1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ

49 1,2K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Đầu Tư Xây Dựng Cơ Sở Hạ Tầng Du Lịch Trên Địa Bàn Tỉnh Phú
Trường học Trường Đại Học Phú Thọ
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Bài Luận
Thành phố Việt Trì
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 233,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phú Thọ có 13 huyện, thành ,thị, gồm: thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà,Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù N

Trang 1

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH

từ 104o48’ đến 105o27’ kinh độ Đông

Phú Thọ có 13 huyện, thành ,thị, gồm: thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà,Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh với 274 cơ sở xã phường, thị trấn.Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh

Phú Thọ cách thủ đô Hà Nội 80Km và các tỉnh xung quanh 100 – 300 km, làđiểm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc; phíaBắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; Phía Nam giáp Hòa Bình; phía Đông giáp VĩnhPhúc, Hà Tây và phía Tây giáp Sơn La Với vị trí là cửa ngõ phía Tây của thủ đô HàNội và địa bàn trọng điểm kinh tế phía Bắc, nơi trung chuyển hàng hóa thiết yếu củacác tỉnh miền núi phía Bắc, các hệ thống đường bộ, đường sắt , đường sông đều quy

tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh thành phố khác trong cảnước

Thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc là thị trường lớn về tiêuthụ các mặt hàng nông, lâm, thủy sản và các sản phẩm vê công nghiệp, nông nghiệp

mà Phú Thọ đang sản xuất; đồng thời đây cũng là nơi cung cấp mặt hàng công nghiệpthiết yếu, hỗ trợ kỹ thuật, kinh nghiệm quản trị, chuyển giao công nghệ và cung cấpthông tin,…tốt cho phát triển kinh tế của tỉnh Phú Thọ

Thành phố Việt Trì là trung tâm văn hóa của tỉnh đồng thời cũng là một trong

5 trung tâm lớn của vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, có các tuyến trục giao thông

Trang 2

quan trọng chay qua như: quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì đi Tuyên Quang,

Hà Giang sang Vân Nam – Trung Quốc, đây là tuyến nằm trong hành lang kinh tếCông Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Quốc lộ 70 xuất phát từthị trấn Đoan Hùng đi Yên Bái, Lào Cai hiện đang được nâng cấp để trở thành conđường chiến lược Hải Phòng – Hà Nội – Côn Minh, Trung Quốc tạo ra cơ hội pháttriển kinh tế cho Phú Thọ Quốc lộ 32A nối Hà Nội với Hà Tây, Sơn La; quốc lộ32B nối Phú Thọ - Yên Bái với cầu Ngọc Tháp qua sông Hồng tại thị xã Phú Thọ làmột phần của đường Hồ Chí Minh

Khi Sơn Tây, Hòa Lạc được xây dựng trở thành chuỗi đô thị cũng sẽ mở ra cơhội mới cho Phú Thọ phát triển, nhất là các huyện phía hữu ngạn sông Hồng như:Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hòa có điều kiện pháttriển mạnh hơn Ngoài ra Phú Thọ có đường sắt, đường sông chạy qua cũng là điềukiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội nhanh hơn

Tóm lại, vị trí địa lý của Phú Thọ rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hộinói chung và phát triển ngành du lịch nói riêng

1.2 Đặc điểm địa hình

Đặc điểm nổi bật của địa hình Phú Thọ là bị chia cắt mạnh vì nằm cuối dãyHoàng Liên Sơn, là nơi chuyển giao giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độcao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, diện tích đồi núi chiếm 64% tổng diệntích tự nhiên, sông suối nhiều (chiếm 4,1%)

Căn cứ vào địa hình có thể chia Phú Thọ thành ba tiểu vùng cơ bản:

- Tiểu vùng phía Nam: gồm các huyện Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn và mộtphần của huyện Cẩm Khê, có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 đến500Km Đây là vùng có nhiều tiêm năng phát triển lâm nghiệp và khoáng sản

- Tiểu vùng trung du: gồm thị xã Phú Thọ, huyện Cẩm Khê, Đoan Hùng,Thanh Ba, Hạ Hòa và một phần huyện Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy Địa hìnhđặc trưng của vùng này là các gò đồi thấp (bình quân 50m đến 200m) xen kẽ với cácdốc ruộng

- Tiểu vùng đồng bằng: gồm thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và mộtphần còn lại của các huyện lân cận Đặc trưng của vùng này là phát triển trên phù sa

cổ cùng những cánh đồng ven sông phù hợp với sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy

Trang 3

sản và chăn nuôi Một số khu vực tập trung sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản

và chăn nuôi Một số khu vực tập trung gò đồi thấp tương đối bằng phẳng, thuận lợicho việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hộikhác

Nhìn chung, địa hình Phú Thọ tương đối phức tạp, có sự phân hóa rõ rệt giữa

3 tiểu vùng Sự phân hóa địa hình cũng dẫn đến sự phân hóa trong quá trình đầu tưxây dựng cơ sở hạ tầng giữa các vùng Tuy nhiên, nó lại là yếu tố góp phần tạo nên

sự đa dạng của tài nguyên du lịch Phú Thọ Do vậy, trong quá trình thu hút đầu tư cầnphải cố gắng phân bổ vốn hợp lý cho các vùng địa hình cao, vùng sâu, vùng xa củatỉnh

1.3 Khí hậu

Phú Thọ mang đậm đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa

rõ rệt: mùa hè nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa đông lạnh, mưa

ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm là 23oC, lượngmưa trung bình: 1.600mm – 1.700mm; độ ẩm bình quân: 85% - 87%

Toàn tỉnh chia thành 5 tiểu vùng khí hậu đặc trưng: tiểu vùng phía Bắc, tiểuvùng phía Nam, tiểu vùng thung lũng Minh Đài, tiều vùng Cẩm Khê – Thanh Ba, tiểuvùng đồng bằng phía Đông Nam

Nhìn chung khí hậu Phú Thọ tương đối thuận lợi cho sinh hoạt và các hoạtđộng kinh tế, xã hội, đặc biệt điều kiện thời tiết này rất phù hợp cho việc sinh trưởng

và phát triển đa dạng các loại cây trồng lâu năm, hình thành nên hệ động thực vậtphong phú và quý hiếm, có thể phát triển ngành du lịch sinh thái và nghiên cứu ( nhưvườn quốc gia Xuân Sơn)

1.4 Tài nguyên nước

Phú Thọ có tài nguyên nước dồi dào, phong phú với 5 con sông lớn chảy qua:sông Chảy, sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Bứa và 41 phụ lưu đủ để cung cấpcho tưới tiêu trong cả tỉnh

Ngoài ra, Phú Thọ còn có 130 suối nhỏ cùng hàng ngàn hồ, ao phân bố đềutrên khắp lãnh thổ, chứa nguồn nước mặt dồi dào; nguồn nước ngầm phân bố ở nhiều

Trang 4

huyện như Lâm Thao, Đoan Hùng, thị xã Phú Thọ với trữ lượng lớn Đặc biệt ởThanh Thủy có mạch nước khoáng nóng quý hiếm đã bước đầu được đưa vào khaithác dưới hình thức du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh.

