Tên đề tài: Xác định hàm lượng các hydrocacbon thơm đa vòng ngưng tụ PAHs trong mẫu tóc của những người hút thuốc 2.. Đối với đối tượng thực phẩm, các PAHs được tìm thấy trong các sản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
a h
Trang 21
PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1 Tên đề tài: Xác định hàm lượng các hydrocacbon thơm đa vòng ngưng tụ (PAHs)
trong mẫu tóc của những người hút thuốc
2 Mã số: TN.18.22
3 Danh sách các cán bộ thực hiện đề tài:
(Chủ nhiệm/Tham gia)
1 Phùng Thị Vĩ Trung tâm NC CNMT & PTBV Chủ nhiệm
2 Nguyễn Thị Quỳnh Trung tâm NC CNMT & PTBV Tham gia
4 Đơn vị chủ trì thực hiện: Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Môi trường và Phát
triển Bền vững (CETASD)
5 Thời gian thực hiện:
5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019
5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…
5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 6 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019
6 Tổng kinh phí đƣợc phê duyệt của đề tài: 25 triệu đồng
7 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): Không
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Đặt vấn đề
Hydrocacbon thơm đa vòng (Polycyclic Aromatic Hydrocarbon - PAHs), hay còn được gọi là hydrocacbon thơm đa vòng ngưng tụ là hợp chất hóa học trong đó bao gồm các vòng thơm và không chứa các dị tố hoặc mang theo nhóm thế Hiện nay, người ta đã tìm ra hơn 200 chất nhưng phần lớn các nghiên cứu trên thế giới thường tập trung vào 16 PAHs chủ yếu, có khả năng gây ung thư và đột biến gen và tồn tại ở hàm lượng đáng kể trong môi trường [1]
Độc tính của PAHs phụ thuộc vào cấu trúc, với các đồng phân khác nhau độc tính thay đổi từ trạng thái ít độc đến cực kỳ độc hại Vì vậy, PAHs có thể gây ung thư với mức độ ít hoặc nhiều [2-4] Cục Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA) đã xếp PAHs vào nhóm những chất ô nhiễm điển hình và tiến hành kiểm soát sự có mặt của PAHs trong các hệ sinh thái dưới nước cũng như trên cạn [5, 6] Các hướng dẫn và quy định của các nước Châu Âu cũng nhằm mục đích giảm thiểu PAHs xâm nhập vào môi trường (không khí, đất và nước) Ví dụ, PAHs được quy định trong công ước
Trang 32
về POPs đối với không khí trong một phạm vi rộng, xuyên quốc gia và trong quy định POP của EU (Quy định EC số 850/2004); Quy định thiết lập ngưỡng tối đa của một số chất gây ô nhiễm trong thực phẩm (Quy định EC số 1881/2006); Hướng dẫn
an toàn đối với đồ chơi (2009/48/EC) áp dụng cho tất cả các loại đồ chơi; Hướng dẫn của EU về chất lượng nhiên liệu xăng và dầu diezen (98/70/EC), quy định nồng độ PAHs không được vượt quá 8% trọng lượng trong nhiên liệu diezen…[7]
Nguồn phát sinh chủ yếu PAHs trong môi trường bắt nguồn từ các hoạt động sống của con người [8] PAHs là sản phẩm của quá trình đốt cháy không hoàn toàn các loại nhiên liệu (xăng, dầu diesel…) trong động cơ của các phương tiện giao thông Ngoài ra, việc đốt rác, các hoạt động sinh hoạt trong nhà (hút thuốc lá, sưởi
ấm và đun nấu bằng mùn cưa, than hoa, than tổ ong, gỗ,…), đốt rác và các quá trình công nghiệp (nhiệt điện, sử dụng nhiên liệu,…) cũng góp phần đáng kể vào phát thải PAHs
