- Tiến hành phân tích, đánh giá hiện trạng ĐDSH và sự biến động cảnh quan làm cơ sở cho việc phân hạng cảnh quan phục vụ QH và lựa chọn các phương thức, giải pháp khai thác, sử dụng hợp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
==============================
Hoàng Thị Hồng Liên
QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG NHẰM KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI THUỶ, HẢI SẢN HUYỆN TIÊN LÃNG, HẢI PHÕNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
==============================
Hoàng Thị Hồng Liên
QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG NHẰM KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI THUỶ, HẢI SẢN HUYỆN TIÊN LÃNG, HẢI PHÕNG
Chuyên ngành : SINH THÁI HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu phụ trợ đều nhận đƣợc sự đồng ý của các tác giả
Tác giả
Hoàng Thị Hồng Liên
Trang 4Tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Khoa học Tự nhiên, phòng Tổ chức cán bộ, Ban giám hiệu trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thiện đề tài
Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn tới GS TS Mai Đình Yên, các cán bộ thuộc Viện nghiên cứu Hải sản, Viện Tài nguyên và Môi trường biển, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở kế hoạch và đầu tư, Ủy ban nhân dân thành phố,
Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về nguồn tài liệu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp và gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn
Trang 5QHMT: Quy hoạch môi trường
QHST: Quy hoạch sinh thái
RNM: Rừng ngập mặn
ST: Sinh thái
STH: Sinh thái học
TS: Thủy sản
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các dữ liệu gốc để thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái
huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng 36
Bảng 3.1 Đặc trưng của một số yếu tố khí tượng tại trạm Phù Liễn 48
Bảng 3.2 Diện tích các loại đất huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 53
Bảng 3.3 Phân bố lao động các ngành kinh tế tại huyện Tiên Lãng 59
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất một số ngành trọng điểm của huyện Tiên
Lãng và thành phố Hải Phòng giai đoạn 2000 – 2010 60
Bảng 3.5 Đa dạng loài ở vùng ven biển Tiên Lãng 76
Bảng 3.6 Các loài tôm tự nhiên có giá trị kinh tế cao tại Tiên Lãng 79
Bảng 3.7 Diễn biến lao động và phương tiện tham gia hoạt động khai
thác và nuôi trồng thủy sản tại huyện Tiên Lãng giai đoạn 1995 – 2010 83
Bảng 3.8 Sản lượng nuôi trồng thủy sản trên toàn huyện Tiên Lãng 85
Bảng 3.9 Diện tích NTTS của huyện Tiên Lãng 89
Bảng 3.10 Đặc điểm sinh thái của một số loài thuỷ sản thích hợp với
điều kiện tự nhiên huyện Tiên Lãng 122
Trang 7Hình 2.2 Thành phần của một hệ thông tin địa lý 38
Hình 3.1 Bản đồ địa hình huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng 46
Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tiên Lãng năm 1995 56
Hình 3.4 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tiên Lãng năm 2010 57
Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất 6 xã ven biển huyện Tiên Lãng
năm 2010
58
Hình 3.6 Bản đồ thảm thực vật huyện Tiên Lãng năm1995 66
Hình 3.7 Bản đồ thảm thực vật huyện Tiên Lãng năm 2010 67
Hình 3.8 Hiện trạng sử dụng bãi triều ở huyện Tiên Lãng 73
Hình 3.9 Bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái huyện Tiên Lãng 74
Hình 3.10.Sản lƣợng khai thác thủy, hải sản của huyện Tiên Lãng 82
Hình 3.11.a Biểu đồ biến đổi diện tích NTTS huyện Tiên Lãng giai
Hình 3.13 Bản đồ sinh khí hậu huyện Tiên Lãng 112
Hình 3.14a Bản đồ cảnh quan sinh thái huyện Tiên Lãng 119
Trang 8Hình 3.14b Chú giải bản đồ cảnh quan sinh thái huyện Tiên Lãng 120
Hình 3.15 Bản đồ thủy lợi huyện Tiên Lãng 126
Hình 3.16 Sơ đồ bố trí ao nuôi thủy sản nước lợ 127
Trang 91.1 SINH THÁI HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG – NỀN
TẢNG VÀ MỤC TIÊU CỦA QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG … 6
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH MÔI
1.2.1 Khái niệm về quy hoạch môi trường……… 10
1.2.2 Quy hoạch môi trường dựa trên tiếp cận sinh thái………… 13 1.2.3 Tính cấp thiết và những khó khăn trong công tác quy hoạch
1.2.4 Lược sử và hiện trạng nghiên cứu quy hoạch môi trường… 17
1.2.5 Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược khai thác và phát
triển nuôi trồng thủy, hải sản……… 22
1.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VÙNG TIÊN LÃNG… 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ……… 28
2.2 TÀI LIỆU VÀ QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU……… 30
Trang 102.2.1 Tài liệu nghiên cứu 30
2.2.2 Quan điểm nghiên cứu……… 30
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 33
2.3.1 Phương pháp kế thừa……… 33
2.3.2 Phương pháp điều tra, khảo sát……… 33
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu bằng bản đồ, viễn thám và GIS… 36
2.3.4.Phương pháp đánh giá môi trường……… 39
2.4 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU……… 40
2.5 CÁC BƯỚC TRONG NGHIÊN CỨU LẬP QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG HUYỆN TIÊN LÃNG……… 41
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN………
44 3.1 NGHIÊN CỨU, ĐIỀU TRA CƠ BẢN PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC XÂY DỰNG QHMT CHO HUYỆN TIÊN LÃNG……… 44
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên……… 44
3.1.1.1 Vị trí địa lý……… 44
3.1.1.2 Đặc điểm địa hình……… 44
3.1.1.3 Đặc điểm khí hậu……… 47
3.1.1.4 Đặc điểm thuỷ văn……… 48
3.1.1.5 Một số chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá………
50 3.1.1.6 Đặc điểm, tính chất và hiện trạng sử dụng đất…… 52
3.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội……… 58
Trang 113.1.2.1 Dân số, cơ cấu và giá trị các ngành kinh
3.1.3.2 Sản lượng khai thác và tiềm năng NTTS của vùng
3.1.4 Những khó khăn trong hoạt động NTTS của huyện Tiên
Lãng trong giai đoạn hiện nay ……… 92
3.2 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ SINH THÁI TỚI NGUỒN LỢI THỦY, HẢI SẢN TẠI TIÊN LÃNG……… 96
