Đặc biệt, các màng mỏng của vật liệu này hứa hẹn sẽ đáp ứng được những đòi hỏi rất cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin tốc độ cao và công nghệ lưu trữ thông tin mật độ cao… Ngoài khả
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỞI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN NGỌC ĐỈNH
Hà Nội - 2014
Trang 3Lời cảm ơn
Trước hết, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất của
mình tới Thầy giáo: TS Nguyễn Ngọc Đỉnh Người thầy đã ân cần dạy bảo,
tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn vừa qua Nếu
không có những lời hướng dẫn của thầy, em nghĩ bài luận văn này của em rất
khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy
Em cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy - cô giáo đã tận tình
dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong thời gian học tập
và rèn luyện tại trường Em cũng xin gửi tới các thầy – cô trong ban giám
hiệu nhà trường cũng như toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Vật Lý cùng
thể các cán bộ, nghiên cứu sinh, sinh viên Bộ môn Vật lý chất rắn; Phòng
Hóa lý – Khoa Hóa – Trường ĐH Khoa học tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà
Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và hướng dẫn giúp đỡ em trong quá trình
thực hiện luận văn này với sự biết ơn và lòng kính trọng nhất
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình và bạn bè, những
người đã luôn giúp đỡ, động viên em trong suốt quá trình học tập và thực
hiện luận văn này
Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2014
Học viên:
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các kết quả được trình bày trong luận văn là kết quả
nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Ngọc Đỉnh Các số
liệu và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và không có bất cứ sao
chép nào từ các công bố của người khác mà không có trích dẫn trong mục tài liệu
tham khảo
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hạnh
Trang 5DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Tên Tiếng Việt
AB03 Vật liệu perovskite
VRH Mô hình bước nhảy biến đổi
P, P Véctơ phân cực và độ lớn của nó
W Năng lượng kích hoạt cho quá trình nhảy của điện tử
Trang 6
V(r) Thế năng tương tác của điện tử
Tc Nhiệt độ chuyển pha Curie
E, E Véctơ cường độ điện trường và độ lớn của nó
τ Thời gian hồi phục
ε , ε’, εr , εr’ Phần thực của hằng số điện môi tương đối/độ thẩm điện môi tương đối
ε0 Độ thẩm điện môi chân không
ρ Điện trở suất
σ Độ dẫn điện
υ Chiều cao hàng rào thế
Trang 7Hình 1.3 : Pha cấu trúc và độ phân cực tự phát của BaTiO3 8
Hình 1.4: Độ phân cực tự phát và các pha cấu trúc khác nhau của BaTiO3 9
Hình 1.5: a, Đường trễ sắt điện b, Đường trễ sắt điện của một tinh thể đơn
moomen (nét đứt) và của mẫu đa mômen( nét liền)
10
Hình 1.6: Mô hình cấu trúc Đômen và vách Đômen trong vật liệu sắt điện 11
Hình 1.7: Hằng số điê ̣n môi phu ̣ thuô ̣c vào nhiê ̣t đô ̣ của BaTiO3
εa : Độ thẩm điện môi ứng với trường được đặt dọc theo trục a, b
εc : Độ thẩm điện môi ứng với điện trường được đặt dọc theo trục c
13
Hình 1.8: Hiệu ứng PTC trong vật liệu BaTiO3 pha tạp điện 14
Hình 2.1: Giản đồ thời gian của quá trình nung thiêu kết 19
Hình 2.2 Sơ đồ tia tới và tia phản xạ trên tinh thể 20
Hình 2.3: Nhiễu xạ kế tia X Brucker D5005 (Đức) – Khoa Vật lý, Trường đại
Hình 2.4 Sơ đồ khối kính hiển vi điện tử quét SEM 22
Hình 2.5: Kính hiển vi điện tử quét (SEM), NanoSEM 450 23
Hình 3.1: Giản đồ nhiễu xạ tia X của các mẫu chế tạo 27
Hình 3.3 : Đường cong ε (T) của BaTiO3 pha tạp 1% La ( f = 1kHz) 29