Các đối tượng chứa PAHs được nghiên cứu nhiều trước đây là các mẫu môi trường như nước, trầm tích hay không khí Tuy vậy, luôn có mối liên hệ giữa môi trường, thực phẩm và con người Con người có thể bị phơi nhiễm PAHs qua thức ăn, quá trình hô hấp hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với vật liệu có chứa PAHs Đối với đối tượng thực phẩm, các PAHs được tìm thấy trong các sản phẩm chế biến có sử dụng nhiệt như rán, nướng, hun khói, … Bên cạnh đó, việc hút thuốc lá cũng có thể coi là một quá trình ―tiêu thụ thực phẩm‖ và cũng dẫn tới sự xâm nhập của PAHs vào cơ thể do quá trình cháy của thuốc lá có khả năng sinh ra PAHs Đánh giá sự phơi nhiễm PAHs trong cơ thể thông qua phân tích mẫu tóc có thể đem lại nhiều thông tin hữu ích Đây cũng là hướng nghiên cứu nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trên thế giới và còn rất mới tại Việt Nam
Hàm lượng PAHs trong mẫu sinh phẩm, môi trường có thể xác định bằng các phương pháp như: sắc ký khí (GC), sắc ký khí khối phổ (GC-MS), sắc ký khí khối phổ hai lần (GC-MS/MS), sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC), quang phổ hấp thụ phân tử (UV) Trong đó, GC-MS là công cụ được lựa chọn để phát hiện các hợp chất hữu cơ ô nhiễm trong môi trường Chi phí vận hành thiết bị GC-MS đã giảm đáng kể
và đồng thời độ tin cậy cũng tăng cho nên việc sử dụng GC-MS trong các nghiên cứu
về môi trường ngày càng nhiều và là một lựa chọn lý tưởng về độ nhạy và độ đặc hiệu, đáp ứng được việc phân tích ở nồng độ thấp
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu của đề tài
Xác định hàm lượng 16 hợp chất PAHs trong mẫu tóc trên thiết bị sắc ký khí ghép nối khối phổ (GC-MS) và thu thập được dữ liệu về hàm lượng của các hợp chất
Trang 43
PAHs có trong các đối tượng mẫu thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, từ đó có các khuyến cáo cần thiết cho cộng đồng trong việc sử dụng thuốc lá; đồng thời phục vụ cho các hướng nghiên cứu khác về sau
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các mẫu tóc của người hút thuốc và người không hút thuốc
3 Tổng quan tài liệu
3.1 Cấu trúc phân tử của các hợp chất hydrocacbon đa vòng thơm ngưng tụ
Hydrocacbon đa vòng thơm ngưng tụ (polycyclic aromatic hydrocarbons- PAHs) là một họ hydrocacbon trong phân tử có chứa một số vòng thơm kiểu benzen, trong đó hai vòng cạnh nhau tiếp giáp bởi hai nguyên tử cacbon Ví dụ đơn giản nhất trong họ PAHs là naphtalen, C10H8, gồm hai vòng benzen Khi nối thêm vòng benzen thứ ba vào naphtalen, sẽ có hai kiểu, tạo thành phân tử chứa ba vòng benzen thẳng hàng – anthracen hoặc ba vòng theo kiểu nhánh – phenanthren Coronen được coi là hợp chất PAHs trong môi trường có khối lượng phân tử cao nhất gồm bảy vòng benzen nối với nhau Thông thường PAHs chỉ chứa các vòng benzen, trong một số trường hợp cũng có cả vòng năm cạnh, ví dụ axenaphten và fluoranten [9]
Nguồn gốc của PAH
Có rất nhiều nguồn gốc tự nhiên của PAHs trong môi trường Trước hết phải kể tới cháy rừng và hoạt động của núi lửa Lượng PAHs được tạo thành thực tế rất khác nhau, phụ thuộc vào chu kỳ tự nhiên của các hiện tượng này Phần lớn PAH đi vào môi trường từ các nguồn gốc nhân tạo như từ các quá trình công nghiệp, lò đốt rác, khí thải động cơ, các quá trình đốt cung cấp năng lượng trong công nghiệp và dân dụng [10]
