng đá ( tại khu Tam Cốc- BíchĐộng, huyện Hoa Lư) do tập đoàn Hotel Project BV – Hà Lan đầu tư với tổng số vốn2,35 triệu USD
2.2 Xúc tiến, quảng bá du lịch
Từ năm 2000, Sở văn hóa - thể thao - du lịch ( mà dưới đây gọi tắt là Sở du lịch)
đã tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch và xây dựngqui chế, chương trình hành động về du lịch giai đoạn 2001-2005 làm cơ sở cho việcđầu tư, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Cũng trong năm 2000, Sở đã tổ chức các lớphọc tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức đi khảo sát và học tập kinh nghiệm thực tế tạicác tỉnh miền Trung và miền Nam, tham gia triển lãm gian hàng hội xuân Du lịch – Vănhóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đã đạt được giải ba toàn quốc; phối hợp với cácban ngành trong tỉnh tổ chức thành công Lễ hội Trường Yên 2000
Trang 9Trong khuôn khổ chương trình hành động về du lịch của Tỉnh, năm 2002, Sở Dulịch Ninh Bình đã chính thức đưa trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đi vàohoạt động và bước đầu đạt được kết quả tốt Đơn vị này đã phối hợp với các doanhnghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai thực hiện các chương trình quảng bá,xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình Tổ chức thành công hội thi “ Nấu các món ăn dântộc Việt Nam ngành du lịch Ninh Bình – 2002”, phát động chương trình Báo chí viết
về du lịch Ninh Bình và đã thu hút được nhiều tầng lớp dân cư tham gia
Nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mang đặc trưng Ninh Bình, Sở Du lịch
đã tiến hành nghiên cứu, tổ chức thực hiện và đưa vào thử nghiệm đề tài “ Nghiên cứu
tổ chức đóng thử tàu chở khách trên sông” Cũng trong khuôn khổ đề tài này, lần đầutiên du lịch Ninh Bình tiến hành khảo sát chuyên sâu và công bố kết quả về tuyến dulịch sinh thái chùa Bái Đính – động Sinh Dược, công bố động Sinh Dươc dài 1.360 m –một tài nguyên du lịch hết sức quí giá Hiện nay, đang triển khai thực hiện đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp khai thác tiềm năng hang động Karst phục vụphát triển du lịch Ninh Bình” làm cơ sở để xây dựng và đưa vào khai thác các tuyếntham quan du lịch mới nhằm từng bước đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ du lịch và nângcao sức hấp dẫn cho du lịch Ninh Bình
Sở Du lịch phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng 4 bộ phim giớithiệu về tiềm năng du lịch Ninh Bình, gồm: “ Non nước Tràng An – Ninh Bình”, “ Nonnước Ninh Bình”, “ Làng đá Ninh Vân”, “ Về thăm Gia Viễn” Xuất bản và đưa vào lưuhành cuốn sách “ Non nước Ninh Bình”, đưa vào sử dụng website du lịch Ninh Bình,xuất bản “ Thông tin du lịch Ninh Bình”.Ngành Du lịch tỉnh Ninh Bình cũng đã tổ chứcthành công các cuộc thi “ Hướng dẫn viên du lịch giỏi toàn ngành”, hoàn thiện 10 bàithuyết minh tại các điểm du lịch nổi tiếng của Ninh Bình và đã được dịch ra tiếng Anh,Pháp, Hoa làm tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền quảng bá và cho hướng dẫn viênlàm tài liệu cơ sở để hướng dẫn du khách
Đặc biệt, trong năm 2008 tỉnh đã tổ chức “ Tuần lễ du lịch” với nhiều nét vănhóa đặc sắc, là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng du lịch Ninh Bình, không nhữngthu hút đông đảo du khách mà còn mời gọi mạnh mẽ đầu tư, nhất là đầu tư cơ sở hạtầng Nhiều giải pháp tổng thể đã được đặt ra như: thu hút đi đôi với quản lí có hiệu quảnguồn vốn; tạo các điểm vui chơi giải trí, dịch vụ, nhà hàng, khách sạn hấp dẫn, đào tạo
Trang 10và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ và nâng cao kiến thức về du lịch chongười dân.