Hình 3.4 : Đường cong ε(T) của BaTiO3 pha tạp 2% La ( f = 1kHz) 30
Hình 3.5 : Đường cong ε(T) của BaTiO3 pha tạp 3% La ( f = 1kHz) 30
Trang 8
Hình 3.6 : Đường cong ε(T) của BaTiO3 pha tạp 4% La ( f = 1kHz) 31
Hình 3.7 : Đường cong ε(T) của BaTiO3 pha tạp 5% La ( f = 1kHz) 31
Hình 3.8: Đường cong Cole – Cole của hệ mẫu BaTiO3 pha tạp La 33
Hình 3.9: Kết quả phân tích EDS của mẫu BaTiO3 không pha tạp La nung thiêu
Trang 9MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PEROVSKITE SẮT ĐIỆN 4
1.1 Tổng quan về Vật liệu Perovskite sắt điện 4
1.2 Một số đặc trưng của vật liệu sắt điện 5
1.2.1 Vật liệu perovskite sắt điện 6
1.2.1.1 Đặc điểm của vật liệu perovskite sắt điện 6
1.2.1.2 Độ phân cực tự phát 6
1.2.1.3 Sự phân cực của perovskite sắt điện 6
1.2.1.4 Hiện tượng điện trễ - Cấu trúc đômen (domain) 9
1.2.1.4.1 Hiện tượng điện trễ 9
1.2.4.2 Cấu trúc đômen (domain) của vật liệu sắt điện 11
1.2.1.5 Điểm Curie và các chuyển pha trong vật liệu sắt điện 11
1.2.2 Hiệu ứng nhiệt điện trở dương (PTC) trong vật liệu BaTiO3 pha tạp điện tử 13
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 16
2.1 Công nghệ chế tạo 16
2.1.1 Quy trình chế tạo vật liệu: 16
2.1.2 Ép và nung thiêu kết 18
2.1.3 Gia công mẫu và phủ cực 19
2.2 Các phương pháp đo 20
2.2.1 Nhiễu xạ kế tia X ( XRD) 20
2.2.2 Kính hiển vi điên tử quét (SEM) 22
2.2.3 Phổ tán sắc năng lượng EDS 24
2.2.3 Hệ đo điện trở phụ thuộc nhiệt độ 25
2.2.4 Hệ đo (T,f) 25
Trang 10
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Hệ mẫu 27
3.2 Kết quả nhiễu xạ tia X 27
3.3 Kết quả khảo sát cấu trúc bề mặt 28
3.4 Sự phụ thuộc của hằng số điện môi vào nhiệt độ 29
3.5 Hằng số điện môi phụ thuộc vào tần số của các mẫu 32
3.6 Thành phần hóa học (phổ EDS, PIXE và ICP-MS) 35
KẾT LUẬN 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 11MỞ ĐẦU
Một trong những vấn đề đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt trong nghiên
cứu là các vật liệu perovskite ABO 3 có hằng số điện môi cao và tính sắt điện mạnh,
trong đó A là các nguyên tố đất hiếm có bán kính lớn định xứ tại các nút (đỉnh), B là
các kim loại chuyển tiếp Sở dĩ hiệu ứng CMR và vật liệu CMR được quan tâm
nghiên cứu đặc biệt như vậy là vì: với sự biến đổi khổng lồ (hàng nghìn lần) của điện
trở suất theo từ trường ngoài, hiệu ứng đã hứa hẹn nhiều khả năng ứng dụng thực
tiễn như: sản xuất các sensor nhạy khí, làm xúc tác cho phản ứng oxi hoá khử (khử
NOx), phản ứng oxi hoá (oxi hoá CO, NH3, CH4 và các hiđrocacbon khác), do đó có
thể làm sạch các khí thải gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt, các màng mỏng của vật
liệu này hứa hẹn sẽ đáp ứng được những đòi hỏi rất cao trong lĩnh vực công nghệ
thông tin tốc độ cao và công nghệ lưu trữ thông tin mật độ cao…
Ngoài khả năng ứng dụng thực tiễn các hợp chất perovskite ABO 3 cũng thể
hiện nhiều hiệu ứng vật lý rất phức tạp nhưng cũng rất thú vị, những hiểu biết về cơ
chế của chúng, đặc biệt là cơ chế của hiệu ứng CMR cho đến nay vẫn là một vấn đề
gây tranh cãi và mang tính thời sự cao Các công trình nghiên cứu gần đây đã cho
thấy rằng, khi hợp chất perovskite được pha tạp lỗ trống bằng cách thay thế một phần
đất hiếm (kí hiệu là A) bằng các kim loại kiềm thổ (A’) như Ba, Ca, Sr các vật liệu
A1-xA’xB03 thể hiện một mối tương quan mạnh giữa các tính chất từ, tính chất dẫn và
cấu trúc tinh thể: các tính chất của những hệ vật liệu này không những biến đổi mạnh
theo nồng độ pha tạp lỗ trống, mà còn phụ thuộc mạnh vào các điều kiện nhiệt độ, từ
trường, điện trường, áp suất ; tính chất từ của hệ có thể thay đổi từ phản sắt từ tới
