Căn cứ vào những thành tựu nói trên, từ nguyên liệu đầu là các amin thơm, andehit thơm sẵn có và axit thioglycolic, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu tổng hợp và tính chất của một số
Trang 1đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học tự nhiên
-
Hoàng Thị Lý
NGHIÊN CứU Tổng hợp và tính chất CỦA MỘT SỐ DẪN
XUẤT 1-ARYLTETRAZOL VÀ BIS-THIAZOLIDIN-4-ON
Chuyên ngành: Hoá hữu cơ
Mã số: 62 44 27 01
tóm tắt Luận án tiến sĩ hoá học
Hà Nội - 2012
Trang 2C «ng tr×nh ®-îc hoµn thµnh t¹i Khoa Ho¸ häc, Tr-êng §¹i häc Khoa häc Tù nhiªn, §¹i häc Quèc gia Hµ Néi
Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: gs tskh Nguyễn Đình Triệu
Vµo håi 9 giê 00, ngµy 15 th¸ng 03 n¨m 2012
Cã thÓ t×m hiÓu luËn ¸n t¹i :
- Th- viÖn Quèc gia ViÖt Nam
- Trung t©m Th«ng tin - Th- viÖn, §¹i häc Quèc gia Hµ Néi
Trang 32.2.1 Tổng hợp các dẫn xuất 1-aryltetrazole trực tiếp từ các amino thơm 46 2.2.2 Tổng hợp các dẫn xuất 1-aryltetrazole từ các dẫn xuất aminoazoaren 50
Trang 42.2.3 Tổng hợp các dẫn xuất tetrazole từ aminozometin 52
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1.2 Tổng hợp các dẫn xuất bis- azometin và dẫn xuất aminoazometin 69
3.3.2 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMRcủa bis-tetrazol-1-yl 115
3.4.2 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR của bis-thiazoliđin-4-on 121
3.5 KHẢO SÁT TÍNH ỨC CHẾ ĂN MÒN THÉP CT3 CỦA CÁC
BIS-AZOMETIN TRONG MÔI TRƯỜNG AXIT HCl 2M
125
Trang 5DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.4 Độ chuyển dịch hoá học của proton trong phổ 1H-NMR của một số tetrazole 6
Bảng 1.5 Độ chuyển dịch hoá học của cacbon trong phổ 13C-NMR của một số tetrazole 7
Bảng 3.3 Phổ MS của các amino azoaren 67
Bảng 3.9 Số khối và cường độ các mảnh ion của các aminoazometin 84 Bảng 3.10 Kết quả tổng hợp, phổ IR và UV của 1-aryl tetrazole từ amin 88 Bảng 3.11 Dữ kiện phổ 1H – NMR của 1-ary ltetrazole từ amin sẵn có 93 Bảng 3.12 Phổ 13C - NMR của một số 1-aryltetrazol từ amin sẵn có 95 Bảng 3.13 Phổ khối lượng của các dẫn xuất 1-aryltetrazole từ amin sẵn có 97
Bảng 3.14 Kết quả tổng hợp các dẫn xuất 1-aryltetrazole từ aminoazoaren 99 Bảng 3.15 Phổ IR và UV của các dẫn xuất 1-aryltetrazole aminoazoaren 102 Bảng 3.16 Phổ 1H-NMR của một số dẫn xuất 1-aryltetrazole đi từ aminoazoaren 105
Bảng 3.17 Phổ 13C- NMR (δppm, JHz) của một số dẫn xuất 1-aryltetrazole từ
aminoazoaren
107 Bảng 3.18 Phổ MS của các dẫn xuất 1-aryltetrazole đi từ aminoazoaren 109
Trang 6Bảng 3.19 Kết quả Phổ H –NMR của các tetrazole từ aminoazometin 113
Bảng 3.22: Phổ khối lượng của một số dẫn xuất bis-tetrazol-1-yl 117
Bảng 3.25 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-NMR của các dẫn xuất bis-thiazoliđin-4-on 122 Bảng 3.26 Kết quả khảo sát tính ức chế ăn mòn thép CT3 của các bis- azometin 126
Bảng 3.28 Kết quả thử hoạt tính sinh học tại Khoa Sinh học trường ĐH Khoa
Trang 7DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.3 Một phần phổ 1H-NMR của 4-amino-1- (napht-2’-ylđiazenyl) naphtalen 65
Hình 3.4: Phổ MS của 4-amino-1- (napht-1’-yl điazenyl)naphtalen 68
Hình 3.5 Phổ IR của bis-[(m-nitro benzyli den)-4,4’-điaminođiphenyl] ete (B4) 72
Hình 3.6: Phổ UV 4,4’- bis-( o- nitro benzyliđen)-điaminođiphenyl ete 72
Hình 3.7 Phổ UV của 4,4’- bis-(p- cloro benzyliđen)- điaminođiphenyl ete 72
Hình 3.8 Một phần phổ 1H -NMR của 4,4’- bis-( o- nitro benzyliđen)điamino
Hình 3.18 Phổ IR của (4-amino phenyl)-[(napht-2’-yl)điazen (A4) 101 Hình 3.19 Phổ IR của 1-[4’-[(napht-2’’-yldiazenyl)napht-1’-yl]tetrazole 101
Hình 3.21 Phổ UV của 1-[4’-(napht-1’’-yl điazenyl)napht-2’-yl]tetrazole 104
Trang 8Hình 3.28.Phổ 1H-NMR củaN- amino-2-(4’-đimetyl amino benzyliđen) aminobenzen 112
Hình 3.29 Phổ hồng ngoại của bis-(tetrazol-1-yl)-4,4’-điphenyl ete 115
Hình 3.30: Phổ 1H - NMR của bis-(tetrazol-1-yl)-4,4’-điphenyl metan 115
Hình 3.31: Phổ 13C – NMR của bis-(tetrazol-1-yl)-4,4’-điphenyl metan 115
Hình 3.35 Phổ IR 4,4’- bis-(p- cloro benzyliđen)điaminođiphenyl ete 121
Hình 3 36 Phổ 1H-NMR của 4,4’- bis – [5- (p-cloro phenyl) thiazoliđin - 4- on -3-yl] điphenyl ete 123
Hình 3.37 Phổ 13C-NMR của 4,4’- bis – [5- (p.cloro phenyl) thiazoliđin - 4- on -3-yl] điphenyl ete 124
Hình 3 38 Phổ MS của 1,4-bis-[5-piriđin thiazoliđin-4-on-3-yl]benzen 124
Trang 9DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ phân mảnh của 4-amino phenyl-( 3’-nitro phenyl)điazen và
4-amino phenyl-( 4’-nitro phenyl)điazen
68