3.2.1 Tác động của các nhân tố tự nhiên……… 96
3.2.2 Những tác động do hoạt động phát triển kinh tế ………… 99
3.2.3.2 Đánh giá dự báo mức độ tác động của các dự án
3.2.4 Nhận xét chung……… 107
3.3 CƠ SỞ CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG QHMT CHO MỤC
Trang 12ĐÍCH KHÔI PHỤC VÀ PTBV NGUỒN LỢI THỦY, HẢI SẢN
3.3.1 Nguyên tắc và mục tiêu QHMT huyện Tiên Lãng dựa trên
3.3.2 Thành lập bản đồ cảnh quan phục vụ cho QHMT huyện
3.3.3 Đề xuất đối tƣợng và hình thức NTTS nhằm khắc phục
những tác động bất lợi của quá trình phát triển kinh tế…… 121
3.3.3.1 Đặc điểm sinh thái một số đối tượng TS phù hợp
3.3.3.2 Hệ thống quản lý MT cho hoạt động NT thủy, hải
3.4 ĐỀ XUẤT QHMT CHO MỤC ĐÍCH KHÔI PHỤC VÀ PTBV
NGUỒN LỢI THỦY, HẢI SẢN HUYỆN TIÊN LÃNG……… 131
3.4.1 Những vấn đề cần ƣu tiên trong quá trình QHMT huyện
Tiên Lãng phục vụ cho mục đích khôi phục và phát triển
nguồn lợi thủy, hải sản bền vững và các giải pháp thực hiện 131
3.4.2 Đề xuất QHMT huyện Tiên Lãng phục vụ cho mục đích
khôi phục và phát triển nguồn lợi thủy, hải sản bền vững
đến năm 2025, tầm nhìn 2050……… 134
3.4.2.3.Tiến độ thực hiện phương án QHMT huyện Tiên
Trang 13KẾT LUẬN……… 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 152
Trang 14MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1992, đứng trước những suy thoái môi trường (MT), Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về MT và phát triển, tổ chức tại Rio de Janero đã xác định: phát triển bền vững (sự kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội với bảo vệ MT) là mục tiêu nhân loại trong thế kỷ 21 Để đạt được mục tiêu này thì việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp quy hoạch môi trường (QHMT) là một việc làm cấp thiết
Công tác QHMT đã được nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Canada, Australia, Tây Ban Nha, Đức, Nhật tiến hành và đã đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên tại Việt Nam chỉ có một số rất ít các tỉnh, thành phố, tiến hành xây dựng QHMT và việc thực hiện theo quy hoạch (QH) còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại
Hải Phòng là một vùng đất thuộc bờ Tây vịnh Bắc Bộ được xác định từ cửa Vạn - Đầu Bê tới cửa Thái Bình Với khoảng 125 km bờ biển, 5 cửa sông lớn cùng hơn 2 vạn héc ta bãi bồi ven sông, biển Hải Phòng không chỉ chiếm
vị trí quan trọng về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, văn hoá mà còn có tiềm năng trong nghề nuôi trồng và khai thác thuỷ - hải sản
Tuy nhiên trong những năm gần đây, do sự gia tăng dân số, do sự phát triển của một số ngành kinh tế, công nghiệp, cũng như do sự khai thác chưa
có QH hợp lí nên MT và tiềm năng khai thác nguồn lợi sinh vật của khu vực này đã và đang bị suy thoái một cách đáng kể Không chỉ có vậy, sự thay đổi của khí hậu và những tai biến MT cũng có những tác động rất lớn tới quá trình khai thác và đánh bắt thuỷ, hải sản của địa phương Chính vì vậy, việc đánh giá mức độ đa dạng sinh học (ĐDSH), tiềm năng nguồn lợi thủy sản
Trang 15cũng như tìm hiểu các mối quan hệ giữa chúng với nhau nhằm tìm ra các giới hạn trong khai thác, đảm bảo sự phát triển bền vững (PTBV) cũng là một việc làm hết sức cấp thiết
Cho tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu tiến hành tại vùng ven biển Hải Phòng với các nội dung trên song chưa thực sự có một nghiên cứu nào đi sâu vào việc xây dựng một QHMT cho sự phát triển bền vững của các vùng khai thác và nuôi trồng thuỷ, hải sản
Chính vì vậy, đề tài luận án đã được tiến hành tại huyện Tiên Lãng, một
huyện ven biển của thành phố Hải Phòng với nội dung: “Quy hoạch môi trường nhằm khôi phục và phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ, hải sản huyện Tiên Lãng, Hải Phòng”
Đây là một vùng đồng bằng thấp, nằm trong khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, được hai con sông lớn bồi đắp là sông Văn Úc và Thái Bình Địa hình của huyện không mấy bằng phẳng, có nhiều gò bãi xen với các đầm, lạch do bị chia cắt bởi nhiều hệ thống sông ngòi, kênh rạch Ngoài ra còn có các bãi bồi luôn được mở rộng ra phía biển với tốc độ bồi tụ lớn Tiên Lãng thực sự là một vùng đất có nhiều tiềm năng song chưa ổn định và rất nhạy cảm với những biến động của MT
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề QHMT theo hướng
khôi phục và PTBV nguồn lợi thuỷ, hải sản tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng
Trang 16- Cung cấp thêm các dẫn liệu cập nhật về hiện trạng ĐDSH của huyện
Tiên Lãng
- Tiến hành phân tích, đánh giá hiện trạng ĐDSH và sự biến động cảnh
quan làm cơ sở cho việc phân hạng cảnh quan phục vụ QH và lựa chọn các phương thức, giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý và PTBV nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông ven biển Tiên Lãng
- Tài liệu tham khảo cho các trường đại học trong quá trình giảng dạy
về môi trường và QHMT
Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án là cơ sở khoa học để đưa ra các chính sách phù hợp về đầu tư và quản lý cho các loại hình sử dụng lãnh thổ của huyện, đặc biệt là các hoạt động nuôi trồng thủy, hải sản theo hướng PTBV
3 Xây dựng cơ sở khoa học cho việc khôi phục và PTBV nguồn lợi thuỷ, hải sản tại huyện Tiên Lãng, đề xuất QH định hướng và các giải pháp quản lý, bảo vệ, khôi phục nguồn lợi thủy, hải sản cho mục đích PTBV
Trang 174 Nội dung nghiên cứu
1 Điều tra, khảo sát và đánh giá hiện trạng ĐDSH, nguồn lợi thủy, hải sản tại khu vực nghiên cứu
2 Đánh giá tác động của các yếu tố tự nhiên và con người đến tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái thuộc địa bàn huyện Tiên Lãng nhằm phát hiện những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng tới ĐDSH và nguồn lợi thủy, hải sản trong khu vực
3 Phân tích, so sánh các cơ sở dữ liệu đã có kết hợp với kết quả phân tích ảnh vệ tinh qua các mốc thời gian để đánh giá sự biến đổi về cảnh quan, ĐDSH và chiều hướng diễn thế của các HST trong mối tương quan với các hoạt động kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ
4 Đề xuất QHMT cho một huyện ven biển nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ, khôi phục và PTBV nguồn lợi thủy, hải sản huyện Tiên Lãng đến năm 2020, tầm nhìn đến 2050
5 Phạm vi nghiên cứu
1 Giới hạn không gian: Khu vực nghiên cứu là toàn bộ huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng nhưng tập trung vào khu vực cửa sông, ven biển
2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài luận án giới hạn trong các vấn đề:
- Tổng hợp, phân tích các tài liệu về điều kiện tự nhiên của huyện ven biển Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng ĐDSH của huyện ven biển Tiên Lãng
- Nghiên cứu, phân tích những nhân tố tự nhiên và nhân tác tác động tới chất lượng MT, ĐDSH và nguồn lợi sinh vật tại khu vực nghiên cứu
Trang 18- Định hướng QHMT theo hướng PTBV cho huyện Tiên Lãng dựa trên quan điểm sinh thái học
5 Những điểm mới của luận án
- Cung cấp các dẫn liệu cập nhật về hiện trạng ĐDSH tại khu vực nghiên
cứu
- Thành lập bản đồ thảm thực vật, bản đồ phân bố các HST, bản đồ biến
đổi đường bờ và bản đồ sinh thái cảnh quan cho huyện ven biển Tiên Lãng
- Là công trình đầu tiên xây dựng QHMT cho mục đích khôi phục và
PTBV nguồn lợi thủy, hải sản tại huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.2 SINH THÁI HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG – NỀN TẢNG
VÀ MỤC TIÊU CỦA QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
“Sinh thái học” (Ecology) là khoa học nghiên cứu các mối quan hệ của sinh vật hoặc một nhóm sinh vật với MT xung quanh [38,50]
Trong suốt quá trình phát triển của mình, sinh thái học (STH) đã góp phần làm rõ tính thống nhất và hoàn chỉnh của tự nhiên Ngày nay nhiều hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên được tiến hành dựa trên những hiểu biết về các quy luật sinh thái, do vậy đã hạn chế việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường cũng như sự suy giảm ĐDSH Trên cơ sở những kiến thức về STH, con người có thể tìm ra được giới hạn bền vững trong khai thác từ đó xây dựng các chiến lược khai thác và phát triển một cách hợp lý và bền vững
Đáp ứng sự phát triển của xã hội, STH kết hợp với kết quả nghiên cứu của ngành khoa học MT như địa lý, thuỷ văn, hải dương … có những ứng dụng thực tiễn trong công tác bảo vệ môi trường và tìm ra hướng PTBV
Trên thực tế khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra tại Anh (thế kỷ thứ 18), sự ra đời của động cơ hơi nước và điện, quá trình đô thị hóa, sự bùng nổ dân số, ô nhiễm MT … đã thực sự làm thay đổi mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên Là một trong số các nhà hoạt động MT tích cực thời kì đó, Rachel Carson (1962) đưa ra cảnh báo về những hậu quả MT, bà cho rằng:
“con người chống lại tự nhiên bằng những sản phẩm trí tuệ song không bao giờ giành được chiến thắng bởi khi con người hủy hoại chính MT sống của mình thì hậu quả nhận được sẽ vô cùng to lớn” [92, 107, 109]
Cùng quan điểm này, Leopold (1966) đã nhận thấy được sự mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ MT, ông đã đưa ra khái niệm lương tâm sinh
Trang 20thái (ecological conscience) nhằm kêu gọi con người thay đổi thái độ và cách thức tác động tới tự nhiên để giảm bớt những bất hòa trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên Quan điểm này của ông chính là nhằm hướng tới một
sự PTBV, cân bằng trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên [92,110] Đứng trước những nguy cơ về suy thoái MT, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về MT và phát triển tại Rio de Janeiro (1992), với sự có mặt của 152 nhà lãnh đạo cao cấp đã xác định: “PTBV là mục tiêu của nhân loại trong thế kỉ 21” Nội dung của công ước này có phần nhấn mạnh vai trò của quy hoạch sinh thái (QHST): “Cảnh quan trên trái đất rất phong phú và đa dạng song nó chỉ đáp ứng được nhu cầu của con người tại thời điểm hiện tại và trong tương lai khi nó được quản lý một cách hợp lý nhờ QHST”
Tuy nhiên trong vòng 10 năm sau đó, PTBV không đạt được những thành quả lớn do: “thế giới trở nên phụ thuộc gần như hoàn toàn vào việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên nhằm đáp ứng các nhu cầu của xã hội và của nền kinh tế” [87]
Năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV tại Nam Phi (hội nghị Rio +10) đã cụ thể hoá chương trình nghị sự 21 bằng những kế hoạch hành động
Chỉ 4 năm sau đó, tới tháng 3 năm 2005, đã có tới 1300 công trình nghiên cứu của 95 quốc gia về vấn đề PTBV được công bố Mục tiêu của PTBV là
“nâng cao điều kiện và chất lượng cuộc sống của loài người, làm cho con người ít phụ thuộc vào các nguồn lợi tự nhiên, tạo lập nên cuộc sống công bằng và bình đẳng giữa các thành viên” [9]
Cho tới nay, về cơ bản PTBV là các tương tác qua lại phụ thuộc lẫn nhau của 3 hệ thống chủ yếu của thế giới là Hệ thống tự nhiên, Hệ thống kinh tế và
hệ thống xã hội, được thể hiện trong hình 1.1 PTBV không loại trừ tăng
Trang 21trưởng kinh tế mà đòi hỏi phúc lợi kinh tế phải cân bằng với các phúc lợi sinh thái và phúc lợi nhân văn
Hình 1.1 Mô hình phát triển bền vững của Viện quốc tế Môi trường và phát
triển (IIED, 1995) Tại Việt Nam, việc bảo vệ MT, sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên đã được tiến hành từ rất sớm Chương trình nghiên cứu “Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ MT” được xây dựng năm 1981, bản
“Kế hoạch quốc gia về MT và PTBV”, quyết định thành lập Hội đồng PTBV Quốc gia năm 2005 nhằm thống nhất việc thực hiện trong phạm vi cả nước Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam là những minh chứng cụ thể [9, 10]
Với các mục tiêu quản lý MT, công cuộc bảo vệ MT và PTBV tại Việt Nam đã bước đầu đạt được những thành công nhất định Có nhiều đề tài, dự
án, các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề PTBV trên cả 3 khía cạnh:
hệ thống tự nhiên, hệ thống xã hội và hệ thống kinh tế Không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu đơn lẻ mà các nhà khoa học còn tham mưu cho chính phủ để