sắt từ và tính dẫn có thể biến đổi từ điện môi đến kim loại Liên hệ mật thiết với các
tính chất từ và tính chất dẫn của các vật liệu này là các hiệu ứng méo mạng Jahn -
Teller, các hiệu ứng polaron, cơ chế trao đổi kép, hiện tượng chuyển pha trật tự điện
tích, lý thuyết chuyển pha Landau cho chuyển pha sắt điện
Vật liệu perovskite có hai loại chính là (1) perovskite sắt điện và (2)
perovskite sắt từ Tuy có rất nhiều các công trình nghiên cứu về hai họ vật liệu này
nhưng hầu hết các công trình đó chỉ nghiên cứu hay đề cập đến một trong hai họ vật
Trang 12
liệu trên nên hướng nghiên cứu dựa trên hai họ vật liệu sẽ có nhiều hứa hẹn Phần
lớn các nghiên cứu là tổng hợp vật liệu nano có cấu trúc đơn pha riêng rẽ, nên sẽ khó
khăn hơn trong việc khám phá thêm các tính năng mới và đột phá trong khoa học vật
liệu Do đó, các nghiên cứu dựa trên các vật liệu đa pha cấu trúc mới với những tính
chất nổi trội sẽ thu hút được nhiều quan tâm hơn so với các vật liệu đơn pha Trong
các hệ vật liệu tổ hợp đa pha, vật liệu tổ hợp đa pha sắt điện-sắt từ có nhiều hứa hẹn
cho các ứng dụng chế tạo linh kiện điện tử tiêu hao ít năng lượng…Vì các vật liệu
perovskite còn có hiệu ứng nhiệt điện trở dương (PTC) Điện trở của mẫu tăng rất
nhanh trong một khoảng nhiệt độ nhất định Trên thế giới đã có rất nhiều ứng dụng
loại vật liệu này như dụng cụ đốt nóng thông minh tự ổn định nhiệt độ, các sensor
nhiệt có độ chính xác cao, điện trở khử từ cho màn hình CRT…
Trong số các vật liệu sắt điện, BaTiO3 là vật liệu đã và đang thu hút được
nhiều sự quan tâm nghiên cứu vì BaTiO3 có hằng số điện môi lớn có thể dao động từ
1000 đến 2000 ở nhiệt độ phòng (25 oC) và có thể đạt 104 ở gần nhiệt độ Tc (Nhiệt
độ Curie của BaTiO3 là Tc = 120 oC) Ngoài ra chúng còn được sử dụng trong các
ngành công nghiệp điện, điện tử… Một số ứng dụng đáng chú ý của vật liệu BaTiO3
như dùng làm tụ điện trong các bộ nhớ máy tính như đã có trong liệt kê viết tắt
DRAM, FRAM và NVRAM, chế tạo tụ điện gốm đa lớp MLC (Multilayer Ceramic
Capacitor) hay MLCC (Multilayer Ceramic Chip Capacitor), làm các cảm biến…
Bên cạnh đó, BaTiO3 dạng bột và khối cũng được ứng dụng để chế tạo vật liệu dạng
màng dùng trong các thiết bị điện tử Hạt áp điện BaTiO3 ở kích cỡ nanomet có thể
được phân tán trong nền polymer để chế tạo các sensor cảm biến nhiệt hoặc khí….[5]
Vì những lý do trên, tôi xin chọn “ Chế tạo và nghiên cứu tính chất vật liệu
nano nền BaTiO 3 ” là tiêu đề của luận văn Trong luận văn này, chúng tôi xin trình
bày các kết quả nghiên cứu chế tạo vật liệu BaTiO3 và vật liệu BaTiO3 pha tạp La
trong môi trường kiềm của KOH bằng phương pháp thủy nhiệt Đây là một phương
pháp chế tạo được biết đến với nhiều ưu điểm: dễ dàng kiểm soát được thành phần
các chất tham gia phản ứng, nhiệt độ phản ứng thấp, kích thước hạt đồng đều, hạt tạo
ra có kích thước nhỏ, độ tinh khiết của sản phẩm cao
Trang 13Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về vật liệu Perovskite sắt điện
Chương 2 Thực nghiệm Chương 3 Kết quả và Thảo luận Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PEROVSKITE SẮT ĐIỆN
1.1 Tổng quan về Vật liệu Perovskite sắt điện
Trên hình 1.1 là ô mạng Perovskite lý tưởng Ô mạng cơ sở là một lập phương
với 8 đỉnh được chiếm giữ bởi các cation và được gọi là A Tâm của 6 mặt hình lập
phương là vị trí của các ion ligan (thường là các ion Ôxy) và tâm hình lập phương
được chiếm giữ bởi cation gọi là vị trí B Những chất có thành phần hợp thức và cấu
trúc như thế được gọi chung là hợp chất perovskite ABO3 với A và B là các iôn