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ phân mảnh của bis-(m-nitro benzyliđen)-4,4’-điaminođiphenyl ete 79
Sơ đồ 3.7 Sơ đồ phân mảnh của 1-[4’-[(napht-1’’-yldiazenyl)napht-1’-yl]
Trang 10DANH MỤC NHỮNG KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT DÙNG
MS : Mass Spectrometry (Phổ khối lượng)
EI: Electron Impact (Va chạm electron)
IR: Infrared Spectrometry (Phổ hồng ngoại)
UV: Ultraviolet Spectrometry (Phổ tử ngoại)
NMR: Nuclear Magnetic Resonance Spectrometry (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân) 2D-NMR : Two-Dimensional Nuclear Magnetic Resonance Spectrometry (Phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều)
1H-NMR: Proton Magnetic Resonance Spectrometry (Phổ cộng hưởng từ proton)
13C-NMR: Carbon -13 Nuclear Magnetic Resonance Spectrometry (Phổ cộng hưởng
từ hạt nhân cacbon-13)
DEPT: Distortionless Enhancement by Polarisation Tranfer
COSY : CO relation SpectroCop Y
HMBC: Heteronuclear Multiple Bond Coherence
Trang 11IC50 : 50% Inhibitory Concentration (Nồng độ ức chế 50% )
MIC: Minimum Inhibitory Concentration (Nồng độ ức chế tối thiểu) VSVKĐ: Vi sinh vật kiểm định
- Các dung môi
DMSO: di metyl sunfoxit
EtOAc : Etyl axetat
Trang 12MỞ ĐẦU
Hóa học các hợp chất chất dị vòng là một trong những lĩnh vực rất phát triển của Hóa học Hữu cơ, chúng không những phong phú về số lượng, đa dạng về cấu trúc mà các tính chất cũng có nhiều điều rất lý thú Bởi vậy, hóa học các hợp chất dị vòng luôn
là tâm điểm của các nhà khoa học trong và ngoài nước chú ý quan tâm nghiên cứu Trong hóa học dị vòng, các hợp chất chứa vòng tetrazol và thiazolidin đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng các hợp chất này
có rất nhiều ứng dụng đi vào thực tế cuộc sống như trong Công nghiệp, Nông nghiệp
Đặc biệt trong lĩnh vực y học, các hợp chất này đã và đang được nghiên cứu làm thuốc như thuốc kháng sinh , thuốc chữa bệnh tiểu đường, thuốc tim mạch…Nhiều hợp chất chứa dị vòng thiazoliđin-4-on đã được biết đến nhờ những hoạt tính sinh học đa dạng và quý giá như gây mê, gây tê, chống lao, chống nhiễm khuẩn, chống co giật, kháng amip, tẩy giun và diệt nấm [35,41, 52] Ngoài ra, nhiều dẫn xuất của chúng còn được ứng dụng trong các lĩnh vực khác như chất bảo vệ màu của polivinyl clorua, chất chống ăn mòn trên bề mặt kim loại, chất khơi mào cho hỗn hợp nổ, các muối tetrazole
có thể bị khử thành chất màu fomazan để làm phẩm nhuộm [15,18,20,85-88]
Chính vì thế tổng hợp và nghiên cứu về các hợp chất mới có chứa hệ vòng aryltetrazole và thiazoliđin-4-on vẫn luôn được nhiều người quan tâm và giữ vị trí quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu về các hợp chất dị vòng [7, 21, 110,47]
Căn cứ vào những thành tựu nói trên, từ nguyên liệu đầu là các amin thơm,
andehit thơm sẵn có và axit thioglycolic, chúng tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu tổng
hợp và tính chất của một số dẫn xuất 1-aryltetrazole và bis- thiazolidin-4-on ”
Những nội dung chính của luận án:
1 Tổng hợp các dẫn xuất aminoazoaren, dẫn xuất aminoazometin và bis- azometin
2 Tổng hợp có định hướng các hợp chất hữu cơ dự kiến có hoạt tính sinh học như
các dẫn xuất 1-aryltetrazole, bis-tetrazol-1-yl và bis-thiazolidin-4-on
3 Xác định cấu trúc của các hợp chất đã nghiên cứu bằng các phương pháp phổ, nhằm cung cấp những dữ liệu về phổ của các chất này, đồng thời tìm hiểu mối quan hệ giữa cấu trúc phân tử và tính chất phổ
4 Thăm dò hoạt tính sinh học và khả năng ức chế ăn mòn kim loại của một số hợp chất đã tổng hợp được nhằm tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học cao
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
Trang 131.1 TỔNG QUAN VỀ TETRAZOLE
1.1.1 Cấu trúc và các liên kết trong phân tử
Tetrazole là hợp chất dị vòng 5 cạnh không bão hòa với một nguyên tử cacbon và
4 nguyên tử nitơ [6, 40, 58, 116-118] Công thức chung và cách đánh số được chỉ ra như ở dưới đây:
R - C N
N
2H- Tetrazole (II)
Tetrazole tồn tại 3 dãy dẫn xuất mono thế và hai dãy dẫn xuất 2 lần thế:
2- Phenyl tetrazole
- Các dẫn xuất tetrazole hai lần thế:
1- Benzyl-5- amino tetrazole Axit-2- metyl tetrazol -5- cacboxylic Tetrazolo piridin
H2N - C N - CH2-C6H5
N
NN
N
HOOC - C N
N N - CH3
Trang 14Ngoài ra tetrazole còn tồn tại ở dạng ngưng tụ 1,5-hai lần thế, điển hình như tetrazolo piridin Các muối tetrazoli và tetrazolin có các nhóm thế ở hai nguyên tử nitơ được biết với các nhóm thế ở vị trí 2,3-; 1,4- như sau:
CN
NNN
CH3
I2,3- Diphenyl-5-metyltetrazoli clorua 1,4,5-Trimetyltetrazoli iotdua
NNN