2.3 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trong thời gian qua, được sự quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng của Chính phủ,các chính sách khuyến khích phát triển du lịch, xúc tiến đầu tư, tuyên truyền quảng bá
du lịch của tỉnh và ngành, du lịch Ninh Bình đã có những bước phát triển khá mạnh mẽ.Năm 2007 số lượng khách đến Ninh Bình là 1.518.559 lượt, tăng 2,3 lần so với năm
2002 Trong đó lượng khách quốc tế đạt 457.920 lượt tăng so với năm 2002 là 1,8 lần,khách nội địa đạt 1.060639 tăng 2,7 lần so với năm 2002, đưa tốc độ tăng trưởng lượngkhách trung bình giai đoạn 2002 -2007 đạt 18,6% Đặc biệt năm 2008, mặc dù chịunhiều tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng Ninh Bình vẫn đón được1,9 triệu lượt khách, tăng 26% so với năm 2007
Tuy nhiên so với một số điểm du lịch khác ở nước ta, thì du lịch Ninh Bình cónhiều lợi thế hơn về tài nguyên, nhưng chưa phát huy được lợi thế so sánh sẵn có để tạo
ra lợi thế cạnh tranh Du lịch Ninh Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thếmạnh của tỉnh Hiệu quả kinh tế, xã hội còn ở mức độ thấp Một trong những nguyênnhân cơ bản của sự phát triển kém hiệu quả này, theo đánh giá của các chuyên gia là donguồn nhân lực du lịch của Ninh Bình hiện nay vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu, lại mấtcân đối về cơ cấu lao động trong du lịch Đội ngũ cán bộ quản lý du lịch và lao độnglàm dịch vụ du lịch còn vừa yếu về năng lực chuyên môn vừa yếu về ngoại ngữ, vừathiếu tính chuyên nghiệp và thái độ làm việc để thực thi các công việc theo chức danhđảm nhiệm
Theo thống kê của ngành, tính đến năm 2007, số lao động trực tiếp trong ngành
du lịch là 960 người tăng 2,3 lần so với năm 2002 Số lượng lao động trong ngành cótrình độ chuyên môn về du lịch: đại học, cao đẳng 196 người chiếm 20,4%, trung cấp
và nghề 410 người chiếm 42,7% Đào tạo trong các lĩnh vực khác (chưa qua đào tạo về
du lịch) là 219 người chiếm 22,8% Số lao động có khả năng sử dụng một trong 3 ngoạingữ phổ biến (Anh – Pháp – Trung) là 315 người chiếm 33% Riêng đối với lao độngthực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, ngành đã thực hiện tốt chủ trương thuhút nhân tài về làm việc: Tuyển thẳng 01 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi chuyên ngành du
Trang 11lịch, tiếp nhận hơn 10 lao động có trình độ cử nhân về du lịch về công tác tại các phòngban, đơn vị thuộc Sở Đưa đội ngũ nhân lực thực hiện chức năng quản lý nhà nước về
du lịch (biên chế của Sở Du lịch trước khi sát nhập thành Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch) có trình độ đại học và trên đại học chiếm 39%, trình độ cao đẳng trung cấp 29%
Bảng 2.4 Thực trạng lao động du lịch Ninh Bình giai đoạn 2003- 2007
2 Số lao động gián tiếp làm du lịch 5620 5700 5750 5900 6150
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình
Nguồn nhân lực du lịch được coi là yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi chủtrương phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, động lực thúc đẩy sự pháttriển các ngành nghề dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân theo tinh thần Nghị quyết
số 03-NQ/TƯ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XIV về phát triển du lịch đến 2010 và
kế họach số 17/KH - UBND ngày 16/8/2006 của UBND tỉnh về việc thực hiện thôngbáo 192-TB/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tiếp tục triển khai thực hiện nghịquyết 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khoá XIV) về phát triển du lịch đếnnăm 2010 Sở Du lịch nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình chủ động thammưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại tại chỗ và bồi dưỡngkiến thức du lịch cộng đồng cho nhân dân địa phương nơi có khu, điểm du lịch
Từ năm 2002 đến nay, ngành du lịch đã phối hợp với các cơ sở đào tạo lớn nhưKhoa du lịch Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Trường đại họcKinh tế quốc dân và trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội… tổ chức được 10 lớp đào tạo,bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho 564 lao động của các đơn vị quản lý khu, điểm du lịch,