(cation) có bán kính khác nhau Thông thường, bán kính iôn A lớn hơn so với B Ở
vị trí của iôn Ôxy, có thể là một số nguyên tố khác nhưng phổ biến nhất vẫn là ôxy
Tùy theo nguyên tố ở vị trí B mà có thể phân thành nhiều họ khác nhau, ví dụ như họ
manganite khi B bằng Mn, họ titanat khi B bằng Ti hay họ cobaltit khi B bằng Co
B4+
O
2-Hình 1.1 : Cấu trúc Perovskite lý tưởng
Người ta đặc biệt chú ý đến khối bát diện BO6 với sáu ion Ôxy (O2-) nằm ở
đỉnh tạo thành khối bát diện, bên trong khối bát diện này là ion B4- Khối bát diện
này đóng vai trò rất quan trọng với tính chất điện cũng như từ của vật liệu perovskite
Để đánh giá mức độ bền vững của mạng tinh thể, Goldchmit đã đưa ra thừa số
bền vững t được xác định qua biểu thức:
Trang 15t =
)(
0
R R
R R B
A
(1.1)
với RA, RB, RO lần lượt là bán kính của các ion A2+ (A3+), B4+ (B3+) và O2-
Nếu t = 1: Cấu trúc perovskite xếp chặt lý tưởng, góc liên kết B–O–B là 180o
Nếu 0,89 < t < 1: Cấu trúc perovskite được coi là ổn định
Nếu t ≠ 1 thì mạng tinh thể bị méo, các góc liên kết B–O–B bị bẻ cong Sự thay
đổi của mạng tinh thể sẽ dẫn đến sự thay đổi các tính chất điện, từ của vật liệu [3]
Bảng 1.1: Thừa số bền vững của một số vật liệu Perovskite thường gặp [6]
1.2 Một số đặc trưng của vật liệu sắt điện
Vật liệu sắt điện được định nghĩa là vật liệu mà cấu trúc của nó có chứa các
tâm điện tích dương và tâm các điện tích âm không trùng nhau và có độ phân cực
điện tự phát ngay cả khi không có điện trường ngoài, và trở nên hưởng ứng mạnh
dưới tác dụng của điện trường ngoài Trong một vùng (miền) nhỏ, độ phân cực điện
tồn tại ngay cả khi không có điện trường ngoài, nhưng trên toàn vật liệu mômen
lưỡng cực điện tổng cộng có giá trị bằng 0, do sự định hướng hỗn loạn dưới tác dụng
của nhiệt độ Ở 0K các mômen lưỡng cực điện song song với nhau, tạo nên độ phân
cực tự phát Năm 1920, lần đầu tiên Valasek đã phát hiện ra tính chất sắt điện trên
muối Rochelle có công thức dạng KNa(C4H4O6).4H2O
Trang 16
1.2.1 Vật liệu perovskite sắt điện
Tuy vật liệu sắt điện đã được biết đến hơn một thế kỷ nay, dù đã có rất nhiều
các nghiên cứu cơ bản về tính chất sắt điện trong muối Rochelle, nhưng do cấu trúc
phức tập của nó và có quá nhiều i-ôn trong một ô cơ sở đã dẫn đến những hạn chế
trong việc nghiên cứu các lý thuyết tương ứng với các kết quả thực nghiệm được
phát hiện trong mẫu muối này Vào những năm 1930, một nhóm vật liệu khác có tính
chất sắt điện cũng đã được nghiên cứu, đó là KH2PO4 (KDP) nhưng phải đến những
năm 40, tính chất sắt điện mới được nghiên cứu đầy đủ trong cấu trúc perovskite của
BaTi03 Việc khảo sát cấu trúc perovskite với số lượng nhỏ các iôn trong một ô cơ sở
đem đến những kết quả làm lý thuyết căn bản trong việc giải thích các hiệu ứng sắt
điện [2]
1.2.1.1 Đặc điểm của vật liệu perovskite sắt điện
Giống như vật liệu sắt từ, vật liệu sắt điện có các tính chất tương tự sau:
- Độ phân cực tự phát trong vùng nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ đặc trưng Tc
(nhiệt độ chuyển pha sắt điện – thuận điện: nhiệt độ Curie)
- Có cấu trúc đômen sắt điện
- Có hiệu ứng trễ với đường trễ trong giản đồ P(E) (P: độ phân cực điện,
E: cường độ điện trường ngoài đặt vào chất điện môi)
- Có hiệu ứng áp điện( tương ứng với hiện tượng từ giảo) [2]
1.2.1.2 Độ phân cực tự phát
Độ phân cực tự phát được định nghĩa là giá trị mômen lưỡng cực điện trên một
đơn vị thể tích, hoặc là giá trị của điện tích trên một đơn vị diện tích bề mặt vuông
góc với trục của phân cực tự phát Trục phân cực tự phát thường là các trục tinh thể
