Sự tồn dư gây ô nhiễm của một số chất hữu cơ độc hại, bền khó phân hủy, được kí hiệu là POP Persistent Organic Pollutant, là một vấn đề bức xúc, tồn tại hàng chục năm ở trên 1000 điểm nó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
TRẦN TRỌNG TUYỀN
NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH KHOÁNG HÓA MỘT SỐ CHẤT HỮU CƠ GÂY Ô NHIỄM KHÓ PHÂN HỦY (POP) BẰNG BỘT SẮT NANO
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌCKHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ XUÂN QUẾ PGS.TS CAO THẾ HÀ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy cô trong khoa Hóa học – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình dạy dỗ em trong quá trình học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Xuân Quế và PGS.TS Cao Thế Hà, những người Thầy đã định hướng, động viên, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bản luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị phòng ăn mòn và bảo vệ kim loại –Viện Kỹ thuật nhiệt đới – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp
đỡ em rất nhiều trong thời gian làm luận văn tại đây
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, gia đình và những người thân đã luôn động viên và giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Trọng Tuyền
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG……… iii
DANH MỤC CÁC HÌNH……….v
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT……… vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật 3
1.1.1 Phân loại theo mục đích sử dụng 3
1.1.2 Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hoá học 3
1.1.3 Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) 4
1.1.4 Phân loại theo độ bền khó phân hủy 5
1.1.5 Các dạng thuốc BVTV 6
1.2 Hợp chất hữu cơ khó phân hủy 6
1.2.1 Hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POP) 6
1.2.2 Thực trạng ô nhiễm POP 28
1.2.3 Xử lý POP tại Việt Nam và trên thế giới 29
1.2.4 Các phương pháp xử lý POP 34
1.3 Sắt nano 35
1.3.1 Đặc điểm cấu tạo của Fe(0) 35
1.3.2 Các phương pháp chế tạo Fe(0) 36
1.3.3 Ưu điểm của Fe(0) trong xử lý môi trường 36
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
2.1 Thực nghiệm 37
2.1.1 Hóa chất, dụng cụ 37
2.1.2 Tiến hành thực nghiệm 38
2.2 Các phương pháp nghiên cứu 44
2.2.1 Phương pháp quét thế tuần hoàn (CV) 44
2.2.2 Phương pháp HPLC 46
2.2.3 Phương pháp khử POP bằng bột sắt nano 47
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Nghiên cứu quá trình tách POP từ đất 48
Trang 53.1.2 Chiết rửa bằng dung môi nước với phụ gia QH3 48
3.1.3 Hiệu suất chiết rửa đất 58
3.2 Tính toán năng lượng cho quá trình phân hủy POP 58
3.3 Khảo sát điện hóa đến quá trình phân hủy POP 61
3.3.1 Khảo sát điện hóa của các pH khác nhau 61
3.3.2 Nghiên cứu điện hóa cho quá trình phân hủy DDT tách chiết từ đất 65
3.4 Khử POP bằng bột sắt nano 61
3.4.1 Phân hủy POP trong dịch chiết rửa 75
3.4.2 Phân hủy POP hấp thu trong bột polyanilin 76
3.4.3 Cơ chế phân hủy POP bằng RF1.1 77
3.4.6 Ứng dụng qui mô nhỏ 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại nhóm độc theo TCYTTG……….4 Bảng 2.1 Thời gian quá trình làm thực nghiệm 41 Bảng 3.1 Kết quả phân tích độ ẩm và hàm lượng POP tổng 48 Bảng 3.2 Kết quả phân tích hàm lượng DDT (theo đơn vị ppb) trong các mẫu thu
Trang 7Bảng 3.16 Hàm lượng DDT (theo đơn vị ppb) tổng cộng thu được trong cả quá trình
chiết 57
Bảng 3.17 Kết quả phân tích mẫu đất sau khi chiết rửa bằng dung môi E1.1, qui ra mg/kg (ppm) 57
Bảng 3.18 Hiệu suất chiết rửa DDT cho cả quá trình 58
Bảng 3.19 Sự biến đổi của mật độ dòng (J) theo pH, chu kì và điện thế (E) 64
Bảng 3.20 Sự biến đổi của mật độ dòng (J) theo số chu kì quét tại điện thế 66
Bảng 3.21 Sự biến đổi của J (anot) theo các chu kì 1, 2, 5 và điện thế (E) của S0 và S1 68
Bảng 3.22 Sự biến đổi của mật độ dòng (J) theo số chu kì quét tại các điện thế (E) khác nhau của S2 70
Bảng 3.23 Sự biến đổi của mật độ dòng (J) (anot) theo chu kì và điện thế (E) của S0 và S2 72
Bảng 3.24 Sự biến đổi của mật độ dòng (J) (anot) vào điện thế (E) ở chu kì 1 của S1 và S2 74
Bảng 3.25 Kết quả phân tích mẫu nước sau khi khử phân hủy POP bẳng chất RF1.1, dung môi chiết là E0.0 và E1.1, qui ra mg/kg (ppm) 76
Bảng 3.26 Kết quả phân tích POP khử bằng RF1.1 sau khi được hấp thu trong bột polyanilin dung môi E0.0 và E1.1, qui ra mg/kg (ppm) 76
Bảng 3.27 Kết quả phân tích POP tổng của các mẫu thí nghiệm 79
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Cột sắc ký dùng để tách chiết trong thực nghiệm 39
Hình 2.2 Đồ thị quét thế vòng cyclicvoltametry 44
Hình 2.3 Quan hệ giữa dòng – điện thế trong quét thế tuần hoàn CV 45
Hình 3.1 Giản đồ sắc kí mẫu dịch chiết sau khi rửa đất 48