Trang 22PTBV như chương trình KHCN.07 giai đoạn 1996 – 2000 về sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ MT, dự án “Tăng cường năng lực về thể chế quản lý thông tin MT”, “Hệ thống thông tin và báo cáo MT”… là minh chứng cho nỗ lực của Việt Nam trong công cuộc PTBV[5, 11, 16, 17, 18]
Mặc dù đã có nhiều động thái tích cực trong công cuộc PTBV song hiện nay tại Việt Nam vẫn tồn tại nhiều mâu thuẫn chưa giải quyết được Công cuộc nghiên cứu về PTBV còn có rất nhiều khó khăn bởi thiếu sự thống nhất, liên kết giữa các ngành khoa học có liên quan Việc nghiên cứu về PTBV ở Việt Nam còn mang tính chất riêng lẻ cho từng khía cạnh: tự nhiên, kinh tế,
xã hội trong khi khâu ráp nối các khía cạnh lại với nhau hiện đang còn chưa được quan tâm đúng mức Ngoài ra do đây là một vấn đề khá nhạy cảm, lại phụ thuộc vào nhiều ngành, nhiều cấp, chịu ảnh hưởng theo nhiều hướng nên việc ứng dụng vào thực tế cuộc sống của các nghiên cứu này còn rất hạn chế Xét trên thực tế hiện tại, cuộc sống của nhân dân, đặc biệt là nông dân còn nhiều bấp bênh Gần đây, do tác động của suy thoái kinh tế cộng với những thay đổi bất thường của thời tiết nên việc nuôi trồng và khai thác gặp rất nhiều khó khăn Không chỉ dừng lại tại đó, nhiều khu vực nuôi trồng có nguy cơ không hồi phục được do nhiễm mặn, hạn hán, ô nhiễm…Công việc trước mắt đặt ra là phải xây dựng và hoàn thiện chiến lược bảo vệ MT và PTBV Sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính là đảm bảo lượng sử dụng không lớn hơn lượng phục hồi tái tạo hoặc thay thế Để đạt được mục tiêu này cần phải xây dựng các kế hoạch, QH hợp lý nhằm khai thác một cách hiệu quả, lâu dài, tránh các tác động mang tính huỷ diệt QHMT chính là một phần quan trọng trong chiến lược lâu dài đó của Việt Nam
Trang 231.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH MÔI TRƯỜNG
1.2.1 Khái niệm về quy hoạch môi trường
Giống như khái niệm về PTBV, QHMT là một khái niệm không mới, nó được “xây dựng dựa trên sự kế thừa và phát triển các nguyên lý cơ bản của quy hoạch cảnh quan, quy hoạch sinh thái học cũng như các nguyên lý cơ bản
về khoa học sức khoẻ và khoa học MT” [58] Tuy nhiên do có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau nên dẫn tới khó tìm được sự đồng thuận khi đưa ra định nghĩa
Theo Slocombe (1993), QH là “quá trình thu thập, phân tích thông tin để phục vụ lợi ích công cộng bằng việc thực thi hàng loạt các hoạt động kinh tế của con người và các hoạt động phát triển khác” [92] Định nghĩa này được thể hiện rõ hơn trong hình 1.2 về giới hạn của QHMT
Hình 1.2 Giới hạn của Quy Hoạch Môi Trường (Slocombe, 1993)
Quy hoạch Vật Lý Quy hoạch Xã Hội
Quy hoạch Kinh Tế
Quy hoạch Thể Chế
Giới hạn của
Quy Hoạch Môi Trường
Giới hạn của Quy hoạch đô thị và nông thôn
Quy hoạch
Trang 24Nói một cách đơn giản, QH bao gồm việc bố trí các mục tiêu, tập hợp và phân tích thông tin rồi thể hiện và đề xuất các cách xử lý thay thế, các dự án, các kế hoạch nhằm đáp ứng các mục tiêu ấy [87, 88]
Như vậy, nhìn chung QH có thể được coi như một phương pháp thích hợp
để tiến tới tương lai trong đó con người cùng sự phát triển là mối quan tâm hàng đầu của QH
QHMT có nhiều khác biệt so với các phương pháp QH khác bởi quá trình này luôn phải gắn với các nhân tố MT trong quá trình quyết định và lập QH
Con người được xem là trung tâm của quá trình QHMT trong khi con người tồn tại được không chỉ phụ thuộc vào MT vật lý mà còn phụ thuộc vào
MT xã hội và các thể chế xã hội Như vậy, công tác QHMT cần thiết phải nắm vững các khái niệm cơ bản liên quan tới MT, liên hệ chặt chẽ với các ngành khoa học MT cơ bản cũng như khoa học quản lý MT, khoa học xã hội [96, 98, 100]
Có thể thấy rằng QHMT là một lĩnh vực liên quan tới nhiều ngành khoa
học (Multi – disciplinary), được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau nên
khái niệm về QHMT cũng có nhiều cách diễn đạt
Baldwin năm 1985 đã đưa ra định nghĩa một cách khá chi tiết về QHMT:
“QHMT là sự khởi đầu và là các hoạt động nhằm định hướng và kiểm soát các kết quả thu được, kiểm soát sự thay đổi, sự phân bố và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong quá trình duy trì các hoạt động của con người một cách lâu dài thông qua việc giảm thiểu những tác động gây phá vỡ các quá trình vật lý, sinh thái và xã hội” Trong định nghĩa này ông nhấn mạnh vào việc cân bằng giữa các nhu cầu của con người với khả năng đáp ứng của
Trang 25tự nhiên Theo ông đây là một công việc rất khó song cũng chính là động lực
để phát triển các hình thức QH khác nhau [92]
Trong cuốn “quy hoạch xanh – phân tích thể chế của QHMT khu vực tại
Hà Lan” Frans J.G Padt (2007) định nghĩa QHMT theo khu vực là việc “thiết lập các mục tiêu, chính sách và thủ tục cho MT tự nhiên của một khu vực địa
lý cụ thể” Như vậy quan niệm này chú trọng vào việc thành lập các mục tiêu
QH Quá trình này chính là tổ chức không gian vùng cho các chức năng chung có tính bao quát như QH sử dụng tài nguyên, QH vùng kinh tế …[93] Như vậy có thể thấy QHMT rất rộng, bao gồm QH kinh tế, QH xã hội, QH quản lý, QH tự nhiên…
QHMT cũng là một lĩnh vực chuyên sâu, nó sử dụng những thông tin thay đổi lớn về địa chất, thủy văn, các thông tin STH để hiểu và đưa ra các điều kiện và áp dụng những thông tin này khi quyết định các kế hoạch
Mặc dù các định nghĩa có thể có những khác biệt song QH dựa trên những tiếp cận MT (còn gọi là QHMT) đều hướng tới việc phát triển kinh tế song vẫn đảm bảo tính bền vững của xã hội và MT, ảnh hưởng của các nhân tố MT được nghiên cứu, xem xét, cân nhắc trong suốt quá trình lập QH
Trong các hướng tiếp cận nghiên cứu QHMT, QHMT dựa trên tiếp cận ST
là hướng tiếp cận có ưu thế hơn cho mục đích PTBV Hướng tiếp cận này đề xuất QH dựa trên các nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái tới chất lượng MT cũng như sự tương tác giữa các sinh vật với nhau và với con người trong hệ sinh thái (HST), sự thích nghi của sinh vật với các cảnh quan sinh thái… Dựa trên các quy luật sinh thái, các tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các tài nguyên có khả năng tái tạo được sử dụng một cách hợp lý hơn, đảm