Bản thân các tính chất điện liên quan rất mạnh đến cấu trúc tinh thể Nhìn chung, các
tinh thể có trục cực đều tồn tại hiệu ứng áp điện [7]
1.2.1.3 Sự phân cực của perovskite sắt điện
Trong vật liệu perovskite sắt điện, xét tương tác giữa ion O2- ở đỉnh bát diện và
ion B4+ nằm trong hốc bát diện, tương tác của ion B4+ với một ion O2- có giản đồ
năng lượng E phụ thuộc vào khoảng cách được thể hiện trên hình 2.1a như sau:
Trang 17
Hình 1.2: a, Năng lượng tương tác giữa các ion B 4+ và O 2- như hàm của
khoảng cách R giữa các ion
b, Sự tạo thành giếng thế kép trong mạng ion perovskite sắt điện
Do sự cạnh tranh giữa lực đẩy Pauli và lực hút Coulomb giữa ion O2- ở đỉnh
bát diện và ion B4+ ở hốc bát diện của vật liệu perovskite sắt điện, nên xuất hiện một
cực tiểu năng lượng (hố thế) Xét tương tác của ion B4+ với một ion O2- khác nằm ở
phía đối diện với ion O2- đã xét thì cũng xuất hiện một hố thế khác Hai hố thế này
không trùng khít và nằm về hai phía của tâm điện tích của hai ion O2- trên Ion B4+
có thể nằm tại một trong hai hố thế trên và cả hai hố thế này đều không là tâm điện
tích âm, do đó xuất hiện một lưỡng cực điện tự phát P trong vật liệu Do hàng rào
thế giữa hai hố thế trên cỡ một vài eV, nên phân cực điện này rất bền vững ngay cả
khi có điện trường ngoài tác dụng Chiều cao của hàng rào thế tỉ lệ với khoảng cách
giữa các ion O2- nằm trên các đỉnh của khối bát diện Hiện tượng phân cực tự phát
liên quan chặt chẽ tới chuyển pha cấu trúc
E
R Năng lượng đẩy
Trang 18
Bảng 1.2: Kết quả tính toán Năng lượng liên kết/nguyên tử và Khe năng
lượng của Perovskite BaTiO 3 ở các cấu trúc và nhiệt độ khác nhau [2]
Cực tiểu năng lượng tổng cộng đạt được ở thể tích V = 62.96A3 ứng với hằng
số mạng a = b = c = 3.98 Ao
Vì hiện tượng phân cực tự phát liên quan đến chuyển pha cấu trúc nên ta sẽ xét
trường hợp phân cực tự phát của vật liệu perovskite BaTiO3 tại các pha cấu trúc khác
nhau
Hình 1.3 : Pha cấu trúc và độ phân cực tự phát của BaTiO 3 [8]
BaTiO3 có cấu trúc xếp chặt hoàn hảo là hình lập phương (hình 1.3 I) ở nhiệt
độ lớn hơn 120oC nên không có sự phân cực tự phát trong ô mạng Nhưng khi nhiệt
độ giảm xuống dưới 120oC thì BaTiO3 có 3 pha cấu trúc giả lập phương lần lượt là
Tứ giác, đơn nghiêng và hình thoi ( hình 1.3 II, III, IV)
Trang 19
Hình 1.4: Độ phân cực tự phát và các pha cấu trúc khác nhau của BaTiO 3 [2]
Tại pha tứ giác, ta có thể hình dung là hai đáy ô mạng perovskite bị “kéo
giãn” Điều này làm cho khoảng cách giữa các ion O2- nằm ở tâm 2 đáy tăng lên dẫn
tới sự xuất hiện của hố thế kép dọc theo trục bị giãn, trục c Ion Ti4+ sẽ chiếm một
trong hai hố thế trên để tạo thành phân cực tự phát trong ô mạng Phương của phân
cực này là phương theo trục c (hình 1 -3.II)
Tương tự, tại pha đơn nghiêng, hai cạnh đối diện của ô mạng perovskite bị
“kéo giãn” làm xuất hiện vec-tơ phân cực tự phát song song với đường chéo của mặt
bị kéo giãn của ô mạng (hình 1-3.III) Tại pha thoi, 2 đỉnh đối diện của ô cơ sở bị
“kéo giãn” làm xuất hiện vec-tơ phân cực tự phát dọc theo đường chéo chính của ô
mạng
1.2.1.4 Hiện tượng điện trễ - Cấu trúc đômen (domain)
1.2.1.4.1 Hiện tượng điện trễ
Dưới tác dụng của điện trường ngoài, độ phân cực tự phát trong vật liệu sắt
điện sẽ thay đổi cả về độ lớn và hướng Tính chất đặc trưng này của vật liệu sắt điện
được thể hiện bằng đường cong điện trễ mô tả sự phụ thuộc của độ phân cực điện
của vật liệu vào cường độ điện trường ngoài Hình 1.5a là một đường trễ sắt điện
Trang 20Ban đầu, khi vật liệu chịu tác động của một điện trường nhỏ, sự phụ thuộc của