Trang 12khách sạn, nhà hàng, công ty du lịch trên địa bàn toàn tỉnh, chiếm 58% tổng số lao độngtrực tiếp trong ngành Trong đó nghiệp vụ du lịch tổng hợp ( Lễ tân, buồng, bàn, bar vàbếp) cho 275 lao động, nghiệp vụ hướng dẫn viên thuyết minh cho 163 lao động, đàotạo ngoại ngữ du lịch tiếng Anh và tiếng Pháp trình độ A và B cho 126 lao động Côngtác đào tạo, đào tạo lại lực lượng lao động trực tiếp làm du lịch đã được tổ chức và thựchiện sát với nhu cầu đào tạo thực tế qua đó đã cập nhật và làm mới lại kiến thức chuyênmôn nghiệp vụ, thái độ làm việc và tăng cường khẳ năng giao tiếp ngoại ngữ của độingũ lao động góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và hình ảnh dulịch Ninh Bình trong thời gian qua
Năm 2008, Sở văn hoá - thể thao - du lịch Ninh Bình đã mở tổ chức, đào tạo, bồidưỡng nghiệp vụ du lịch cho hơn 1000 người Trong đó sở đã mở 2 lớp bồi dưỡngnghiệp vụ hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch và 2 lớp đào tạo tiếng Anh, tiếngPháp giao tiếp du lịch cho trên 100 học viên tại khu du lịch Tam Cốc- Bích Động vàkhu du lịch sinh thái Vân Long; 10 lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch cộng đồng cho hơn
900 cán bộ và nhân dân làm du lịch tại xã Gia Sinh (Gia Viễn) và thôn Văn Lâm, xãNinh Hải (Hoa Lư) Ngoài ra Sở còn tổ chức nhiều buổi tư vấn về chuyên môn, nghiệp
vụ cho các doanh nghiệp, khách sạn, đoàn khách du lịch, công ty lữ hành trong nước vàquốc tế
Một trong những đặc điểm của du lịch Ninh Bình là phát triển dựa vào cộngđồng do yếu tố xen ghép và hòa quyện giữa tài nguyên du lịch và cộng đồng dân cư.Nên số lượng lao động gián tiếp (bán chuyên nghiệp) hiện nay chiếm tỷ trọng khá lớn,với trên 6250 lao động, chiếm 86,4% tổng số lao động làm du lịch Nhưng hầu hết chưaqua các lớp đào tạo về nghiệp vụ du lịch từ sơ cấp trở lên, do vậy nhận thức, hiểu biết
về du lịch và giao tiếp ứng xử trong quá trình phục vụ khách du lịch còn nhiều hạn chếlàm ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và chất lượng phục vụ tại các khu, điểm du lịch trongtỉnh Với mục đích nâng cao nhận thức của nhân dân địa phương về phát triển du lịch,
từ năm 2003 Sở Du lịch đã phối kết hợp với các cơ sở đào tạo và chính quyền địaphương nơi có khu, điểm du lịch mở các lớp bồi dưỡng kiến thức du lịch cộng đồng chocác lao động tham gia làm dịch vụ du lịch (chụp ảnh, chèo đò, bán hàng lưu niệm,…)cho 4.050 người
Bảng 2.5 Tổng hợp lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức du lịch
Trang 13Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình
Tổ chức các lớp học nghiệp vụ cho các học viên là cán bộ, công nhân viên đangcông tác tại các đơn vị kinh doanh du lịch Đến nay đã có 25 lượt cán bộ của các kháchsạn nhà hàng trong tỉnh được tham gia các lớp học về chế biến món ăn, 20 học viêntham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, 55 hướng dẫn viên được đào tạo bồi dưỡngnghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ Năm 2004, 2005, ngành du lịch tỉnh đã phối hợp vớikhoa Du lịch – Khách sạn của trường đại học Kinh tế quốc dân tổ chức 3 lớp đào tạokiến thức về du lịch cộng đồng cho hơn 300 cán bộ quản lí của các huyện Hoa Lư vàYên Mô, 1.500 người dân tham gia làm du lịch, nội dung chương trình bồi dưỡng đượcphát liên tục trên hệ thống loa truyền thanh công cộng cho toàn thể người dân ở cáchuyện trên nghe
Với quan điểm “mưa dầm thấm lâu”, các bồi dưỡng kiến thức du lịch cộng đồngđược ngành du lịch tổ chức liên tục hàng năm, luân phiên giữa các khu, điểm du lịch đãtừng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân địa phương trongquá trình phục vụ khách du lịch và xây dựng hình ảnh điểm đến của địa phương mình.Tuy nhiên, lực lượng lao động gián tiếp này chủ yếu là những người có độ tuổi từ 40trở lên, trình độ học vấn thấp, nên khẳ năng tiếp thu kiến thức và thay đổi tư duy cònchậm, do đó chất lượng của lực lượng lao động này vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn vàtiếp tục phải được đào tạo bồi dưỡng trong những năm tới