Hút thuốc cũng là nguồn PAHs đáng kể (0,8 – 2,0 µg/g thuốc lá), điều này rất quan trọng vì nguồn PAHs này làm cho những người hút thuốc và cả những người không hút ở cạnh bị tiếp nhiễm Hậu quả ung thư cũng như những ảnh hưởng khác của việc hút thuốc không phải do nicotin, mặc dù nicotin là chất độc, mà do tiếp nhiễm PAHs tạo thành khí đốt cháy thuốc lá Người ta phát hiện thấy nhiều PAHs là sản phẩm của quá trình hút thuốc (xem bảng 3.1), trong đó có cả những chất gây ung thư như benzo(a)pyren [10]
Bảng 3.1 Nồng độ các PAH trong không khí xung quanh từ nguồn hút thuốc
Trang 54
Benzo (b,j,k)fluoranthene
35
Nguồn [10]
3.2 Độc tính và khả năng gây ung thư của PAH
Vị trí không gian tương đối của các vòng trong phân tử PAHs có vai trò quan trọng khi xác định khả năng gây ung thư của chúng tới động vật Trong phân tử những PAHs có khả năng gây ung thư cao có ―vùng vịnh‖ tạo thành do các vòng benzene tiếp giáp nhau theo kiểu nhánh Sắp xếp các nguyên tử cacbon theo kiểu vùng vịnh làm tăng hoạt tính sinh học của các PAHs [11]
Các nghiên cứu cho rằng bản thân phân tử PAHs không phải là chất gây ung thư; để trở thành dạng gây ung thư nó cần chuyển hóa trong cơ thể qua một số bước trao đổi chất Sản phẩm đầu tiên của quá trình chuyển hóa PAHs là epoxyt được tạo
ra do thêm một nguyên tử ôxy vào cấu trúc PAHs Các mảnh phân tử epoxyt sau đó được gắn thêm H2O để tạo thành hai nhóm OH tại hai cacbon cạnh nhau Phản ứng chuyển hóa tạo thành epoxyt và thêm H2O là nỗ lực của cơ thể để đưa nhóm OH vào các phân tử kị nước như PAHs, làm cho chúng trở nên dễ hòa tan trong nước và sau
đó có thể loại bỏ Liên kết đôi còn lại trong vòng có chứa hai nhóm OH sau đó bị epoxy hóa để tạo thành dạng phân tử có hoạt tính ung thư Nếu thêm H+ vào phân tử này sẽ tạo thành dạng cation bền vững có thể gắn vào trung tâm của các phân tử sinh học như AND và hemoglobin, dẫn tới nguyên nhân tạo thành các khối u Tuy nhiên giai đoạn cuối này đòi hỏi một thời gian tương đối dài và hiện nay cũng chưa được hiểu rõ [11] Đối với benzo(a)pyren và các PAHs có vùng vịnh, một trong những sản phẩm trung gian của quá trình chuyển hóa nhiều bước này có thể thay đổi tạo thành những cation rất bền vững và gây ung thư
Bảng 3.2 Khả năng gây ung thư của các PAHs
a 1 = gây ung thư cho người; 2A = hầu như chắc chắn gây ung thư cho người;
2B = có khả năng gây ung thư cho con người; 3 = chưa được phân loại;
4 = hầu như chắc chắn không gây ung thư cho người [11]
Trang 65
4 Sự có mặt của PAHs trong cơ thể người
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự có mặt của PAHs trong cơ thể người qua việc phân tích các mẫu tóc, mẫu máu và mẫu nước tiểu Đối với mẫu sinh phẩm người, ngoài việc phân tích PAHs, người ta còn phân tích các chất PAHs chuyển hóa Bảng dưới đây tóm tắt một số kết quả về PAHs trong các mẫu sinh phẩm:
Bảng 3.3 Hàm lượng PAHs trong cơ thể người (ppb)
PAHs (ppb)
Tài liệu tham khảo
Mẫu máu Đàn ông (13 PAHs) 302.13 ± 62.32 [12]
Phụ nữ (13 PAHs) 469.14 ± 148.23 [12] Người không hút thuốc (13
PAHs trong không khí ở nồng độ cao)
5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước và định hướng nội dung cần nghiên cứu của đề tài
5.1 Tình hình trong nước
