1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận lớp quản lý nhà nước cấp huyện

24 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 112,5 KB
File đính kèm Lớp quản lý nhà nước cấp huyện.rar (33 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất đai là một loại tài nguyên quý giá đối với con người và sự phát triển của xã hội. Đặc biệt hơn, đối với mỗi con người thì quyền sở hữu đất là một tài sản mang ý nghĩa to lớn. Có những người trong xã hội phải cố gắng phấn đấu nhiều năm thậm chí gần như cả cuộc đời mình cũng chỉ để mong có một mảnh đất an cư lạc nghiệp. Như vậy có thể thấy đất đai có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống. Giá trị của đất đai càng lớn kéo theo đó là một hệ quả tất yếu của các hành vi vi phạm quy định về đất đai, tranh chấp đất đai ngày càng phổ biến và mức độ phức tạp ngày càng tăng cao.

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là một loại tài nguyên quý giá đối với con người và sự phát triển của

xã hội Đặc biệt hơn, đối với mỗi con người thì quyền sở hữu đất là một tài sảnmang ý nghĩa to lớn Có những người trong xã hội phải cố gắng phấn đấu nhiềunăm thậm chí gần như cả cuộc đời mình cũng chỉ để mong có một mảnh đất an cưlạc nghiệp Như vậy có thể thấy đất đai có một vai trò vô cùng quan trọng trong đờisống Giá trị của đất đai càng lớn kéo theo đó là một hệ quả tất yếu của các hành vi

vi phạm quy định về đất đai, tranh chấp đất đai ngày càng phổ biến và mức độ phứctạp ngày càng tăng cao

Nhà nước ta đã rất cố gắng trong việc giải quyết các tranh chấp đất đai nhằmgiữ ổn định tình hình chính trị, xã hội Chính vì thế hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật về quản lý đất đai ngày càng được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn.Chính sách, pháp luật về đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay đổi tươngứng với từng giai đoạn phát triển của cách mạng Tuy nhiên tình hình quản lý và sửdụng đất đai hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, tồn tại dẫn đến tình trạng tranh chấpđất, khiếu nại, tố cáo về việc quản lý và sử dụng đất đai có xu hướng gia tăng Việcgiải quyết tranh chấp đất đai giữa công dân với công dân và công dân với cơ quannhà nước của các cơ quan có thẩm quyền còn thiếu hiệu quả, còn thiếu thống nhất,đồng bộ trong cách giải quyết

Có thể khẳng định rằng, việc giải quyết tranh chấp đất đai hiện nay là mộtcông việc phức tạp, khó khăn và là khâu yếu nhất trong công tác giải quyết cáctranh chấp dân sự nói chung Bản thân là một lãnh đạo quản lý, bên cạnh đó là việcvận dụng những kiến thức đã tiếp thu từ lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý cấphuyện và tương đương năm 2019 do Học viện hành chính Quốc gia mở tại Trường

Chính trị Tôn Đức Thắng, Tôi xin lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai hộ gia đình có đất liền kề tại xã Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang”

Trang 2

để phản ânh một góc nhìn chđn thực trong công tâc quản lý vă sử dụng đất đai tạiđịa phương.

Những yíu cầu của tình huống quản lý Nhă nước không đơn giản chỉ lă việcgiải quyết đơn thuần mă trong đó phải hăm chứa đầy đủ khả năng phđn tích cơ sở

lý luận, câc quy định; đânh giâ ưu, khuyết điểm của từng vấn đề… lăm cơ sở choviệc đề xuất những kiến nghị theo từng nội dung Do đó, mặc dù đê cố gắng rấtnhiều, nhưng do thời gian ngắn, kinh nghiệm bản thđn có hạn, nín băi viết năy chắcchắn còn những hạn chế nhất định, rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy,

cô để băi viết được hoăn chỉnh hơn

I NỘI DUNG TÌNH HUỐNG:

1.1 Hoăn cảnh ra đời của tình huống:

Văo năm 2019, ông Lí Thanh Hải nguyín quân tại Ấp Hă Bao 1, xê ĐaPhước, huyện An Phú, tỉnh An Giang có xảy ra tranh chấp đất đai với hộ liền kề lăÔng Nguyễn Văn Quới với nội dung như sau:

Ông Hải được nhận thừa kế một mảnh đất từ cha mẹ (đê mất) có vị trí tại tổ

01, Ấp Hă Bao 1, xê Đa Phước, huyện An Phú Mảnh đất được bố mẹ Ông Hải sửdụng ổn định từ năm 1960 Từ năm 1983 Ông Hải vă gia đình chuyển đi nơi khâcsinh sống vă lăm ăn nín mảnh đất được thừa kế bỏ không

Năm 1985 hộ Ông Nguyễn Văn Quới (hộ liền kề nhă Ông Hải) tiến hănh xđydựng lại nhă ở trín mảnh đất của gia đình mình, do có nhu cầu sử dụng phần diệntích đất phía trước nhă văo mục đích chăn nuôi nín Ông Quới đê xin sử dụng nhờ

01 phần diện tích đất công (lă đường giao thông nông thôn) phía trước mảnh đấtnhă Ông Hải để xđy dựng tạm căn nhă để vật tư nông nghiệp Tại thời điểm đó dochưa có nhu cầu sử dụng đến nín Ông Hải đồng ý cho Ông Quới sử dụng phần diệntích phía trước thửa đất nhă Ông Hải Ông Quới hứa sau năy khi nhă Ông Hải có

Trang 3

nhu cầu sử dụng đến sẽ trả lại mặt bằng Việc trao đổi giữa Ông Hải và Ông Quớichỉ được thực hiện bằng lời nói.

1.2 Diễn biến của tình huống:

Trong quá trình sử dụng nhờ phần diện tích đất của Ông Hải, Ông Quới đãtiến hành xây dựng công trình hàng rào vào phần diện tích đất phía trước mảnh đấtnhà Ông Hải và còn lấn sang phần móng đất nhà Ông Hải

Đến năm 2019, gia đình Ông Hải trở về quê hương và xây dựng lại nhà ởtrên mảnh đất của mình để sinh sống lâu dài, khi tiến hành đào móng xây dựng thìÔng Hải có phát hiện ra phần trụ hàng rào của nhà Ông Quới đã xây đè lên 1 phầnmóng đất cũ của nhà Ông Hải Khi phát hiện ra điều này Ông Hải có yêu cầu ÔngQuới phá bỏ trụ hàng rào để trả lại phần diện tích lấn chiếm cho nhà Ông Hải và cóyêu cầu nhà Ông Quới tháo dỡ phần công trình xây dựng bao gồm hàng rào và trụhàng rào án ngữ trước mặt tiền của thửa đất nhà mình để Ông Hải xây dựng phầncổng nhà và tường rào thì gia đình Ông Quới không đồng ý tháo dỡ với lý do phầndiện tích đất gia đình Ông Quới đang sử dụng Ông Quới đã thực hiện nghĩa vụ tàichính đầy đủ với nhà nước và phần diện tích đất đang sử dụng đó đã được nhà nướccấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ông Quới

Do nhiều lần nói chuyện tình cảm với Ông Quới nhưng không có kết quả nênvào tháng 07 năm 2019 Ông Hải làm đơn gửi UBND xã Đa Phước đề nghị giảiquyết vụ việc Ông Quới hộ liền kề xây dựng trụ hàng rào lấn đất và hàng rào ánngữ trước trước mặt tiền phần đất nhà Ông Hải

II PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG:

2.1 Cơ sở lý luận:

Trên cơ sở thực hiện Luật Đất đai 2013, tại khoản 24, Điều 3 của Luật quyđịnh: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng giữahai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai” Trong khái niệm này chúng ta cần lưu ý:

Trang 4

đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là quyền sở hữu đất, các chủ thể thamgia tranh chấp không phải là các chủ thể có quyền sở hữu đối với đất Đây là điềukhông phải bàn cãi vì Điều 53, Hiến pháp 2013 hay Điều 4, Luật Đất đai 2013 quyđịnh rất rõ đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thốngnhất quản lý.

Trên thực tế, tranh chấp đất đai không chỉ là hiện tượng phổ biến mà trong

đó còn hết sức đa dạng về chủ thể cũng như nội dung tranh chấp Tuy nhiên, về cơbản tranh chấp đất đai được chia thành 03 dạng như sau:

- Tranh chấp về quyền sử dụng đất: là những tranh chấp giữa các bên vớinhau về việc ao có quyền sử dụng hợp pháp đối với một mảnh đất nào đó Trongdạng tranh chấp này chúng ta thường gặp các loại tranh chấp về ranh giới đất; tranhchấp về quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong các quan hệ ly hôn, thừakế; tranh chấp đòi lại đất (đất đã cho người khác mượn sử dụng mà không trả lại,hoặc tranh chấp giữa người dân tộc thiểu số với người đi xây dựng vùng kinh tếmới…)