Tetrazole có nhiệt độ nóng chảy ở 156oC, dễ dàng tan trong nước và rượu nhưng khó tan trong ete và benzen Phổ hồng ngoại của tetrazole ở trạng thái rắn và trong dung môi không phân cực đã chỉ ra sự có mặt của các nguyên tử trong phân tử [19, 33, 40, 77, 107] Bằng phương pháp phân tích Rơnghen [41] có thể xác định được cấu trúc tinh thể, cấu trúc phân tử của muối 1,3-đimetyl-5-iminotetrazolin, một vài dẫn xuất 5-aminotetrazole và dạng monohydrat của muối natri của tetrazole Đối với các dãy khác của tetrazole cũng đã nhận được phổ Rơnghen dạng bột, hai phân đoạn và đây cũng chính là cơ sở có lợi để nhận ra các hợp chất này
Trang 15N
S CH2C6H5 O C N C6H5HN
N
N HN
Đồng thời phổ hồng ngoại của 1-aryltetrazolinon đã khẳng định cấu trúc ở dạng xeto mà không phải là dạng đồng phân 5-hydroxi Các vạch hấp thụ ở 493 và 956cm-1thuộc về nhóm amino và imino tương ứng được tìm thấy trong phổ hồng ngoại của 5-aminotetrazole và 1-etyl-5-metylamino tetrazole[17÷20,42,47]
5-Đặc biệt sự hấp thụ ở vùng 900÷1300 cm-1 là vùng hồng ngoại của 1-aryltetrazole với 4 pic đặc trưng: 1210, 1090, 1000 và 960cm-1 Đây chính là cơ sở quan trọng để chứng minh sự có mặt của vòng tetrazole [17, 42, 80, 98, 107]
Bảng 1.1 Một số băng phổ đặc trưng của tetrazole (cm-1)
C6H5-
C6H5- p-Br-C6H4-
3370,3175 3370,3165 -
1240,1120 1240,1135 1150,1080
1220, 1120
1220, 1120
N N N C R
Ar N
Trang 161.1.2.3 Phổ tử ngoại
Phổ tử ngoại của tetrazole và ankyl tetrazole hấp thụ yếu trong vùng 200220 nm [33, 41,78, 85, 115] Sự thế ở vị trí 5 bao gồm cả sự cộng hợp trực tiếp vào nguyên tử cacbon ở vị trí 5 bởi các nguyên tử N, S hay O đều dẫn tới sự chuyển dịch cực đại hấp thụ ở vùng cao hơn Các nhóm thế phenyl ở các vị trí khác nhau trong vòng tetrazole cũng đã gây ra sự chuyển dịch bathochrom và đây là cơ sở để phân biệt giữa các đồng phân với nhau, như được chỉ ra ở bảng sau:
Bảng.1 2 Phổ tử ngoại của một số dẫn xuất tetrazole
Sự liên hợp thẳng với nhóm thế aryl của vòng tetrazole với mạch phân tử tương ứng với
sự hấp thụ 270÷290 nm, trong trường hợp khi nhóm aryl liên kết với nguyên tử N ở vị trí 2 của hệ liên hợp thì sự hấp thụ quan sát thấy ở độ dài của sóng nằm trong vùng thấp hơn Qui luật này đã được mô tả một cách chi tiết bởi phổ tử ngoại (UV) của các dẫn xuất 2,3-diphenyl-5-hexyltetrazoli clorua liên hợp theo mạch thẳng (IV) và 2-metyl-5-phenyltetrazole (V)
C N
N N N
N N N
CH3
IV
V max =270 nm
Với cực đại hấp thụ ở 232nm của 1-metyl -5-phenyltetrazole đã cho sự đóng góp đáng kể trong việc xác định dạng lưỡng cực không liên hợp thẳng của các tetrazole
Trang 17Sự hấp thụ ở vùng 258 nm của 2-metylaminotetrazole cũng đã góp phần chứng
minh cho sự tồn tại của cấu trúc meso [34,47]
Với các dẫn xuất bis-tetrazolylbenzen có cực đại hấp thụ nằm trong vùng thấp
hơn, có lẽ do ảnh hưởng của vòng tetrazole đến hiệu ứng dịch chuyển này Vị trí của vòng tetrazole gắn với nhân phenyl có ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cực đại hấp thụ [29, 63, 118], đồng thời sự có mặt của nhóm thế cũng gây nên sự chuyển dịch cực đại hấp thụ về vùng thấp hơn điều này được chỉ ra ở bảng sau:
Bảng 1.3 Phổ tử ngoại của các dẫn xuất bis-tetrazolylbenzen
Bảng 1.4: Độ chuyển dịch hoá học của proton trong phổ 1 H – NMR của một số tetrazole
Công thức Dung môi H-5 H-2’ H-3’(H-4’) ∆(H 2’ - H 3’/4’ )
N
N N
Trang 18N
N+N
Bảng 1.5: Độ chuyển dịch hoá học của cacbon trong phổ 13 C-NMR một số tetrazole
N
N N
N 1'
C2H5
BF4 +
Trang 19Robert R Fraser và cộng sự [89] cho rằng phổ khối lượng của các aryltetrazole trong quá trình phân mảnh tạo ra ion đồng vị N15 chiếm 47,5% Trong quá trình ion hóa vòng tetrazole kém bền hơn vòng aren vì vòng tetrazole bị vỡ trước tiên Phổ khối của các hơ ̣p chất 1-aryltetrazole cho thấy vòng tetrazole trong quá trình ion hóa , thường cắt các nhóm -N=N-; -H; -H=CN-, CH2N2 hoặc CH2N, -N=N-N=CH-, sau đó mới xảy ra
Trang 20Giá trị momen lưỡng cực lớn của tetrazole có liên quan trực tiếp đến hiệu ứng phân cực của cặp electron không chia của nguyên tử nitơ ở vị trí 3 Giản đồ sự phân bố mật độ điện tử của phân tử tetrazole được thể hiện như sau:
N NH C
- 0,075
- 0,027 + 0,116
+0,167 + 0,181
Điểm cuối điện tích dương của lưỡng cực được phân bố ở gần nguyên tử cacbon của vòng tetrazole còn điểm cuối điện tích âm ở giữa các nguyên tử nitơ ở vị trí 2 và 3 Đồng thời, điện tích dương nhỏ của nhóm NH ở vị trí 1 cho biết sự thiếu hụt electron do