Tóm lại, các điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, nguồn nước của Phú Thọ tương đối thuận lợi để phát triển ngành du lịch nói chung và xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch nói riêng

2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1 Về tăng trưởng kinh tế

Sau giai đoạn bị tác động của khủng hoảng tài chính khu vực, tốc độ tăng GDPcủa Phú Thọ giảm từ 9,6% năm 1997 xuống còn 6,79% năm 1998; sau đó lấy lạiđược đà tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo Giai đoạn 1997- 2000 tăng8,16%/năm, giai đoạn 2001- 2005 tăng 9,79%/năm; năm 2006 tăng 10,7%, năm 2007tăng 10,9% và năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên tốc độtăng trưởng giảm còn 10,6%

Tốc độ tăng GDP của Phú Thọ luôn ở mức cao hơn bình quân chung cả nước vàvùng trung du miền núi Bắc Bộ, nhưng quy mô còn nhỏ, nên số tuyệt đối tăng thêmkhông nhiều, GDP bình quân đầu người năm 1997 chỉ có 2,29 triệu đồng/người(176,3 USD), tăng lên 2,98 triệu đồng/người (214 USD) năm 2000, 5,23 triệuđồng/người (tương đương 332 USD) năm 2005 và 6,8 triệu đồng/năm (tương đương

425 USD) năm 2007 Như vậy, GDP bình quân đầu người ở Phú Thọ chỉ bằngkhoảng 52% GDP bình quân chung cả nước

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả tăng trưởng (GDP) của tỉnh Phú Thọ

Đơn vị: tỷ đồng

* GDP giá 1994 (Tỷ đồng) 2 237 2 794 4 457 5 469 6056

- Công nghiệp- Xây dựng 771.5 1 043 1 852 2 388 2776

Trang 5

(Nguồn: Niên giám thống kế 2007 của tỉnh Phú Thọ)

Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Phú Thọ giai đoạn 1997 – 2008

Đơn vị: %

(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007 của tỉnh Phú Thọ)

Bảng 2.2: So sánh tăng trưởng kinh tế (GDP) của Phú Thọ với vùng Trung du

Miền núi Bắc Bộ và cả nước

(Nguồn: Viện chiến lược phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

2.2 Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2008 (theo giá hiện hành)

Đơn vị tính: %

* Cơ cấu theo ngành kinh tế

- Công nghiệp- Xây dựng 33.2 36.5 37.6 38.7 38.7

Trang 6

* Cơ cấu theo thành phần kinh tế

- Kinh tế ngoài quốc doanh 31.5 49.4 52 54.3

- Có vốn đầu tư nước ngoài 5.2 8.7 9.2 11.0

-(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ

Phân tích các số liệu từ năm 1997 đến nay cho thấy, cơ cấu ngành kinh tế củaPhú Thọ có xu hướng chuyển dịch từ nông lâm nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ;

cơ cấu thành phần kinh tế chuyển dịch từ kinh tế quốc doanh sang kinh tế ngoài quốcdoanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Hình 2.2: Cơ cấu ngành kinh tế năm 1997 và năm 2008 của tỉnh Phú Thọ

Đơn vị: %

(Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư Phú Thọ)

So sánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giữa Phú Thọ với vùng Trung dumiền núi Bắc Bộ (TDMNBB) và cả nước cho thấy có sự chênh lệch đáng kể Chuyển

Trang 7

dịch cơ cấu các ngành kinh tế của Phú Thọ luôn nhanh hơn các tỉnh vùng miền núi

Bắc Bộ, nhưng lại chậm hơn so với cả nước (xem bảng 2.3).

Trang 8

Bảng 2.3: So sánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Phú Thọ với vùng

1 Công nghiệp- xây dựng

2 Nông lâm nghiệp

3 Dịch vụ

100,0

36,529,833,7

100,0

38,027,035,0

100,0

21,245,233,6

100,0

26,634,339,1

100,0

36,824,538,7

100,0

41,820,038,2

(Nguồn: Viện Chiến lược phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

2.3 Về dân số và nguồn nhân lực

Bảng 2.4: Dân số tỉnh Phú Thọ năm 2007

Đơn vị: NgườiHuyện, thị Tổng số Phân theo giới tính Phân theo khu vực

Nam Nữ Thành thị Nông thônToàn tỉnh 1.350.565 660.979 689.586 215.254 1.135.311TP.Việt Trì 175.266 86.061 89.205 100.201 75.065

Huyện Đoan Hùng 107.173 52.081 55.092 6.759 100.414Huyện Hạ Hòa 112.828 55.099 57.729 8.414 104.414Huyện Thanh Ba 117.275 59.513 57.762 8.762 108.513Huyện Phù Ninh 98.659 48.110 50.549 16.747 81.912Huyện Yên Lập 83.241 41.258 41.983 7.542 75.699Huyện Cẩm Khê 131.438 63.982 67.456 6.060 125.378Huyện Tam Nông 82.314 40.213 42.101 4.322 77.992Huyện Lâm Thao 101.464 48.063 53.401 17.985 83.479Huyện Thanh Sơn 119.408 58.993 60.415 13.975 105.433

-(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ năm 2007)

Tính đến hết năm 2007, dân số toàn tỉnh Phú Thọ là 1.350.565 người, mật độdân số bình quân là 383 người/km2, tốc độ tăng dân số tự nhiên là 0,98% và tăng cơhọc là 0,1%, với 21 dân tộc trong đó đông nhất là người Kinh, người Mường

- Trình độ học vấn của dân cư: So với các tỉnh vùng Bắc Bộ, tình hình phổ cậpgiáo dục của Phú Thọ khá tốt, tỷ lệ số người biết chữ cao (trung bình cứ 1.000 ngườidân có 232 người được đi học) Năm 2007, cả tỉnh có 301 trường mẫu giáo; 552trường cấp 1,2; 53 trường cấp 3; Đây là yếu tố tạo điều kiện tốt cho sự phát triển kinh

tế - xã hội của Phú Thọ nói riêng và của cả nước nói chung

Trang 9

- Nguồn lao động: Theo số liệu thống kê năm 2007, toàn tỉnh có 679,9 nghìnngười đang làm việc trong các ngành kinh tế, trong đó, lao động trong ngành nông,lâm, thủy sản chiếm tới 69,1%; lao động hoạt động trong khu vực công nghiệp, xâydựng chiếm 15,9% và trong khu vực dịch vụ chiếm 15%.