- Tranh chấp về quyền, nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất: dạngtranh chấp này thường xảy ra khi các chủ thể có những giao dịch dân sử về quyền

sử dụng đất như: tranh chấp về quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng chuyển nhượng,cho thuê quyền sử dụng đất hoặc các tranh chấp liên quan đến việc bồi thường giảiphóng mặt bằng, tái định cư…

- Tranh chấp về mục đích sử dụng đất: đây là dạng tranh chấp ít gặp hơn,những tranh chấp này liên quan đến việc xác định mục đích sử dụng đất là gì.Thông thường những tranh chấp này cũng dễ có cơ sở để giải quyết vì trong quátrình phân bổ đất đai cho các chủ thể sử dụng, Nhà nước đã xác định mục đích sửdụng đất thông qua quy hoạch sử dụng đất Tranh chấp chủ yếu do người sử dụngđất sử dụng sai mục đích so với khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất

Trang 5

Qua phân tích trên cho thấy, ở đây là tranh chấp về quyền sử dụng đất Cụthể, Ông Lê Thanh Hải hay Ông Nguyễn Văn Quới là người sử dụng đất hợp pháptheo quy định pháp luật (đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất).

Về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai: tranh chấp đất đai có thểđược giải quyết theo phương thức khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền hoặc khiếunại lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tương tứng với mỗi trường hợp này đãxác định tranh chấp đất đai phải được giải quyết theo trình tự hành chính

Ngoài ra, Luật cũng có quy định nếu đương sự không đồng ý với quyến địnhgiải quyết tranh chấp lần đầu (theo trình tự hành chính) thì vẫn có quyền khởi kiệntại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính Quy định nàytạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong xã hội trong việc lựachọn phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính kháchquan trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai

2.2 Phân tích tình huống:

Đây là vụ tranh chấp đất đai diễn biến phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn, cácbên tranh chấp không cung cấp được các loại giấy tờ chứng minh về nguồn gốc vàquá trình sử dụng đất tại phần đất tranh chấp Vì vậy, qua diễn biến vụ việc có thểnhận thấy như sau:

UBND xã Đa Phước đã tiến hành làm việc với 02 bên liên quan đến vụ tranhchấp và đưa ra phương án hòa giải

Sau khi hòa giải không thành công tại cấp xã, vụ việc tiếp tục được chuyểnlên cơ quan cấp trên là Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú để thụ lýgiải quyết vụ việc

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú tiến hành làm việc với cácbên liên quan Ông Lê Thanh Hải trình bày các nội dung như sau:

Trang 6

Nguồn gốc thửa đất do ông cha để lại (bố lă Trương Thanh Tđm vă mẹ lăNguyễn Thanh Thảo), thửa đất được gia đình Ông Hải sử dụng liín tục từ năm

1964, diện tích bao nhiíu Ông Hải không biết rõ Bố mẹ Ông Hải sinh được 05người con bao gồm:

- Lí Thanh Hóa (Con bă Cả)

- Lí Thanh Hoa (Con bă Cả)

- Lí Thanh Hiền (Con bă Cả)

- Lí Thị Thanh Hă (Con bă Cả)

- Lí Thị Yến (Con bă Cả)

Năm 2016, câc anh em trong gia đình Ông Hải tiến hănh chia đất cho bangười con lă Lí Thanh Hóa, Lí Thanh Hoa vă Lí Thanh Hiền (lúc đó bố mẹ đêchết) Việc chia đất chỉ nói miệng chứ không thể hiện trín giấy tờ

Thời gian xảy ra tranh chấp đất giữa gia đình Ông Hải vă gia đình Ông Quới

từ năm 1985, tại thời điểm đó nhă Ông Quới xđy dựng hăng răo có chiều dăi 2,5 m,chiều rộng 1 m nằm trín đất công (đường giao thông nông thôn) trước thửa đất nhăÔng Hải, tường xđy hăng răo nhă Ông Quới xđy lấn lín phần móng nhă Ông Hảikhoảng 35cm Lúc đó gia đình Ông Hải có phản đối việc xđy dựng thì Ông Quới nóirằng xin lăm nhờ để sử dụng tạm nếu sau năy gia đình Ông Hải có nhu cầu sử dụngthì sẽ trả lại mặt bằng Năm 2016 gia đình Ông Quới tiếp tục xđy dựng trụ hăng răo(kích thước khoảng 30 x 30cm) ân ngữ trước mặt tiền thửa đất nhă Ông Hải Năm