Hình 3.2 Sự hình thành các gốc từ phân tử DDT với các biến thiên 599
Hình 3.3 Sự biến đổi năng lượng của quá trình hình thành các sản phẩm trung gian 600
Hình 3.4 Sự hình thành các sản phẩm trung gian từ DDT, DDD, DDE 610
Hình 3.5 Chu kì 1 đến chu kì 5 của các giá trị pH = 5, 7 và 9 ở tốc độ quét 50mV/s 621
Hình 3.6 Chu kì 1, 3 và 5 của các pH = 5, 7 và 9 ở tốc độ quét 50mV/s 633
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của chu kì quét, pH đến điện tích Q………65
Hình 3.8 Phổ CV của S0 và quá trình phân hủy DDT của S1 66
Hình 3.9 Phổ CV ở chu kì 1, 2 và 5 của S0 và S1 677
Hình 3.10 Phổ CV của quá trình phân hủy DDT của S2 69
Hình 3.11 Phổ CV ở chu kì 1, 2 và 5 của S0 và quá trình phân hủy DDT trong S2 711
Hình 3.12 Chu kì 1 phổ CV của DDT có trong S1 và S2 733
Hình 3.13 Đồ thị biểu diễn sự ảnh hưởng của chu kì, sự phân hủy DDT đến điện tích (Q) của S1 và S2 755
Hình 3.14 Vai trò của hạt sắt kim loại trong phản ứng khử chất hữu cơ clo 777
Trang 9PCDDs Đibenzo dioxins poly clo hóa
PCDFs Đibenzofurans đã poly clo hóa
PECB Pentachlorobenzen
PFOS Axit Perfluorooctanesulfonic
POP Persistent Organic Pollutant
POSF Perfluorooctanesulfonyl florua
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thuốc bảo vệ thực vật đóng vai trò quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp ở nước ta và các nước trên thế giới, nhất là trong trồng cây lương thực, rau màu… để phòng trừ các loại sâu bệnh, chuột, cỏ dại… nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế góp phần tăng năng suất, tăng mùa vụ, thay đổi cơ cấu cây trồng…
Tuy nhiên, nếu con người thiếu những hiểu biết về việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thì nó sẽ để lại tác dụng phụ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người
Sự tồn dư gây ô nhiễm của một số chất hữu cơ độc hại, bền khó phân hủy, được kí hiệu là POP (Persistent Organic Pollutant), là một vấn đề bức xúc, tồn tại hàng chục năm ở trên 1000 điểm nóng, với hàng loạt hệ lụy, gây nhiễm độc, ung thư Vấn đề xử lý chất POP được nhà nước hết sức coi trọng, các nước và tổ chức quốc tế quan tâm
Ô nhiễm POP tồn dư chủ yếu là từ các kho chứa, bãi tập kết, sau đó lan truyền trong đất và nguồn nước Vấn đề cấp thiết là làm sạch đất bị nhiễm POP, hoàn nguyên đất trở lại trạng thái tự nhiên để sử dụng (trong nông nghiệp, khu dân
cư …) POP tách ra phải được thu hồi – phân hủy triệt để Tuy nhiên cho đến nay việc xử lý, phân hủy các chất độc hại tồn dư nêu trên vẫn luôn là yêu cầu cấp thiết,
do chưa có giải pháp phù hợp, chưa có công nghệ khả thi hiệu quả, và nguồn nhân lực có kỹ thuật
Đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về vấn đề này Cho đến nay giải pháp rửa đất (washing POP contaminated soil) được cho là có hiệu quả cao Công nghệ rửa đất gồm hai giai đoạn chính: 1- rửa sạch các chất POP và hoàn nguyên đất, 2- Thu gom và phân hủy các chất POP sau khi được tách rửa từ đất Đề tài luận văn
“Nghiên cứu quá trình khoáng hóa một số chất hữu cơ gây ô nhiễm khó phân
hủy (POP) bằng bột sắt nano” là một nội dung nghiên cứu góp phần thực hiện giai
đoạn hai của công nghệ rửa đất ô nhiễm
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình khoáng hóa một số chất hữu cơ ô nhiễm khó phân hủy POP
3 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích xác định hàm lượng chất POP
- Nghiên cứu tách chiết DDT từ đất
- Xử lý đất ô nhiễm thuốc BVTV khó phân hủy (POP) bằng phụ gia QH3
- Khử các hợp chất POP bằng bột sắt nano
4 Đối tượng nghiên cứu
- Mẫu đất tại các khu vực ô nhiễm BVTV khó phân hủy (POP)
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đo điện hóa
- Phương pháp tính toán lượng tử
- Nghiên cứu tách chiết DDT từ đất
- Phương pháp khử POP bằng bột sắt nano
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
1.1.1 Phân loại theo mục đích sử dụng [25]
Nhóm các chất trừ sâu, trừ nhện, trừ côn trùng gây hại:
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, Monitor
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
+ Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin
Nhóm các chất trừ nấm, trừ bệnh, trừ vi sinh vật gây hại:
+ Các hợp chất chứa đồng
+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh
+ Các hợp chất chứa thuỷ ngân
+ Một số loại khác
Nhóm các chất trừ cỏ dại, làm rụng lá, kích thích sinh trưởng:
+ Các hợp chất chứa Phenol (2,4- D)
+ Các hợp chất của axit propyonic (Dalapon)
+ Các dẫn xuất của cacbamat (ordram)
+ Triazin
Nhóm các chất diệt chuột và động vật gặm nhấm: Photphua kẽm và Warfarin
1.1.2 Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hoá học [24, 25]
Thuốc BVTV có nguồn gốc hữu cơ:
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan
+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, Monitor
+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa
Trang 13+ Các chất trừ sâu thuỷ ngân hữu cơ
+ Các dẫn xuất của hợp chất nitro
+ Các dẫn xuất của urê
+ Các dẫn xuất của axit propionic
+ Các dẫn xuất của axit xyanhydric
Các chất trừ sâu vô cơ:
+ Các hợp chất chứa đồng
+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh
+ Các hợp chất chứa thuỷ ngân
+ Một số loại khác
+ Các chất trừ sâu có nguồn gốc thực vật là ancaloid, thực vật có chứa nicotin, anabazin, pyrethroid
1.1.3 Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) [8, 24]
Các chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể động vật ở cạn (chuột nhà), và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố tới cơ thể qua miệng và da như sau
Ghi chú: Liều gây chết trung bình (theo đơn vị mg) cho 1 nửa số chuột nhà
(theo đơn vị kg) đem thử nghiệm kí hiệu là LD 50 mg/kg chuột nhà Giá trị LD 50 mg/kg chuột nhà càng nhỏ thì tính độc càng cao [8]
Trang 14Bảng 1.1 Phân loại nhóm độc theo TCYTTG
IV Độc rất nhẹ >2000 >3000
Có thể nhận biết tính độc của thuốc bảo vệ thực vật theo dấu hiệu màu trên bao bì thuốc như sau:
- Vạch màu đỏ trên bao bì là thuốc độc nhóm I, thuộc loại rất độc và độc
- Vạch màu vàng trên bao bì là thuốc độc nhóm II, thuộc loại độc trung bình
- Vạch màu xanh trên bao bì da trời là thuốc độc nhóm III , thuộc loại ít độc
- Vạch màu xanh lá cây trên bao bì là thuốc độc nhóm IV, thuộc loại độc, rất nhẹ
1.1.4 Phân loại theo độ bền khó phân hủy [24, 25]
Các hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV) có độ bền khó phân hủy rất khác nhau, nhiều chất có thể lưu đọng trong môi trường đất, nước, không khí và trong cơ thể động, thực vật Do vậy các hoá chất BVTV có thể gây những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ con người Dựa vào độ bền khó phân hủy của chúng, có thể sắp xếp chúng vào các nhóm sau:
- Nhóm chất không bền: Nhóm này gồm các hợp chất phốt pho hữu cơ, cacbamat Các hợp chất nằm trong nhóm này có độ bền kéo dài trong vòng từ 1- 12
Trang 15- Nhóm chất bền trung bình: Các hợp chất nhóm này có độ bền vững từ 1- 18 tháng, hay một vài năm trong điều kiện tự nhiên Điển hình là thuốc diệt cỏ 2,4-D (thuộc loại hợp chất có chứa Clo)
- Nhóm chất bền khó phân hủy: các hợp chất nhóm này có độ bền từ 2- 5 năm, thậm chí hàng chục năm trong đất, nguồn nước Thuộc nhóm này là các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam là DDT, 666 (HCH),
Đó là các hợp chất Clo bền vững
- Nhóm chất rất bền khó phân hủy: Đó là các hợp chất kim loại hữu cơ, loại chất này có chứa các kim loại nặng như Thuỷ ngân (Hg), asen (As) Các kim loại nặng Hg và As không bị phân huỷ theo thời gian, chúng đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam
1.1.5 Các dạng thuốc BVTV [24, 25]
Các dạng thuốc phổ biến hiện nay
- Nhũ dầu: Emulsifiable Concentrate (EC), Nhũ Dầu (ND)
- Huyền phù: Flowable Liquid (FL), Suspensive Concentrate (SC)
- Bột hòa nước: Soluble Powder (SP)
- Dạng bã (B)
- Dung dịch: (Liquid)L, Soluble Liquid concentrate (SL), Dung Dịch (DD)
- Bột thấm nước: Wettable Powder (WP), Bột Thấm Nước (BTN)
- Dạng hạt: Granules (G), hạt (H)
1.2 Hợp chất hữu cơ khó phân hủy
1.2.1 Hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POP) [1, 26]
Định nghĩa về các hợp chất hữu cơ khó phân hủy (POP)
Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) là các hóa chất độc, gây tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe con người và môi trường POP đáng lo ngại bởi các đặc tính sau :
Trang 16- Độc tính cao: POP là những hóa chất độc hại, đã được chứng minh là có
ảnh hưởng xấu đối với sức khỏe con người và môi trường tự nhiên
- Khó phân hủy: POP là những hóa chất có độ bền hóa học cao khó phân
hủy trong điều kiện tự nhiên, nên khi đã phát thải vào môi trường, chúng có thể tồn tại trong một thời gian dài
- Khả năng di chuyển và phát tán xa: POP có thể di chuyển đi xa khỏi
nguồn phát thải ban đầu theo gió, nước hay nhờ vào các loài di cư
- Khả năng tích tụ sinh học: POP có thể được hấp thụ dễ dàng vào các mô
mỡ và tích tụ sinh học trong cơ thể của các sinh vật sống, làm tăng nồng độ các chất này ( được tích tụ sinh học) theo chuỗi thức ăn
Tác hại của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa POP với sự suy giảm số lượng, bệnh dịch và các trạng thái bất thường của một số loài hoang dã như một số loài cá, chim và động vật có vú POP có thể gây tác hại về sinh sản, phát triển, miễn dịch, ung thư v.v… Con người bị nhiễm POP chủ yếu thông qua thức ăn đã bị nhiễm POP và một số đường khác, ít phổ biến hơn như uống nước nhiễm POP và tiếp xúc trực tiếp với các hóa chất này Ở người và loài động vật có vú, POP có thể di chuyển sang các hệ sau quá trình mang thai và cho con bú
