Để đóng góp vào hướng nghiên cứu này, luận văn “Nghiên cứu, ứng dụng mua sắm xanh của một số quốc gia trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam” được thực hiện nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG MUA SẮM XANH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-
NGUYỄN THỊ THU HÀ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG MUA SẮM XANH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI VÀO THỰC TIỄN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Trung Thắng
Hà Nội – Năm 2013
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, các thầy giáo, cô giáo Khoa Môi trường và Bộ môn Sinh thái môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập và rèn luyện trong suốt hai năm vừa qua Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Trung Thắng đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này Ngoài ra, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên môi trường, Ban Môi trường và Phát triển bền vững, các đồng nghiệp và bạn bè, người thân đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam, các doanh nghiệp và các chuyên gia đã giúp đỡ, cung cấp thông tin quý báu để tác giả thực hiện luận văn này
Trang 4ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
3 Nội dung nghiên cứu và Cấu trúc luận văn 2
3.1 Nội dung nghiên cứu 2
3.2 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1 Khái niệm về mua sắm xanh 4
2 Các nguyên tắc chính của mua sắm xanh 6
3 Lợi ích của việc áp dụng Mua sắm xanh 8
4 Thách thức đối với việc áp dụng mua sắm xanh 9
5 Mua sắm xanh tại một số nước phát triển 11
5.1 Hoa Kỳ 11
5.2 Liên minh Châu Âu 14
5 3 Nhậ n 19
5.4 Hàn Quốc (KEI, 2010) 21
6 Mua sắm xanh ở một số nước đang phát triển 26
6.1 Trung Quốc 27
6.2 Thái Lan 28
6.3 Malaysia 30
6.4 Indonesia 31
7 Một số bài học rút ra cho Việt Nam 32
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
1 Đối tượng nghiên cứu 34
2 Phương pháp nghiên cứu 34
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37
Trang 5iii
1 Đánh giá hiện trạng áp dụng mua sắm xanh ở Việt Nam 37
1 1 R h nh h i n n x nh Vi N 37
1.1.1 Các chính sách mua s m công 37
1 1 2 h nh h i ng 41
1.1.3 Các chính sách tiết ki năng ợng 46
1.1.4 Một số chính sách i i n n ến mua s m xanh 48
1 2 R i h n v hứng nhận x nh Vi N 50
1 2 1 T nh h nh h hi n h thống qu n lý môi tr ng ISO 14000 50
1 2 2 R i h n v nh h nh ấ nh n iế i năng ợng 58
2 Đánh giá hiện trạng về nhận thức và áp dụng mua sắm xanh trong khu vực công 62 2.1 Th c trạng nhận thức và cung cấp thông tin về mua s m công xanh các cơ quan Nhà n ớc 62
2.2 Tình hình th c tế th c hi n y ịnh i n n ến mua s m công xanh 69
3 Thực trạng sản xuất và cung ứng các sản phẩm xanh 75
3.1 Th c trạng về nhận thức của các doanh nghi p 75
3.2 Th c trạng s n xuất và cung ứng các s n ph m công xanh 81
4 Đánh giá chung 88
5 Đánh giá cơ hội và rào cản đối với việc áp dụng mua sắm xanh tại Việt Nam 90
5.1 Cơ hội cho mua s m xanh 90
5.2 Rào c n ối với mua s m xanh 93
6 Bước đầu đề xuất định hướng xây dựng chính sách mua sắm xanh tại Việt Nam 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 PHỤ LỤC 1 I PHỤ LỤC 2 XV
Trang 6iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Một số hình ảnh nhãn sinh thái phố biến ở EU 17
Bảng 2 Một số thông tin về sản phẩm xanh tại Hàn Quốc 24
Bảng 3 Số cơ quan chính phủ tham gia, số sản phẩm và dịch vụ 29
Bảng 4 Các sản phẩm được cấp Nhãn xanh Việt Nam 57
Bảng 5 Mức độ quan tâm đến các tiêu chí trong quá trình mua sắm công 66
Bảng 6 Mức độ quan tâm đến các tiêu chí trong quá trình mua sắm công 66
Bảng 7 Các loại hình sản phẩm được cân nhắc các tiêu chí môi trường 67
Bảng 8 Những khó khăn khi đưa các tiêu chí môi trường trong 68
Bảng 9 Nhóm sản phẩm được áp dụng mua sắm theo Quyết định 68 71
Bảng 10 Mức độ quan tâm đến những thiếu hụt trong việc triển khai mua sắm công xanh 72
Bảng 11 Mức độ ủng hộ ban hành chính sách mua sắm xanh 73
Bảng 12 Những đề xuất nhằm tăng cường nguồn lực 73
Trang 7v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Các bước và giai đoạn của một quá trình mua sắm công 19
Hình 2 Sự gia tăng chứng nhận nhãn sinh thái tại Hàn Quốc 26
Hình 3 Quy mô sản xuất xanh tại Hàn Quốc 26
Hình 4 Số chứng ch ISO 14001 từ năm 2003-2008 ở Việt Nam 52
Hình 5 Hình ảnh nhãn xanh Việt Nam 57
Hình 6 Hình ảnh Nhãn năng lượng xác nhận 60
Hình 7 Hình ảnh Nhãn năng lượng so sánh 61
Hình 8 Nội dung tập huấn liên quan đến mua sắm công xanh 63
Hình 9 Tình hình hiểu biết về khái niệm mua sắm công xanh 63
Hình 10 Mức độ hiểu biết về khái niệm mua sắm công xanh 63
Hình 11 Mức độ quan tâm mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường 64
Hình 12 Một số nguyên nhân các cơ quan địa phương chưa quan tâm đến sản phẩm thân thiện môi trường 64
Hình 13 Chế tài cần thiết nhằm thực hiện mua sắm các sản phẩm 65
Hình 14 Khó khăn khi đưa các tiêu chí môi trường trong 68
Hình 15 Tình hình áp dụng mua sắm hàng hóa theo phương thức 69
Hình 16 Mức độ khó khăn khi áp dụng mua sắm tài sản hàng hóa 70
Hình 17 Tình hình triển khai áp dụng mua sắm 71
Hình 18 Mức độ ủng hộ ban hành chính sách mua sắm xanh 73
Hình 19 Tình hình cung cấp thông tin/tập huấn về mua sắm xanh 76
Hình 20 Mức độ nhận thức của các doanh nghiệp về 76
Hình 21 Nhận thức được thông tin/tập huấn về sản phẩm thân thiện môi trường của các doanh nghiệp 77
Hình 22 Mức độ nhận thức của các doanh nghiệp về khái niệm 77
Hình 23 Tình hình nhận thức về nhãn xanh Việt Nam 78
Hình 24 Mức độ quan tâm đến thủ tục cấp thí điểm nhãn xanh Việt Nam 78
Hình 25 Tình hình nhận thức của các doanh nghiệp về 79
Hình 26 Tình hình nhận thức về thủ tục đăng ký dán nhãn 79
Hình 27 Nhận thức về Nghị định số 04/2009/NĐ-CP 80
Hình 28 Nhận thức về thông tư số 230/2009/TT-BTC 81
Hình 29 Nhận thức về Quyết định số 1030/QĐ-TTg 81
Hình 30 Hiện trạng các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm theo nhóm 82
Hình 31 Nhóm đối tượng tiêu thụ các sản phẩm thân thiện môi trường 83
Hình 32 Năng lực sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp 83
Trang 8vi
Hình 33 Dự định mở rộng năng lực sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp 84
Hình 34 Kế hoạch sản xuất sản phẩm thân thiện môi trường trong 85
Hình 35 Tình hình áp dụng hệ thống quản lý môi trường 86
Hình 36 Những lĩnh vực Nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp khi 87
Trang 9vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
EPA Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ
EIA Đánh giá tác động môi trường
KEITI Viện Công nghệ và Công nghiệp môi trường Hàn Quốc ISPONRE Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường ISO Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
ISO 14001 Hệ thống quản lý môi trường
MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường
TCVN Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam
Trang 10
1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Hội nghị thượng đ nh Thế giới Johanesburg 2002 về Phát triển bền vững đã tuyên bố việc thay đổi các mẫu hình sản xuất và tiêu thụ không bền vững là một trong chín Chương trình hành động của Kế hoạch thực hiện Johanesburg Để thực hiện chính sách này trên toàn thế giới, Ban công tác về mua sắm bền vững đã được