2019 gia đình Ông Hải tiến hănh xđy nhă vă có yíu cầu Ông Quới thâo dỡ côngtrình thì gia đình Ông Quới không thâo dỡ vă có nói rằng phần diện tích nhă ÔngQuới đang sử dụng đê thực hiện nghĩa vụ tăi chính cho xê vă đê được cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiín em trai của Ông Hải lă ông Lí ThanhHiền khẳng định mình không hề ký tín văo biín bản xâc định ranh giới, mốc giới

Vì vậy nếu gia đình nhă Ông Quới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì

Trang 7

Ông Hải yêu cầu xác minh chữ ký trong biên bản xác định ranh giới, mốc giới kíchthước thửa đất của gia đình Ông Nguyễn Văn Quới.

Ông Nguyễn Văn Quới trình bày như sau:

Nguồn gốc thửa đất do ông cha để lại (Bố là ông Nguyễn Văn Quốc, mẹ là

bà Trần Thị Bé Ba; Ông Nội và bà Bé Ba đã chết) Thửa đất được bố mẹ cho ÔngQuới sử dụng liên tục từ năm 1981, (việc cho quyền sử dụng đất chỉ nói miệng chứkhông lập di chúc), diện tích là 149 m2

Năm 1981, gia đình Ông Quới xây dựng hàng rào (chiều dài theo đườngnông thôn là 3 m, rộng khoảng 2 m) Tại thời điểm xây dựng gia đình Ông Quớixây dựng trụ hàng rào có chèn lên móng của nhà Ông Hải với kích thước khoảng25cm x 25cm, trụ cao khoảng 1,5m Năm 2007, gia đình Ông Quới được cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa số 96, tờ bản đồ số 02, diện tích là 150

m2 mang tên hộ Ông Nguyễn Văn Quới Năm 2017, gia đình Ông Quới đượcUBND huyện An Phú cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữunhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thửa số 101, tờ bản đồ số 03, diện tích là 150

m2 mang tên hộ Ông Nguyễn Văn Quới

Ông Lê Thanh Hiền (em trai Ông Hải) trình bày như sau:

Năm 2007, đơn vị đo đạc bản đồ và UBND xã tiến hành đo đất của các hộ

Ấp Hà Bao 1 để lập bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đo thửađất của gia đình ông Hải và thửa đất của gia đình Ông Quới, trong đó có nội dung

ký biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng đất) đốivới thửa đất của gia đình Ông Quới Lý do ông Hải không nhất trí với kích thước

Trang 8

các cạnh nằm trước mặt thửa đất của gia đình ông Hải cạnh đường nông thôn vàtranh chấp giữa hai gia đình đã xảy ra từ năm 1983 nên không ký biên bản Nhưngtrong biên bản đã có người mạo danh chữ ký của ông Hải (ký tên không ghi rõ họ

và tên) Việc gia đình Ông Quới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm

2007 ông Hải không biết Năm 2018 thực hiện dự án “xây dựng xã Đa Phước thànhThị trấn Đa Phước” đơn vị đo đạc và địa chính xã, ban Ấp Hà Bao 1 tiến hành kẽvạch sơn xác định ranh giới, mốc giới thửa đất giữa gia đình ông Hải và gia đìnhÔng Quới nhưng gia đình ông Hải không nhất trí và không biết đơn vị đo đạc có đokích thước thửa đất của hai gia đình, ông Hải không ký vào biên bản ranh giới, mốcgiới kích thước thửa đất của gia đình Ông Nguyễn Văn Quới lập ngày 15/6/2017,còn ai đó giả mạo chữ ký của ông Hải thì ông Hải không biết

Căn cứ hồ sơ địa chính, theo bản đồ đo đạc lưu trữ tại UBND xã Đa Phước thể hiện:

+ Bản đồ đo đạc năm 1960 tu chỉnh năm 1973, thửa đất của gia đình ông LêThanh Hải là thửa số 96, tờ bản đồ số 02, thửa đất của gia đình Ông Nguyễn VănQuới là thửa số 101, tờ bản đồ số 03, không thể hiện diện tích, ranh giới thửa đất,không có sổ mục kê Phần diện tích đất gia đình Ông Nguyễn Văn Quới xây dựngtrước cửa nhà Ông Hải là đất công (đường giao thông nông thôn) UBND xã quảnlý