sự tham gia tạo ra hệ thống electron vòng thơm bằng liên kết electron σ của nhóm –NH Còn giá trị điện tích dương lớn hơn ở nguyên tử cacbon của vòng tetrazole thể hiện hiệu ứng cảm ứng của nguyên tử nitơ N4, dọc theo liên kết phân cực C-N Điện tích âm nhỏ
ở các nguyên tử nitơ N2 và N3 thể hiện sự chuyển dịch electron của hệ thống electron π trong vòng Từ các giá trị này cho thấy các tác nhân ái điện tử khi tấn công vào vòng tetrazole chỉ tập trung ở các nguyên tử nitơ trong vòng
Các nhóm thế aryl hút electron trong các phenyl tetrazole thế đã làm giảm momen
lưỡng cực, gây ra sự tương tác ngược lại với tác dụng của vòng tetrazole (Xem bảng
1.6) Đối với các đồng phân tetrazole thế ở vị trí 2, có momen lưỡng cực thấp hơn nhiều
so với tetrazole (5,11D) [116]
Dựa trên sự tính toán momen lưỡng cực của đồng phân tautome (I), (II) và đối với phổ cộng hưởng từ proton 1H-NMR người ta có thể chứng minh rằng tetrazole tồn tại ở dạng tautome (I)
Trang 211.1.2.7 Tính chất nhiệt
Đa số các tetrazole nhiệt tạo thành được xác định là 56,66 kcal/mol, với sự hấp thụ năng lượng [83] Giá trị năng lượng cộng hưởng của tetrazole dao động trong khoảng 55,2÷61,2 kcal/mol [100], cao hơn so với các dị vòng đơn vòng không có nhóm thế khác, điều này đã chứng minh đặc tính thơm của vòng tetrazole Sự tồn tại gốc tự do trong diphenyl-(2-metyl-5-tetrazolyl)metyl (XI), đã xác nhận bổ sung cho năng lượng thơm hóa trong các hệ vòng tetrazole
C6H5C
1.1.2.8 Tính axit, tính bazơ của các muối và phức chất tetrazole
Vòng tetrazole thể hiện tính chất của một axit, lực axit gần với axit axetic (pKa
=4,76), có thể tạo muối với kim loại kiềm Với các muối kim loại kiềm của các tetrazole thế vị trí 5, tan tốt trong nước trừ muối của terazole với bạc không tan Tính axit của các dẫn xuất tetrazole thế 5-mono, tùy thuộc vào đặc tính của nhóm thế ở vị trí
5 [24,31,61,91, 99] Tính axit tăng lên trong trường hợp nhóm thế hút electron và giảm khi nhóm thế đẩy electron (Xem bảng 1.7)
Bảng 1.7 Các hằng số axit của một vài tetrazole
Trang 22Tính axit của 5-azidotetrazole tương tự các axit vô cơ mạnh có lẽ do năng lượng cộng hưởng lớn của sự tổ hợp nhóm azit và vòng tetrazole dẫn đến sự ổn định của anion này, đồng thời làm tăng tính axit của nguyên tử hydro amit [105]
Để xác định hằng số bazơ người ta đã sử dụng các hằng số thủy phân của 1 và metyltetrazole, 1-và 2-etyletrazole, khi nghiên cứu ảnh hưởng của các clohidrat của chúng đến sự thủy phân của metyl axetat
2-Bảng 1.8: Các hằng số bazơ của tetrazole
1-Metyl tetrazole 1-Etyl tetrazole 2-Metyltetrazole 2-Etyl tetrazole 5-Amino tetrazole 1-Phenyl -5-amino tetrazole
9,7 10,1 10,4 10,7 12,18 12,88 Tính bazơ của một vài 5-aminotetrazole được xác định bằng sự chuẩn độ của axit clohydric trong dung dịch axit axetic băng Các tetrazole có hằng số bazơ yếu hơn so với anilin (pKb của anilin bằng 9,3); đồng thời khi kích thước các nhóm thế gắn vào vòng tetrazole càng lớn thì hằng số bazơ càng yếu (Bảng 1.8)
Các phổ cộng hưởng từ proton đã xác nhận rằng trong dung dịch của anhydrit sunfuric thì 5-metyltetrazole tồn tại ở dạng dime do tạo liên kết hydro [48]
1.1.3 Phương pháp điều chế tetrazole
Phần lớn các tetrazole được điều chế bằng phản ứng cộng hợp HN3 vào các hợp chất chứa liên kết không bão hòa của nitơ và cacbon chẳng hạn như nitrin [27, 32, 36,
42, 65], isonitrin xianat [83], trioxianat và xianamit
1.1.3.1 Phản ứng cộng hợp
a Phản ứng cộng hợp axit hidroazit vào hợp chất nitrin [92]
Một trong các phương pháp phổ biến tổng hợp tetrazole (3) là phản ứng của nitrin với các axit hiđroazit (1) Đây là phương pháp chủ yếu dùng để điều chế các tetrazole thế vị trí 5, phản ứng đi qua giai đoạn trung gian là imiđazit (2):
Trang 23RC NH N N
Isopropionitrin (4) phản ứng với axit hiđrazoic cho 5- isopropyltetrazole (5) với hiệu suất 87% [91]:
(CH3)2CHCN HN3
N N
C N
NH (CH3)2CH
+
Phản ứng có thể thực hiện trực tiếp với natri azit và axit axetic băng trong
isopropanol hay butanol [48] như điều chế 5-(metoxiphenyl)tetrazole (7) từ
p-(metoxiphenyl)nitrin (6) dưới đây:
p- CH3OC6H4
p- CH3OC6H4CN NaN3 CH3COOH
N N
C N NH
C N
N ( - )
C6H5 - NaN3
C6H5CN
N N
C N
NH
C6H5
(9) (8)
+
Na(+)
Trang 24Daniela và các cộng sự [37] đã tiến hành phản ứng đóng vòng (p-hydroxiphenyl)
nitrin (10) với natri azit trong amoni clorua hoặc đimetylfomamit thu được hydroxiphenyl)tetrazole (12) với hiệu suất 79%
N C N
N N
D Cantillo và cộng sự [38] đã tiến hành tổng hợp các dẫn xuất
1H-1,2,3,4-tetrazole đi từ hợp chất nitrin hữu cơ và natri azit và trimethylsilylclorua (TMSCl), ở nhiệt độ 220oC, thời gian 15-25 phút