thành lập như một phần của chương trình Marrakech (The Marrakech Process) -
Chương trình khung 10 năm nhằm hỗ trợ mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững ở cấp quốc gia và khu vực
Phát triển bền vững đang là mục tiêu của nhiều quốc gia trên thế giới trong
đó có Việt Nam Phát triển bền vững không ch đề cập tới môi trường mà hàm ý rằng các khía cạnh kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường phải được tổng hòa và cân đối Sản xuất và tiêu dùng bền vững đang là xu hướng tất yếu cho xã hội phát triển bền vững Nhận thức được tầm quan trọng đó các nước trên thế giới ngày càng quan tâm đến sản xuất và tiêu dùng bền vững, cụ thể là sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện môi trường Trong đó, mua sắm xanh là một trong những công
cụ hữu hiệu để thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững
Mua sắm xanh là thuật ngữ được sử dụng để ch việc lựa chọn một sản phẩm hoặc dịch vụ có cùng chức năng nhưng ít gây tác động xấu đến môi trường, có cùng mức giá cạnh tranh mà vẫn thể hiện được trách nhiệm xã hội (International Green Purchasing Network, 2010) Mua sắm xanh góp phần thúc đẩy mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững Đồng thời khuyến khích việc phát triển nền kinh tế xanh, carbon thấp và góp phần đưa ra các biện pháp thực hiện hiệu quả cho chiến lược Tăng trưởng xanh
Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc thực hiện mua sắm xanh hiện vẫn còn ở giai đoạn đầu và gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai, thực hiện Đặc biệt cơ chế chính sách khuyến khích và thúc đẩy mua sắm xanh mới ch dừng lại ở những quy định, quyết định có liên quan chứ chưa có những quy định cụ thể Vì vậy, việc xây dựng khung chính sách toàn diện và hiệu quả về mua sắm xanh là cần thiết tại
Trang 112
Việt Nam
Để đóng góp vào hướng nghiên cứu này, luận văn “Nghiên cứu, ứng dụng
mua sắm xanh của một số quốc gia trên thế giới vào thực tiễn Việt Nam” được
thực hiện nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về mua sắm xanh một số quốc gia trên thế giới, trên cơ sở đó bước đầu đề xuất định hướng xây dựng chính sách mua sắm xanh cho Việt Nam nhằm khuyến khích sản xuất và tiêu dùng bền vững, hướng tới phát triển bền vững đất nước
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
*) Mụ i nghi n ứ
- Cung cấp cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế về mua sắm xanh;
- Đánh giá sơ bộ tình hình nhận thức và áp dụng mua sắm xanh tại Việt Nam
- Bước đầu đề xuất định hướng xây dựng chính sách mua sắm xanh tại Việt Nam
*) Phạ vi nghi n ứ
Nghiên cứu cơ sở lý luận về mua sắm xanh của một số quốc gia trên thế giới và đánh giá hiện trạng áp dụng mua sắm công xanh tại Việt Nam
3 Nội dung nghiên cứu và Cấu trúc luận văn
3.1 Nội dung nghiên cứu
Nội d ng 1: Nghi n ứ ơ ý ận v inh nghi ố ế về xanh
a) Cơ sở lý luận về mua sắm xanh
b) Kinh nghiệm về mua sắm xanh của một số quốc gia trên thế giới
Nội d ng 2: Đ nh gi h ạng dụng công x nh Vi N
a) Rà soát khung chinh sách/pháp luật có liên quan đến mua sắm công xanh b) Rà soát, đánh giá về tiêu chuẩn và chứng nhận xanh
Trang 123.2 Cấu trúc luận văn
Phần Mở Đầu: Đề cập đến tính cấp thiết của Đề tài, mục tiêu, phạm vi nghiên cứu và những nội dung chính của nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu nhằm đưa ra khái niệm về mua sắm xanh, các nguyên tắc chính và những lợi ích của việc áp dụng mua sắm xanh Đồng thời cũng đưa ra một số thách thức ban đầu khi áp dụng mua sắm xanh
Chương 2: Trình bày những đối tượng chính của nghiên cứu này và các phương pháp thực hiện nghiên cứu này có hiệu quả
Chương 3: Đề cập đến các nội dung chính của Luận văn bao gồm: cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế về mua sắm xanh, phân tích sơ bộ tình hình nhận thức, áp dụng mua sắm xanh, đánh giá cơ hội và rào cản đối với việc áp dụng mua sắm xanh tại Việt Nam, bước đầu đề xuất định hướng xây dựng chính sách mua sắm xanh tại Việt Nam
Phần Kết luận và kiến nghị: sẽ đưa ra kết luận chung của nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp chính nhằm giải quyết những rào cản trong việc áp dụng và thúc đẩy mua sắm xanh tại Việt Nam
Trang 134
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Khái niệm về mua sắm xanh
Mua sắm xanh là một khái niệm khá trừu tượng, với nhiều thuật ngữ và định nghĩa khác nhau Có nhiều tiêu chí được gọi là "xanh", trong đó một số thuật ngữ đã
được sử dụng như mua s m xanh, thân thi n với i ng, có trách nhi m với i ng và bền vững Trong mua sắm công, các thuật ngữ như mua s m công bền vững và mua s m công xanh cũng được sử dụng
Theo báo cáo thống kê thường niên về mua sắm của Liên hợp quốc 2008 (UN, 2008), mua sắm có trách nhiệm với môi trường hay mua sắm xanh là quá trình lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ ít tác động lên môi trường hơn so với sản phẩm
và dịch vụ có mục đích tương tự Ngoài ra, nó cũng nhấn mạnh rằng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường ở tất cả các giai đoạn của vòng đời sản phẩm Điều này cũng có nghĩa là phải xem xét tất cả các chi phí môi trường từ khâu chuẩn bị nguyên liệu thô đến khâu sản xuất, vận chuyển, bảo quản, xử lý, sử dụng và thải loại sản phẩm
Trong Sắc lệnh 13101 của Mỹ về Xanh hóa Chính phủ thông qua Chương trình phòng ngừa, tái chế và thu mua chất thải, sản phẩm thân thiện môi trường được định nghĩa là những sản phẩm hoặc dịch vụ giảm tác động tới môi trường và sức khoẻ con người so với các sản phẩm hoặc dịch vụ khác có cùng mục đích sử dụng trên thị trường Sự so sánh này cần cân nhắc đến toàn bộ vòng đời sản phẩm
từ khâu thu mua nguyên liệu thô đến khâu sản xuất, đóng gói, phân phối, tái sử dụng, vận hành, bảo dưỡng hoặc thải loại (Federal Register vol.63, No.179,1998)
Ngoài ra, theo định nghĩa của Ban Công tác về mua sắm bền vững của Anh
2006 (UK Sustainable Procurement Task Force), mua sắm bền vững là một quy
trình mà theo đó “các tổ chức tham gia phải đảm bảo nhu cầu của họ đối với các sản phẩm, dịch vụ, công trình và các tiện ích dựa trên các tiêu chí nhằm đạt được lợi ích lâu dài cho tổ chức đó, cho xã hội và kinh tế trong đó phải giảm thiểu tối đa các tác
Trang 145
động tiêu cực đến môi trường "
Trong khu vực công, Maarten Bouwer và cộng sự (2005) định nghĩa Mua
sắm công xanh (Green Public Procurement) là “cách tiếp cận mà theo đó các cơ
quan chính phủ phải lồng ghép các tiêu chí môi trường vào tất cả các giai đoạn của quá trình mua sắm Vì vậy, có tác dụng khuyến khích sự phát triển công nghệ môi trường và các sản phẩm thân thiện môi trường thông qua việc tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm và các giải pháp giảm tác động tới môi trường trong suốt vòng đời của nó” (Bouwer, de Jong và cộng sự, 2005) Gần đây, mua sắm công xanh được định nghĩa là quá trình các cơ quan Nhà nước mua sắm các sản phẩm, dịch vụ có ít tác động tới môi trường trong suốt vòng đời sản phẩm so với những sản phẩm, dịch vụ
có mục đích tương tự” (Commission Proposal COM (2008) Ngoài ra, còn có các
thuật ngữ khác được đưa ra như Mua sắm sản phẩm môi trường (Environmental Product Procurement ) (Ủy ban châu Âu, 2004), Mua sắm công có trách nhiệm với môi trường (Environmental Responsible Public Procurement) (Li và Geiser, 2005),