- Theo bản đồ đo đạc và sổ mục kê năm 1985:

+ Thửa đất số 355, tờ bản đồ số 06, diện tích 130 m2 mang tên ôngNguyễn Văn Quốc (là bố đẻ Ông Nguyễn Văn Quới)

+ Thửa đất số 356, tờ bản đồ số 06, diện tích 149 m2 mang tên ông LêThanh Hải

+ Thửa đất số 357, tờ bản đồ số 06, diện tích 95 m2 mang tên bà NguyễnThanh Thảo (là mẹ ông Lê Thanh Hải)

Trang 9

+Thửa đất số 358, tờ bản đồ số 06, diện tích 150 m2 mang tên bà NguyễnThanh Thảo (là mẹ ông Lê Thanh Hải).

Phần diện tích đất gia đình Ông Nguyễn Văn Quới trước cửa nhà Ông Hảikích thước các cạnh là (phía Bắc dài 2,5m, phía nam giáp đất đường giao thôngnông thôn chiều dài là 1,5m, phía Đông giáp đường giao thông nông thôn chiềurộng là 1 m, phía Tây giáp thửa đất của bà Nguyễn Thanh Thảo chiều rộng là 1,5m;diện tích là 3 m2)

- Theo bản đồ đo đạc và sổ mục kê năm 2007:

+ Thửa đất số 29, tờ bản đồ số 01, diện tích 150 m2 mang tên ÔngNguyễn Văn Quới

+ Thửa đất số 35, tờ bản đồ số 02, diện tích 359 m2 mang tên ông LêThanh Hiền (là em trai ông Lê Thanh Hải)

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú đã phối hợp cùng UBND xã

Đa Phước tiến hành kiểm tra, đo đạc hiện trạng thửa đất của gia đình ông Lê Thanh Hải, Ông Nguyễn Văn Quới kết quả cụ thể như sau:

- Tổng diện tích thửa đất gia đình Ông Nguyễn Văn Quới là 150 m2

+ Phía Bắc giáp Sông Hậu chiều dài là 15m

+ Phía Nam giáp hộ ông Lê Thanh Hải chiều dài là 15m và giáp đường giaothông nông thôn chiều dài là 2,5m + 1m

+ Phía Tây giáp hộ ông Nguyễn Thanh Tuấn chiều rộng là 12,65m và giáp hộông Lê Thanh Hải chiều rộng là 3m

+ Phía Đông giáp đường giao thông nông thôn chiều rộng là 3m + 3m + 5m

- Tổng diện tích thửa đất gia đình ông Lê Thanh Hải là 200m2

+ Phía Bắc giáp hộ Ông Nguyễn Văn Quới chiều dài là 15m; giáp hộ ôngNguyễn Thanh Tuấn chiều dài là 15m

Trang 10

+ Phía Nam giáp hộ ông Lê Thanh Hiền chiều dài là 20m;

+ Phía Đông giáp đường giao thông nông thôn chiều rộng là 10m

+ Phía Tây giáp hộ ông Trương Thanh Hà và ông Trương Thanh Trí chiềurộng là 10m;

- Phần diện tích đất gia đình Ông Quới nằm trước thửa đất của gia đình ÔngHải kích thước các cạnh giáp thửa đất gia đình Ông Hải là 3m; nằm trong thửa đấtgia đình Ông Quới là 2m, giáp đường giao thông nông thôn là 3m + 1,5m và 3m diệntích là 6 m2

2.3 Nguyên nhân dẫn đến tình huống:

- Đất đai là một loại tài nguyên có giá trị, chính vì vậy đã tác động đến tínhchất của vụ tranh chấp không thể tự thương lượng giữa hai bên;

- Trong một thời gian dài, công tác quản lý đất đai bị buông lỏng, quy trìnhquản lý thiếu chặt chẽ, thiếu khoa học Hồ sơ địa chính, tài liệu lịch sử làm căn cứgiải quyết không đầy đủ;

- Các chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước về quản lý đất đai cónhiều thay đổi, có những vấn đề chưa thật cụ thể Mặt khác, công tác cập nhật vănbản pháp luật của cán bộ còn yếu, vì vậy việc vận dụng, thực thi trên thực tế gặpnhiều khó khăn;

- Do trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật về đất đai của người dânkhông cao nên dẫn đến tình trạng vi phạm các quy định của nhà nước trong sử dụng