Zsuzsa Hadady [105] cùng đồng sự đã nhận được 5-(2’,3’,4’,6’ - tetra-O- axetyl-
D-glucopyranosyl) tetrazole (14) từ 2,3,4,6-tetra-O-axetyl-2,3,4,6-tetraxetyl-D- glucopyranosyl xianic (13) với natri azit trong amoni clorua hoặc đimetylfomamit ở nhiệt độ 80oC trong thời gian 3 giờ, hiệu suất đạt 55%
N C N
N N O
AcO
AcO AcO
Trang 25R = C6H5-, p- NO2 - C6H4- , CH3CO-
R’ = C6H5- , C6H11-
5- Aryltetrazole (21) nhận được từ 2-brom-2-phenoxiaxetophenon (19) và natri azit qua sản phẩm trung gian (20) [32, 80]
H S Yathirajan và cộng sự [58] đã tổng hợp 5-(4’-metyl-1,1’
-bis-phenyl-2-yl)-1H-tetrazole từ 4’-metyl-1,1’- bis- phenyl-2-yl cacbonitrin, hiệu suất đạt 85%
1.1.3.2 Phản ứng của aminoguaniđin với axit hiđrazoic
Tác dụng của axit hiđrazoic lên các aminoguaniđin là phương pháp quan trọng để
tổng hợp tetrazole [85-87,90] Lần đầu tiên 5-aminotetrazole (23) đã được Thile tổng
hợp qua phản ứng của aminoguaniđin (22) với axit nitrơ:
Trang 26Tương tự, 1-ankyl và 1-aryl-aminoguaniđin (24) phản ứng với axit nitrơ cho ankyl (25) hoặc 5-arylaminotetrazole (26) [32, 107-109, 114]:
5-1.1.3.3 Phản ứng của axylhiđrazin và hợp chất điazo
Tetrazole thế 1,5 có thể thu được dễ dàng qua phản ứng của axylhiđrazin với muối điazoni trong dung dịch, phản ứng đi qua giai đoạn hình thành tetrazen [29,107]
Thí dụ, hydrazit của axit axetic (27), phản ứng với phenylđiazoni cho tetrazen (28), rồi đóng vòng cho 5-metyl-4-phenyltetrazole (29):
Các điaxyl hiđrazit đối xứng cũng tham gia phản ứng tách ra một nhóm axyl cho tetrazole Sử dụng phương pháp này để điều chế 4-metylphenyltetrazole (30) từ 1,2- đifomylhiđrazin (31) [99]
1.1.3.4 Phản ƣ́ng của hiđazon với azit và điazoni
Phenylazit hay tribromphenyl azit (33) có thể phản ứng với hiđrazon (32) cho tetrazole thế vị trí 2,5 (34) [111]:
Trang 27S.Hoeksema [98] đã tổng hợp được 45 chất tetrazole thế vị trí 2,5 bằng phản ứng của phenylsunfonylhiđrazon với muối arenđiazoni ở 5oC trong rượu và piriđin với hiệu suất đạt 31-78%
1.1.3 5 Phản ứng của hợp chất cacbonyl và nitrin với axit hydrazoic
Một phương pháp quan trọng nữa để tổng hợp tetrazole là phản ứng của anđehit
và xeton với axit hydrazoic Phản ứng này do Schmitz tìm ra đầu tiên nên được gọi là
R2C=N- N+N RC+=NR + N2
HN3
N N
C N
C N
N
+ 2HN3
R2C=O
Trang 28Từ cyclohexanon (36) đã nhận được pentametylentetrazole (37), hiệu suất đạt 70%
Mở rộng phản ứng Schmitz [54], người ta đã nhận được phenyltetrazole (39) từ các capronitrin (38):
5-amino-1-Cơ chế của phản ứng này được giải thích như sơ đồ sau:
C N
N N
Trang 291.1.3.6 Tổng hợp các tetrazole
Từ tetrazole có thể điều chế các dẫn xuất tetrazole thế ở vị trí 1,2 [36, 38,40, 53,65,
74, 100, 115, 117] Ví dụ: Cho tetrazole phản ứng với benzylclometyl ete (I) hoặc với triphenylcacbinol (II), hay với natri borat (III) cho sản phẩm thế 1-tetrazole và 2-tetrazole tương ứng [52]
N N
NH N
+ C6H5CH2OCH2Cl
H + , (C6H5)3COH
+ NaBO3
N N
N N
CH2OCH2C6H5
N N
N
N N
N
N N
N N
OH
N N
N
N N
CH2OCH2C6H5(I)
.MeSO 4
CH3
+ (42)
N C N
N C
N
R 1
R2(45)
N
N C N N
(+)
X (-)
(46) N
Trang 30orthoformat HC(OC2H5)3 và axit axetic băng [58] Đây là phương pháp mà chúng tôi đặc biệt quan tâm vì phản ứng chỉ qua một giai đoạn và cho hiệu suất cao (phương pháp này được áp dụng trong luận án), sơ đồ tổng hợp như sau:
R=4-I-2-CH3C6H3-; 4-F-3-ClC6H3; 4-C6H4COOH; cyclo-C3H5;Ph CH2CH2-
4-(4-NO2C6H4)C6H4
Sergey M Putis và các cộng sự [93] đi từ axit 4-(tetrazol-1-yl)-3- phenylbutanoic (46), chất này nhận được từ axit 4-amino -3- phenyl butanoic (45) với natri azit trong trietyl orthoformat có mặt axit axetic, hiệu suất đạt 79%
W K Su, Z Hong và cộng sự [108] đã tiến hành tổng hợp các dẫn xuất
1H-1,2,3,4-tetrazole đi từ amin, trietyl orthoformat và muối natri azit, có mặt của xúc tác là Yb(OTf)3 , phản ứng tiến hành ở nhiệt độ 100oC, thời gian phản ứng từ 6-9h, cho hiệu suất cao
1.1.3.8 Hoạt tính sinh học của tetrazole
Các dẫn xuất 1-aryltetrazole đều có tính kháng khuẩn, chống nấm cao thể hiện đường kính vòng tròn vô khuẩn tương đối lớn Với tụ cầu vàng đường kính vòng kháng khuẩn từ 10-18 mm, với khuẩn mủ xanh từ 10-20mm và đường kính vòng tròn chống nấm từ 10-30mm [35,53, 55, 63,72, 83, 105]
1.2 TỔNG QUAN VỀ HỢP CHẤT AZO
1.2.1 Cấu tạo
Azo là những hợp chất mà trong phân tử có chứa nhóm azo – N = N -, công thức tổng quát [10, 13]: Ar- N = N – Ar1, trong đó Ar và Ar1 thường là các gốc aren có gắn với các nhóm trợ màu cho hoặc nhận điện tử (-OH, -NH2, -NO2, -COOH )