Mua sắm công bền vững (Preuss, 2007), Mua sắm xanh và Mua sắm sinh thái
(Green Purchasing and Eco- Procurement) (Bolton, 2008)
Như vậy, có thể thấy rằng đồng thời với việc cân nhắc những tiêu chí về giá
cả và hiệu quả sử dụng khi quyết định mua sắm, các khía cạnh môi trường cũng ngày càng được chú trọng, xem xét, cân nhắc sao cho ít tác động tiêu cực tới sức khoẻ và môi trường cũng như giảm thiểu ô nhiễm không khí và phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả năng lượng, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải, sử dụng tài nguyên tái tạo Ngoài ra, các khía cạnh về mặt xã hội bao gồm: bình đẳng giới, giảm nghèo và tôn trọng các tiêu chuẩn lao động cũng được tính đến
Hiện nay khái niệm mua sắm xanh ngày càng phổ biến trên thế giới, trong đó phạm vi ứng dụng được mở rộng cho nhiều sản phẩm và dịch vụ khác nhau, ví dụ các thiết bị văn phòng, máy tính, các sản phẩm công nghệ thông tin, các công trình xây dựng, phương tiện giao thông, đồ dùng và nhiều sản phẩm khác (Bouwer, de Jong và cộng sự, 2006; Leire, 2009)
Mặc dù đã có nhiều khái niệm khác nhau về mua sắm xanh được đưa ra, tuy
Trang 152 Các nguyên tắc chính của mua sắm xanh
Mua sắm xanh đòi hỏi chính phủ, công chúng và doanh nghiệp cân nhắc trước khi đưa ra quyết định mua sắm về sự cần thiết của việc mua sắm và các tác động môi trường trong suốt vòng đời của sản phẩm và dịch vụ
Nhằm thực hiện mua sắm xanh một cách hiệu quả và thành công, Mạng lưới mua sắm xanh (GPN) (Green purchasing basic principles, 2001) đã xác định bốn nguyên tắc chính của mua sắm xanh như sau:
Nguyên tắc 1: Tính cần thiết của việc mua sắm sản phẩm
Bước đầu tiên trước khi mua sắm là cân nhắc kỹ xem sản phẩm hay dịch vụ
có cần thiết mua hay không? Việc sửa chữa và thay thế cũng nên được cân nhắc đối với các sản phẩm đang được sử dụng Bên cạnh đó, giải pháp thuê hoặc cho thuê sản phẩm cũng nên được xem xét và nên mua với số lượng vừa đủ đáp ứng với nhu cầu
Nguyên tắc 2: Cung cấp thông tin đầy đủ về vòng đời của sản phẩm và dịch vụ
Khi quyết định mua sắm, phải xem xét, cân nhắc đến các tác động tới môi trường của toàn bộ vòng đời sản phẩm từ việc thu mua nguyên liệu thô cho tới khi sản xuất, sử dụng…cuối cùng là thải bỏ:
+ Gi hiể các chất có hại Người tiêu dùng có thể làm giảm thiểu sự phát
sinh các chất có hại bằng cách lựa chọn các sản phẩm thân thiện môi trường, những sản phẩm chứa ít các chất độc hại Điều này có tác động đến các nhà sản xuất tiến tới loại bỏ sử dụng các chất có khả năng gây hại đến môi trường và sức khỏe con người như phát thải hóa chất độc hại, kim loại nặng và các chất phá hủy tầng ozone
Trang 167
+ Sử dụng hi u qu tài nguyên, năng ợng/b o tồn năng ợng Khuyến
khích người tiêu dùng mua các sản phẩm tiết kiệm tài nguyên và năng lượng Với tốc độ khai thác và sử dụng tài nguyên như hiện nay, một số kim loại và nhiên liệu hóa thạch sẽ có thể bị cạn kiệt trong vòng vài thập kỷ tới Thêm vào đó, việc sử dụng quá nhiều nhiên liệu hóa thạch sẽ gây phát thải khí nhà kính CO2 và làm trái đất nóng lên Vì vậy, người tiêu dùng nên lựa chọn các sản phẩm tiêu thụ ít tài nguyên và tiết kiệm năng lượng
+ Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên Người tiêu dùng nên
chọn các sản phẩm sử dụng tài nguyên thiên nhiên tái tạo một cách bền vững, theo
đó các tài nguyên tái tạo phải được sử dụng hiệu quả và giảm thiểu tối đa tác động đến hệ sinh thái Một số tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo nếu được quản lý tốt như tài nguyên đất, nước, rừng…
+ Độ bền Người tiêu dùng nên lựa chọn các sản phẩm có tuổi thọ sử dụng
lâu dài Ngoài ra, trước khi mua các sản phẩm, người tiêu dùng cũng nên cân nhắc đến việc sử dụng các bộ phận thay thế, khả năng sửa chữa và thời gian bảo trì Nên tránh mua các sản phẩm có yêu cầu thay thế các bộ phận quá thường xuyên
+ Thiế kế ể tái sử dụng Người tiêu dùng nên lựa chọn các sản phẩm có thể
tái sử dụng mà không cần phải sản xuất lại cho cùng một mục đích sử dụng Điều này sẽ làm giảm đáng kể gánh nặng cho môi trường
+ Thiế kế ể tái chế Giải pháp tốt nhất cho những sản phẩm khi không thể
sử dụng tiếp là tái chế Trước khi quyết định mua một sản phẩm, người tiêu dùng cũng nên cân nhắc hệ thống thu hồi và tái chế s n có cho những vật liệu đó
+ S n h ó hứ vật li u tái chế Sản phẩm có chứa các vật liệu tái chế
hoặc những bộ phận có thể tái sử dụng sẽ góp phần tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu phát sinh chất thải và thúc đẩy phục hồi tài nguyên Vì vậy, người tiêu dùng nên lựa chọn các sản phẩm này
+ Tính th i loại Với những sản phẩm không thể sử dụng nhiều lần hoặc tái
chế, người tiêu dùng nên chọn sản phẩm cho phép xử lý hiệu quả sau khi thải bỏ nhằm giảm tối đa khối lượng cho các lò đốt hoặc các bãi chôn lấp
Trang 178
Nguyên tắc 3: Nỗ lực và trách nhiệm của nhà cung ứng
Ngoài việc đánh giá sản phẩm, người tiêu dùng cũng cần đánh giá những hoạt động bảo vệ môi trường của nhà cung cấp như: Liệu doanh nghiệp có áp dụng chính sách môi trường không Có triển khai các biện pháp quản lý môi trường phù hợp hay không Hoặc họ có tích cực tham gia công tác bảo vệ môi trường không?
Nguyên tắc 4 – Minh bạch thông tin về môi trường
Trước khi quyết định mua một sản phẩm, các thông tin môi trường mà người tiêu dùng nên quan tâm như nhãn môi trường, thông tin của doanh nghiệp trên sản phẩm và website Ngoài ra, người tiêu dùng cũng cần yêu cầu các nhà phân phối cung cấp các thông tin chi tiết hơn về môi trường của sản phẩm đó
3 Lợi ích của việc áp dụng Mua sắm xanh
Sử dụng tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu bền vững hơn sẽ mang lại lợi ích cho môi trường cũng như toàn bộ nền kinh tế, tạo cơ hội cho phát triển nền kinh
tế xanh (UNEP, 2008) Do đó, việc áp dụng mua sắm xanh có thể tạo ra một thị trường cho hàng hóa và dịch vụ bền vững góp phần giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, hỗ trợ các sản phẩm tái chế, tái sử dụng, giúp giảm thiểu sự phát sinh chất thải và tái tạo năng lượng
Một nghiên cứu của Ủy Ban đề xuất COM (Commission Proposal (COM), 2008) về khả năng tiết kiệm môi trường từ mua sắm xanh trong lĩnh vực công cho rằng nếu tất cả các cơ quan chính phủ ở châu Âu áp dụng hệ thống điện “xanh”, điều này có thể giúp giảm được 60 triệu tấn CO2 thải ra mỗi năm Một lượng tương
tự cũng có thể đạt được nếu cơ quan chính phủ lựa chọn các tòa nhà xanh Ngoài ra, nếu họ yêu cầu sử dụng máy tính tiết kiệm năng lượng, điều này có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể trên thị trường máy tính, và có thể giảm 830.000 tấn CO2
Ngoài ra, theo Sáng kiến mua sắm xanh Bắc Mỹ (Commission for Environmental Cooperation , 2004), mua sắm xanh có thể mang lại những lợi ích to lớn cho toàn xã hội bao gồm cả khu vực công và khu vực tư nhân Một số lợi ích chính của việc áp dụng mua sắm xanh được xác định như sau:
Trang 189
Đối với khu v c công, mua s m xanh có thể giúp:
- Giảm tác động tiêu cực và không lường trước được đối với môi trường;
- Hỗ trợ các công ty cung cấp sản phẩm và dịch vụ ít tác động tới môi trường và thúc đẩy phát triển các sản phẩm và kinh doanh "xanh";