Tại Việt Nam, nghiên cứu về các hợp chất PAHs là vấn đề không còn quá mới, tuy nhiên hầu hết các công trình mới chỉ tập trung vào vấn đề xác định nguồn gốc và hàm lượng PAHs trong các đối tượng mẫu môi trường như nước, trầm tích hay không khí [16-18]
PAHs hấp thụ vào cơ thể thông qua các chuỗi thức ăn, tùy theo cấu tạo của các PAHs và đối tượng tác động mà PAHs có các mức độ tác động khác nhau Sự có mặt
ở những liều lượng nhất định của các PAHs thường gây ra những tác động tiêu cực đến sự sinh sản, sinh trưởng, phát triển và khả năng miễn dịch Sau một thời gian dài tích tụ trong cơ thể, PAHs sẽ gây ảnh hưởng trực hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người Việc xác định hàm lượng PAHs trong mẫu tóc là cần thiết để đánh giá khả năng tích lũy và ảnh hưởng tới sức khỏe con người của PAHs Tuy vậy, hiện chưa có công bố nào về các vấn đề này tại Việt Nam
Trang 76
5.2 Ngoài nước
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xác định hàm lượng PAHs và dự báo mức độ ảnh hưởng của PAHs (tập trung vào các nhóm có khả năng gây ung thư, gây độc tính) đối với con người qua quá trình sinh hoạt hay sử dụng một số loại thực phẩm như sữa, thịt/cá, trái cây, rau quả, dầu thực vật,.v.v và thảo dược Đặc biệt, một số nghiên cứu đã chỉ ra sự có mặt của PAHs trong mẫu tóc [19-22] Sự phát hiện này thu hút các nhà khoa học theo hai hướng nghiên cứu: PAHs sinh ra do bụi khí và PAHs sinh ra do quá trình hút thuốc Hầu hết các nghiên cứu PAHs trong mẫu tóc của người hút thuốc và người không hút thuốc tập trung ở châu Á, trong đó có hai nghiên cứu tại Nhật Bản và hai nghiên cứu tại Trung Quốc Sự có mặt của hợp chất PAHs trong mẫu tóc của người hút thuốc và không hút thuốc tại Nhật Bản đã được nghiên cứu bởi Akira Toriba và cộng sự (2003), trong đó hàm lượng của các chất này trừ Naphtalen trong tóc của người hút thuốc đều cao hơn mặc dù sự khác nhau này không có ý nghĩa về mặt thống kê [15] Nghiên cứu của Palazzi và cộng sự năm 2018
là nghiên cứu đầu tiên về cả PAHs và các chất chuyển hóa PAHs trong nền mẫu sinh học [20] Kết quả cho thấy hàm lượng PAHs của phụ nữ không hút thuốc tại Bảo Đình, Trung Quốc cao hơn đáng kể hàm lượng PAHs trong mẫu tóc của phụ nữ không hút thuốc tại Đại Liên, Trung Quốc Tuy nhiên, nicotin và cotinin được phát hiện trong 100% và 96% trong mẫu tóc của phụ nữ tại hai khu vực tương ứng cho thấy nguy cơ tiềm ẩn của việc hút thuốc thụ động Mặc dù đã có những nghiên cứu
về PAHs trong mẫu tóc nhưng dữ liệu về sự phơi nhiễm PAHs xuất phát từ thói quen hút thuốc vẫn còn khá hạn chế
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận:
Ngoài việc sử dụng thực phẩm đã qua chế biến như chiên, nướng hay sống trong môi trường không khí ô nhiễm, con người có thể bị phơi nhiễm PAHs từ việc hút thuốc Hơn nữa, PAHs là các độc chất có khả năng gây ung thư, vì vậy việc xác định hàm lượng của các chất này là rất cần thiết Đối với những người hút thuốc, PAHs có khả năng tập trung cao ở tóc và đây là một chỉ thị sinh học quan trọng để đánh giá mức độ tích lũy các độc chất này trong cơ thể Xuất phát từ yêu cầu thực tế này, đề tài đã lựa chọn PAHs trong mẫu tóc của những người hút thuốc là đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