Trang 31Sự tham gia của nhóm azo vào trong hệ thống liên hợp của các hợp chất azo dẫn đến khả năng linh động của mạch điện tử do các nguyên tử nitơ có những đôi electron chưa chia đã tham gia mạnh vào sự chuyển dịch electron của toàn mạch
Để tạo nhóm azo, quá trình tổng hợp các hợp chất này phải tiến hành qua hai giai đoạn liên tục với hai loại phản ứng hóa học: phản ứng điazo hóa các amin thơm bậc nhất
C6H5 – NH2 + HONO + HCl 0 - 5
0 C
C6H5N+NCl- + H2O
Phản ứng điazo hóa trên do Gritxo tìm ra năm 1858 Nghiên cứu động học của phản ứng điazo hóa, Ingoll (1958) cho rằng thực chất quá trình này bao gồm chuỗi phản ứng: nitrozo hóa amin bậc nhất, phản ứng tách proton, đồng phân hóa hợp chất nitrozo
Trong các phản ứng trên thì giai đoạn nitrozo hóa amin bậc nhất là giai đoạn quyết định Cơ chế của phản ứng là cơ chế thế electrophil vào nhân thơm Vì vậy, nếu trong nhân thơm của anilin có nhóm thế với hiệu ứng –C và –I như nhóm -NO2, - CN, v.v tính bazơ của amin sẽ giảm, do đó phản ứng điazo hóa trở nên khó khăn (vì giai đoạn quyết định tốc độ phản ứng là nitrozo hóa) Ngược lại, các nhóm thế có hiệu ứng +C > –
Trang 32I như -OCH3, -N(CH3)2, v.v làm tăng tính bazơ của amin nên phản ứng điazo trở nên
dễ dàng hơn
Cho nên, các nitroanilin chỉ bị điazo hóa trong axit sunfuric đậm đặc, và có thể
dùng những tác nhân nitrozo hóa theo thứ tự sau:
NO+ClO-4 > HO-SO2-O-NO > CF3COO-NO > H2O+ - NO > Cl-NO > ON-O-NO >
HO-NO > R-O-HO-NO
Mức độ tham gia phản ứng của chúng còn tùy thuộc vào bản chất của amin và các điều kiện tiến hành phản ứng như pH môi trường, nhiệt độ và nồng độ các chất Sự lựa chọn tác nhân phản ứng phụ thuộc vào tính bazơ của amin: những amin có tính bazơ yếu phải tiến hành điazo hóa trong môi trường pH < 1, những amin có tính bazơ trung bình
và mạnh sẽ tiến hành điazo hóa trong môi trường pH = 1 ÷ 3 Để điều chế muối điazoni
từ amin thơm bậc một, dựa vào đặc tính hóa học của nhóm thế trong vòng thơm ta có thể chọn một trong các phương pháp sau đây:
a) Điazo hóa trực tiếp 1 mol amin thơm trong 3 mol axit vô cơ có thêm NaNO2 ở nhiệt độ từ 0o ÷ 5oC Phương pháp này dùng để điazo hóa anilin, toluidin, mono halozen anilin, v.v Tốt nhất là sử dụng axit sunfuric hoặc hỗn hợp nó với axit axetic băng hoặc với axit photphoric Không nên sử dụng axit nitric vì dễ gây nổ nguy hiểm và xảy ra các phản ứng phụ như nitro hóa, oxy hóa Axit clohydric cũng ít được sử dụng vì nó dễ bị axit nitrơ oxy hóa tạo ra clo, chỉ nên sử dụng axit clohydric ở dạng dung dịch loãng Nếu trong môi trường phản ứng không có đủ axit vô cơ, có thể sẽ sinh ra triazen theo sơ đồ:
Bằng cách cho thêm axit vô cơ ta có thể phân cắt triazen thành các chất ban đầu
Đun nóng triazen với muối amin ta sẽ được p-aminoazobenzen:
b) Nếu tính bazơ của amin rất kém vì có hai hoặc ba nhóm hút electron, chẳng
hạn đinitro hoặc trinitro anilin, thì phải hòa tan amin trong hỗn hợp H3PO4 và H2SO4
Trang 33đậm đặc, rồi từ từ cho dung dịch đó vào axit nitrozyl sunfuric Cũng có thể điazo hóa các amin yếu trong axit axetic đá và cho thêm axit nitrozyl sunfuric (NO2-SO3H)
c) Nếu amin có tính bazơ tương đối mạnh hoặc amin dễ bị phân cắt bởi axit vô cơ thì ta có thể hòa tan chúng hoặc thành nhũ tương trong nước hoặc một dung môi nào đó rồi vừa làm lạnh, vừa cho tác dụng đồng thời với một tác nhân nitrozo hóa như ankylnitrit
Vì phản ứng điazo hóa tiến hành trong môi trường nước nên cần quan tâm đến khả năng hòa tan của các amin và các muối của chúng trong dung dịch axit Những amin hòa tan tốt thì phản ứng tiến hành nhanh, những amin khó hòa tan sẽ phải đun nóng sau
đó làm lạnh chuyển chúng về dạng hạt nhỏ lơ lửng Rồi tiến hành điazo hóa theo phương pháp thuận tức là nhỏ từ từ dung dịch NaNO2 vào dung dịch hòa tan trên Riêng một số amin không có khả năng hòa tan trong dung dịch axit nhưng lại có khả năng tạo các muối tan như muối natri, muối amoni thì phải tiến hành điazo hóa chúng theo phương pháp nghịch: hòa amin vào dung dịch natri cacbonat hay dung dịch amoniac, cho natri nitrit vào và trộn đều rồi đổ từ từ vào dung dịch axit
Điều kiện phản ứng phụ thuộc nhiều vào độ bền của hợp chất điazo được tạo thành Phần lớn các hợp chất này đều không bền, chúng dễ bị phân hủy nhất là khi tăng nhiệt
độ Phản ứng điazo hóa là một phản ứng tỏa nhiệt (hiệu ứng nhiệt 20 ÷ 30 kcal/mol) Vì thế trước khi phản ứng phải làm lạnh hỗn hợp ở 0÷ 10oC và trong quá trình phản ứng phải sử dụng tác nhân làm lạnh trực tiếp hoặc gián tiếp Chỉ có một số amin có chứa các nhóm thế loại II thì hợp chất điazo sẽ ổn định hơn, nên có thể tiến hành điazo hóa ở nhiệt độ cao hơn