Thế giới đã và đang phải chịu nhiều rủi ro về sức khỏe và tính mạng liên quan đến POP Nhóm người dễ bị tổn thương nhất là những người nhạy cảm, như trẻ em hay người già và những người có hệ miễn dịch yếu Nam giới và nữ giới ở
độ tuổi sinh sản cũng có thể bị rủi ro vì POP có thể làm suy yếu chức năng sinh sản Hậu quả do Dioxin từ chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam là một minh chứng cụ thể về tác hại của POP đối với con người và môi trường
Trong chuỗi thức ăn, POP được tích tụ vào các mô mỡ của các vi sinh vật sống và nồng độ ngày càng tăng khi được chuyển từ loài này sang loài khác Quá trình này được gọi là “tích tụ sinh học” Vì vậy, qua quá trình tích tụ sinh học, những chất POP tồn tại với lượng nhỏ trong cơ thể các sinh vật ở đầu của chuỗi thức ăn sẽ gây ra một mức độ độc hại đáng kể đối với các loài ăn thịt nằm ở cuối
Trang 17của chuỗi thức ăn Điều này có nghĩa là chỉ cần một lượng nhỏ POP được phát thải cũng có thể gây ra những tác động lớn về lâu dài
1.2.1.1 Công ƣớc về hợp chất hữu cơ khó phân hủy [26]
Sự hình thành Công ƣớc Stockholm
Nhận thức được mối đe dọa ngày càng tăng đối với sức khỏe con người và môi trường của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, vào tháng 5/1995, Hội đồng quản trị Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đã yêu cầu tiến hành đánh giá trên quy mô quốc tế đối với 12 nhóm chất POP đầu tiên (DDT, Aldrin, Dieldrin, Mirex, Endrin, Clodan, Hexaclobenzen, Toxaphen, và Heptaclo, PCB, Dioxin và Furan) Sau khi đã có đủ thông tin, vào tháng 7/1997, Hội đồng quản trị UNEP quyết định triệu tập một ủy ban Đàm phán Liên Chính phủ có nhiệm vụ soạn thảo và thương lượng một văn kiện pháp lý quốc tế làm nền tảng cho việc triển khai hành động toàn cầu để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước ảnh hưởng tiêu cực của 12 nhóm chất POP này
Sau 3 năm thương lượng giữa các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ về
môi trường và công nghiệp, Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ
khó phân hủy (Stockholm Convention Persistent Organic Pollutants) đã ra đời
Công ước đã được thông qua ngày 22/5/2001 tại Stockholm, Thụy Điển và có hiệu lực từ ngày 17/5/2004 (sau 90 ngày kể từ khi văn kiện Công ước được Bên thứ 50 phê chuẩn)
Công ước hướng tới việc quản lý an toàn, giảm thiểu và cuối cùng là loại bỏ
22 nhóm hoá chất, trong đó:
- Ban đầu Công ước Stockholm quy định việc quản lý an toàn, giảm phát thải
và tiến tới tiêu huỷ hoàn toàn 12 nhóm chất POP bao gồm Aldrin, Chlordan, Dieldrin, Endrin, Heptachlor, Hexaclo benzen, Mirex, Toxaphen và Polychlorinated Biphenyls (PCB); DDT [1,l,l-trichloro-2,2-bis (4-chlorophenyl) ethan]; Dioxin (polychlorinated dibenzo-p-dioxin), Furans (Polychlorinated dibenzofurans), Polychlorinated Biphenyls (PCB), và Hexachlorobenzen (HCB);
Trang 18- Năm 2009, Hội nghị các Bên lần thứ tư của Công ước Stockholm đã Quyết định bổ sung chín (09) nhóm chất POP mới vào các Phụ lục A, B, C của Công ước, bao gồm: Các hóa chất trong Phụ lục A Nhóm hóa chất bảo vệ thực vật: Lindan, Alpha-HCH, Beta-HCH, Chlordecon; Nhóm hóa chất công nghiệp: Hexabromobiphenyl, Pentachlorobenzen, Tetra BDE, Penta BDE, Hepta và Octa BDE; Các hóa chất trong Phụ lục B: Hóa chất công nghiệp PFOS, các muối và PFOS-F; Các hóa chất trong Phụ lục C: Pentachlorobenzen
- Năm 2011, Hội nghị các Bên lần thứ năm (COP 05) Công ước Stockholm
đã bổ sung thêm Endosulfan và các đồng phân vào Phụ lục A của Công ước (Các chất POP theo yêu cầu mới của Công ước Stockholm sau đây được gọi tắt là các chất POP mới)
Mục tiêu và yêu cầu của Công ƣớc Stockholm [26]
Công ước Stockholm là một hiệp ước toàn cầu có mục tiêu bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước hiểm họa từ POP
Công ước Stockholm phân chia POP thành 3 nhóm : Các chất phải loại bỏ
gồm : 8 hóa chất thuộc nhóm hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) và PCB ( Phụ lục A)
; các chất cần hạn chế sản xuất và sử dụng : DDT (Phụ lục B); và các chất phát sinh
không chủ định: Dioxin, Furan và PCB ( Phụ lục C)
Công ước Stockholm yêu cầu các bên tham gia, là các quốc gia hoặc các tổ chức kinh tế khu vực hợp nhất, phải nỗ lực trong quản lý, giảm thiểu liên tục và tiến tới loại bỏ việc sản xuất và sử dụng POP, bao gồm :
- Các Bên tham gia phải áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm: Loại bỏ việc sản xuất và sử dụng POP có chủ định; Quản lý và xử lý an toàn tồn lưu và chất thải POP
- Đối với PCB: Loại bỏ việc sử dụng PCB trong thiết bị (ví dụ, các máy biến thế, tụ điện hoặc các loại bình chứa khác có chất PCB tồn lưu) vào năm 2025; quản