Tổng hợp tài liệu nghiên cứu trên thế giới qua đó đánh giá, chọn lựa, thử nghiệm và đề xuất quy trình phân tích
Trang 87
Các kỹ thuật chiết (lỏng - lỏng, rắn – lỏng) nhằm làm giàu mẫu đồng thời chuyển các PAHs vào dung môi hữu cơ thích hợp
Phương pháp GC-MS để xác định hàm lượng các PAHs
5 Nội dung và kết quả nghiên cứu
5.1 Thực nghiệm
5.1.1 Hóa chất, thiết bị
Chất chuẩn PAHs Mix 63, 1000 µg/ml gồm 16 chất naphthalen (Nap), acenaphthylen (Acy), acenaphthen (Ace), fluoren (Flu), phenanthren (Phe), anthracen (Ant), fluoranthen (Flt), pyrene (Pyr), chrysen (Chr), benz[a]anthracen (BaA), benzo[b]fluoranthen (BbF), benzo[k]fluoranthen (BkF), benzo[a]pyren (BaP), indeno[1,2,3-cd]pyren (IP), dibenzo[a,h]anthracen (DBahA), benzo[ghi]perylene (BghiP) trong toluen, (P/N: DRE-YA06100300TO), chất đồng hành PAH Mix 33,
2000 µg/ml trong toluen (P/N: DRE-YA08273300TO), benzo[a]pyren- d12, 10 µg/ml trong toluen (P/N: DRE-LA20635100CY) được mua của hãng Dr Ehrenstorfer Các hóa chất khác được sử dụng trong nghiên cứu gồm chất nội chuẩn pyren-d10, 200 µg/ml (P/N: ICA-6K-231), dung môi diclometan (p.a), dung môi n-hexan (p.a), axeton (p.a), xyclohexan (G.C), NaCl, Na2SO4, silicagel 60 (cỡ hạt từ 63
µm đến 200 µm)
PAHs được phân tích trên thiết bị sắc kí khí ghép nối khối phổ GCMS 2010, Shimadzu, Japan với các thông số và điều kiện vận hành như sau: nhiệt độ cổng bơm mẫu: 260 oC, nhiệt độ nguồn ion: 230 oC; cột tách BPX5: 60 m (chiều dài) x 0,25 µm (đường kính trong) x 0,25 m (độ dày pha tĩnh); chương trình nhiệt độ: 60 oC (2 phút) -> 210 oC -> - 310 oC (15 phút) với tốc độ gia nhiệt lần lượt là 30 oC/phút và 5
oC/phút Giới hạn phát hiện của thiết bị (IDL) có giá trị từ 0,06 đến 0,16 ng/ml và giới hạn phát hiện của phương pháp (MDL) nằm trong khoảng từ 0,13 đến 0,32 ng/g Giới hạn định lượng (LOQ) của các cấu tử PAHs nằm trong khoảng từ 0,4 – 1,1 ng/g mẫu và hiệu suất thu hồi đạt giá trị từ 75 – 120%, ngoại trừ naphtalen, acenaphthylen
và acenaphthen đạt hiệu suất từ 50 - 65% do các cấu tử có số vòng benzen thấp dễ dàng bị bay hơi trong quá trình xử lý mẫu
5.1.2 Lấy mẫu
Mẫu tóc được thu thập từ 32 người hút thuốc (giới tính: nam, độ tuổi từ 18 đến
71, thói quen: chỉ hút thuốc lào, chỉ hút thuốc lá và hút cả hai loại) và 20 người không hút thuốc (giới tính: nam và nữ, độ tuổi từ 16 đến 43) Đối với mỗi cá nhân cung cấp mẫu, 50 - 100 mg tóc được lấy trong khoảng 12 cm tính từ đỉnh đầu và được bảo quản ở 4 oC trước khi phân tích
Trang 98
5.1.3 Chuẩn bị mẫu
Để loại trừ sự xuất hiện của PAHs trên bề mặt tóc do không khí và khói bụi, các mẫu tóc được rửa bằng dung môi n-hexan và để khô ở nhiệt độ phòng Sau khi tối ưu hóa quy trình phân tích, các mẫu được xử lý và phân tích theo từng bước như sau: 0,5
g mẫu được cho vào lọ thủy tinh 40 ml Lần lượt thêm 50 µl SR-Mix PAHs 1µg/ml (1 ppm) và 15 ml dung dịch NaOH 2,5 M vào lọ thủy tinh rồi siêu âm trong 2 giờ Sau đó, thêm 15 ml nước và 5 ml dung môi n-hexan, hỗn hợp được lắc trong 15 phút Sau khi ly tâm, hút lớp dung môi n-hexan sang ống nghiệm Cô dịch chiết bằng thiết
bị thổi khí N2 về thể tích 1 – 2ml Sau khi mẫu được làm sạch qua cột silicagel, dịch chiết mẫu cuối cùng được cô về dưới 0,5 ml bằng khí nitơ Thêm IS 25 µl pyren-d10 (2 µg/ml) và định mức về 0,5 ml bằng dung môi n-hexan Dịch cô cuối cùng được chuyển vào vial 1,5 ml và bơm lên thiết bị GC-MS