Trang 26bảo “lượng sử dụng không lớn hơn lượng phục hồi tái tạo hoặc thay thế” giúp con người “ít phụ thuộc vào các nguồn lợi tự nhiên” hơn, thỏa mãn các tiêu chí của PTBV
1.2.2 QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái
Odum khi nghiên cứu áp dụng lý thuyết phát triển của HST đối với STH con người đã nhấn mạnh mối tương tác giữa con người và thiên nhiên Theo ông: “Các nguyên tắc phát triển của HST có liên hệ đặc biệt quan trọng đối với quan hệ tương hỗ giữa con người và thiên nhiên” [39] Thực vậy, dưới áp lực của sự gia tăng dân số, sự phát triển của kinh tế, xã hội, con người ngày càng can thiệp sâu vào các quá trình tự nhiên, phá vỡ sự cân bằng vốn có Những hoạt động này gây suy thoái chất lượng MT, cạn kiệt các nguồn tài nguyên và chính con người đang chịu những hậu quả nặng nề như sự biến đổi khí hậu, dịch bệnh, các cuộc chiến giành nguồn năng lượng…
Các nghiên cứu STH cho thấy: “một hệ thống không thể nào cùng một lúc thỏa mãn cho cả hai chỉ tiêu đối lập nhau” Như vậy để dung hòa được những mâu thuẫn thường trực trong HST chúng ta phải có cách sử dụng thông minh, hợp lý Một mặt chúng ta vẫn phải duy trì hình thức khai thác độc canh, duy trì nền nông nghiệp có năng suất cao nhằm thỏa mãn nhu cầu về lương thực, tài nguyên thiên nhiên trong điều kiện dân số ngày một tăng, một mặt chúng
ta vẫn phải bảo tồn được những vùng trạng thái thiên nhiên ở mức nguyên vẹn Theo Odum , QH cần phải “căn cứ theo tiêu chuẩn chức năng sinh học
cơ sở, nghĩa là theo nhiệm vụ của từng vùng: 1 Khu sản xuất; 2 Khu bảo vệ;
3 Khu bị tổn thương (khu đệm); 4 Khu thành phố và khu công nghiệp” [38,39]
Để hài hòa giữa hai mục tiêu đối lập trên, quá trình QH không gian MT cần dựa trên lý thuyết phát triển HST Nói một cách khác cần phải dựa trên cơ
Trang 27sở tiếp cận HST để đề xuất các phương án tổ chức và sắp xếp các kiểu HST bởi: “Mọi tác động chỉ đúng khi nó bảo đảm vẻ đẹp, tính toàn vẹn và tính ổn định của các quần xã sinh vật” (Aldo Leopold) [110]
Cơ sở khoa học của QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái là ứng dụng lý thuyết cảnh quan sinh thái và sinh thái học để tổ chức lãnh thổ cho các hoạt động khác nhau
QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái có ưu thế hơn các hình thức QHMT khác Thực vậy, các nghiên cứu MT thường chú trọng tới những thành phần cấu tạo nên MT còn sinh thái học lại nghiên cứu các mối quan hệ, sự tương tác trong một cảnh quan sống Việc tổ chức lãnh thổ dựa trên những hiểu biết
về sự tương tác giữa các sinh vật với nhau và với cảnh quan sống sẽ ít gây xáo trộn, mất cân bằng Quá trình QH này chính là con đường ngắn nhất dẫn tới mục tiêu PTBV [85, 88, 92, 96, 112]
QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái phát triển rất mạnh trong vòng 50 năm trở lại đây bởi các kiến thức về kiến trúc cảnh quan và QH dựa trên cơ sở STH, đặc biệt là STH cảnh quan, STH người và STH quần xã
QHMT theo hướng tiếp cận STH tương đối phức tạp và có nhiều khó khăn hơn do hướng tiếp cận này buộc người làm QH phải thay đổi cách nhìn nhận
về nền kinh tế và các hoạt động kinh doanh [92, 96]
Nói một cách đơn giản, QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái là cách thức định hướng, quản lý sử dụng cảnh quan sao cho các hoạt động của con người luôn phù hợp với các quá trình tự nhiên
Người tiên phong trong lĩnh vực này là Ian McHarg (1969), ông chính là người đề xuất lấy STH làm cơ sở để thiết kế, quy hoạch Ông đã lập một
Trang 28nhóm gồm các nhà thiết kế và các nhà khoa học tự nhiên, khoa học xã hội để cùng thực hiện công việc QH Phương pháp tiếp cận này của McHarg đã ảnh hưởng nhiểu tới chuyên ngành kiến trúc cảnh quan và QH của nhiều quốc gia trên thế giới [96, 98]
Tới nửa sau của thế kỉ 20, QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái mới thực sự phát triển mạnh mẽ do:
- Sự hiểu biết về những tương tác giữa con người và sinh cảnh được mở rộng
- Các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ MT và quản lý tự nhiên trên toàn thế giới ngày càng phát triển
- Hệ quả những tác động của con người tới cảnh quan tự nhiên và văn hóa đã được nhận thức một cách đúng đắn hơn
QHMT dựa trên tiếp cận sinh thái chính là con đường dẫn tới PTBV PTBV sẽ tạo ra các quần xã có khả năng tái tạo, giúp con người không còn quá lệ thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hướng tiếp cận này trong quá trình QHMT là định hướng QH cho tương lai
1.2.3 Tính cấp thiết và những khó khăn trong công tác quy hoạch môi trường
Tại nhiều quốc gia, quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên trong đó có khai thác rừng, khai thác khoáng sản, nước ngầm, nước mặt…thiếu tính QH
đã và đang khiến cho các nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt, tác động xấu tới đời sống nhân dân cũng như quá trình phát triển kinh tế – xã hội Mặt khác, tất cả các quốc gia đều phải đối mặt với sự ô nhiễm MT không biên giới Nhiều quốc gia trở thành nạn nhân của ô nhiễm MT do nước khác gây
ra, đặc biệt là các nước thuộc thế giới thứ ba
Trang 29Việc đảm bảo cân bằng giữa nhu cầu của con người với những đặc điểm tự nhiên cấu thành nên MT là mục đích quan trọng nhất trong QHMT tuy nhiên lại rất khó đạt được Nguyên nhân dẫn tới sự mất cân bằng này là do [32]:
Sự phức tạp và không tương đồng giữa các vấn đề về MT và các giải pháp MT
Quá trình đánh giá những lợi ích của MT có thể thiếu sót và không triệt để
Các mục tiêu MT rất khó đạt được bởi cần phải có những thay đổi lớn trong lối sống
Mâu thuẫn giữa các mục tiêu MT và mục tiêu phát triển xã hội
Khó khăn trong việc thiết lập các vấn đề MT cần ưu tiên
Thiếu các cam kết chặt chẽ về sử dụng các nguồn lợi tự nhiên trong các dự án về MT
Thiếu thông tin và các công cụ hỗ trợ cần thiết cho việc đưa ra các quyết định liên quan tới MT