- Tiết kiệm được chi phí dành cho xử lý ô nhiễm, bằng cách ngăn chặn ngay từ đầu;
- Gửi thông điệp đến cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ rằng người tiêu dùng sẽ nhận ra những nỗ lực bảo vệ môi trường của họ;
- Phát triển nền kinh tế quy mô, giảm chi phí sản xuất bằng cách tăng mức
độ nhu cầu đối với sản phẩm xanh;
Đối với h v nhân, x nh ó hể giú :
- Tránh được các chi phí bằng cách loại bỏ hoặc giảm phí quản lý chất thải, quản lý vật liệu nguy hại, giảm thời gian, chi phí báo cáo và nộp phạt do không tuân thủ quy định pháp luật;
- Tiết kiệm chi phí thông qua tiết kiệm năng lượng, nước, nhiên liệu và các nguồn tài nguyên khác;
- Đơn giản hóa việc tuân thủ các quy định về môi trường;
- Giảm nguy cơ tai nạn và trách nhiệm pháp lý cũng như hạ thấp chi phí cho việc đảm bảo sức khoẻ và an toàn lao động;
- Nâng cao hình ảnh, thương hiệu, uy tín của doanh nghiệp;
- Cải thiện sức khỏe của nhân viên và cộng đồng thông qua chất lượng không khí và nước sạch hơn, chất thải ít nguy hại hơn trong quá trình xử lý và thải
bỏ
4 Thách thức đối với việc áp dụng mua sắm xanh
Một vài nghiên cứu gần đây đã xác định những trở ngại chính đối với khu vực công trong việc áp dụng chính sách mua sắm xanh như sau (United Nations,
Trang 19- Các h ng in ể xây d ng i h về x nh vẫn òn hạn hế
Theo nội dung của Ch thị 2004/18/EC (Directive 2004/18/EC) đề cập đến có thể
thấy rằng nguồn thông tin đầy đủ, toàn diện để xây dựng tiêu chí về mua sắm xanh
vẫn còn rất thiếu, ví dụ thiếu các cơ sở dữ liệu (được nhiều người mua sắm sử dụng) cho việc thiết lập các tiêu chí môi trường trong các hồ sơ thầu
- Thiế thông tin và nhận thức không ầy ủ về những lợi ích của s n
ph m và dịch vụ thân thi n với môi ng Trong mua sắm xanh, người mua yêu
cầu thông tin về sản phẩm để đưa ra lựa chọn mua sắm Họ cần biết những tác động môi trường của sản phẩm, làm thế nào để đưa chúng vào tiêu chí mua sắm, những sản phẩm thay thế nào đang có trên thị trường cũng như làm thế nào để so sánh những sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế này (Johannes Meijer án Arjan Der Berg, 2010)
- Thiếu s h ợ v cam kết của chính phủ dẫn ến nguồn l bị hạn chế
ng vi h c hi n v hú y mua s m xanh Kinh nghiệm ở một số nước cho
thấy cam kết của chính phủ là chìa khóa để thực hiện mua sắm xanh Ví dụ ở Canada, mặc dù đã có nỗ lực xây dựng phương pháp tiếp cận mua sắm xanh trong toàn chính phủ từ năm 1992, nhưng cho tới năm 2005 vẫn chưa có bất cứ một chiến lược hay chính sách nào về mua sắm xanh nào được ban hành
- Thiếu các cán bộ về mua s m công ợ ạo Theo một nghiên cứu
của ESCAP, thách thức này được xác định là một thách thức to lớn đối với việc thực hiện các chính sách mua sắm xanh ở một số nước OECD (ESCAP, 2011)
Trang 2011
- Thiế s ổi phối hợp thông tin v h iễn giữa các tổ chức và ơ quan các cấp, bao gồm thực tiễn mua sắm ở cơ quan trung ương, địa phương và các
trường hợp áp dụng thí điểm thành công từ các khu vực khác nhau
5 Mua sắm xanh tại một số nước phát triển
5.1 Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, mua sắm xanh được xây dựng và triển khai thực hiện trong một
số chương trình mua sắm xanh Liên bang, trong đó yêu cầu các cơ quan điều hành cân nhắc các tác động môi trường, giá thành và các yếu tố khác khi đưa ra quyết định mua sắm
Hiện nay, Quy định mua sắm Liên Bang (Federal Acquysition Regulation (FAR)) và Sắc lệnh EO 13101 về xanh hóa Chính phủ thông qua Chương trình
phòng ngừa, tái chế và thu mua chất thải, yêu cầu tất cả các cơ quan mua sắm của liên bang phải thực hiện đánh giá các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường, ví dụ điển hình đó là chính sách Liên bang về thu mua các sản phẩm tái chế, các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng đã được đề cập trong phần 23 của FAR và phần 7 của EO 13101 Mặt khác, trong phần 401 của
EO 13101 yêu cầu các cơ quan trong quá trình lập kế hoạch mua sắm cho tất cả các loại hình mua sắm và đánh giá hồ sơ thầu phải xem xét những yếu tố: "giảm nhu cầu nguyên vật liệu thô, sử dụng các sản phẩm sinh học, sử dụng nguyên vật liệu tái sinh; tái sử dụng sản phẩm, chi phí vòng đời; khả năng tái sử dụng, sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường, ngăn ngừa chất thải và thải bỏ cuối cùng"( Federal Register vol.63, No.179 ,1998)
Ngoài ra, Quốc hội ch đạo các cơ quan Liên bang tăng cường mua sắm các sản phẩm có thành phần tái chế để khuyến khích việc sử dụng các vật liệu tái sinh Mục 6002 của Đạo luật Bảo tồn và tái sinh tài nguyên yêu cầu Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) phải quy định các sản phẩm có thể sản xuất được từ nguyên liệu tái sinh và khuyến nghị mua các sản phẩm này Vì lý do này, EPA đã ban hành Hướng
dẫn mua sắm toàn diện (Comprehensive Procurement Guideline- CPG) đầu tiên và Thông báo tư vấn nguyên liệu tái sinh (Recovered Materials Advisory Notice-
Trang 2112
RMAN) vào năm 1995 Chương trình CPG là một phần của chương trình "mua - tái
chế" (buy-recycled) của Chính phủ Đối với các danh mục sản phẩm đã được quy định, yêu cầu các cơ quan Chính phủ phải mua những sản phẩm có chứa thành phần tái chế RMAN đưa ra khuyến nghị, hướng dẫn mua sắm các sản phẩm được quy định trong CPG và được cập nhật định kỳ để phản ánh điều kiện, nhu cầu của thị trường Năm 1997, EPA cập nhật CPG lần đầu với việc xuất bản thông báo Đăng ký Liên bang (Federal Register notices) đối với CPG II và RMAN II, bổ sung thêm 12 hạng mục Năm 2000, EPA ban hành CPG III và RMAN III bao gồm 18 hạng mục mới Năm 2004, EPA ban hành CPG IV và RMAN IV với 7 hạng mục mới Gần đây nhất, EPA ban hành CPG V và RMAN V vào tháng 9/2007 sửa đổi quy định về phân compost và bổ sung thêm phân bón được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ tái sinh Tổng cộng 61 hạng mục đã được quy định, trong đó được nhóm thành tám nhóm sản phẩm chính như (EPA, 2007):
- Nhóm sản phẩm xây dựng: Xi măng, bê tông, sơn tái chế, vật liệu lợp, thảm nilon, nhà vệ sinh…
- Nhóm sản phẩm cảnh quan: Phân hữu cơ, phân bón làm từ vật liệu hữu
cơ tái sinh, cỏ và đường viền vườn…
- Văn phòng phẩm không có nguồn gốc từ giấy: nội thất văn phòng, phụ kiện nhựa máy tính để bàn, phong bì nhựa, túi rác nhựa, băng in, hộp mực…
- Giấy và các sản phẩm giấy: Giấy thương mại, giấy vệ sinh, giấy in, giấy báo, hộp giấy, bìa…
- Công viên và các sản phẩm giải trí: Ghế công viên, bàn ăn, hàng rào nhựa, thiết bị sân chơi, bề mặt sân chơi…
- Sản phẩm về giao thông: Bãi đỗ xe, rào chắn giao thông, mũ bảo hiểm…
- Sản phẩm xe cơ giới: Chất làm mát động cơ, dầu bôi trơn, lốp đắp…
- Sản phẩm khác: kệ xe đạp, phun cát sạn, trống công nghiệp, kệ, bảng hiệu, chất hấp thụ…
Hơn nữa, EPA đã ban hành một bản Hướng dẫn về Mua sắm thân thiện môi
Trang 2213
trường cho các cơ quan điều hành, trong đó nhấn mạnh 5 nguyên tắc hướng dẫn Nội dung của các nguyên tắc đã được đưa ra nhằm giúp các cơ quan Liên bang ra quyết định mua sắm các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường Năm nguyên tắc bao gồm (EPA, 1999):
- M i ng + Giá + Hi u qu = Mua s m thân thi n i ng Bên
cạnh các yếu tố truyền thống khác như an toàn sản phẩm, giá cả, hiệu quả và tính