Bảng 2.5: Phân bố lao động trên địa bàn Phú Thọ từ 2003 đến 2007

(Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ năm 2007)

Nhìn vào bảng 2.5, có thể thấy lực lượng lao động Phú Thọ đang dịch chuyển

theo chiều hướng tăng dần tỷ trọng hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp,giảm dần tỷ trọng hoạt động trong nông nghiệp Một xu hướng nữa là tỷ lệ lao độnghoạt động trong khu vực kinh tế Nhà nước (trung ương và địa phương) có tỷ lệ ngàycàng giảm, trong khi tỷ lệ lao động hoạt động trong khu vực ngoài Nhà nước ngàycàng tăng lên, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (năm 2003 chỉ có 1,3%lao động hoạt động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì đến năm 2007 đã cótới 3% lao động)

Tóm lại, điều kiện kinh tế - xã hội của Phú Thọ còn trong tình trạng thấp kém, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức trung bình của cả nước, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra chậm; dân số có trình độ học vấn khá nhưng lại hoạt

Trang 10

động chủ yếu trong ngành nông, lâm, thủy sản (69,1%) Đây là những yếu tố có thể làm hạn chế quá trình phát triển ngành du lịch của tỉnh cũng như đối với hoạt động thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

3 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH

3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Các điều kiện tự nhiên của Phú Thọ, đặc biệt là địa hình đa dạng đã tạo choPhú Thọ một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn với cácloại hình có thể khai thác như di lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng chữabệnh, du lịch sinh thái,…Đáng chú ý trong số đó phải kể đến đầm Ao Châu (huyện

Hạ Hòa), vườn quốc giá Xuân Sơn (huyên Thanh Sơn), mỏ nước khoáng nóng ThanhThủy (huyện Thanh Thủy), Ao Giời – Suối Tiên (huyện Hạ Hòa),

- Đầm Ao Châu: Thuộc thị trấn Hạ Hòa của huyện Hạ Hòa cách thành phố

Việt Trì 60km về phía Tây Bắc, có diện tích mặt nước 300ha, xung quanh có núi nontrùng điệp tạo thành 99 ngách nước đan cài vào các khe núi Trong đầm có hàng trămhòn đảo lớn nhỏ được phủ bởi lớp thực vật da dạng, phong phú Mặt nước trongxanh, không khí trong lành không bị ô nhiễm tạo nên phong cảnh sơn thủy hữu tình.Với không khí trong lành, phong cảnh đẹp, đầm Ao Châu là một điểm du lịch lý thú

và hấp dẫn đối với du khách không chỉ trong nội tỉnh mà còn của cả các tỉnh lân cận

và Hà Nội với các loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, bơi thuyền, câu cá, leo núi, sănbắn,…

- Vườn quốc gia Xuân Sơn: Thuộc địa phận xã Xuân Sơn, huyện Thanh Sơn,

cách thành phố Việt Trì 80km, nới đây có hệ thống núi cao từ 1000 – 1400m, vớikhoảng 15.000 ha rừng nguyên sinh và đặc trưng của Xuân Sơn là có rừng nguyênsinh trên núi đá vôi, nhiều loại động, thực vật quý hiếm, nhiều suối, thác nước Đặcbiệt có 16 hang động đá vôi do quá trình phong hóa, thủy hóa tạo thành, có hangđộng chiều dài từ 5.000 đến 7.000 mét, nhiều nơi lòng hang rộng tới 50 mét, thạchnhũ tạo thành muôn hình vạn trạng, đủ màu sắc lung linh huyền ảo

Rừng quốc gia Xuân Sơn là nơi duy nhất trong vùng trung du và miền núi Bắc

Bộ có khí hậu phù hợp với loài rau Sắng đặc sản có giá trị kinh tế cao

Trang 11

Ngoài các giá trị về sinh học và cảnh quan hang động đá vôi, trong vườn quốcgia Xuân Sơn còn có những dân tộc Mường, Dao cư trú từ lâu đời và cách biệt vớicác địa phương khác nên vẫn giữ được nhiều phong tục, tập quán và các nét văn hóabản địa chưa bị pha tạp.

Với tiềm năng như vậy, Xuân Sơn có thể phát triển nhiều loại hình du lịch đadạng, phong phú, hấp dẫn nhiều đối tượng khách khác nhau như: nghỉ dưỡng, thamquan, nghiên cứu, leo núi, thám hiểm hang động, tìm hiểu văn hóa của đồng bào dântộc thiểu số

- Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Thanh Thủy: Thuộc địa phận xã La Phù,

Chuyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì 30km Đây là khu mỏ nước khoángnóng có diện tích khoảng 3km2, mới được tìm thấy từ năm 1999 Qua nghiên cứu chothấy trong nước khoáng nóng có nhiều chất vi lượng có lợi cho sức khỏe, trong đó cóhàm chất Radon quý hiếm; nhiệt độ trung bình của nước nóng 37 – 40oC

Với đặc điểm gần Hà Nội, tiếp giáp với Hà Tây (mảnh đất nhiều điểm du lịchnổi tiếng cả nước), giao thông thuận tiện lại có khá nhiều các điểm tham quan nênThanh Thủy thu hút được các nhà đầu tư tạo thành một điểm du lịch phục vụ andưỡng, chữa bệnh, massage,…hấp dẫn khách du lịch

- Ao Giời – Suối Tiên: Suối Tiên thuộc địa phận xã Quân Khê, huyện Hạ Hòa,

cách thành phố Việt Trì 70km, nằm trên núi Nả có độ cao từ 1.000-1.200 mét, đượcphủ bởi màu xanh của rừng nhiệt đới Tại đây còn tồn tại nhiều động, thực vật quýhiếm Từ trên núi Nả có các dòng suối chảy quanh năm, tạo thành gần 20 dòng thácbạc Vài năm gần đây, Ao Giời – Suối Tiên đã trở thành một địa chỉ du lịch leo núi,cắm trại, nghỉ dưỡng quen thuộc đối với nhân dân trong tỉnh Phú Thọ và các tỉnh phụcận

Gắn với Ao Giời – Suối Tiên là chiến khu Hiền Lương, Ngòi Vần, hồ Vân Hộitạo thành quần thể du lịch sinh thái – văn hóa đặc sắc

- Thác Cự Thắng: Thuộc xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn, cách thành phố Việt

Trì 60km Đây là vùng rừng núi với suối và thác nước còm nguyên sơ chưa được đầu

tư khai thác, cảnh quan đẹp và hấp dẫn, là địa điểm lý tưởng cho người dân trongvùng và các tỉnh lân cận nghỉ cuối tuần

- Thác Ba Vực: Thuộc xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, cách thành phố Việt

Trì 70km

Trang 12

Nhìn chung, tài nguyên du lịch tự nhiên của Phú Thọ khá phong phú, hấp dẫn

và được phân bố đều trên toàn tỉnh Tuy nhiên, những tài nguyên này còn đang ởdạng tiềm năng, Để có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch và manglại doanh thu cao cho ngành du lịch của Phú Thọ, cần phải có sự đầu tư và quan tâmđúng mức của các cấp các ngành trong tỉnh