lý và tiêu hủy an toàn các chất lỏng chứa PCB và thiết bị có hàm lượng PCB trên
Trang 190,005% càng sớm càng tốt, nhưng chậm nhất vào năm 2028; báo cáo tiến độ loại bỏ PCB 5 năm một lần
Đối với các POP được hình thành không chủ định: Phải liên tục giảm thiểu tiến tới loại bỏ POP hình thành và phát thải không chủ định; phải xây dựng kế hoạch hành động về giảm thiểu Dioxin, Furan phát sinh không chủ định trong vòng
2 năm sau khi Công ước có hiệu lực đối với mỗi bên; kiểm điểm 5 năm một lần các chiến lược đề ra trong Kế hoạch hành động nhằm đạt được mục địch; áp dụng theo
lộ trình hợp lý các công nghệ tốt nhất hiện có và kinh nghiệm bảo vệ môi trường tốt nhất cho các nguồn có khả năng phát thải POP không chủ định, nhưng chậm nhất là sau 4 năm kể từ khi Công ước có hiệu lực
- Các Bên tham gia có nhiệm vụ xây dựng Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước trong thời giam 2 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực (17/5/2004), và trình Ban Thư ký Công ước trước ngày 17/5/2006 Kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm bao gồm các hành động cụ thể nhằm quản lý, giảm thiểu và loại bỏ POP theo yêu cầu của Công ước Kế hoạch này phải gắn với chính sách bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của từng quốc gia
1.2.1.2 Một số hợp chất hữu cơ khó phân hủy (cấu tạo, công thức, tính chất…) [1, 6, 23]
Aldrin
+ Công thức phân tử: C12H8Cl6
+ Công thức cấu tạo:
Tổng hợp:
Trang 20Kị nước, đi vào nước ngầm rất chậm, do khả năng hòa tan thấp (0,009 ppm)
Hai thành phần của hỗn hợp chlordan là: cis nonachlor và trans nonachlor trans -Nonachlor độc hại hơn chlordan kỹ thuật và cis -nonachlor ít độc
-hơn Oxychlordan (C10H4Cl8O) là chất chuyển hóa của chlordan
Trang 21Chlordan là chất ô nhiễm hữu cơ bền vững, phân loại trong nhóm "dirty dozen" và bị cấm năm 2001 theo công ước stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
lý do này hiện dieldrin đang bị cấm ở hầu hết trên thế giới
Dieldrin là một loại thuốc trừ sâu và một sản phẩm phụ của các thuốc trừ sâu Aldrin Từ năm 1950 đến năm 1974, dieldrin đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát côn trùng trên cây bông, ngô và cây có múi Ngoài ra, dieldrin đã được sử dụng để kiểm soát châu chấu và muỗi, dùng làm chất bảo quản gỗ, và kiểm soát mối Thường được coi là một loại bột màu trắng hoặc nâu, Dieldrin đã bị cấm vào năm 1987
Endrin
+ Công thức phân tử: C12H8Cl6O
+ Công thức cấu tạo:
Trang 22 Hexaclobenzen
+ Công thức phân tử: C6Cl6
+ Công thức cấu tạo:
Trang 23+ Đặc điểm :
Hexaclobenzen được hình thành như một sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất các hóa chất khác Nó được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc trừ sâu cho đến năm 1965
Trang 24Tại Mỹ, nó được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực trồng bông và đậu tương
ở khu vực đông nam
Vào năm 1982, nó đã bị cấm sử dụng đối với hầu hết các nước trên thế giới, và vào năm 1990 nó đã bị cấm sử dụng cho tất cả trong nước Mỹ
Polychlorinated Biphenyls (PCB)
+ Công thức phân tử: C12H10-2nCl2n
+ Công thức cấu tạo:
+ Tính chất:
PCB ít clo không mùi, không vị, là chất lỏng màu vàng nhớt
PCB là những hợp chất rất ổn định và không bị phân hủy dễ dàng
PCB có một thời gian bán hủy dài (8-15 năm) và không hòa tan trong nước, góp phần vào sự ổn định của chúng
+ Đặc điểm:
Trang 25Do môi trường PCB độc tính và phân loại như là một chất gây ô nhiễm hữu cơ bền vững, sản xuất PCB đã bị cấm bởi Quốc hội Hoa Kỳ vào năm 1979 và bị cấm theo Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ bền vào năm 2001
DDT [1,1,1-triclo-2,2-bis (4-clophenyl) ethan]
DDT là chất không màu, không vị và gần như không có mùi
DDT rất kị nước, nó gần như không hòa tan trong nước nhưng tan tốt trong các dung môi hữu cơ, chất béo và các loại dầu
Trang 262001
Furans (Polychlorinated dibenzofurans)
+ Công thức cấu tạo:
Trang 28+ Đặc điểm:
Chlordecon còn được gọi là kepon, là một hợp chất clo hữu cơ Nó bị cấm trong các nước phương Tây, nhưng chỉ sau khi hàng triệu kg đã được sản xuất Trong năm 2009, Chlordecon đã được đưa vào Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ bền, và cấm sản xuất và sử dụng trên toàn thế giới
Hexabromobiphenyl (PBBs)
+ Công thức cấu tạo:
+ Tính chất:
PBBs thường không màu, ở trạng thái rắn thì có màu trắng trắng PBBs mềm ở
720C và phân hủy trên 3000C Có áp suất hơi thấp, rất dễ hòa tan trong benzen và toluen, và không hòa tan trong nước Bị phân hủy bởi ánh sáng tia cực tím
Trang 29PECB là một chất gây ô nhiễm hữu cơ bền, nó có thể tích tụ trong chuỗi thức