s n có, các yếu tố môi trường cũng nên được cân nhắc khi mua sắm các sản phẩm, dịch vụ Trong quá trình mua sắm ngoài những yếu tố vẫn được quan tâm như giá
cả, hiệu suất, sức khỏe và an toàn thì yếu tố môi trường chính là yếu tố cạnh tranh giữa các nhà cung cấp trong quá trình tìm kiếm những hợp đồng của Chính phủ Vì vậy, việc tăng tính cạnh tranh giữa các nhà cung cấp sẽ kích thích cải thiện môi trường đồng thời tăng cường cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường
- Phòng ngừa ô nhiễm Việc xem xét tính thân thiện môi trường nên thực
hiện từ những bước đầu tiên của quy trình mua sắm, đặc biệt là các công tác phòng ngừa ô nhiễm, phấn đấu loại bỏ hoặc giảm thiểu những nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe con người và môi trường
- Vòng i s n ph /Đ h ộc tính Tính thân thiện môi trường của một
sản phẩm hay dịch vụ là một chức năng nhiều thuộc tính xuất phát từ quan điểm vòng đời sản phẩm
- So sánh các ộng i ng Việc xác định tính thân thiện môi
trường có thể liên quan đến việc so sánh các tác động môi trường Khi so sánh các tác động môi trường, các cơ quan Liên bang phải xem xét: tính thuận nghịch và yếu
tố địa lý của tác động môi trường, mức độ khác biệt giữa các sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh và tầm quan trọng của việc bảo vệ sức khỏe con người
- Thông tin hi u qu i ng (Environment Efficiency) Thông tin toàn
diện, chính xác, và có ý nghĩa về hiệu quả môi trường của sản phẩm hoặc dịch vụ là cần thiết để xác định tính thân thiện môi trường
Như vậy có thể nói các yêu cầu và chương trình mua sắm xanh của Hoa Kỳ
Trang 2314
là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc triển khai thực hiện mua sắm xanh
5.2 Liên minh Châu Âu
Tại châu Âu, các cơ quan chính phủ luôn là những khách hàng tiêu dùng lớn, 16% GDP được chi trả cho mua sắm các sản phẩm và dịch vụ như thiết bị văn phòng, phương tiện giao thông, các công trình xây dựng Các cơ quan này có khả năng lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường Vì vậy, họ sẽ góp phần đáng kể cho việc thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững Thêm vào đó, mua sắm xanh cũng có tác động rất lớn tới thị trường Các cơ quan chính phủ có thể đưa
ra chính sách ưu đãi nhằm phát triển sản xuất các sản phẩm và công nghệ xanh thông qua việc thúc đẩy và thực hiện mua sắm công xanh (GPP) Những quyết định của họ đưa ra sẽ có nhiều tác động đến việc định hình cho các thị trường lớn ở nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, giao thông công cộng, xây dựng và dịch vụ y tế
Trong những năm qua, Ủy ban châu Âu đã có nhiều nỗ lực và hoạt động nhằm thúc đẩy việc thực hiện GPP trong các nước thành viên, bao gồm việc triển khai các nghiên cứu/dự án, ban hành các chính sách và thiết lập các tiêu chuẩn cho GPP
Ngày 04 tháng 7 năm 2001, Ủy ban châu Âu đã đưa ra trong Thông báo của mình về các khả năng lồng ghép những khía cạnh môi trường vào các quy trình mua
sắm công do Luật Cộng đồng (Community Law) đề xuất Thêm vào đó, Tòa án Công lý Châu Âu (the Court of Justice) cũng làm rõ thêm những khả năng lồng
ghép này (EC, 2004) Tiềm năng mua sắm xanh lần đầu tiên được nhấn mạnh trong Liên minh châu Âu vào năm 2003 trong một Thông báo của Ủy ban về chính sách sản phẩm tổng hợp, theo đó các nước thành viên được khuyến nghị triển khai xây dựng các Kế hoạch hành động quốc gia về GPP vào cuối năm 2006 (COM, 2008)
Năm 2004, hai Ch thị 2004/17/EC và 2004/18/EC được Nghị viện Châu Âu thông qua đã trở thành khung chính sách về mua sắm các hợp đồng công của Châu
Âu Hai Ch thị này đã cụ thể hóa và đơn giản hóa các quy định đã có của Châu Âu
về mua sắm công trước đây Theo đó, các quốc gia thành viên sẽ phải chuyển hóa
Trang 2415
các Ch thị này thành các quy định quốc gia trước ngày 31 tháng 1 năm 2006 Ch thị 2004/18/EC quy định các thủ tục lựa chọn các gói thầu công trình và dịch vụ công Ch thị 2004/17/EC quy định các thủ tục mua sắm cho các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực nước, năng lượng, vận tải và dịch vụ bưu chính Các Ch thị này cũng góp phần củng cố và bổ sung cho khung pháp lý về mua sắm công, đặc biệt trong đó
có đề cập cụ thể đến các khía cạnh môi trường để lựa chọn các thông số kỹ thuật, tiêu chí và các điều khoản thực hiện hợp đồng Mặc dù các Ch thị này ch quy định cho các hợp đồng mua sắm công có giá trị ước tính ở trên một ngưỡng nhất định nhưng những hợp đồng nằm dưới ngưỡng này vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc của
Hiệp ước EC (EC Treaty) bao gồm đối xử bình đẳng, không phân biệt, minh bạch,
cân đối, thừa nhận lẫn nhau, vận chuyển tự do hàng hóa cũng như tự do cung cấp dịch vụ
Chiến lược phát triển bền vững của EU được Hội đồng sửa đổi vào ngày 9/6/2006 bao gồm mục tiêu đến năm 2010 với mức GPP trung bình của EU sẽ bằng với mức thực hiện tốt nhất của nước thành viên tại thời điểm đó Chiến lược này cũng đưa ra các bước hành động để đạt được mục tiêu này
Ngày 16/7/2008, Ủy ban Châu Âu đã thông qua Kế hoạch hành động về Tiêu dùng, Sản xuất bền vững và Chính sách Công nghiệp bền vững (SCP/SIP) Văn bản này giới thiệu chiến lược của Ủy ban trong việc hỗ trợ các phương pháp tiếp cận tổng hợp trong EU và đẩy mạnh chính sách công nghiệp bền vững Chiến lược này
bổ sung cho các chính sách hiện hành về sử dụng năng lượng mà Ủy ban đã ban hành (như Ch thị thiết kế sinh thái, Ch thị dán nhãn sinh thái, Quy định ngôi sao
năng lượng (Energy Star Regulation), Quy định nhãn sinh thái) Vấn đề cốt lõi của
kế hoạch hành động là khung hành động nhằm cải thiện hiệu quả môi trường và năng lượng của sản phẩm cũng như khuyến khích người tiêu dùng mua các sản phẩm này (COM, 2008, 397).
Tiếp theo Kế hoạch hành động SCP/SIP, Ủy ban Châu Âu tiếp tục tăng cường GPP với việc công bố Thông báo “Mua sắm công vì một môi trường tốt đẹp hơn” (COM (2008) 400) vào ngày 16/7/2008 Mục tiêu tổng quát của Thông báo là
Trang 2516
nhằm hướng dẫn giảm thiểu các tác động tới môi trường do tiêu dùng trong khu vực công gây ra và hướng dẫn sử dụng GPP để khuyến khích sự đổi mới về công nghệ, sản phẩm và dịch vụ môi trường Còn mục tiêu cụ thể của Thông báo này là đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn đối với việc thực hiện GPP; xây dựng các tiêu chuẩn GPP thông thường, thông tin về chi phí vòng đời sản phẩm; các văn bản luật và hướng dẫn thực hiện; hỗ trợ về chính trị thông qua mục tiêu hướng đến các tiêu chí và sự giám sát trong tương lai
Các tiêu chí của GPP được xây dựng dựa trên các tiêu chí nhãn sinh thái đã
có của các quốc gia và Ủy ban Châu Âu cũng như dựa trên những thông tin thu thập được từ các bên liên quan trong ngành công nghiệp và xã hội Bộ tiêu chí GPP đã được xây dựng cho 18 loại sản phẩm và dịch vụ ưu tiên ở 18 lĩnh vực Đây là những lĩnh vực được xác định là phù hợp nhất cho quá trình “xanh hóa (greening)” mua sắm công Tiêu chuẩn cho 10 nhóm sản phẩm đầu tiên được xây dựng năm 2008, bao gồm:
- Nhóm các sản phẩm về giấy pho to và đồ họa
Trang 2617
- Sản phẩm nhiệt điện kết hợp (Combined Heat and Power)
- Đường xá
- Biển báo giao thông
- Đèn đường và điện thoại di động
Tháng 6/2010, một thủ tục mới về xây dựng tiêu chí GPP của EU đã được thiết lập nhằm thu hút nhiều hơn nữa sự tham gia cũng như để tăng cường lẫn nhau giữa các công cụ chính sách về sản phẩm, ví dụ GPP và nhãn sinh thái của EU