3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Phú thọ là tỉnh có lịch sử lâu đời, vùng đất phát tích của dân tộc Việt Nam.Qua các cuộc tìm kiếm, khai quật khảo cổ cho thấy Phú Thọ có rất nhiều hiện vật đồ

đá, đồ đồng minh chứng cho thời kỳ các Vua Hùng dựng nước Văn Lang, trong đó cócác di chỉ nổi tiếng như: Gò Mun, Sơn Vi, Làng Cả, Phùng Nguyên,…Phú Thọ cònlưu giữ nhiều các di tích, sự tích, truyền thuyết về đời sống sinh hoạt văn hóa, côngcuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc ViệtNam Các lễ hội diễn ra trên quê hương Phú Thọ diễn ra rất đa dạng, phong phú,mang nét văn hóa đặc sắc của các bản làng như: hội Đền Hùng, hội phết – HiềnQuan, Hội bơi chải – Bạch Hạc, hội rước voi – Đào Xá, hội rước chúa Gái – HyCương, hội ném còn đồng bào dân tộc Mường,…Phú Thọ còn có một kho tàng thơ

ca, hò, vè rất đặc sắc, những làn điều hát Xoan, hát Ghẹo, hát Đối, hát Ví mang âmhưởng của miền quê Trung du

- Các di tích lịch sử, lịch sử cách mạng

+ Khu di tích lịch sử Đền Hùng: Thuộc thôn Cổ Tích, xã Hy Cương, huyện

Lâm Thao là nơi thờ cúng các vua Hùng Đền Hùng cách trung tâm thành phố ViệtTrì 7km về phía Bắc Từ Hà Nội du khách có thể đến Đền Hùng bằng đường bộ theoquốc lộ 2 hoặc tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai

Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, toàn bộkhu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hòa trong phong cảnh thiên nhiên, có địathế cao, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thủy hội tụ

Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng có độ cao hơn 175 mét so với mặtnước biển Người xưa truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam,mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo, núi cao 170 mét tương đương

Trang 13

với núi Hùng; núi Trọc nằm giữa núi Vặn và núi Hùng theo truyền thuyết là 3 đỉnh

“Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời

Đến nay, núi Hùng vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, rừng cây rậm rạp, xanh tươi

và có khoảng 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn có loại cây đại thụ nhưChò, Thông, Lụ, và một loài giống cây có sơ như Kim Giao, Thiên Tuế, Trong khu

di tích lịch sử Đền Hùng là quần thể di tích có kiến trúc cổ xưa như: Cổng đền đượcxây dựng vào năm Khải Định thứ 2, cổng xây theo kiểu vòm cuốn, hai tầng tám mái,lợp giả ngói ống; Đền Hạ được tương truyền là nơi Mẹ Âu Cơ đã hạ sinh bọc trămtrứng, nở thành trăm người con chính là tổ tiên của các dân tộc Việt; Đền Trung lànơi các vua Hùng cùng các lạc hầu, lạc tướng bàn bạc việc nước; Đền Thượng là nơihàng năm vua Hùng làm lễ tế trời đất, thờ Thần Lúa, đây cũng là nơi vua Hùng lậpđền thờ Thánh Gióng sau khi đánh tan giặc Ân và cũng chính là nơi an nghỉ của vuaHùng thứ 6 Ngoài ra còn có Nhà Bia, Chùa Thiên Quang, Đền Giếng, Đền Tổ mẫu

Âu Cơ, Bảo tàng Hùng Vương,…

+ Đền Mẫu Âu Cơ: Thuộc địa phận xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa Đền được

xây dựng từ thời Hậu Lê trên mảnh đất rộng giữa cánh đồng, nằm ẩn dưới gốc cây đa

cổ thụ, mặt quay về hướng Nam, bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng,phía trước có núi Giác, sau lưng sông Hồng uốn khúc như rồng thiêng bao bọc, xungquanh có cây cối xum xuê Kiến trúc Đền có những trạm gỗ quý giá được coi nhưnhững tiêu bản của nền nghệ thuật đương đại Tượng Mẫu Âu Cơ được đặt trongkhám thờ lồng kính 3 mặt, đây là pho tượng được chế tác từ thời Lê có giá trị nghệthuật cao

Đền Mẫu Âu Cơ là di tích thờ quốc mẫu quan trọng trong hệ thống di tích lịch

sử văn hóa của tỉnh Phú Thọ Hàng năm thu hút đông đảo nhân dân và khách thậpphương về thăm tế lễ

+ Di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đền Hùng: Được xây dựng vào

năm 2001, tại ngã 5 Đền Giếng, dưới chân núi Nghĩa Lĩnh, Bộ Quốc Phòng đã xâydựng bức phù điều có hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với cán bộ chiến

sĩ Đại đoàn quân Tiên Phong Đây là công trình có quy mô hoành tráng được ghépbởi 81 khối đá xanh có trọng lượng 253 tấn, cao 7 mét, rộng 12 mét, đặt trang trọngtrong quần thể di tích lịch sử Đền Hùng

Trang 14

+ Chùa Xuân Lũng: Chùa thuộc xã Xuân Lũng, huyện Lâm Thao, được xây

dựng vào thời Lý – Trần, chùa đã được trùng tu nhiều lần Di tích còn lại hiện nay ởchùa là một bia đá có niên đại 1377-1388 năm ở chính điện

+ Chùa Phúc Thánh: Chùa tọa lạc trên núi Ngạc Phác, xã Hương Nộn, huyện

Tam Nông Chùa do phu nhân thứ 5 của vua Lý Thần Tông là Lê Thị Xuân Lan dựngnăm 1145 Bà đã tu hành và mất tại đay năm 1171, trên điện thờ bức tượng của bà(tượng Thánh Mẫu) Mộ bà táng ở phía tây chùa Chùa Phúc Thánh là một trong số ítnhững ngôi chùa thời Lý còn lại đến nay với nhiều chi tiết kiến trúc cổ kính làm bằng

gỗ chò chỉ

- Các di tích kiến trúc nghệ thuật: thể hiện qua nghệ thuật kiến trúc các đình,

chùa, đền, miếu hay một số khu phố cổ, thành lũy, pháo đài, đặc biệt tập trung ởPhong Châu, Tam Thanh, Việt Trì như đình Hy Cương, đình Hùng Lô, đền Mẫu Âu

Cơ, đền Hiền Quang, đình Bảo Đà, đình Lâu Thượng, đình Đào Xá,…

- Lễ hội truyền thống: Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hóa

đặc sắc, phản ánh đời sống tâm linh của mỗi dân tộc, một hình thức sinh hoạt tập thểcủa người dân sau những ngày lao động vất vả, là dịp để mọi người hướng về những

sự kiện trọng đại hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng hay vui chơi giải trí

Vì vậy lễ hội có tính hấp dẫn cao với du khách và là một trong những tài nguyên dulịch nhân văn có giá trị