Mặt khác, để đảm bảo cho độ bền của hợp chất điazo, cần phải giữ cho khối phản ứng luôn có một lượng dư axit (0,4 ÷ 1 mol cho một mol amin) Lượng axit vô cơ dư sẽ tránh được các phản ứng phụ xảy ra trong khối phản ứng Thí dụ, có một số hợp chất điazo có khả năng kết hợp với amin tự do chưa kịp điazo hóa trong khối phản ứng tạo nên hợp chất phụ điazoamino (Ar-N=N–NH-Ar) Lượng natri nitrit được sử dụng theo tính toán lý thuyết và được pha thành dung dịch nồng độ 25 ÷ 30% Kết thúc phản ứng điazo hóa, cần phải khử hết lượng HNO2 còn dư để tránh các phản ứng phụ xảy ra trong phản ứng ghép đôi azo sau này Các chất khử HNO2 thường dùng là axit sunfamic hoặc urê:
Trang 341.2.3 Phản ứng ghép của muối diazoni
Phản ứng ghép của muối điazoni là phản ứng kết hợp giữa hợp chất điazoni với các chất có khả năng bị thay thế một nguyên tử hydro hoặc một nhóm thế ở nguyên tử cacbon trong nhân thơm và tạo nên hợp chất azo [50, 52, 64, 73]:
Ar - N NX + R - Y Ar - N = N - R + Y + X
Ar-N+2X- là muối điazoni ở dạng hoạt động, cation điazoni Ar-N2+ là tác nhân electrophil vì vậy nó có thể tác dụng với các hợp chất thơm có tính chất nuleophil tương đối cao (amin, phenol.v.v ) và với các anion của axit (este malonic, este axetoaxetic.v.v ) Trong phản ứng ghép của muối điazoni, nguyên tử hydro ở các vị trí cacbon giàu điện tử sẽ bị thay thế bằng cation điazoni Sự thay thế đó xảy ra khác nhau trong các trường hợp cụ thể sau đây:
a Với các hợp chất amin thơm
Nếu cấu tử azo là amin thơm, pH tối ưu nằm trong khoảng 5 ÷ 9 Khi pH < 5 phản ứng ghép xảy ra khó khăn vì amin bị proton hóa thành muối Ar +NH3X- không còn tính chất nucleophil Khi pH > 10 cation điazoni chuyển thành anion điazotat không có khả năng phản ứng ghép Tốt nhất nên thực hiện phản ứng ghép trong môi trường axit axetic hoặc trung tính
Trang 35b Với các azo thành phần có chứa nhóm hydroxyl
Nếu cấu tử azo là các phenol, pH tối ưu trong khoảng 9÷10 Các hợp chất này có thể tham gia vào phản ứng ghép đôi azo ở dạng tự do cũng như ở dạng đã bị ion hóa Tuy nhiên dạng ion hóa có hoạt độ cao gấp nhiều lần so với dạng tự do vì anion O- có khả năng cho điện tử vào nhân thơm gấp nhiều lần nhóm hydroxyl Phản ứng kết hợp azo là một phản ứng thế electrophil nên nó sẽ xảy ra ở các vị trí có mật độ electroncao nhất trong nhân thơm:
N Ar
:
N
CH3
OAr'
Tuy nhiên cần lưu ý là hợp chất điazo sẽ bị giảm hoạt độ phản ứng trong môi trường kiềm Việc lựa chọn điều kiện phản ứng phải đảm bảo sao cho các chất tham gia phản ứng đều phải tồn tại ở dạng hoạt động và tránh các phản ứng phụ xảy ra Vì vậy phản ứng kết hợp azo trong trường hợp này cần phải tiến hành trong môi trường hoặc trung tính hoặc kiềm yếu pH = 7÷9 Chỉ có một số hợp chất có hoạt động mạnh như β-naphtol có thể thực hiện phản ứng ở môi trường axit yếu pH = 5÷6 Nhiệt độ của phản ứng phải thấp, luôn giữ trong khoảng 0÷100C, vì nhiệt độ cao hợp chất điazo trong môi trường kiềm rất kém bền, dễ bị biến đổi
c Đối với các azo thành phần có chứa đồng thời cả nhóm amin và nhóm hydroxyl Với các azo thành phần có chứa đồng thời cả nhóm amin và nhóm hydroxyl thì sẽ gây nên sự cạnh tranh vị trí kết hợp Xét về khả năng cho điện tử của chúng sẽ gây sự khác nhau đó được thể hiện theo thứ tự sau: OH < NH2 < O-
Trang 36Như vậy trong môi trường axit yếu và trung tính thì nhóm amin sẽ có xu thế quyết định vị trí kết hợp Còn trong môi trường kiềm thì nhóm hydroxyl sẽ quyết định vị trí kết hợp do nó bị ion hóa
Eugene Lirberv và cộng sự [46] đã tiến hành cho α-naphtylamin (hoặc naphtylamin) phản ứng với N-metyl-N-nitrozo-N’-nitroguanidin trong etanol thu được 4-amino-α,α- azo-naphtalen (I) hiệu suất 50% hoặc 2-amino- α, β-azo-naphtalen (II), hiệu suất 93%
Nhìn chung phổ UV của aminoazoaren xuất hiện 3÷4 cực đại hấp thụ và có sự chuyển dịch mạnh về phía sóng dài so với phổ UV của amin thơm ban đầu Đây là cơ
sở xác nhận sự tạo thành các hợp chất amino azoaren
Phổ khối lượng của các aminoazoaren thường cho pic ion phân tử với cường độ lớn có số khối phù hợp với khối lượng phân tử của amioazoaren [4,72] Trên phổ đồ còn xuất hiện các pic tương ứng với các mảnh của phân tử được phân cắt theo một số hướng nhất định Đặc biệt là các mảnh ion ứng với sự phân cắt các liên kết C-NH2, liên kết N=N (của nhóm azo)
Trong phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton của các aminoazoaren thường thấy xuất hiện tín hiệu cộng hưởng nằm trong khoảng từ 8-9 ppm, đặc trưng cho proton ở nhóm amin bậc một -NH2