P và E là thuận nghịch và tuyến tính Bởi vì một điện trường nhỏ như thế chưa thể
làm lật chiều bất kỳ một đômen nào được Quá trình này ứng với đoạn OA trên
đường trễ Dưới tác dụng của điện trường lớn hơn, một số đômen ngược chiều với
điện trường bị đảo chiều và độ phân cực của mẫu tăng nhanh (đoạn AB) cho tới khi
tất cả các đômen đều cùng chiều với điện trường ngoài (đoạn BC) Lúc này mẫu ở
trạng thái bão hòa và được cấu tạo bởi chỉ một đômen duy nhất
Khi điện trường giảm, độ phân cực sẽ giảm nhưng không trở về O Khi điện
trường bằng không một số đômen vẫn giữ chiều phân cực theo chiều điện trường
trước đó và vật liệu tồn tại độ phân cực dư Pr Điểm ngoại suy của đoạn BC cắt trục
tung tại Ps gọi là độ phân cực bão hòa
Độ phân cực dư (điện dư) không bị triệt tiêu cho tới khi điện trường đảo chiều
(chiều âm) và đạt đến giá trị Ec nào đó Ec được gọi là cường độ trường kháng điện
Nếu tiếp tục tăng cường độ điện trường theo chiều âm, tất cả các đômen đều phân
cực theo chiều điện trường và vật liệu lại ở trạng thái bão hòa (điểm G) nhưng có
chiều ngược với chiều bão hòa tại điểm C Chu trình trễ hoàn thành khi ta tăng điện
trường theo chiều dương tới điểm bão hòa C
a
b
Trang 211.2.4.2 Cấu trúc đômen (domain) của vật liệu sắt điện
Trong một tinh thể sắt điện, véctơ phân cực tự phát có thể cùng chiều hoặc
ngược chiều với trục phân cực của tinh thể Trong vật liệu sắt điện, những véctơ
phân cực tự phát chỉ song song cùng chiều với nhau trong những vùng xác định và
không song song cùng chiều với véctơ phân cực điện ở vùng liền kề Những vùng
nhỏ đó gọi là các đômen sắt điện Các đômen khác nhau có thể có véctơ phân cực tự
phát hướng theo các trục khác nhau Mặt phân cách giữa các đômen được gọi là
vách đômen
Dị hướng trong tinh thể sắt điện rất lớn Hướng của các lưỡng cực điện
thường được định hướng theo trục dễ Vách đômen thường có xu hướng giảm bề
rộng để giảm năng lượng đàn hồi sinh ra do sức căng bề mặt vách nên vách đômen
điện rất mỏng, chỉ cỡ vài ô mạng
1.2.1.5 Điểm Curie và các chuyển pha trong vật liệu sắt điện
Một đặc tính quan trọng khác không thể không xét đến của vật liệu perovskite
sắt điện là nhiệt độ chuyển pha hay điểm chuyển pha Curie sắt điện Tc Tại nhiệt độ
Tc thì vật liệu chuyển hoàn toàn từ trạng thái sắt điện sang thuận điện, và khi nhiệt độ
giảm xuống dưới điểm chuyển pha Tc thì quá trình chuyển pha cấu trúc từ pha lập
phương không có phân cực tự phát sang pha giả lập phương có phân cực tự phát hoặc
ngược lại sẽ xảy ra bên trong vật liệu Khi nhiệt độ lớn hơn Tc thì vật liệu không thể
hiện các đặc tính sắt điện mà vật liệu chỉ có các tính chất sắt điện ở nhiệt độ nhỏ hơn
nhiệt độ Curie Vì nguyên nhân chính của tính chất sắt điện là do sự méo mạng của
Hình 1.6: Mô hình cấu trúc Đômen và vách Đômen trong vật liệu sắt điện
Trang 22
cấu trúc thuận điện nên đối xứng tinh thể của pha sắt điện bao giờ cũng thấp hơn đối
xứng tinh thể ở pha thuận điện (có cấu trúc lập phương và độ phân cực tự phát)
Nếu tồn tại nhiều pha sắt điện tại các nhiệt độ khác nhau thì chỉ nhiệt độ tại đó
vật liệu chuyển từ trạng thái thuận điện sang trạng thái sắt điện mới gọi là nhiệt độ
chuyển pha Curie Ví dụ: BaTiO3 có 3 pha sắt điện nhưng chỉ có nhiệt độ ứng với
chuyển pha cấu trúc từ lập phương (thuận điện) sang tứ giác (sắt điện) mới gọi là
điểm chuyển pha Curie sắt điện (xem hình 1.4) Các điểm còn lại chỉ gọi là chuyển
pha cấu trúc đơn thuần
Ví dụ: Một số hợp chất sắt điện có hai điểm chuyển pha Curie (muối
Rochelle), một số loại như GASH1
lại không có điểm chuyển pha Curie và chúng luôn có tính sắt điện cho tới khi bị phân hủy nhiệt