Ngoài những lễ hội có tính chất chung của cả nước, của vùng Bắc Bộ, PhúThọ còn có những lễ hội đặc sắc riêng Thông qua các lễ hội này, du khách có thểhiểu thêm về văn hóa Việt Nam, văn minh lúa nước

+ Lễ hội Đền Hùng: Được tổ chức vào mùng 10 tháng 3 âm lịch, được Nhà

nước lấy làm ngày Giỗ Tổ Hùng Vương và được tổ chức theo nghi lễ quốc gia Lễhội Đền Hùng là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượngcủa tinh thần cộng đồng, nhắc nhở người dân Việt Nam cùng chung sức xây dựng đấtnước ngày thêm phồn vinh Lễ hội hàng năm thu hút hàng chục vạn du khách từ khắpmọi miền đất nước

+ Hội chọi trâu: Ở tỉnh Phú Thọ, hội chọi trâu có tại nhiều điểm, đặc biệt như

xã Chu Hóa, huyện Lâm Thao; thị trấn Phù Ninh, huyện Phù Ninh; xã Hoàng Cương,

Trang 15

huyện Thanh Ba, được tổ chức đều các tháng trong năm Sau khi phân thắng bại,người đăng cai dắt trâu về sang hôm sau mới mổ thịt để tế.

+ Hội bơi chải: Hội bơi chải phần lớn tổ chức vào mùa hè, các tháng 5 và 6

âm lịch Đua chải Đào Xá là đua trên đầm Đào, một cái đầm lớn trên ngã ba HươngNộn, Dị Nâu, Đào Xá

+ Hội Bạch Hạc (hội tung Còn): Hàng năm diễn ra từ ngày 3 – 5 tháng giêng

âm lịch tại xã Bạch Hạc, thành phố Việt Trì; đền thờ Thổ Lệnh đại vương Lễ hội cótục tế, rước thánh qua sông Lô sang làng kết nghĩa Tiên Cát (thờ Thạch Khanh anh

em sinh đôi với Thổ Lệnh đại vương) Trong lễ hội có trò thi tung Còn ở Đền Cả, lễtiến Còn, ngâm thơ Còn và cúng cơm Còn Ngày cuối hội có lễ hạ Còn cướp Còn cầumay

+ Hội Chu Hóa: Lễ hội hàng năm diễn ra tại Chu Hóa, huyện Lâm Thao vào

ngày 5 tháng giêng âm lịch, nhằm tưởng nhớ 3 anh em Cả Đông, Nhị Đông và TamĐông là các tướng giỏi của vua Hùng thứ 18 Trong lễ hội có diễn ra trò “chạy kem”diễn lại sự tích thần làng và nhiều trò vui khác

+ Hội mở cửa rừng: Lễ hội diễn ra tại huyện Thanh Sơn từ ngày 6 – 15 tháng

giêng âm lịch hàng năm Mở đầu là lễ cúng cung tên để mở hội săn bắn, sau đó từngđôi nam nữ múa theo điệu “Gà phủ” thực hiện tín ngưỡng phồn thực

+ Hội đánh cá: Được tổ chức ở vùng đồng bào Mường thuộc xã Thanh Kiệt,

huyện Thanh Sơn Đây là lễ hội mừng xuân tại khu vực ở sát bản Trong lễ hội, người

ta dùng các rọ bắt cá (dùng nhiều đồ dùng khuấy nước lên cho các chui vào rọ) để tế

lễ và chia cho các gia đình

+ Hội hát xoan, hát ghẹo: Trong gia sản to lớn về dân ca và nghệ thuật sân

khấu cổ truyền, hát Xoan, hát Ghẹo là hình thức rất độc đáo Ngoài giá trị về nghệthuật, âm nhạc trong bài hát Xoan, hát Ghẹo còn ẩn chứa tư tưởng bên trong, đó làtình, là nghĩa đối với nhau và dành cho nhau

+ Tết nhảy của dân tộc Dao: Thời gian tổ chức tết Nhảy ở hai nhóm Dao Tiền

và Dao Quần có sự khác nhau Họ Dao Tiền làm tết Nhảy từ rằm tháng chạp đến 28tết hàng năm Đây là một nét văn hóa đặc sắc của lễ hội tỉnh Phú Thọ

+ Hội cồng chiêng của người Mường: Người Mường có nhiều dịp sử cồng

chiêng như: chúc tết, đám cưới, đám ma, mừng nhà mới, trong các nghi lễ và cầumùa,…Hàng năm ở Sở Văn hóa – Thông tin và Truyền thông tỉnh Phú Thọ đều tổ

Trang 16

chức liên hoan Cồng Chiêng toàn tỉnh Đây là dịp các đội cồng chiêng của các lànghòa chung trong một bản sắc văn hóa Mường nói riêng và văn háo Việt nói chung.

- Làng nghề truyền thống:

+ Làng mây tre đan Đỗ Xuyên: Nghề đan cót nứa chắp đã có từ bao đời nay.

Sản phẩm nứa chắp của Đỗ Xuyên đã có mặt trên thị trường thế giới với các sảnphẩm như đĩa, bát,…

+ Nghề làm nón lá Sơn Nga, Sài Nga, Thanh Nga: Nón lá Phú Thọ có nét

thanh tú, hài hòa, bình dị, bền đẹp rất phù hợp với khách du lịch quốc tế

+ Ủ ấm Sơn Vi: Sơn Vi là một ngôi làng nhỏ thuộc huyện Lâm Thao, là quê

hương của sản phẩm độc đáo này Với bàn tay khéo léo của mình, người Sơn Vi đãtạo ra loại ấm có dáng vẻ độc đáo riêng Mỗi chiếc ấm là đồ dùng trang trí đẹp, giữnhiệt, làm đậm đà cho những ấm nước chè xanh, lá vối, nhân trần,…trong suốt bốnmùa

+ Làng mộc Minh Đức: Thuộc xã Thanh Uyên, huyện Tam Nông, cùng với

thời gian, sản phẩm mộc Minh Đức đã có mặt ở mọi miền đất nước

4 Những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong việc khai thác tiềm năng du lịch của tỉnh Phú Thọ

4.1 Thuận lợi

- Phú Thọ sở hữu nguồn tài nguyên du lịch phong phú, mang đậm bản sắc dântộc, đặc biệt là Đền Hùng và đền Mẫu Âu Cơ, là những địa điểm có sức hút mạnh đốivới nhiều người dân Việt Nam luôn hướng về cội nguồn, tổ tiên

- Phú Thọ có vị trí trung tâm của vùng, giao thông thuận lợi, là điều kiện đểthu hút khách du lịch và các nhà đầu tư

- Môi trường chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo

- Thực hiện cơ chế một cửa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếnhành đầu tư

- Có mặt bằng xây dựng rộng, là điều kiện cho xây dựng các dự án nhà nghỉ,khách sạn, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại

- Các dịch vụ ngân hàng, tài chính, cơ bản hoàn thiện, đủ sức đáp ứng chonhà đầu tư và khách du lịch

Trang 17

4.2 Khó khăn

- Lực lượng lao động trong du lịch không được đào tạo chuyên nghiệp

- Hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển,hạn chế sức hấp dẫn đối với du khách và nhà đầu tư

- Việc quản lý và khai thác tài nguyên phục vụ du lịch còn nhiều bất cập vàchồng chéo, nhiều cấp, nhiều ngành tham gia quản lý và khai thác Do vậy việc quyhoạch, tôn tạo và bảo tồn tài nguyên, môi trường chưa được quan tâm đúng mức

- Nhân thức xã hội về ngành du lịch của nhân dân còn yếu Do đó sự tham củangười dân nơi có tài nguyên du lịch trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường chưacao

- Hệ thống cơ chế chính sách, các quy định pháp luật liên quan đến phát triển

du lịch còn thiếu

II THỰC TRẠNG CSHTDL PHÚ THỌ

1 Cơ sở lưu trú

Hệ thống cơ sở lưu trú của Phú Thọ đã phát triển với tốc độ khá nhanh Năm

2000, toàn tỉnh có 12 khách sạn với 326 phòng và 621 giường thì đến năm 2005 tănglên 69 cơ sở với 1083 phòng lưu trú, tốc độ tăng trưởng trung bình trong thời giannày là 55,9% Có 13/69 cơ sở lưu trú được Tổng cụ du lịch và Sở Thương mại – Dulịch Phú Thọ xếp hạng sao, trong đó có 1 khách sạn 3 sao, 9 khách sạn 2 sao và 3khách sạn 1 sao Đến cuối năm 2008, cả tỉnh đã có 115 cơ sở lưu trú, trong đó có 2khách sạn 3 sao, 20 khách sạn 2 sao và 10 khách sạn 1 sao

Sự phân bố các cơ sở lưu trú ở Phú Thọ không đồng đều Hầu hết các cơ sởlưu trú đều tập trung ở thành phố Việt Trì (40 cơ sở lưu trú) và số cơ sở này chủ yếunằm trên đại lộ Hùng Vương; thị xã Phú Thọ có 13 cơ sở lưu trú, Trong khi đó, cáckhu, các điểm du lịch khác như Ao Châu, rừng quốc gia Xuân Sơn ,…hầu như chưa

có cơ sở lưu trú và các tiện nghi du lịch khác

Bảng 2.6: Cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2000 – 2008

Trang 18

tiêu Đơn vị

200 0

200 1

giường Giường 621 652 952 1.460 1.674 1.770 1.876 2.475 3.218

(Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư Phú Thọ)

Nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú toàn tỉnh có quy mô nhỏ Năm 2008 có tới103/115 cơ sở lưu trú (chiếm 89,56%) quy mô dưới 50 phòng, trong đó có 12 cơ sởlưu trú quy mô từ 20-49 phòng (chiếm 16,9%) Quy mô trung bình một khách sạn ởPhú Thọ là 10,5 phòng/ 1 cơ sở lưu trú

Hầu hết các khách sạn ở Phú Thọ mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của khách

du lịch Trang thiết bị ở một số khách sạn đã cũ không đồng bộ, cần nâng cấp Cácphòng ngủ ở một số khách sạn tư nhân còn hẹp, bài trí thiết kế nội ngoại thất khônghợp lý, vệ sinh chưa đảm bảo theo yêu cầu Tất cả cơ sở lưu trú đều chỉ hoạt độngmạnh trong mùa lễ hội, nhất là từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch hàng năm, còntrong các tháng còn lại hầu như được sử dụng với hiệu suất thấp Ngoài dịch vụ lưutrú và ăn uống, mới chỉ có một số khách sạn phát triển thêm các dịch vụ khác như

Trang 19

(Nguồn: Sở Thương mại – Du lịch Phú Thọ )

2 Cơ sở phục vụ ăn uống

Hiện tại, Phú Thọ có khoảng 72 phòng ăn (restautants) nằm trong và ngoài các

cơ sở lưu trú với khoảng 2.925 chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đáp ứng nhucầu của khách lưu trú Các tiện nghi ăn uống bên ngoài khách sạn, tại các điểm thamquan trong những năm qua đã bước đầu phát triển Nhìn chung các cơ sở này có quy

mô tương đối lớn, có chất lượng, tuy nhiên các vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩmchưa thường xuyên được kiểm tra nên nhiều hiện tượng tiêu cực vẫn xảy ra như việc

sử dụng nước không đảm bảo vệ sinh tại các khách sạn trong thành phố Việt Trìnhững năm vừa qua…; bên cạnh đó, thực đơn phục vụ chưa phong phú, ít món mangtính chất đặc sản của địa phương nên chưa tạo được nhiều ấn tượng đối với du khách

Ngoài ra còn có các cửa hàng ăn uống tư nhân phục vụ các món ăn Việt Nam,nằm chủ yếu ở khu vực thành phố Việt Trì Tuy nhiên các nhà hàng này thường cóquy mô nhỏ, khó có khả năng đón các đoàn khách lớn; bài trí của nhà hàng đơn giản,không có khu chế biến riêng biệt, món ăn chưa phong phú và vấn đề vệ sinh, an toànthực phẩm cũng chưa được chú trọng đúng mức

3 Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí, các điểm thăm quan và các tiện nghi phục vụ du lịch khác

- Các tiện nghi thể thao, vui chơi, giải trí: Đến năm 2005 trên toàn tỉnh PhúThọ có 13 bể bơi (trong đó, có 8 bể bơi ở thành phố Việt Trì), 89 điểm massage, 58phòng karaoke,…, các tiện nghi này góp phần tạo nên sự hấp dẫn, thu hút khách dulịch và kéo dài thời gian lưu trú, khuyến khích nhu cầu chi tiêu của du khách

Trang 20

Các cơ sở phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí như: Công viên, sân thể thao, nhàthi đấu, nhà văn hóa,…đã buớc đầu đuợc quan tâm đầu tư Năm 2008, thành phố ViệtTrì đã cải tạo xong sân vận động tỉnh, xây dựng mới sân vận động mini trong truờngChuyên Hùng Vuơng để phục vụ Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc, một nhà thi đấu vàđầu năm 2009 đã hoàn thành thêm một bể bơi thành phố; công viên Văn Lang là mộtcông viên lớn, quy mô nhất của tỉnh Phú Thọ đang đuợc triển khai xây dựng tại trungtâm thành phố Việt Trì Tại thị xã Phú Thọ, mặc dù diện tích khu vực trung tâmtuơng đối nhỏ nhưng cũng đã có 2 công viên (Công viên Thanh Niên và Vuờn hoatrung tâm thị xã), 1 sân vận động thị xã, 1 bể bơi, 1 nhà văn hóa phục vụ cho nhu cầugiải trí của nguời dân và du khách.