Trang 11

- Trình độ quản lý hành chính nhà nước nói chung về đất đai của các cấp, cácngành từ huyện đến cơ sở còn nhiều bất cập, đặc biệt với huyện An Phú là mộthuyện có trình độ phát triển kinh tế và dân trí còn ở mức thấp Công tác quản lý đấtđai ở địa phương còn bị buông lỏng, chưa được chú trọng, hồ sơ địa chính khôngđầy đủ, không cập nhật, thiếu chặt trẽ, thủ tục hành chính không đảm bảo;

- Đối với Uỷ ban nhân dân xã Đa Phước đội ngũ cán bộ phụ trách công việcquản lý đất đai qua các thời kỳ còn thể hiện nhiều yếu kém, hạn chế về mặt trình độchuyên môn, hiểu biết về quy định pháp luật Mặt khác do đội ngũ cán bộ quản lýchưa phát huy được hết vai trò trong việc quản lý, kiểm soát các hành vi vi phạm vềđất đai trên địa bàn xã nên không kịp thời ngăn chặn được hành vi vi phạm ngay từban đầu;

- Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Uỷ ban nhân dân

xã Đa Phước và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện An Phú đã không quản lýchặt chẽ, không thẩm định cẩn thận, không thực hiện đúng quy trình cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Ông Nguyễn Văn Quới;

- Về phía Ông Nguyễn Văn Quới đã lợi dụng lòng tin của hàng xóm cũngnhư sự quản lý thiếu chặt chẽ của chính quyền địa phương xã Đa Phước để cố ýthực hiện những hành vi vi phạm trong việc sử dụng đất đai

2.4 Hậu quả của tình huống:

- Vụ việc tranh chấp làm ảnh hưởng đến cuộc sống chung của những bên liênquan đến vụ việc, đồng thời gây mất tình làng nghĩ xóm giữa hai gia đình xảy ratranh chấp, gây ảnh hưởng chung đến tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong xóm,ấp;

- Gây ra thiệt hại về kinh tế: Vụ tranh chấp khiến cho gia đình Ông Hảikhông thể hoàn thiện việc xây dựng nhà ở trên phần diện tích đất của gia đình nhà

Trang 12

mình do phần phía trước cổng nhă bị chắn bởi phần hăng răo vă trụ hăng răo nhăÔng Quới;

- Vụ tranh chấp xảy ra cho thấy những bất cập, hạn chế, quản lý lỏng lẻo củađịa phương trong công tâc quản lý đất đai gđy mất lòng tin của nhđn dđn đối vớicâc cấp chính quyền

III XỬ LÝ TÌNH HUỐNG:

3.1 Mục tiíu:

Vấn đề đặt ra hiện nay lă cần phải sớm giải quyết dứt điểm vụ việc năy văđưa ra được hướng giải quyết tối ưu nhất nhằm nđng cao hiệu quả giải quyết, đâpứng tình hiện quản lý đất đai hiện nay của địa phương Xĩt thấy đđy lă một vụkhiếu nại nếu kĩo dăi sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của câc bín liín quan, khôngnhững thế có thể gđy lan truyền thông tin lệch lạc trong nhđn dđn lăm mất lòng tincủa nhđn dđn đối với chính quyền địa phương Vì vậy vụ việc cần được xử lý vớinhững mục tiíu sau đđy:

- Xử lý dứt điểm vụ khiếu nại kĩo dăi lín câc cấp, câc cơ quan có thẩmquyền, đúng điểm dừng theo quy định của Luật khiếu nại, tố câo vă Luật Đất đaihiện hănh

- Việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Lí Thanh Hải phải đảm bảo đúngphâp luật, đúng trình tự thủ tục, hợp tình, hợp lý, bảo vệ được quyền lợi vă lợi íchhợp phâp của ông Lí Thanh Hải lă người sử dụng đất có khiếu nại trực tiếp

- Xử lý nghiím minh đúng phâp luật đối với những hănh vi vi phạm phâpluật về Đất đai, khiếu nại, tố câo của câ nhđn, tổ chức, chính quyền có liín quan đế

vụ khiếu nại tranh chấp đất đai năy nhằm tăng cường phâp chế xê hội chủ nghĩatrong lĩnh vực quản lý vă sử dụng đất đai, bảo vệ uy tín, củng cố lòng tin của côngdđn đối với chính quyền địa phương;

Ngày đăng: 15/09/2020, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w