ăn Do đó, PECB đã được bổ sung trong năm 2009 vào danh sách các hợp chất hóa học được bao phủ bởi các Công ước Stockholm về việc hạn chế việc sản xuất và sử dụng các chất ô nhiễm hữu cơ bền PECB đã bị cấm ở Liên minh châu Âu từ năm
2002
PECB là chất ô nhiễm hữu cơ bền, phân loại trong nhóm "dirty dozen" và bị cấm trên toàn cầu bởi các Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy như năm 2011
PECB đã được sử dụng như một trung gian trong sản xuất thuốc trừ sâu, đặc biệt là các loại thuốc diệt nấm pentachloronitrobenzen
Pentabromodiphenyl ether (Penta BDE)
+ Công thức phân tử: C12H5Br5O
+ Công thức cấu tạo:
+ Tính chất:
Xuất hiện: bột màu hổ phách rắn hoặc loại thô trắng
Khả năng hòa tan trong nước: Không hòa tan
Trang 30 Axit Perfluorooctanesulfonic (PFOS)
Trang 31có nhiều trong công nghiệp và người tiêu dùng, nhưng chất POSF có thể suy giảm tạo thành PFOS
Tính đến tháng năm 2009, POSF và PFOS được liệt kê như các chất ô nhiễm hữu cơ bền (POP) trong Phụ lục B của Công ước Stockholm
cả Liên minh châu Âu , Úc, New Zealand, một số quốc gia Tây Phi, Hoa tiểu bang, Brazil, và Canada đã cấm trước khi công ước Stockholm được thỏa thuận Nó vẫn được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ, Trung Quốc và vài quốc gia
Trang 32khác Nó được sản xuất bởi Makhteshim Agan và một số nhà sản xuất ở Ấn Độ và Trung Quốc
1.2.1.3 Độc tính của các hợp chất hữu cơ khó phân hủy [23]
Aldrin
Gây hại đến sức khỏe con người: Sự hấp thụ qua da là con đường xâm nhập chính vào cơ thể
- Gây hại đến hệ thống thần kinh trung ương
- Ngộ độc aldrin gây đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, co thắt cơ chân tay, mất điều hòa
- Gây ra những cơn sốt nặng, co giật toàn thân, co giật lặp đi lặp lại, và hôn
mê
Chlordan
Tiếp xúc với các chất chuyển hóa chlordan có thể gây ra bệnh ung thư tinh hoàn, thay đổi nhỏ trong chức năng gan, ung thư vú, tuyến tiền liệt, não và ung thư máu, gây ra bệnh bạch cầu
Ảnh hưởng đến sức khỏe của các hợp chất chlordan, trong đó bao gồm: đau nửa đầu, viêm đường hô hấp, tiểu đường, gây nên bệnh trầm cảm, nhìn mờ, lú lẫn, co giật và có thể gây tổn thương thần kinh vĩnh viễn
Dieldrin
Dieldrin có thể gây ra các bệnh như Parkinson, ung thư vú, và gây hại đến hệ thống thần kinh… Nó cũng có thể ảnh hưởng xấu đến gốc tinh hoàn trong bào thai nếu phụ nữ mang thai tiếp xúc với nó
Gây ngộ độc cho các sinh vật dưới nước
Endrin
Endrin gây ngộ độc ở người chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, đặc biệt là ảnh hưởng đến trẻ em Nó rất độc hại đối với sinh vật nước như cá, thủy hải sản không xương sống, và thực vật phù du
Trang 33 Hexachlorobenzen
Hexachlorobenzen gây nên bệnh ung thư gan, tuyến giáp, và thận cho động vật khi tiếp xúc qua đường miệng và nó có thể gây ung thư cho con người
Độc tính tương đối thấp nhưng được coi là độc hại vì tính dai dẳng và tích lũy ở các mô mỡ trong cơ thể
Rất độc hại đối với các sinh vật dưới nước
Mirex
Mirex gây ra các rối loạn sinh lý và sinh hóa mãn tính phổ biến trong động vật
có xương sống khác nhau
- Có thể gây ung thư ở người
- Tác động có hại trên dạ dày, ruột, gan và thận
- Gây hại cho mắt và tuyến giáp
- Gây hại cho hệ thần kinh và hệ sinh sản
- Có thể là nguyên nhân gây ra xảy thai
Trang 34Gây hại cho gan, dạ dày, và tuyến giáp
PCB có thể gây ra những thay đổi trong hệ thống miễn dịch , thay đổi hành vi và sinh sản kém ở động vật
DDT [1,1,1-triclo-2,2-bis (4-clophenyl) ethan]
DDT có thể nhiễm vào cơ thể, trong tinh dịch chất lượng, kinh nguyệt, thời gian mang thai và thời gian cho con bú
Tiếp xúc với DDT là một yếu tố nguy cơ sinh non và sinh thiếu cân, và có thể gây tổn hại cho sữa của người mẹ
DDT có liên quan với sảy thai sớm và nguy hại đến thời kì đầu của lần mang thai tiếp theo
Tiếp xúc với DDT có thể ảnh hưởng đến hooc mon tuyến giáp và đóng một vai trò quan trọng trong tỷ lệ mắc và nguyên nhân của đần độn ở người
Tiếp xúc với DDT có thể gây ra các vấn đề về thần kinh (ví dụ, bệnh Parkinson ) và hen suyễn
Tiếp xúc với DDT trước tuổi dậy thì làm tăng nguy cơ ung thư vú sau này
Dioxin (polychlorinated dibenzo-p-dioxins)
Dioxin được coi là rất độc hại và có thể gây ra vấn đề sinh sản và phát triển, gây tổn hại hệ thống miễn dịch, ảnh hưởng đến nội tiết tố và cũng gây ra ung thư
Tiếp xúc trong tử cung, dioxin và các hợp chất như dioxin là một chất độc môi trường trong thời kỳ mang thai có tác dụng đến các con sau này bao gồm: thay
Trang 35đổi chức năng gan, hooc mon tuyến giáp, tế bào bạch cầu, và giảm hiệu suất trong các bài kiểm tra của học tập và trí thông minh
Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng trí tuệ, đẻ trứng (ở nữ) v.v
Chu kì bán huỷ của dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu hơn