Tính đến tháng 9 năm 2010, có 21 trong tổng số 27 quốc gia thành viên Châu
Âu đã thông qua Kế hoạch hành động quốc gia (NAP) hoặc các văn bản tương đương về GPP, Đối với 6 quốc gia còn lại, NAP đang trong quá trình chuẩn bị
Một trong những chiến lược chủ yếu để thúc đẩy GPP ở các quốc gia Châu
Âu là việc sử dụng hệ thống nhãn sinh thái Nhãn sinh thái không ch giúp các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ đạt được tiêu chuẩn tốt mà còn giúp người tiêu dùng
có được sự lựa chọn tin cậy Hiện nay, những nhãn sinh thái được biết đến nhiều nhất ở châu Âu là Nhãn Châu Âu (biểu tượng bông hoa), nhãn Scangdinavi (“Thiên
nga Bắc Âu” (N di w n’)) và các nhãn quốc gia khác (nhãn “Thiên thần xanh”
của Đức) (EC, 2004) Tất cả các nhãn này đều mang tính tự nguyện,dựa trên cơ sở vòng đời và đều liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận từ bên thứ ba Chúng đáp ứng được các tiêu chuẩn về sự minh bạch, nghiêm ngặt về mặt kỹ thuật và không phân biệt đối xử Những sản phẩm và dịch vụ được gắn nhãn sinh thái biểu tượng bông hoa sẽ cho phép người tiêu dùng (cả trong khu vực công và khu vực tư nhân)
có thể nhận biết chúng một cách dễ dàng Nhãn sinh thái Châu Âu áp dụng cho nhiều loại sản phẩm và dịch vụ như: các sản phẩm vệ sinh, đồ gia dụng, sản phẩm giấy, sản phẩm gia dụng và làm vườn, chất bôi trơn, may mặc và du lịch (bao gồm
cả các dịch vụ cắm trại và dịch vụ nhà ngh phục vụ khách du lịch) Nhiều sản phẩm
và dịch vụ khác sẽ được tiếp tục được bổ sung vào danh mục các sản phẩm này
Bảng 1 Một số hình ảnh nhãn sinh thái phố biến ở EU
Trang 2718
Nhãn Châu Âu
Nhãn Scangdinavi (“Thiên nga Bắc Âu”
sustainable public procurement in Europe
Tóm lại, có thể nói rằng EU đã xây dựng một khung pháp lý và chính sách
về GPP rất đầy đủ Mặc dù GPP là hệ thống dựa trên sự tự nguyện, tuy nhiên các quốc gia thành viên đã xây dựng hoặc đang trong quá trình chuẩn bị Kế hoạch hành động quốc gia và các hướng dẫn về GPP Việc triển khai GPP ở Châu Âu cho phép các cơ quan chính phủ đạt được các mục tiêu về môi trường, xây dựng các mẫu điển hình cho khu vực công và khu vực tư nhân, tác động đến thị trường, nâng cao nhận thức và đem lại nhiều lợi ích khác về xã hội và y tế trên phương diện kinh tế
Trang 28sắm xanh đã được ban hành ở nước này vào những năm 1990 Tuy nhiên, đến tháng
5 năm 2000, Luật thúc đẩy mua sắm xanh mới chính thức được thông qua và bắt
đầu có hiệu lực từ tháng 4 năm 2001, trở thành chính sách quốc gia đầu tiên về mua
sắm xanh tại Nhật Bản Luật này yêu cầu tất cả các Bộ và cơ quan Chính phủ phải
thực hiện chính sách mua sắm xanh Trong đó, các cơ quan này phải xây dựng và
ban hành chính sách mua sắm xanh riêng cho mình bao gồm xây dựng kế hoạch
mua sắm hàng năm và báo cáo kết quả thực hiện mua sắm xanh đến Bộ trưởng Bộ
Môi trường Mục tiêu của Luật này là thúc đẩy và phổ biến các sản phẩm và dịch vụ
thân thiện môi trường, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và
Mô tả những đặc điểm cơ bản của sản phẩm, dịch vụ hoặc công việc
Phân tích thị trường
Đặc điểm kỹ thuật
Tiêu chí bền vững
Giai đoạn thực hiện
Các tiêu chí bền vững Các tiêu chí bền vững Các tiêu chí bền vững
Đánh giá nhu cầu thực tế
Tiêu chí loại trừ
Năng lực kỹ thuật
Đưa ra những tiêu chí, ví dụ như chi phí vòng đời sản phẩm
Bao gồm việc cân nhắc tính bền vững trong các giai đoạn thực hiện
Trang 2920
xây dựng một xã hội bền vững và thân thiện môi trường Đồng thời, Chính phủ cũng đã ban hành hướng dẫn và danh mục 101 hàng hóa được ch định cho mua sắm xanh với các tiêu chuẩn kèm theo Tháng 2 năm 2002, 50 hạng mục đã được bổ sung vào danh mục hàng hóa được ch định và Chính phủ quyết định bổ sung thêm
17 mục liên quan đến mua sắm xanh cho các công trình công cộng
Ngoài ra, tháng 12/2007, Luật Hợp đồng xanh được ban hành nhằm thúc đẩy
ký kết các hợp đồng giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong các cơ quan Chính phủ
và dịch vụ công Luật Hợp đồng xanh không những tập trung vào giảm phát thải khí nhà kính trong việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cụ thể mà còn góp phần bổ sung cho Luật thúc đẩy mua sắm xanh bằng việc xây dựng thêm khung pháp lý về mua sắm xanh của Nhật Bản Cùng với chương trình dán nhãn sinh thái
và mạng lưới mua sắm xanh thì hai luật này có tác dụng khuyến khích và thúc đẩy mua sắm xanh ở Nhật Bản
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương và các tổ chức phi Chính phủ trên khắp Nhật Bản cũng chủ động xây dựng các hướng dẫn mua sắm xanh cho người tiêu dùng ở các lĩnh vực Theo nhóm nghiên cứu tiêu dùng xanh, hiện có tới vài chục hướng dẫn mua sắm xanh cho người tiêu dùng ở Nhật Bản
Có thể nói, hoạt động mua sắm xanh ở Nhật Bản ngày càng phát triển và lan rộng trên nhiều lĩnh vực khác nhau Trong đó, ba thành phần chính thúc đẩy phong trào là Chính phủ, Doanh nghiệp và người dân Điển hình là sự phát triển của Mạng lưới mua sắm xanh Nhật Bản (JGPN) Mạng lưới này được thành lập năm 1996, khởi đầu với 73 tổ chức liên kết với mục đích:
- Thúc đẩy và nâng cao nhận thức về mua sắm xanh
- Khuyến khích trao giải thưởng cho những sáng kiến hay về mua sắm xanh
- Xây dựng các hướng dẫn mua hàng
- Thiết lập cơ sở dữ liệu của các sản phẩm thân thiện với môi trường
- Tiến hành các cuộc khảo sát và nghiên cứu ở Nhật Bản và ở nước ngoài
Trang 3021
nhằm thiết lập mạng lưới mua sắm xanh khu vực
Cho đến nay, JGPN đã có hơn 3000 thành viên với các hoạt động nhằm thúc đẩy hoạt động mua hàng xanh và cung cấp thông tin cho người mua hàng cũng như nhà sản xuất Qua đó cho thấy sự phát triển nhanh của tổ chức này và đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động mua sắm xanh ở Nhật Bản
Ngoài ra, sự phát triển hoạt động mua sắm xanh của Nhật Bản không thể không nhắc đến Chương trình dán nhãn môi trường Thực tế, Chương trình này đã được đề cập đến trong Chương trình mua sắm xanh và được triển khai bởi Hiệp hội môi trường Nhật Bản (JEA) thông qua hai Ủy ban Xúc tiến và Ban chuyên gia (gồm đại diện các bên liên quan) Ban thư ký Chương trình sẽ tổ chức các nhóm chuyên gia tư vấn chịu trách nhiệm xây dựng và xem xét tiêu chí đánh giá cho từng nhóm sản phẩm Nhóm chuyên gia tư vấn này sẽ dự thảo bộ tiêu chí đánh giá và sau đó đăng toàn văn dự thảo trên tạp chí Eco-News để lấy ý kiến đóng góp và phản hồi từ công chúng trong vòng 60 ngày Sau khi tham vấn cộng đồng, nhóm chuyên gia tư vấn sẽ sửa đổi dự thảo và trình lên Ủy ban xúc tiến để xem xét và ra quyết định thông qua Sau khi ban hành bộ tiêu chí đánh giá, các cơ sở có thể nộp đơn lên Ban chuyên gia của JEA xem xét cấp quyền sử dụng nhãn Tùy từng trường hợp mà Ban chuyên gia sẽ yêu cầu mời thêm bên thứ ba độc lập cùng tổ chức đánh giá Nếu kết quả đánh giá cho thấy cơ sở đăng ký đạt được các tiêu chí đề ra, JEA sẽ ký kết hợp đồng cho phép cơ sở có quyền sử dụng nhãn trong vòng 2 năm
5.4 Hàn Quốc (KEI, 2010)
Tháng 3 năm 1996, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra tuyên bố: “Mọi mua sắm của chính phủ phải đảm bảo xanh và thân thiện môi trường Các sản phẩm tái chế và sản phẩm có dán nhãn sinh thái sẽ được ưu tiên mua sắm.”