Bảng 1.3: Nhiê ̣t độ chuyển pha Curie T c và độ phân cực tự phát tại nhiệt độ
phòng của một số hợp chất sắt điện điển hình [6]
Tại vùng lân cận nhiệt độ chuyển pha T c, các thông số nhiệt động ( hằng số
điê ̣n môi, đô ̣ đàn hồi…) của tinh thể sắt điện thay đổi một cách bất thường cùng với
sự thay đổi cấu trúc Ví dụ: Hằng số điê ̣n môi trong hầu hết các tinh thể sắt điê ̣n có
giá trị rất lớn cỡ 104
- 105 tại gần nhiệt độ Tc
Trang 231 - Guanidinium aluminum sulfate hexahydrate
2 - Luôn ơ ̉ trạng thái sắt điê ̣n 3 - Triglycine sulfat
4 - Kali dihydro phosphate
Khi nhiê ̣t độ lớn hơn nhiê ̣t độ T c , sư ̣ phụ thuộc của hằng số điê ̣n môi vào nhiệt
độ có dạng:
Tc T
C
0
(1.2) ( Trong đo ́ , C là hằng số Curie – Weiss)
Hình 1.7: Hằng số điê ̣n môi phụ thuộc vào nhiê ̣t độ của BaTiO 3 [7]
ε a : Độ thẩm điện môi ứng với trường được đặt dọc theo trục a, b
ε c : Độ thẩm điện môi ứng với điện trường được đặt dọc theo trục c
1.2.2 Hiệu ứng nhiệt điện trở dương (PTC) trong vật liệu BaTiO 3 pha tạp điện tử
Ngoài những tính chất trên đây, vật liệu sắt điện BaTiO3, SrTiO3, PbTiO3…
còn có hệ số nhiệt điện trở dương (positive temperature coeficient – PTC) khi được
pha tạp điện tử một cách thích hợp Đây là một tính chất thú vị mở ra nhiều khả năng
ứng dụng quan trọng
Trang 24
PTC là khái niệm dùng để chỉ vật liệu có điện trở suất tăng khi nhiệt độ tăng
Hiệu ứng này lần đầu tiên tìm thấy trên hệ vật liệu gốm bán dẫn BaTiO3 năm 1964
Hình 1.8: Hiệu ứng PTC trong vật liệu BaTiO 3 pha tạp điện tử [9]
Thông thường điện trở suất ở nhiệt độ phòng của BaTiO3 là 1010
Ω.cm, lúc này vật liệu mang tính điện môi Bằng cách pha tạp, ta có thể làm giảm điện trở suất
của vật liệu xuống vài bậc trở thành vật liệu dẫn điện ở nhiệt độ phòng, tạp thay thế
có thể là kim loại chuyển tiếp hoặc đất hiếm như La, Ce, Y… Hiện tượng giảm điện
trở suất này là do các ion tạp thế vào vị trí A trong mạng Perovskite Cụ thể với hệ
BaTiO3 pha tạp Y3+ , một trong những hệ mẫu được nghiên cứu trong luận văn này,
bị kích thích nhảy lên vùng dẫn, vật liệu lúc này có tính dẫn loại n Tuy nhiên nếu
chọ điều kiện nung thiêu kết không tốt, ion đất hiếm có thể thể cả vào chỗ vị trí B
4+) làm cho vật liệu không có tính chất mà ta mong muốn
1.E+01 1.E+02 1.E+03 1.E+04 1.E+05 1.E+06 1.E+07 1.E+08 1.E+09
Trang 25Sự tăng của điện trở suất của vật liệu gốm liên quan đến chuyển pha cấu trúc
từ pha sắt điện sang pha thuận điện Sự thay đổi điện trở suất theo nhiệt độ xung
quanh nhiệt độ Curie có thể lên đến 6 bậc
Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng:
- Hiệu ứng PTC chỉ xuất hiện trong gốm bán dẫn perovskite loại n
- Hiệu ứng PTC chỉ có ở mẫu đa tinh thể
- Điện trở suất có sự thay đổi đột ngột ở nhiệt độ gần bằng với điểm Curie
sắt điện
- Nguồn gốc của hiệu ứng PTC là điện trở của biên hạt
Nhiệt độ mà ở đó, điện trở suất tăng nhanh trùng với nhiệt độ Curie sắt điện
Vấn đề đặt ra là cần thay đổi nhiệt độ Curie của gốm PTC Vấn đề trên có thể giải
quyết bằng cách tạo ra hợp chất phức của các loại Perovskite khác nhau Ví dụ:
BaTiO3 – PbTiO3 hoặc BaTiO3 – SrTiO3 Bằng phương pháp này, có thể tăng nhiệt
độ chuyển pha lên 400oC hay làm giảm nhiệt độ chuyển pha xuống dưới – 100oC
Trang 26
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
2.1 Công nghệ chế tạo
Các tính chất của vật liệu gốm áp điện chịu ảnh hưởng mạnh của quá trình chế
tạo ra chúng Để chế tạo perovskite người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác
nhau như : phương pháp đồng kết tủa, phương pháp sol-gel, công nghệ gốm, phương