Nó có thể gây đột biến trên các phân tử ADN
Furans (đibenzofurans đã poly clo hóa)
Đibenzofurans đã poly clo hóa (PCDFs) là một nhóm các halogen hóa các hợp chất hữu cơ là môi trường độc hại gây ô nhiễm PCDFs gây quái thai , gây đột biến ,
và bị nghi ngờ là chất gây ung thư cho con người PCDFs có xu hướng cùng xảy ra với đibenzo dioxins poly clo hóa (PCDDs) PCDFs có thể được hình thành khi nhiệt phân hoặc đốt ở nhiệt độ dưới 12000C của sản phẩm có chứa clo, chẳng hạn như PVC ,PCB…
Nồng độ gây chết cho cá là 0,022-0,095 mg/kg
Trang 36 Hexabromobiphenyl (PBBs)
Có nghiên cứu cho rằng PBBs có thể gây ra vấn đề về da như mụn trứng cá, trong người tiêu dùng của thực phẩm bị ô nhiễm Một số công nhân tiếp xúc với PBBs bởi hơi thở và tiếp xúc với da cũng phát triển mụn trứng cá
Nghiên cứu ở động vật tiếp xúc với một lượng lớn PBBs trong một thời gian ngắn hoặc với số lượng ít hơn trong thời gian dài hơn cho thấy PBBs có thể gây ra giảm cân, rối loạn về da, thần kinh và miễn dịch hệ thống hiệu ứng, cũng như ảnh hưởng đến gan, thận và tuyến giáp
PBBs là có thể gây ung thư cho con người và tăng nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ
Penta clo benzen (PECB)
PECB rất độc hại đối với sinh vật dưới nước và phân hủy khi đun nóng hoặc cháy hình thành nên các chất độc, chất khí như hidroclorua
Đốt PECB cũng có thể dẫn đến sự hình thành của đibenzo đioxins poly clo hóa “dioxin” và dibenzofurans poly clo hóa
Penta brom điphenyl ete (Penta BDE)
Penta BDE có thể xâm nhập vào cơ thể bằng cách uống hoặc hít phải Nó được tích tụ lại trong cơ thể ở các mô mỡ và có thể ở lại trong cơ thể nhiều năm
Penta BDE có thể có tác động đến gan, tuyến giáp ở động vật
- Octa BDE có thể tác động đến gan, tuyến giáp ở động vật
Axit Perfluorooctanesulfonic (PFOS)
Làm tăng nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính
Ở động vật, PFOS cũng gây ra ung thư, sự chậm phát triển thể chất, các mối nguy hiểm đến sự tăng trưởng, phá vỡ tuyến nội tiết, và gây ra tử vong cao hơn khi
bị nhiễm cúm A
Trang 37Ở người, PFOS làm giảm sự tăng trưởng của thai nhi
Liều thấp 35 mg/kg có thể gây ra cái chết ở người, và nhiều trường hợp ngộ độc dẫn đến tổn thương não vĩnh viễn
1.2.2 Thực trạng ô nhiễm POP
Sự tồn lưu và các khu vực bị ô nhiễm do POP
Mặc dù việc nhập khẩu và sử dụng thuốc BVTV là POP đã bị cấm, tuy nhiên vẫn còn một lượng hóa chất tồn lưu, tích tụ lại trước khi quyết định cấm sử dụng được ban hành Hoạt động điều tra, khảo sát về tồn lưu POP phục vụ việc soạn thảo
kế hoạch đã cho thấy thuốc BVTV hiện còn đang tồn đọng ở Việt Nam chủ yếu là 2 loại : DDT và lindan Đây là những loại thuốc còn tồn đọng từ năm 1990
Ngoài ra còn có một lượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu không xác định được thuộc nhóm nào và rất có thể chứa POP Nguồn tài chính cho thực hiện các hoạt động thống kê để xây dựng Kế hoạch không đủ để phân tích và xác định mẫu đối với các hóa chất tồn lưu
Kết quả điều tra khảo sát ban đầu đã phát hiện 14 khu vực tại 7 tỉnh (với tổng diện tích các khu vực khoảng 5.000 – 10.000 m2) đã bị ô nhiễm do thuốc BVTV là
POP, tập trung tại các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Phú
Thọ, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Đồng Nai Báo cáo điều tra, khảo sát cũng đã
đưa ra 8 khu vực ưu tiên cần sử lý nhanh chóng, triệt để để ngăn chặn tác hại của POP đối với sức khỏe con người và môi trường
Trang 38Ngoài ra, có thể tồn tại một số khu vực bị ô nhiễm do PCB vì quá trình sử dụng và quản lý dầu và dầu thải chứa PCB và các thiết bị có chứa PCB không đúng quy định
1.2.3 Xử lý POP tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.3.1 Xử lý POP tại Việt Nam [1, 6, 26, 27]
Ở Việt Nam, theo thống kê của Bộ Tài Nguyên – Môi trường đến nay các tỉnh thành trong cả nước đều tồn lưu một khối lượng lớn các loại POP, trong đó có DDT, Dioxin, dầu biến thế chứa PCB và các chất tương tự như PCB Chỉ riêng 31 tỉnh thành đã thống kê đợt 1, đã có đến khoảng 8.000 tấn dầu các loại chứa PCB và các chất tương tự PCB Trên cơ sở đó có thể nói rằng tình hình đang rất đáng báo động về việc thải bỏ, tồn lưu và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tiềm tàng do các hợp chất của PCB [1]
Do tính chất vô cùng độc hại của các hợp chất POP nên đã từ lâu Liên hiệp quốc đã cấm sử dụng các hợp chất từ PCB trong mọi lĩnh vực, đồng thời khuyến khích nghiên cứu các nguồn vật liệu thay thế Tuy nhiên, do lượng POP tồn trữ ở tất cả các quốc gia là quá lớn cho nên POP đã, đang và sẽ là một nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và chủ yếu trên phạm vi toàn thế giới trong một thời gian dài [6]
Đối với thuốc BVTV là POP:
Trước thực trạng ô nhiễm môi trường và nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe con người do thuốc BVTV nói chung và thuốc BVTV là POP nói riêng, trong những năm qua các nhà khoa học và quản lý ở Việt Nam đã tập hợp, nghiên cứu và đề xuất nhiều phương pháp xử lý khác nhau Trên cơ sở các nghiên cứu này, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Việt Nam ( nay là Bộ TN&MT)
đã ban hành quy định về quy trình, phương pháp tiêu hủy an toàn một số hóa chất độc hại, trong đó có thuốc bảo vệ thực vật
Trang 39Trong những năm gần đây (2001 – 2003), một số dự án xử lý thí điểm hóa chất, thuốc BVTV tồn đọng (trong đó có thuốc BVTV là POP) đã được thực hiện và đem lại kết quả bước đầu Cụ thể là :
- Xử lý thuốc BVTV tồn đọng bằng phương pháp đốt của Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường – Bộ Tư lệnh Hóa học Kết quả đã xử lý thuốc BVTV tồn đọng ở các tỉnh, thành phố: Lạng Sơn, Hà Tây, Hà Nội, Thái Bình, Hà Nam, Quảng Ninh, Hòa Bình…[26] Tuy nhiên, phương pháp đốt này có tiềm năng gây phát thải khí Dioxin, Furan ra ngoài không khí mà không có thiết bị kiểm soát hiệu quả
- Xử lý thuốc BVTV tồn đọng bằng phương pháp hóa học của Trung tâm Tư vấn Công nghệ Môi trường thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (tại Ninh Bình), theo quy trình công nghệ do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành [26] Quy trình này dựa trên phương pháp hoá học kết hợp với bê tông hoá nền đất, làm tường chắn, cô lập sự di chuyển của thuốc và nước bị ô nhiễm
ra môi trường xung quanh Trước tiên, lấy mẫu phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng trong nước và đất để xác định diện tích cần cô lập Sau đó chuyển tất cả các nguyên vật liệu được tháo dỡ từ kho chứa thuốc bảo vệ thực vật vào bể cô lập (đảm bảo chống thấm, chống ăn mòn) và đổ bê tông đông cứng thành một khối Đối với những khu vực bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, xây dựng tường bao xung quanh vùng đất ô nhiễm (độ sâu tuỳ thuộc vào kết quả lấy mẫu thử mức độ ô nhiễm) Khu vực bị ô nhiễm còn được đào xới lên để xử lý, làm phân huỷ dần lượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất Ngoài ra, phía trên bề mặt được phủ lớp xỉ than dày
10 cm, có tác dụng hấp thụ hoá chất độc hại trong đất và sau đó được bê tông hoá toàn bộ [27]
- Xử lý thuốc BVTV thử nghiệm bằng phương pháp thiêu đốt ở nhiệt độ cao trong lò nung xi măng thực hiện tại nhà máy Holcim – Hòn Chông, Kiên Giang ( xử
lý 40.000 lít thuốc “Access”, không gây phát thải Đioxin, Furan)
- Xử lý ô nhiễm đất tại các kho thuốc BVTV tồn đọng bằng phương pháp cô lập, asphalt hóa, phương pháp hóa học và vi sinh kết hợp (khoảng 2,5 tấn thuốc tồn đọng và các bao bì chứa đựng thuốc ở tỉnh Nghệ An) [26]
Trang 40Kết quả xử lý đã đạt được những thành quả nhất định, tạo cơ sở ban đầu trong công tác xử lý triệt để thuốc BVTV nói chung và thuốc BVTV là POP nói riêng
Tuy nhiên, việc xử lý POP và thuốc BVTV tồn lưu nói chung vẫn gặp không
ít khó khăn, cụ thể là: Thực tế lượng thuốc BVTV tồn lưu ở nước ta không lớn, nhưng lại phân bổ rải rác ở nhiều địa phương trong cả nước; việc chọn địa điểm xử
lý ở các địa phương là rất khó khăn; sự di chuyển thuốc BVTV từ địa phương này sang phương khác luôn gặp phải phản ứng mạnh của người dân; nguồn vốn đầu tư cho công tác thu gom, xử lý còn hạn hẹp và cơ chế tổ chức xử lý chưa rõ ràng
Đối với PCB và các thiết bị chứa PCB:
Việc xử lý an toàn dầu thải chứa PCB và thiết bị ô nhiễm PCB đã được Chính phủ Việt Nam quan tâm Tuy nhiên đến nay, Việt Nam chưa có công nghệ thích hợp để xử lý an toàn PCB: Phương pháp hóa học để xử lý PCB trong dầu biến thế đang trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm
Vì vậy, việc quản lý an toàn khi tiếp xúc và xử lý triệt để PCB, dầu chứa PCB, các thiết bị và khu vực bị ô nhiễm PCB là một nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết để hạn chế tác hại của PCB đối với con người và môi trường
Đối với Dioxin, Furan phát sinh không chủ định:
Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về các công nghệ/qui trình
có khả năng phát sinh POP không chủ định [26] Vì vậy, để có thể xử lý (giảm thiểu, loại bỏ) POP phát sinh không chủ định cần tăng cường hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này, kết hợp ứng dụng Công nghệ tốt nhất hiện nay và có kinh nghiệm bảo vệ môi trường tốt nhất, cơ chế phát triển sạch và Chương trình sản xuất sạch hơn, để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam
Tóm lại, Việt Nam chưa có đủ cơ sở pháp lý và công nghệ để có thể xử lý POP một cách hợp chuẩn, an toàn để đảm bảo không gây ra các tác động phụ có hại cho sức khỏe và môi trường
1.2.3.2 Xử lý POP trên Thế giới [1, 6]
Ở Hoa kỳ