Một trở ngại lớn nữa ngăn cản QHMT phát huy hiệu quả là do trong quá khứ, các chính phủ là “những đối tượng huỷ hoại MT chính” bởi các quyết định thiếu cân nhắc tới các nhân tố MT Những người làm công tác hoạch định chính sách thường chỉ làm các công việc xử lý hậu quả ô nhiễm MT như một hậu quả thứ cấp mà không nhận biết được giá trị của việc QH cũng như
đã loại bỏ các giá trị ST trong quá trình QH, che đậy các vấn đề về MT do các hoạt động của chính phủ gây ra [32]
Sự chênh lệch về giàu nghèo, về mức độ phát triển kinh tế cũng là một vấn
đề gây cản trở công tác QHMT Mối lo sợ các nước giàu, các nước có nền kinh tế và công nghiệp phát triển chuyển giao những công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm MT luôn đe doạ các nước kém phát triển Không chỉ dừng lại tại đó,
Trang 30nếu công tác QHMT không tốt, các sản phẩm từ các nước đang phát triển có thể bị phân biệt và tẩy chay tại các quốc gia phát triển
Như vậy, để thoát khỏi vòng luẩn quẩn đang kìm hãm sự phát triển, các quốc gia phải xây dựng các phương hướng phát triển nhằm bảo vệ MT và PTBV Để làm tốt điều này chính là phải có một cái nhìn tổng quát, sự hiểu biết sâu, rộng về MT cũng như các tác động qua lại giữa MT tự nhiên và MT
xã hội Do vậy xây dựng QHMT, định hướng phát triển cho tương lai là một việc làm hết sức cấp thiết
1.2.4 Lược sử và hiện trạng nghiên cứu quy hoạch môi trường
Khi cuộc cách mạng công nghiệp nổ ra tại Anh vào thế kỷ thứ 18, lịch sử nghiên cứu MT bước sang một trang mới Quá trình đô thị hóa, sự bùng nổ dân số, sự ra đời của nhiều hóa chất tổng hợp… đã gây ra những tác động mang tính huỷ hoại MT sống Những hậu quả do ô nhiễm MT mang lại khiến cho con người phải nhìn nhận lại cách hành xử của mình đối với tự nhiên và cố gắng điều chỉnh hướng phát triển nhằm giảm ô nhiễm MT Đây chính là mốc đánh dấu sự ra đời và phát triển của QHMT
Sau những năm 1960, QHMT thực sự trở thành một khoa học độc lập với
- Lý thuyết QHST được đưa ra bởi Ian McHarg
Trang 31Kế thừa Patrick Gaddes, Aldo Leopold, Rachel Carson…, Ian McHarg đưa quan điểm ST vào trong quá trình thiết kế và QH; và sau này trở thành thuyết
có ảnh hưởng lớn nhất trong QHMT và được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới
Sau hơn nửa thế kỷ phát triển quan điểm này được mở rộng và kết hợp với nhiều lý thuyết và các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học khác
Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu về QHMT đang ngày càng được hoàn thiện hơn để phát huy tính hiệu quả [88, 92, 96, 97, 98, 103]
Thực trạng nghiên cứu quy hoạch môi trường trên thế giới
Trước đây, việc đưa các nhân tố MT vào trong các hoạch định và QH được tiến hành khá sớm ở một số quốc gia như Anh, Mỹ, Australia, New Zealand,… song Ian McHarg (1969) là người đặt nền móng cho những phương pháp khách quan trong công tác QHMT Dựa trên các kiến STH, McHarg đã phát triển bản đồ nhiều lớp phục vụ cho công tác QH cảnh quan Cùng với sự phát triển của hệ thống thông tin địa lý GIS, QHMT ngày càng phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới và được xem
là một khâu không thể thiếu được trong việc hoạch định hướng phát triển của mỗi quốc gia
Hiện nay trên thế giới có nhiều quốc gia thực hiện rất tốt công tác QHMT
và đang có những bước phát triển khá bền vững như Australia, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Mỹ, Nhật Bản, …
QHMT tại các quốc gia này có thể là các QH chi tiết được lập cho các khu chức năng trong một vùng chức năng cụ thể hoặc là các QH chuyên ngành hay lớn hơn như QH vùng
Trang 32Đối với các QH khu chức năng chủ yếu là QH cho các khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch… Một số thành phố lớn trên thế giới đã được tiến hành QH từ rất sớm (cuối thế kỷ 18, đầu 19) như QH thủ đô London của Anh, thủ đô Canberra của Australia, QH khu đô thị New York, QH các thành phố Boston, Chicago, Philadelphia tại Mỹ, …[85, 86, 89, 90, 94, 95]
Ngày nay một số khu du lịch cũng được tiến hành QH rất cụ thể (như khu
du lịch đảo Saaraenmaa tại Estonia, công viên quốc gia Yellowstone tại Mỹ, công viên quốc gia Kakadu tại Australia, công viên quốc gia Abrolhos tại Brazil …) theo định hướng xây dựng các tour du lịch sinh thái (ecotourism): thân thiện và hạn chế các tác động xấu tới MT trong khi vẫn phát triển kinh tế địa phương Các QH này phần nào đã cân bằng được giữa mục tiêu phát triển kinh tế và bảo vệ MT, giảm bớt các áp lực không đáng có đối với các sinh cảnh trên Đây được xem như là “khu bảo vệ” theo quan niệm về QH của Odum [86, 105,106]
Gần đây các QH chuyên ngành được tập trung và phát triển mạnh tại nhiều quốc gia Các QH chuyên ngành được nghiên cứu nhiều nhất có lẽ là các QH
sử dụng đất, QH sử dụng nước Ngoài ra, QH nông nghiệp, QH nuôi trồng thủy sản (NTTS) cũng được xây dựng rất cụ thể [103, 105, 106, 115]
Thực trạng nghiên cứu quy hoạch môi trường tại Việt Nam
Tại Việt Nam các vấn đề về QH và PTBV đã được quan tâm và nghiên cứu khá sớm
Từ những năm 1976 đã có những bài viết về vấn đề QHST và các dự án phát triển kinh tế của tác giả Mai Đình Yên [82] Theo ông, QHST là “Các dự
án phát triển kinh tế được xây dựng dựa trên các thông số về sinh thái học ngoài các thông số về kinh tế cho chính dự án” Ông cũng cho rằng: “QHST
Trang 33có yêu cầu cao hơn, nó có giá trị bổ sung, hoàn thiện các qui hoạch kinh tế”
Để tiến hành QHST cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản là:
Cũng gần với các cách tiếp cận trên, nhiều tác giả như Trần Ngọc Ninh (1998), Nguyễn Thế Thôn (1999), Vũ Quyết Thắng (2000)…cùng với các tổ chức quốc tế cũng có nhiều nghiên cứu về QHMT tại một số địa phương ở Việt Nam[36, 37, 60, 61, 57]
Tác giả Trần Ngọc Ninh tập trung nhấn mạnh các vấn đề về bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên sinh vật, phục vụ cho các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội như nghiên cứu “Góp phần QH tổng thể huyện Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận) 1995 – 2010” hay “Quy hoạch tổng thể trên cơ sở sinh thái, tài nguyên, môi trường” [36]