Luật khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường đã được ban hành và có hiệu lực từ 1/7/2005
Mục đích của Luật này là phòng chống sự lãng phí tài nguyên và ô nhiễm môi trường, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc gia thông qua việc khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường
Trang 3122
Luật bao gồm những nội dung chính sau:
- Các chương trình cơ bản về khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân
thiện môi trường (Basic Plans for Encouraging Purchase of Environment-Friendly Products)
Bộ Môi trường sẽ có trách nhiệm xây dựng các chương trình cơ bản nhằm khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường (sau đây gọi tắt là Chương trình), và lấy ý kiến tham vấn của các cơ quan quản lý với tần suất 5 năm một lần và sau đó Chương trình này sẽ được thảo luận trong Ủy ban Khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường
Chương trình bao gồm các định hướng chính sách và các kế hoạch thúc đẩy nhằm khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường, danh mục các sản phẩm thân thiện môi trường, các tiêu chuẩn và một số vấn đề quan trọng khác trong việc xác định tiêu chuẩn, trách nhiệm của các cơ quan trong việc khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường, phân tích hồ sơ thông tin của các sản phẩm thân thiện môi trường cùng các biện pháp tăng cường mua sắm công, các vấn đề về hợp tác quốc tế liên quan đến sản phẩm thân thiện môi trường và các vấn đề khác mà Bộ Môi trường cho là cần thiết trong việc khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường
Để thúc đẩy các sản phẩm sinh thái, Bộ Môi trường đã cố gắng xây dựng và triển khai nhiều văn bản luật và chính sách: chương trình nhãn sinh thái, quản lý chuỗi cung cấp sinh thái, thiết kế sinh thái… Hội tình nguyện thúc đẩy mua sắm xanh thuộc GPN (Mạng lưới mua sắm xanh) đang hoạt động với sự tham gia của các nhà sản xuất, người tiêu dùng và các cơ quan nhà nước
Chương trình nhãn sinh thái của Hàn Quốc là một chương trình chứng nhận
tự nguyện do Bộ Môi trường thực hiên Hệ thống nhãn sinh thái lần đầu tiên được giới thiệu vào tháng 4 năm 1992, trên cơ sở xây dựng, hỗ trợ cho Điều 17, Luật công nghệ môi trường Nhãn sinh thái được gắn với các sản phẩm phát sinh ô nhiễm môi trường thấp hơn hoặc tiết kiệm tài nguyên so với các sản phẩm khác cùng công dụng, qua đó cung cấp thông tin chính xác cho người tiêu dùng, nhờ vậy khuyến
Trang 3223
khích sự tăng trưởng bền vững
Cơ quan mua sắm công (PPS) là cơ quan mua sắm của Chính phủ Hàn Quốc cung cấp hàng hóa, dịch vụ, công trình công cộng và thông tin Phần lớn công việc mua sắm do PPS thực hiện và ch một số phần việc do các đơn vị chính phủ khác triển khai
Vai trò của PPS như sau:
- Mua sắm trong nước và quốc tế phục vụ cho các cơ quan chính phủ
- Thầu các dự án xây dựng trọng điểm của chính phủ
- Dự trữ và cung cấp nguyên liệu
- Điều phối và kiểm toán các vấn đề tài sản của chính phủ
- Quản lý và vận hành hệ thống mua sắm điện tử trực tuyến Hàn Quốc (KONEPS)
*) Ủy ban khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường
Ủy ban khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường phải được thành lập dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Môi trường nhằm xem xét các vấn đề cần thiết để khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường
+ Trách nhiệm của các cơ quan chính phủ là phải mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường trừ những trường hợp có lý do đặc biệt
+ Yêu cầu hợp tác nhằm khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường: Nếu thấy cần thiết phải khuyến khích mua sắm các sản phẩm thân thiện môi trường, Bộ trưởng Bộ Môi trường sẽ đề nghị các cơ quan chính phủ thực hiện các biện pháp cần thiết
*) Vai trò của quản trị viên trong các Cơ quan mua sắm công:
+ Nếu sản phẩm được yêu cầu mua có trong danh mục các sản sản phẩm thân thiện môi trường, quản trị viên của cơ quan mua sắm công có trách nhiệm điều
ch nh kế hoạch mua sắm để đảm bảo các cơ quan chính phủ mua các sản phẩm đó
Trang 3324
+ Bộ trưởng Bộ Môi trường và lãnh đạo các cơ quan quản lý có thể đề nghị
Cơ quan mua sắm công thực hiện các biện pháp cần thiết để khuyến khích mua sắm
các sản phẩm thân thiện môi trường như tăng cường mua sắm điện tử các sản phẩm
thân thiện môi trường, quy định kiểu mẫu cho các sản phẩm thân thiện môi
trường…
*) Cơ quan phát triển sản phẩm sinh thái
Viện Khoa học và Công nghệ môi trường Hàn Quốc được thành lập tháng 7
năm 2005 Ngoài ra, Cơ quan phát triển sản phẩm sinh thái cũng đã được thành lập
tháng 9 năm 2005 nhằm hỗ trợ hiệu quả cho mua sắm xanh Sau đó, hai cơ quan này
sát nhập thành “Viện Công nghệ và Công nghiệp môi trường Hàn Quốc (KEITI)
vào tháng 8 năm 2008 Viện này đã góp phần xem xét và ban hành Luật công nghệ
môi trường.và cung cấp các thông tin về sản phẩm xanh, xây dựng danh mục, tiêu
chuẩn, đào tạo và phát triển các sản phẩm xanh
Bảng 2 Một số thông tin về sản phẩm xanh tại Hàn Quốc
Hệ thống
Nhãn tiết kiệm năng lƣợng
Luật thúc đẩy tiết kiệm
và tái chế tài nguyên Luật năng lượng
Cơ quan
quản lý Bộ môi trường Bộ môi trường
Bộ công nghiệp và tài nguyên
Cục quản lý hợp tác năng lượng Hàn Quốc
Sản phẩm
mục tiêu
- 84 loại sản phẩm
- Sản phẩm văn phòng, vật liệu xây dựng, vật dụng gia đình, sản phẩm công
Trang 3425
cao (23)
- loại sản phẩm hiệu quả năng lượng (11)
Phí chứng
nhận
- Phí chứng nhận 100.000 KRW
- Phí dịch vụ 1.000.000~5.000.000 KRW
mỗi loại sản phẩm
Năm 1992, Chương trình dán nhãn môi trường đã bắt đầu được giới thiệu, Tuy nhiên, chương trình này thực sự đã không đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp cho đến khi Luật khuyến khích mua sắm sản phẩm xanh được ban hành Hiện nay,
do tính bắt buộc của hệ thống mua sắm xanh mà Chương trình thúc đẩy mua sắm xanh đã tạo ra bước ngoặt Năm 2004, trước khi Luật này được đưa ra, tổng giá trị mua sắm công đạt khoảng 250 tỷ KRW, nhưng đến năm 2009, con số này đã lên đến 1.630 tỷ KRW, tăng gấp 6 lần Chương trình mua sắm xanh đã tạo ra một bước nhảy vọt về số lượng sản phẩm xanh được cấp chứng nhận cũng như về quy mô sản xuất Trong vòng 5 năm, số lượng sản phẩm xanh được cấp chứng nhận đã tăng 5 lần và quy mô sản xuất sản phẩm xanh đã tăng 15 lần vượt 25 triệu KRW vào năm
2010 Hiện nay các sản phẩm xanh trên thị trường bắt đầu có sự cạnh tranh về giá
và chất lượng dẫn tới tự nó thiết lập một mức giá ổn định và chất lượng, đặc biệt là thân thiện môi trường hơn
Trang 3526
Nguồn: Korean Environmental Institute- KEI
Tuy nhiên, khi hầu hết sản phẩm xanh chủ yếu là cung cấp cho thị trường công, thực tế cho thấy việc khuyến khích người tiêu dùng lựa chọn và ưa chuộng các sản phẩm xanh tại các siêu thị là điều không dễ Theo kết quả điều tra khảo sát của KEITI về nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm xanh, người tiêu dùng đã đưa ra một số trở ngại đối với mua sắm sản phẩm xanh như sau: 33 cho rằng họ không được cung cấp đầy đủ thông tin do thiếu các thông tin s n có, 23 cho rằng họ không biết mua các sản phẩm xanh ở đâu, và 14 cho rằng các sản phẩm này quá đắt Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải xây dựng một chương trình ưu đãi hay chương trình tương tự để thúc đẩy việc phân phối các sản phẩm xanh
6 Mua sắm xanh ở một số nước đang phát triển
Vào giữa những năm 1990, các khái niệm hiện đại về sinh thái học như mua sắm xanh bắt đầu lan rộng sang các nước đang phát triển, đặc biệt tại các nước Đông Á và Đông Nam Á khi mà các khu vực này bắt đầu thực hiện triển khai quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa một cách nhanh chóng (The Standing Committee of the National People's Congress, 2002) Hơn nữa, trước thực trạng suy thoái tài nguyên và các vấn đề môi trường ngày càng nghiêm trọng, việc áp dụng hiệu quả mua sắm xanh đang trở nên ngày càng cần thiết và có thể sẽ ảnh hưởng mạnh hơn nữa đến các nước đang phát triển Cách tiếp
Hình 2 Sự gia tăng chứng nhận nhãn
sinh thái tại Hàn Quốc
Hình 3 Quy mô sản xuất xanh tại Hàn Quốc
Trang 36Từ năm 2002, một loạt chính sách liên quan đến thúc đẩy mua sắm công