pháp thủy nhiệt Mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm riêng Trong luận văn
này, chúng tôi chọn phương pháp chế tạo hệ vật liệu BaTiO3 pha tạp La bằng phương
pháp thủy nhiệt vì đây là một phương pháp chế tạo được biết đến với nhiều ưu điểm:
dễ dàng kiểm soát được thành phần các chất tham gia phản ứng, nhiệt độ phản ứng
thấp, kích thước hạt đồng đều, hạt tạo ra có kích thước nhỏ, độ tinh khiết của sản
+ Các bước tiến hành chê tạo vật liệu :
(1) Phản ứng : Đầu tiên cho 0.4 mol BaCl2.2H20 lên máy khuấy từ rồi cho
thêm 45ml H20 vào cốc khuấy cho BaCl2.2H20 tan hết Sấy khô pipet rồi lấy
0.025mol TiCl3 cho vào cốc trên tiếp tục khuấy khoảng 10-15 phút Thêm KOH vào
cho đến khi pH =13.5(dùng máy đo pH) Sau đó cho dung dịch trên vào tủ sấy ở
150°c trong 7h
(2) Lọc : Lấy dung dịch ra gạn nước 2~3 lần (khi nào chất lắng xuống đáy ta
mới gạn nước ừánh lãng phí chất) Tiếp theo là trung hòa với HCl cho đến khi dung
dịch có pH=5-6 (thử bằng giấy quỳ) Cuối cùng cho dung dịch vào lọc bằng máy hút
chân không cho đến khi hết ion Cl
(thử bằng Ag+)
(3) Sấy và nghiền chất: Lấy chất lọc được cho vào tủ sấy khô ở 90°C trong
15h Sau khi sấy xong thì nghiền chất thu được BaTi0
Trang 27Chế tạo vật liệu pha tạp La thì thay thế La vào Ba theo tỉ lệ mol và cho LaCl3
vào trước khi cho TiCl3 vào
Điều kiện tối ưu tại nhiệt độ phản ứng 150°c : thời gian phản ứng 7h, tỷ lệ đầu
1.6 ≤ Ba/Ti ≤ 1.8 Sản phảm thu được có hình thái học đồng đều, kích cỡ hạt đồng
Bảng 2.2: Kết quả đo tỷ lượng Ba/Ti trên các mẫu thực nghiệm điều chế bằng
phương pháp thủy nhiệt với các tỷ lệ Ba/Ti ban đầu khác nhau
Trang 28
2.1.2 Ép và nung thiêu kết
Vật liệu sau khi nghiền, được trộn đều với chất kết dính để giúp định dạng dễ
dàng hơn Chất kết dính phổ biến đối với những gốm bán dẫn thường là PVA
(Polyvinyl Ancolnol – thường bị nhiệt phân hoàn toàn ở 800oC) Lượng chất kết dính
cho thêm vào chiếm khoảng 2% tổng khối lượng của bột hợp chất Nếu nhiều chất
kết dính, sản phẩm sẽ có nhiều bọt khí ảnh hưởng không có lợi đến phẩm chất của
mẫu Mẫu bột sau đó được ép thành dạng đĩa hoặc tấm với lực ép là 2 tấn/cm2 và đưa
vào nung thiêu kết
Trước khi nung, những nguyên tử trên bề mặt hạt chỉ chịu tác động bởi các
nguyên tử bên trong nó Tương tác giữa các nguyên tử ở hai hạt khác nhau có thể bỏ
qua vì khoảng cách giữa chúng khá xa Vì vậy, tổng năng lượng bề mặt của mẫu cao
Do nhiệt độ tăng trong quá trình nung, chuyển động nhiệt của nguyên tử tăng mạnh
và bề mặt tiếp xúc giữa các hạt tăng trong quá trình giãn nở nhiệt của chúng Cuối
cùng, mặt phân cách giữa hai hạt thu hẹp tới mức không thể bỏ qua năng lượng
tương tác giữa các nguyên tử bề mặt của hai hạt khác nhau Trạng thái này tương ứng
với một năng lượng bề mặt tổng cộng nhỏ hơn Quá trình giãn nở vì nhiệt của các hạt
do vậy không thuận nghịch nữa và quá trình này đã làm tăng mật độ của mẫu
Khi nung thiêu kết, có một số quá trình khá quan trọng khác xảy ra cần chú ý,
chẳng hạn:
(1) Trước khi nung thiêu kết, các hạt cố kết vật lý với nhau bởi quá trình ép
mẫu, sau nung thiêu kết các hạt liên kết với nhau qua biên hạt
(2) Trong quá trình nung, kích thước hạt phát triển song song với các sai hỏng
mạng
(3) Nếu phản ứng pha rắn xảy ra không hoàn toàn trong giai đoạn nung sơ bộ
thì sẽ tiếp tục xảy ra trong giai đoạn nung thiêu kết Nhưng quá trình này có thể ảnh
hưởng tới mẫu do khí phát sinh trong quá trình phản ứng sẽ tạo ra các bọt khí bên
trong mẫu
Trước khi nung thiêu kết, ứng suất nội trong hạt xuất hiện dưới dạng các sai
hỏng mạng, được tạo ra trong quá trình nghiền trộn và ép mẫu Trong thời gian đầu