Nhà địa lý cảnh quan Nguyễn Thế Thôn có các nghiên cứu ứng dụng lý thuyết cảnh quan sinh thái vào việc tổ chức lãnh thổ Năm 1998, ông đã áp
Trang 34dụng lý thuyết địa hệ thống và HST của cảnh quan sinh thái (CQST) vào QH kinh tế – MT cho huyện đảo Cô Tô và một số nơi khác [60, 61]
Với cách tiếp cận của người làm công tác quản lý MT, tác giả Nguyễn Ngọc Sinh và các cộng tác viên đã trình bày ý tưởng về QHMT trong nghiên cứu: “Những định hướng trong QHMT Bắc Trung Bộ” và “QH ngành MT trong QH phát triển vùng đồng bằng sông Hồng” (1997 – 1998) Các nghiên cứu này đều xuất phát từ việc xác định các vấn đề về MT để đề xuất phương hướng, mục tiêu chiến lược và các chương trình MT trong khu vực [47]
Trên cơ sở tiếp cận ST kết hợp với quản lý MT trong việc bố trí không gian sử dụng đất, khoanh vùng chức năng MT nhằm mục tiêu bảo vệ MT và PTBV khu vực, Vũ Quyết Thắng đã tiến hành QHMT cho một khu vực ven
đô Hà Nội (2000) [57]
Cũng trên cơ sở tiếp cận này, với mục tiêu là PTBV ĐDSH và các HST, năm 2007, tác giả Đoàn Hương Mai đã có công trình nghiên cứu tại huyện miền núi tỉnh Hòa Bình Trong nghiên cứu của mình, tác giả tiến hành đánh giá, phân chia các cảnh quan (CQ) rồi từ đó đề xuất các định hướng QHST trên phạm vi toàn huyện [29]
Với các nghiên cứu về biến động CQ và ĐDSH vùng đất ngập nước ven biển, năm 2009 tác giả Nguyễn Thùy Dương đã đề xuất định hướng QH sử dụng vùng cho PTBV tại vùng đất ngập nước ven biển Thái Bình [8]
Hướng tiếp cận ST cũng được tác giả Nguyễn Thị Mai áp dụng cho các nghiên cứu QHST lưu vực sông Đa Dâng thuộc thượng nguồn sông Đồng Nai Trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Thị Mai đã ứng dụng hệ hỗ trợ quyết định Tác giả đã nghiên cứu, đánh giá những vấn đề ST, tài nguyên
Trang 35của toàn bộ lưu vực, áp dụng mô hình SWAT trong các hỗ trợ quyết định nhằm đưa ra phương án QH phù hợp nhất [30]
Như vậy có thể thấy QHMT dựa trên tiếp cận ST đã và đang được nhiều
sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học bởi đây là một hướng đi đúng đắn và cần thiết trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước
Nhìn chung QHMT tại Việt Nam là một lĩnh vực khá mới song nhận thức được tầm quan trọng của công tác QHMT, chính phủ Việt Nam cũng đã có những chính sách tích cực Trong Luật Bảo vệ MT của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố năm 2005 tại điều 4, chương I có ghi: “Bảo vệ
MT là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước,
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân” Như vậy song song với việc phát triển kinh tế, việc bảo vệ MT cũng như hạn chế tai biến MT được nhà nước ta hết sức quan tâm và cũng có những đầu tư nhất định Nhiều tỉnh, thành phố đã xây dựng QHMT cụ thể, định hướng cho sự phát triển của địa phương mình như Hà Nội, Hạ Long, Vĩnh Phúc…
1.2.5 Sự cần thiết phải xây dựng chiến lược khai thác và phát triển nuôi trồng thủy, hải sản
Trong thời gian gần đây, sự gia tăng về nhu cầu sử dụng các sản phẩm thủy, hải sản nuôi trồng và khai thác ngày càng tăng Nếu như không có các giải pháp cụ thể để tăng hiệu suất nuôi trồng (NT), giảm tải cho MT tự nhiên
sẽ dẫn tới việc khai thác cạn kiệt nguồn lợi này Trên thực tế, đã xuất hiện nhiều hình thức khai thác thủy, hải sản mang tính hủy diệt gây suy giảm nguồn lợi Việc mở rộng diện tích nuôi thủy sản (TS) nếu không có QH sẽ dẫn tới mất đi nguồn giống địa phương, suy giảm ĐDSH và có tác động xấu tới chất lượng MT
Trang 36Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO), TS hiện đang là mặt hàng thực phẩm được tiêu thụ mạnh nhất Từ nay cho đến năm
2015, tiêu thụ TS tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng trưởng khoảng 0,8%/năm, tổng nhu cầu TS và các sản phẩm TS sẽ tăng khoảng 2,1%/năm [117]
Theo Tổng điều tra Dân số 2009, dân số nước ta là 86.846.997 người Dự báo đến năm 2025 dân số Việt Nam sẽ đạt 100 triệu, sẽ đạt tối đa vào năm
2050 với 104 triệu [3]
Việt Nam có mức tiêu dùng TS bình quân đầu người đạt 19,4 kg trong năm 1999, năm 2007 là 22 kg và ước đạt 26,4 kg vào năm 2010 (Lê Xuân Sinh, 2010) [46]
Mặc dù nhu cầu về thủy hải sản tăng cao song sản lượng khai thác trong những năm gần đây đã đạt tới ngưỡng giới hạn trong khai thác Năm 1994, tổ chức FAO ước tính 60% ngư trường trên thế giới đang bị khai thác ở ngưỡng hoặc vượt ngưỡng tối đa và không ngư trường nào có thể mở rộng được nữa [117]
Như vậy nhu cầu về các sản phẩm TS ngày càng tăng do sự gia tăng dân
số và do nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này theo đầu người tăng, trong khi đó sản lượng đánh bắt TS lại ngày càng giảm Đây là điều kiện thuận lợi song cũng
là áp lực lớn cho ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên thế giới cũng như tại các địa phương
Bên cạnh đó mặc dù nhu cầu về sản lượng TS ngày càng tăng song không
vì thế mà những yêu cầu về chất lượng các sản phẩm TS giảm mà lại có xu hướng ngược lại
Người tiêu dùng hiện nay có xu hướng thích các sản phẩm thân thiện với
MT Các sản phẩm TS chế biến muốn tìm được đầu ra phải đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng một cách nghiêm ngặt Đây là một thách thức với ngành
Trang 37NTTS song cũng có thể là một lợi thế nếu biết tận dụng ưu thế tự nhiên của vùng và có phương pháp mới cũng như định hướng đúng đắn theo mục tiêu PTBV
Như vậy trong bối cảnh hiện tại, các hoạt động khai thác không đáp ứng được nhu cầu về các sản phẩm TS ngày càng tăng và NTTS trở thành hướng phát triển chính trong việc đáp ứng nhu cầu này Tuy nhiên việc phát triển nhanh, ồ ạt, không có QH trong thời gian gần đây đã để lại những hậu quả nặng nề khó khắc phục về MT như ô nhiễm nguồn nước, sự xâm mặn, phì dưỡng của các thủy vực, hạn hán, sự biến mất của nhiều loài địa phương, biến động mạnh về thành phần loài do xuất hiện các loài ngoại lai…Hiệu quả kinh