“xanh” đã được ban hành và triển khai Chính sách mua sắm xanh đầu tiên cùa Trung Quốc là Luật thúc đẩy sản xuất sạch năm 2002 Điều 16 của Luật đã quy định chính quyền các cấp phải ưu tiên hàng đầu cho việc mua sắm các sản phẩm tiết kiệm nước, năng lượng và các sản phẩm được tái chế từ chất thải góp phần bảo vệ môi trường và các nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngoài ra, điều này cũng quy định chính quyền các cấp phải khuyến khích cộng đồng mua và sử dụng sản phẩm tiết kiệm nước và năng lượng thông qua giáo dục hoặc các biện pháp khác(Order of the President No.68, 2003)
Văn bản quan trọng thứ hai trong việc thúc đẩy mua sắm xanh là Luật mua sắm chính phủ bắt đầu có hiệu lực từ tháng 1/2003 Điều 9 của Luật đã quy định mua sắm chính phủ phải gắn với bảo vệ môi trường và thực hiện để thúc đẩy mô hình sản xuất và tiêu dùng bền vững Tuy nhiên, Luật này vẫn thiếu các điều khoản chi tiết cho công tác bảo vệ môi trường (NEP, 2003)
Gần đây, Trung Quốc đã ban hành một loạt chính sách nhằm thúc đẩy mua
Trang 3728
sắm công “xanh” như Kế hoạch bảo vệ môi trường quốc gia 5 năm lần thứ 11, Luật
thúc đẩy nền kinh tế quay vòng (the Circular Economy Promotion Law), Luật tiết
kiệm năng lượng
Kế hoạch bảo vệ môi trường quốc gia 5 năm lần thứ 11 quy định về việc thúc đẩy dán nhãn và chứng nhận môi trường, hỗ trợ cho tiêu dùng xanh, “văn phòng xanh” và mua sắm “xanh”( NEP, (2008) Điều 1 chương 1 của Luật thúc đẩy nền kinh tế quay vòng yêu cầu chính quyền từ cấp t nh trở lên phải thiết lập hệ thống mục tiêu-trách nhiệm (goal-responsibility system) và thực hiện các biện pháp về quy hoạch, tài chính, đầu tư và mua sắm chính phủ nhằm thúc đẩy nền kinh tế quay vòng (Standing Committee of the National People's Congress, 2008)
Cùng với các chính sách quan trọng trên, Trung Quốc đã triển khai mua sắm xanh ở một số địa phương và ban hành một số văn bản liên quan bao gồm: Danh sách mua sắm Chính phủ đối với các sản phẩm tiết kiệm năng lượng (ban hành năm 2004) và Danh sách mua sắm của Chính phủ đối với các sản phẩm dán nhãn môi trường (triển khai năm 2007), Danh sách các sản phảm tiết kiệm năng lượng bao gồm cả sản phẩm tiết kiệm năng lượng (điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, đèn huỳnh quang, thiết bị đun nóng nước bằng điện, máy in…) và các sản phẩm tiết kiệm nước (vòi nước, van xả nước toilet, ) Hiện nay, đã có hơn 10.000 sản phẩm thuộc 33 hạng mục nằm trong Chương trình dán nhãn tiết kiệm năng lượng và hơn 10.000 sản phẩm của 700 nhà sản xuất thuộc 24 hạng mục nằm trong Chương trình dán nhãn môi trường (IGPN, 2010)
6.2 Thái Lan
Chương trình nhãn xanh được Hội đồng doanh nghiệp bền vững Thái Lan khởi xướng năm 1993 và sau đó Viện Môi trường Thái Lan (TEI) cùng với Bộ Công nghiệp giới thiệu chính thức vào tháng 8 năm 1994 Trong đó, TEI đóng vai trò là ban thư ký của Mạng lưới mua sắm xanh Thái Lan do các chuyên gia về mua sắm thành lập tháng 8 năm 2004 Mạng lưới này nhằm mục đích cung cấp các thông tin liên quan đến mua sắm xanh bao gồm thị trường cho các sản phẩm xanh, thiết kế
và triển khai các chương trình mua sắm xanh Hơn nữa, Mạng lưới này cũng đưa ra
Trang 3832 nhóm sản phẩm và hiện đang xây dựng tiêu chuẩn cho 4 nhóm sản phẩm mới bao gồm phân bón, xe ô tô cá nhân, vật liệu xây dựng thay thế gỗ và hộp đựng đồ Trong 6 năm đầu thực hiện, hơn 200 sản phẩm đã được cấp nhãn xanh(Thai Business Council: green label scheme)
Năm 2008, chính phủ Thái Lan đã xây dựng và thông qua Kế hoạch mua sắm công xanh (2008-2011) Kế hoạch này nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường, trước tiên sẽ thực hiện đối với khu vực công Kế hoạch mua sắm xanh đã đặt ra mục tiêu bao gồm tỷ lệ tham gia của các cơ quan chính phủ và tỷ lệ phần trăm các sản phẩm thân thiện môi trường được mua sắm từ 2008 đến 2011 Kết quả là năm 2010, 78 các cơ quan chính phủ đã thực hiện chính sách mua sắm xanh và con số này được kỳ vọng đạt 100 vào năm
2011 Năm 2009, số lượng các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường được mua sắm đạt 59,9 (xem bảng 3)
Hiện tại, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang đẩy mạnh các hoạt động như đào tạo mua sắm xanh cho cán bộ mua sắm công, xây dựng website về mua sắm công xanh và các hướng dẫn mua sắm xanh
Bảng 3 Số cơ quan chính phủ tham gia, số sản phẩm và dịch vụ
thân thiện môi trường được các cơ quan Thái Lan mua sắm
Năm Số cơ quan chính phủ
Số sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường
Mục tiêu (%) Kết quả (%) Mục tiêu (%) Kết quả (%)
Trang 3930
6.3 Malaysia
Hiện chưa có luật hay quy định nào về mua sắm xanh ở Malaysia, tuy nhiên, một số các quy định liên quan đã được ban hành Ví dụ, chương trình dán nhãn sinh thái đã được triển khai rất sớm Năm 1996, Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và công nghiệp đã phát động Chương trình dán nhãn sinh thái cho nguyên liệu nhựa không chứa độc tố để sản xuất bao bì, thiết bị điện và điện tử không chứa kim loại nguy hại, các chất tẩy rửa phân hủy sinh học và giấy tái chế Ủy ban Năng lượng Malaysia cũng đã phát triển các sản phẩm điện hiệu quả về năng lượng Thêm vào
đó, Malaysia có Mạng lưới mua sắm xanh Mạng lưới này được thành lập năm 2003
và là một thành viên của mạng lưới mua sắm toàn cầu nhằm thúc đẩy mua sắm xanh, khuyến khích người tiêu dùng, nhà cung cấp và các nhà sản xuất áp dụng phương pháp tiêu dùng và sản xuất bền vững Tuy nhiên, theo đánh giá của một nghiên cứu (Malaysia‟s Green Marketing Initiative, 2009), mức độ nhận thức của người tiêu dùng ở Malaysia về nhãn sinh thái còn chưa cao
Gần đây, khi cải tổ nội các, Chính phủ Malaysia đã thành lập Bộ Năng lượng, Công nghệ xanh và Nước nhằm thay thế Bộ Năng lượng, Nước và Truyền thông với mục đích thúc đẩy các công nghệ xanh trong đó có mua sắm xanh Ngay sau đó, Chính sách quốc gia về công nghệ xanh, các tiêu chuẩn quốc gia xanh đã được ban hành và một cuộc triển lãm quốc tế về công nghệ xanh đã được tổ chức Mục tiêu chính của Chính sách quốc gia về công nghệ xanh là cung cấp các hướng dẫn cần thiết và là động lực để người dân Malaysia tiếp tục được hưởng chất lượng cuộc sống cao và một môi trường trong lành Chính sách này cũng xác định các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn mà theo đó công nghệ xanh sẽ trở thành sự lựa chọn ưu tiên trong việc mua sắm các sản phẩm và dịch vụ Ngoài ra, năm 2010, một số chương trình công nghệ xanh đã được xây dựng như phát triển Trung tâm Năng lượng Malaysia trở thành một Trung tâm công nghệ xanh quốc gia; tổ chức triển lãm quốc tế về công nghệ xanh, xây dựng Putrajaya và Cyberjaya trở thành thành phố xanh, ưu tiên các sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường trong mua sắm chính phủ (mua sắm xanh) và chương trình hỗ trợ tài chính cho công nghệ xanh
Trang 4031
Triển lãm quốc tế đầu tiên về công nghệ xanh (IGEM) đã được tổ chức vào
tháng 10 năm 2010 do Tổ chức Công nghệ xanh Malaysia (the Green Tech Malaysia) chủ trì với mục tiêu nhằm thúc đẩy các tổ chức, các ngành công nghiệp
áp dụng công nghệ xanh cũng như thúc đẩy các sáng kiến công nghệ sinh thái trong lĩnh vực thiết kế sinh thái, vật liệu sinh thái, sản phẩm sinh thái và công nghệ xanh với hàm lượng cacbon thấp Tiếp theo sự khởi đầu thành công của triển lãm xanh lớn nhất khu vực - IGEM 2010, IGEM 2011 sẽ tiếp tục được tổ chức vào tháng 9 năm 2011(IGEM, 2011) Hiện tại, Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và công nghiệp đang xây dựng các tiêu chuẩn, chứng nhận và cơ chế dán nhãn bao gồm sổ tay hướng dẫn và thủ tục mua sắm xanh để thúc đẩy chính phủ và các khu vực tư nhân tham gia mua sắm xanh
“Biểu tượng nhãn sinh thái”, “Chương trình chứng nhận nhãn sinh thái” ở Indonesia được công bố lần đầu tiên vào Ngày môi trường thế giới (5/6/2004) với nhãn loại 1 Để triển khai nhãn sinh thái, một số hướng dẫn và các điều kiện đã được xây dựng, bao gồm lôgô, chương trình dán nhãn sinh thái, tiêu chuẩn nhãn sinh thái, phương pháp kiểm tra, phòng thí nghiệm kiểm tra, cơ quan chứng nhận và công cụ cấp phép Gần đây, Indonesia đã xây dựng nhãn môi trường tự công bố mang tính tự nguyện (Loại II), trong đó Bộ Môi trường đóng vai trò quản lý việc sử dụng các nhãn môi trường tự công bố Loại nhãn này đã được công bố vào Ngày môi trường thế giới (5/6/2010)