Trang 371.3 TỔNG QUAN VỀ AZOMETIN
1.3.1 Cấu tạo của các azometin
Phân tử azometin có thể tồn tại ở 2 dạng đồng phân cis (syn) và trans (anti) [1,3,10,13,22]
Khi nghiên cứu cấu trúc của phân tử benzyliđenanilin, C.H Warren và các cộng
sự đã tính được góc R2NC và thấy rằng dạng cis có giá trị góc là 253o và dạng trans có giá trị là 117o, mômen lưỡng cực là 1,57D [13]
V A Izmailinski và những người cộng tác đã chỉ ra rằng ở các azometin thơm có hai kiểu hệ liên hợp: liên hợp π, π (sự liên hợp giữa các electron π) và liên hợp n, π (liên hợp giữa các electron không chia sẻ trên dị tố N của liên kết azometin và hệ thống electron π của nhân thơm amin) Chính sự liên hợp n, π này làm cho nhân thơm amin quay một góc nào đó ra khỏi mặt phẳng của phân tử azometin Các tính toán lí thuyết cho thấy góc không đồng phẳng θ = 40o ÷ 90o, còn tính toán bằng phương pháp phổ tử ngoại là θ = 45o ÷ 60o
Nguyên tử N của liên kết azometin còn cặp điện tử tự do vì vậy nó là một trung tâm bazơ Lewis Sự liên hợp n, π có ảnh hưởng nhất định tới tính bazơ của các azometin Các nhóm thế ở nhân amin có ảnh hưởng rõ rệt tới tính bazơ của các azometin trong khi đó các nhóm thế ở nhân anđehit có ảnh hưởng không đáng kể đến tính bazơ của phân tử azometin Các trị số pKa của các benzylidenanilin nằm trong khoảng 9÷13
Trang 38N H
N
Cl PCl5
OCH3
N SnCl2
Tuy nhiên phương pháp này có hạn chế quá trình khử hoá không chọn lọc, đồng thời các sản phẩm trung gian iminclorua rất dễ bị thuỷ phân
1.3.2.3 Bằng phản ứng của các anđehit thơm và hợp chất nitro thơm
Khi cho anđehit thơm phản ứng với hợp chất nitro thơm trong cacbon oxit, có mặt của hợp chất chứa paladi, các hợp chất chứa nitơ, photpho và Fe2Mo2O24 sẽ thu được sản phẩm là azometin Chẳng hạn, phản ứng giữa benzanđehit với nitrobenzen có mặt phức PdCl2-pyridin và CO trong dung môi benzen ở 150atm, 230oC sau 5 giờ sẽ cho sản phẩm là benzylidenanilin với hiệu suất 71% [101]
1.3.2.4 Bằng phản ứng ngưng tụ giữa các hợp chất béo, thơm hay dị vòng có nhóm metylen hoạt động với nitrozo aren trong môi trường kiềm [67]
NO (H3C)2N
Trang 391.3.2.6 Từ anđehit và amin bậc một
R1-CHO + H2N - R2 R1-CH=N - R2 + H2O
Trong đó R1 và R2 có thể là gốc ankyl, aryl hay dị vòng thơm Nói chung các azometin béo thường không bền, còn các azometin béo - thơm thì bền vững hơn Đặc biệt các azometin thơm hoàn toàn thì rất bền vững Đây là phương pháp thuận tiện nhất
để tổng hợp các azometin, xuất phát từ các chất đầu dễ kiếm và cho hiệu suất cao
Cơ chế phản ứng có thể được biểu diễn như sau [11,12]:
R 1 CH O + NH2 (1)
R1 HC NH2R2O
R1 HC NH R2OH
Khi dùng xúc tác axit phản ứng xảy ra theo cơ chế như sau [11]:
R-CH=O + H+ R-CH - OH
R-NH2
R - CH-NH2 -R'OH
Trang 40Trong môi trường trung tính, tốc độ tấn công nucleophin tăng khi trong nhân thơm anđehit có chứa nhóm hút electron (-NO2, -Cl, -Br…) và giảm khi có nhóm thế đẩy electron (-OH, -CH3, -OCH3 …), còn tốc độ đehiđrat hoá lại phụ thuộc theo chiều ngược lại Do đó, tốc độ chung của phản ứng ít phụ thuộc vào bản chất của nhóm thế Trong môi trường axit, tốc độ phản ứng tăng lên khi trong nhân thơm anđehit có chứa nhóm hút electron vì khi đó tốc độ đehiđrat hoá tăng lên Tuy nhiên nếu pH quá thấp thì tốc độ phản ứng sẽ giảm do sự proton hoá amin
Nếu tốc độ cộng nuclêophil (1) và đehiđrat hoá (2) bằng nhau thì việc đưa nhóm đẩy electron vào nhân thơm anđehit sẽ làm tăng tốc độ đehiđrat hoá và làm giảm tốc độ cộng hợp Khi đó giai đoạn (1) là giai đoạn chậm, quyết định tốc độ phản ứng và bị ảnh hưởng nhiều bởi các nhóm thế
Khi đưa nhóm hút electron vào nhân thơm anđehit, tốc độ giai đoạn cộng hợp tăng lên còn tốc độ đehidrat hoá lại giảm và trở thành giai đoạn quyết định tốc độ phản ứng Khi đó ảnh hưởng của các nhóm thế đến tốc độ chung là không đáng kể
P K Dubey và các cộng sự [84] tiến hành ngưng tụ 2,3 –diaminopyridin với andehit thơm theo tỷ lệ 1:1, thu được sản phẩm là 2-amino -3-arylidenamino pyridin Phản ứng tiến hành trong dung môi metanol, xúc tác piperidin, ở nhiệt độ phòng Phản ứng như sau:
1.3.3 Tính chất phổ của azometin
Trong phổ hồng ngoại của các azometin có đỉnh hấp thụ nằm trong vùng 1590÷1650cm-1 đặc trưng cho dao động hóa trị của liên kết azometin –C=N- 71 Vị trí của vạch hấp thụ này phụ thuộc vào bản chất các nhóm thế gắn với liên kết azometin 2,
4, 13, 16, 45-46 Các azometin béo thường cho đỉnh hấp thụ của liên kết –C=N- nằm ở
số sóng cao hơn so với các azometin thơm và thơm béo Trong trường hợp azometin có