tế do các hoạt động NTTS mang lại tập trung vào một số ít các chủ trang trại, chủ đầm nuôi TS, các công ty khai thác và chế biến trong khi những hậu quả nặng nề về MT lại tác động tới phần lớn dân cư tại các khu vực có các trang trại và đầm nuôi TS Chính những xung đột về lợi ích kinh tế đã dẫn tới những bất ổn về mặt xã hội khiến cho các hoạt động này trở nên không bền vững
Để khắc phục những bất cập trên, đáp ứng nhu cầu thị trường, cải thiện chất lượng cuộc sống rất cần có các chiến lược khai thác và nuôi trồng hợp lý, hài hòa về kinh tế và ổn định về xã hội Việc xây dựng các QH phát triển NTTS là việc bắt buộc trong chiến lược phát triển ngành TS song việc rà soát, điều chỉnh QH cho phù hợp với điều kiện của từng địa phương, cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan là việc làm cần thiết, đảm bảo cho sự PTBV
1.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VÙNG TIÊN LÃNG
Các công trình nghiên cứu tại huyện Tiên Lãng được công bố chủ yếu là các công trình nghiên cứu đánh giá về điều kiện tự nhiên, tiềm năng và nguồn lợi sinh vật với nhiều hướng tiếp cận và quy mô khác nhau song thường tập
Trang 38Các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên có thể kể tới nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc viện Tài nguyên và Môi trường biển với nghiên cứu về đặc điểm địa hóa MT và trầm tích đất ngập triều ven biển Tiên Lãng (Trần Đức Thạnh, 1998), nghiên cứu về đặc trưng MT địa chất từ đó xác định tiềm năng nuôi trồng TS nước lợ cho vùng ven bờ Tiên Lãng của Nguyễn Thị Phương
Hoa (2001), “Một số đặc điểm chất lượng nước vùng biển ven bờ Tiên Lãng”
của Cao Thu Trang và những người khác (2002) [14, 55, 56, 68]
Về biến đổi đa dạng sinh học, tiềm năng NTTS cũng được nhiều tác giả
tiến hành nghiên cứu như Nguyễn Thị Thu với các đề tài “Sinh trưởng và
phát triển của rong câu chỉ vàng trong mùa mưa bão ở đầm nước lợ Tiên Lãng Hải Phòng” (1991), “Đánh giá tiềm năng nuôi trồng thuỷ sản khu vực
đất ngập nước triều Tiên Lãng, Hải Phòng” (2001); Chu Văn Thuộc và
những người khác (2000) với “Nghiên cứu biến đổi tổng đa dạng sinh học
của một số quần xã sinh vật ở một số sinh cảnh điển hình vùng đất ngập nước triều Tiên Lãng”; Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự với các nghiên cứu về
ĐDSH và nguồn lợi thủy hải sản vùng ven biển Tiên Lãng (2004)… [20, 21,
63, 64, 65]
Các nghiên cứu trên đều nhấn mạnh tiềm năng NTTS của huyện Tiên Lãng song cũng cảnh báo những tác động của hoạt động phát triển kinh tế tới chất lượng MT và nguồn lợi sinh vật tại địa phương Không chỉ vậy, năng suất và chất lượng sản phẩm từ các đầm nuôi TS cũng có những biến đổi bất lợi Dịch bệnh, thiên tai, nước thải gây ô nhiễm MT là những nhân tố đe dọa tới sự phát triển của ngành kinh tế này Bên cạnh đó, sản lượng khai thác thủy sản tự nhiên tuy tăng nhưng lại thiếu vắng nhiều loài có giá trị kinh tế Các hoạt động khai thác cũng như NT tại huyện Tiên Lãng nhìn chung chưa bền
Trang 39vững, phụ thuộc khá nhiều vào thiên nhiên và chưa xem trọng vấn đề chất lượng sản phẩm cũng như chất lượng MT
Gần đây các nghiên cứu về biến động cảnh quan, xây dựng các QH
chuyên ngành cũng bước đầu được tiến hành tại địa phương như QH phát
triển NTTS 6 xã ven biển huyện Tiên Lãng đến năm 2020 (Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, 2002); Rà soát, điều chỉnh QH tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng đến năm 2020 (Ủy ban nhân dân
huyện Tiên Lãng, 2006); Đặc điểm sinh thái cảnh quan huyện Tiên Lãng và
phương hướng PTBV (Nguyễn Hữu Nhân và cộng sự, 2007), Thực trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản các xã ven biển Tiên Lãng và đề xuất định hướng quy hoạch (Hoàng Thị Hồng Liên, 2007); Mô hình hóa biến đổi cảnh quan huyện Tiên Lãng, Thành phố Hải Phòng (Nguyễn An Thịnh, 2010) [27, 34,
35]
Trong các nghiên cứu trên, nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Hữu
Nhân, (2007) về: “Đặc điểm sinh thái cảnh quan huyện Tiên Lãng và phương
hướng PTBV” tập trung vào nghiên cứu các đặc điểm ST cảnh quan tại địa
phương Nghiên cứu trên xây dựng bản đồ CQ cho huyện Tiên Lãng với 11 loại CQST, 36 dạng CQST phân hóa theo tổ hợp thổ nhưỡng, thảm thực vật
và hiện trạng sử dụng đất Trên cơ sở đó các tác giả đã định hướng sử dụng hợp lý không gian huyện Tiên Lãng
Những nghiên cứu trên cũng chỉ là các nghiên cứu bước đầu tạo cơ sở cho công tác QHMT Mặt khác, sau này theo quyết định số 640/QĐ - TTg ngày 28/4/2011 của Thủ tướng chính phủ, tại vùng ven biển 4 xã Vinh Quang, Tiên Hưng, Đông Hưng, Tây Hưng huyện Tiên Lãng sẽ xây dựng sân bay quốc tế cấp 4F với quy mô 4500 ha sẽ có tác động rất lớn tới ĐDSH, tiềm
Trang 40năng NTTS Quyết định đã được thông qua và công tác giải phóng mặt bằng cũng như tiến hành xây dựng đê bao đã bước đầu được tiến hành tại địa phương Mâu thuẫn giữa định hướng phát triển của huyện, của thành phố với lợi ích kinh tế của người dân khá gay gắt do chưa có sự bàn bạc, thỏa thuận giữa nhà nước và người dân địa phương, các phương án QH đã có chưa hợp
lý và bền vững
Từ những nhận định trên xét thấy cần thiết phải có những nghiên cứu đánh giá tác động cũng như QH lại các khu NTTS nhằm khắc phục những tác động bất lợi do hoạt động phát triển kinh tế gây ra và khôi phục lại nguồn lợi
TS cho địa phương Việc QHMT cho huyện Tiên Lãng nhằm khôi phục và PTBV nguồn lợi thủy, hải sản được tiến hành dựa trên hướng tiếp cận ST trong QHMT
Đề tài nghiên cứu tiến hành đánh giá sự biến động CQ và hiện trạng ĐDSH, trên cơ sở đó xếp loại CQ, xây dựng kế hoạch, biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý và PTBV nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông ven biển (CSVB) Tiên Lãng
Các nghiên cứu trong đề tài luận án tập trung phân tích, khai thác chủ yếu về mặt sinh học, tiến hành lựa chọn các nhóm đối tượng đặc trưng, chiếm
ưu thế cả về thành phần loài lẫn số lượng trong quần xã sinh vật, quyết định đến những biến động CQ và tính ĐDSH của khu vực nghiên cứu