Nhìn chung, các điểm vui chơi giải trí trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ, cácloại hình sản phẩm đơn điệu, các phuơng tiện vui chơi, giải trí, tham quan còn quáthiếu, chưa đủ sức thu hút khách du lịch cũng như kéo dài thời gian lưu trú củakhách

- Phuơng tiện vận chuyển: Năm 2005, toàn tỉnh Phú Thọ chỉ có 380 xe chuyênvận chuyển du lịch với năng lực vận chuyển 10.320 khách Đến cuối năm 2007, sốluợng xe tăng lên 558 xe và năng lực vận chuyển là 14.637 khách Luợng xe vậnchuyển khách của các công ty du lịch tăng chậm và chất luợng chưa cao, còn nhiều

xe cũ

- Các tiện nghi khác phục vụ khách du lịch: Trong hệ thống cơ sở lưu trú củatỉnh còn có một số phòng họp có thể tổ chức các hội nghị, hội thảo tuơng đối lớn.Năm 2005, tỉnh có 11 phòng họp với 1.025 ghế (tăng 2,4 lần so với năm 1995)

Tóm lại, hệ thống cơ sở lưu trú, cơ sở phục vụ ăn uống, cơ sở vui chơi, giải trí, các tiện nghi phục vụ du lịch khác của tỉnh Phú Thọ còn thiếu về số lượng và yếu

về chất lượng, cơ sở vật chất còn sơ sài và chưa đồng bộ Cơ sơ lưu trú nghèo nàn, lạc hậu; cơ sở ăn uống quá nhỏ bé và chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh; cơ sở vui chơi, giải trí đang từng bước được cải thiện tuy nhiên vẫn còn đơn điệu và chưa có sức hấp dẫn Một đặc điểm chung là các cơ sở này chỉ khai thác mạnh vào dịp lễ hội đầu năm, còn lại thì hầu như được khai thác rất ít Hệ thống cơ sở vật chất du lịch như hiện nay chưa thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách cũng như không thể trở thành nền tảng để thúc đẩy phát triển ngành du lịch của tỉnh Phú Thọ.

Trang 21

4 Hệ thống giao thông vận tải phục vụ du lịch

4.1 Hệ thống giao thông đường bộ

Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, có hệ thống giao thông đường bộ kháphát triển so với các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc và được phân bổtương đối đều, hợp lý Mật độ đường ô tô đạt 1,09km/km2, cao hơn của cả vùngĐông Bắc (0,62km/km2)

Toàn bộ hệ thống đường bộ của tỉnh Phú Thọ dài 11.483km; trong đó, có 5tuyến quốc lộ với chiều dài qua tỉnh là 262km, 39 tuyến đường tỉnh với chiều dài724km (13 tuyến chính và 26 tuyến nhánh), 94 tuyến huyện lộ dài 639km, 95kmđường đô thị, 44km đường chuyên dùng, 1.722,6km đường xã và liên xã,…Ngoài racòn hàng nghìn km đường dân sinh và lâm nghiệp

- Quốc lộ: có 5 quốc lộ nằm trên địa bàn tỉnh (quốc lộ 2, 32, 32B, 32C, 70) vớitổng chiều dài 262km đã được vào cấp và rải mặt đường nhựa từ cấpV đến cấp III

Có 104 cây cầu với tổng chiều dài 1.502m; 883 cống các loại và 5 bến phà

- Đường tỉnh: Mạng lưới đường tỉnh được bố trí khá hoàn hảo, chiếm tỷ lệ lớn

về số đầu tuyến và chiều dài Toàn tỉnh có 13 tuyến chính và 26 tuyến nhánh, mang

số hiệu từ ĐT 313 – 325 với tổng chiều dài 724km Tuy nhiên, các tuyến đường tỉnhhiện nay đã bị xuống cấp rất nhiều, mặt đường hẹp và nhiều đoạn rất khó đi

- Đường đô thị: Gồm các tuyến đường chính trên địa bàn thành phố Việt Trì

và thị xã Phú Thọ với tổng chiều dài 95km Nhìn chung các đoạn đường đô thị đềuđược tu sửa liên tục nên chất lượng tốt

- Đường giao thông nông thôn: Gồm các đường huyện, đường xã, đườngthôn, xóm và đường lên đồi ra đồng với tổng chiều dài là 10.358km, trong đó, đường

bê tông xi măng 1.043km (chiếm 10,06%), đường nhựa 352km (chiếm 3,39%),đường đá dăm, cấp phối 1.157km (chiếm 15,03%) và đường đất 4.406km (chiếm tới70,98%)

Trang 22

4.2 Giao thông đường sắt

Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có một tuyến đường sắt thuộc mạng đường sắt quốcgia là tuyến Hà Nội – Lào Cai và 3 tuyến nhánh phục vụ các khu công nghiệp, nhàmáy với tổng chiều dài 89,5km

Tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai dài 296km, riêng đoạn qua Phú Thọ dài74,9km Giao thông đường sắt góp phần vận chuyển một lượng lớn hành khách vàhàng hóa, tạo sự giao lưu giữa Phú Thọ và các tỉnh cũng nhử xuất khẩu hàng hóa quacảng Hải Phòng Đây là tuyến đường sắt nôi trung tâm kinh tế Hà Nội với các tỉnhtrung du và miền núi phía Bắc, từ đó có thể thông sang Trung Quốc Ba tuyến nhánh

đi qua các khu công nghiệp, nhà máy với tổng chiều dài 14,6km

Toàn tuyến Hà Nội – Lào Cai có 38 ga và trạm, các ga đều ở dạng vĩnh cửu,

27 ga đã bị xuống cấp hư hỏng Đường ga dùng ray P34-P30-P24 Hệ thống tín hiệutrong các ga đa phần dùng dây trần, chất lượng đàm thoại kém, tín hiệu yếu, chạy tàubằng thẻ đường, máy móc thiết bị đã cũ, lạc hậu Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ hiện nay

có 8 ga, trong đó chỉ có một ga hàng hóa là ga Tiên Kiên; khoảng cách trung bìnhgiữa các ga là 8,5km

4.3 Giao thông đường sông

Tỉnh Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua: Sông Hồng, sông Lô, sông Đà 3con sông này gặp nhau tại thành phố Việt Trì Ngoài ra còn một số sông nhánh như:sông Chảy, sông Bứa Hầu hết các huyện, thị đều có sông chảy qua tạo thành mộtmạng lưới đường thủy thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế Tổng chiều dàiđừng sông trên 3 sông chính của Phú Thọ là 227km với 595 phương tiện vận tải từ 50tấn trở lên hoạt động

Tỉnh có 2 cảng được quy hoạch và xây dựng khá hoàn chỉnh và đang khai tháchiệu quả:

- Cảng Việt Trì: là cảng đầu mối do Trung ương quản lý với công suất thiết kế

là 800.000 tấn/năm, nhưng hiện nay mới chỉ khai thác được trên 50% công suất

Trang 23

- Cảng An Đạo: là cảng chuyên dùng của nhà máy giấy Bãi Bằng, có côngsuất 350.000 tấn/năm.