5.2 Kết quả
5.2.1 Hàm lượng PAHs trong các mẫu thu thập
Hàm lượng PAHs trong mẫu tóc theo nhóm đối tượng nghiên cứu được trình bày trong Bảng 5.1 Giá trị trung bình của tổng hàm lượng 16 PAHs trong mẫu tóc của người hút thuốc và người không hút thuốc lần lượt là 388,3 ng/g và 266,1 ng/g Nhìn chung, hàm lượng trung bình của tất cả các PAHs trong mẫu tóc của người hút thuốc đều cao hơn người không hút thuốc
Dựa trên kết quả phân tích, kết quả điều tra về số năm hút thuốc và loại thuốc của các đối tượng cho mẫu, có thể thấy rằng tổng hàm lượng PAHs trong mẫu tóc của người hút thuốc lào và hút cả hai loại thuốc lào và thuốc lá (n = 6) dao động trong khoảng từ 141,7 ng/g đến 536,1 ng/g (hàm lượng trung bình: 330,4 ng/g), ngoại trừ mẫu có hàm lượng PAHs cao nhất được tìm thấy ở mức 1.275 ng/g trong mẫu tóc của người đàn ông chỉ hút thuốc lào và thời gian hút thuốc chưa đến 10 năm Sự tích lũy PAHs trong cơ thể người có thể do nhiều nguồn tiếp xúc, điều đáng nói là người đàn ông này sinh sống tại nông thôn và vẫn duy trì nếp sinh hoạt sử dụng than củi hay than tổ ong làm nhiên liệu đun nấu trong một thời gian dài, đặc biệt gia đình có truyền thống nấu rượu bằng bếp củi lâu năm Đây có thể là nguyên nhân dẫn đến hàm lượng PAHs trong mẫu tóc cao đột biến
Bảng 5.1 Hàm lượng PAHs (ng/g) trong tóc theo nhóm đối tượng nghiên cứu
Hợp chất
Hàm lƣợng trung bình ± SD (ng/g)
Khoảng hàm lƣợng (ng/g)
Hàm lƣợng trung bình ± SD (ng/g)
Khoảng hàm lƣợng (ng/g)
Trang 10Ghi chú: nd: không phát hiện thấy, SD: độ lệch chuẩn
Trong số 26 người hút thuốc lá, chỉ 8 người có tổng hàm lượng PAHs nhỏ hơn
200 ng/g, trong những mẫu còn lại hàm lượng này dao động từ 217,1 ng/g đến 1.173 ng/g (hàm lượng trung bình: 386,8 ng/g) Có thể thấy giá trị tổng hàm lượng PAHs trong tóc của nhóm người chỉ hút thuốc lá cao hơn nhóm người chỉ hút thuốc lào hoặc hút cả thuốc lào và thuốc lá Đối với nhóm người không hút thuốc, tổng hàm lượng PAHs nằm trong khoảng từ 63,8 ng/g đến 414,1 ng/g ngoại trừ một số mẫu có hàm lượng cao đột biến gồm mẫu tóc của hai sinh viên (627,1 và 643,9 ng/g) và mẫu tóc của một phụ nữ (910,8 ng/g) Điểm tương đồng giữa hai người cung cấp mẫu tóc
có hàm lượng cao nhất trong hai nhóm người hút thuốc và người không hút thuốc đều
là người làm nghề nông và sử dụng than hoặc củi để đun nấu trong suốt mấy chục năm qua Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chưa thể đánh giá được mối tương quan của việc hút thuốc thụ động đến những điểm đột biến này và sự tiếp nhiễm PAHs trong cơ thể người hít khói thuốc thụ động như một số nghiên cứu khác trên thế giới [20, 22] Palazzi và cộng sự (2018) đã báo cáo sự có mặt của PAHs do hút thuốc tự động dựa trên kết quả nicotin và cotinin được phát hiện với tỷ lệ 100%
và 96% trong mẫu tóc của những phụ nữ không hút thuốc tại hai khu vực nghiên cứu [20]
5.2.2 So sánh hàm lượng PAHs trong mẫu tóc của hai nhóm đối tượng sử dụng chuẩn Student
Để kiểm tra sự khác nhau có ý nghĩa giữa hàm lượng PAHs trong mẫu tóc của người hút thuốc (n= 30) và người không hút thuốc (n = 17), chúng tôi sử dụng