5 Cơ sở hạ tầng bổ trợ

5.1 Hệ thống cung cấp điện

5.1.1 Nguồn điện quốc gia

- Nguồn điện 220Kv được cấp từ hệ thống điện miền Bắc thông qua đườngdây 220Kv Hòa Bình – Việt Trì – Sóc Sơn, cấp điện cho trạm 220/110 Việt Trì côngsuất 125 MVA

- Nguồn điện 110KV của tỉnh được cấp từ 2 tuyến dây Việt Trì – Đông Anh

và Việt Trì – Thác Bà cấp điện cho các trạm 110 KV trên địa bàn tỉnh

- Nguồn điện tại chỗ: Tỉnh Phú Thọ có duy nhất nguồn điện tại chỗ là nhà máyđiện của Công ty Giấy Bãi Bằng, công suất thiết kế 12 – 16 KW

5.1.2 Lưới điện

- Lưới điện truyền tải gồm:

+ Lưới 220 KV có 3 đường là: Hòa Bình – Việt Trì – Sóc Sơn, Việt Trì – Sơn

La và Việt Trì –Yên Bái Trạm 220 KV Việt Trì thường xuyên vận hành trong tìnhtrạng quá tải

+ Lưới điện 110 KV, sản xuất từ nhà máy thủy điện Thác Bà đi từ trạm 220

KV Việt Trì tới các trạm 110 KV trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Cả tỉnh có 5 trạm 110

KV, tập trung chủ yếu ở thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và huyện Phù Ninh

+ Trạm biến áp trung gian 35/6 – 10KV: Trên địa bàn tỉnh có 21 trạm biến áptrung gian với tổng dung lượng là 79.510 KVA

- Lưới điện trung thế: Lưới điện trung thế trên địa bàn tỉnh có kết cấu hình tia,đang được sử dụng với nhiều cấp điện áp: 35KV, 10KV, 6KV

Trang 24

5.2 Hệ thống bưu chính viễn thông

Mạng lưới bưu chính viễn thông thời gian gần đây đã được quan tâm pháttriển Số máy điện thoại tăng nhanh, năm 2005, số máy điện thoại đạt 121.700 cái(9,9 máy/100 dân), năm 2007 đạt 547.764 cái ( 40,4 máy/100 dân), tăng gấp 4 lần sovới năm 2005 Đã hình thành và phát triển rộng khắp các dịch vụ Internet, hộp thưthoại,…Chất lượng thông tin liên lạc của tỉnh có bước tiến vượt bậc, cơ bản đáp ứngđược nhu cầu phát triển kinh tế xã hội; mạng điện thoại di động đã phủ sóng đến hầuhết các xã; 100% doanh nghiệp, cơ quan của tỉnh được trang bị máy tính, kết nốiInternet, nối mạng nội bộ

5.3 Hệ thống cấp thoát nước

Hệ thống cấp nước sạch của tỉnh Phú Thọ còn rất hạn chế, chủ yếu nhờ vào 2nhà máy nước Việt Trì và Phú Thọ, một số thị trấn cũng có trạm cung cấp nướcnhưng công suất nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu nước sạch như: nhà máy nướcThanh Sơn, nhà máy nước Đoan Hùng, nhà máy nước Hưng Hóa, nhà máy nước LâmThao và nhà máy nước Hạ Hòa Ngoài ra, tỉnh còn có hệ thống trạm cấp nước nôngthôn nằm rải rác ở các xã

Hệ thống thoát nước của tỉnh mới chỉ đạt 10,5% tổng chiều dài đường, chủyếu là thoát nước mặt và không qua xử lý Việc xử lý nước thải sinh hoạt và nướcthải công nghiệp chưa triệt để đã gây ra ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trườngnói chung Các bãi chôn lấp rác thải đều chưa hợp vệ sinh, vị trí các nghĩa trang hầuhết chưa hợp lý, chưa đủ khoảng cách vệ sinh gây ra ô nhiễm nguồn nước

Hiện nay, chất lượng nước sông Hồng đoạn chảy qua Lâm Thao, thành phốViệt Trì bị ô nhiễm nặng, nhất là vào mùa khô Sông Lô, sông Đà chưa bị ô nhiễm, lànguồn nước cấp cho sinh hoạt và sản xuất cần được bảo vệ

Tóm lại, hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội phục vụ du lịch (đường giao thông, các cơ sở hạ tầng bổ trợ) của Phú Thọ khá đầy đủ về quy mô cũng như phần nào đã đáp ứng được về mặt chất lượng cho nhu cầu phát triển du lịch Hệ thống đường

Ngày đăng: 18/10/2013, 16:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả tăng trưởng (GDP) của tỉnh Phú Thọ - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả tăng trưởng (GDP) của tỉnh Phú Thọ (Trang 4)
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2008 (theo giá hiện hành) - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2008 (theo giá hiện hành) (Trang 5)
Bảng 2.2: So sánh tăng trưởng kinh tế (GDP) của Phú Thọ với vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ và cả nước - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.2 So sánh tăng trưởng kinh tế (GDP) của Phú Thọ với vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ và cả nước (Trang 5)
Hình 2.2: Cơ cấu ngành kinh tế năm 1997 và năm 2008 của tỉnh Phú Thọ - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Hình 2.2 Cơ cấu ngành kinh tế năm 1997 và năm 2008 của tỉnh Phú Thọ (Trang 6)
Bảng 2.3:  So sánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Phú Thọ với vùng TDMNBB và cả nước - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.3 So sánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Phú Thọ với vùng TDMNBB và cả nước (Trang 8)
Bảng 2.7: Tổng hợp hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Thọ năm 2008 - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.7 Tổng hợp hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Thọ năm 2008 (Trang 18)
Bảng 2.8: Vốn đầu tư huy động cho phát triển cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2001-2008 - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.8 Vốn đầu tư huy động cho phát triển cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2001-2008 (Trang 25)
Bảng 2.9: Vốn đầu tư xây dựng CSHTDL từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2008 - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.9 Vốn đầu tư xây dựng CSHTDL từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2008 (Trang 28)
Bảng 2.10: Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng CSHTDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo nguồn hình thành - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.10 Tổng hợp vốn đầu tư xây dựng CSHTDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ theo nguồn hình thành (Trang 29)
Bảng 2.12: Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng CSHTDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2008 - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Bảng 2.12 Tình hình thực hiện vốn đầu tư xây dựng CSHTDL trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2008 (Trang 33)
Hình 2.8: Tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng CSHTDL so với tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2008. - THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
Hình 2.8 Tỷ lệ vốn đầu tư xây dựng CSHTDL so với tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2001-2008 (Trang 41)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w