Sông Sompoy là một nhánh sông quan trọng của sông Mêkong chạy qua 1 trong 7 vùng đồng bằng lớn nhất của nước, đây là nơi lưu trữ nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, cấp nước cho hoạt đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
- -
Khonesavanh Norasane
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG SOMPOY
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SỬ DỤNG CHO SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN KAISONE TỈNH SAVANNAKHET
Luận văn Thạc sĩ môi trường Ngành: Khoa học Môi trường
MS : 60440301
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Hà
Hà Nội - 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giúp các em định hướng nghiên cứu, xây dựng ý tưởng và tận tình hướng dẫn các em trong thời gian học tập và làm bài luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, các em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Hà giáo viên Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ những kiến thức quý báu cho các em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2017 Học viên
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
Mở đầu iv
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 3
1.1 Hiện trạng chất lượng nước sông và sử dụng trong nông nghiệp trên thế giới và Lào 3
1.1.1 Hiện trạng chất lượng nước sông và sử dụng trong nông nghiệp trên thế giới 3
1.1.2 Hiện trạng chất lượng nước sông và sử dụng nước sông trong nông nghiệp ở Lào 4
1.2 Phương pháp đánh giá chất lượng nước sông 8
1.2.1 Phương pháp phân tích, quan trắc 8
1.2.2 Đánh giá bằng chỉ số WQI 9
1.3 Giải pháp sử dụng an toàn nước sông cho sản xuất nông nghiệp 10
1.3.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm nước sông 10
1.3.2 Giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông 12
1.4 Tài nguyên nước và chất lượng nước 16
1.5 Tầm quan trong của lưu vực sông 18
CHƯƠNG II – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Đặc điểm khí hậu, ký tượng thủy văn 19
2.1.3 Kinh tế - xã hội 24
2.1.4 Đa dạng sinh học 28
2.1.5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Phương pháp thống kê, kế thừa truyền thống 30
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 30
2.2.3.Phương pháp đo đạc, lấy mẫu ngoài thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm: 31
2.2.4 Phương pháp đánh giá theo chỉ số chất lượng nước 52
Trang 4CHƯƠNG III – KẾT QUẢ VÀ THỎA LUẬN 56
3.1 Đánh giá chất lượng nước sông 56
3.1.1 Đánh giá theo nhóm thông số phân tích 56
3.1.2 Đánh giá theo chỉ số chất lượng nước 56
3.2 Đánh giá chất lượng nước theo mực đính sử dụng trong nông nghiệp 59
3.2.1 Nhóm thông số đo nhanh phục vụ sản xuất nông nghiệp Kaisone Phomvihan 59
3.2.2 Các chất hữu cơ trong nước sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 60
3.2.3 Các chất dịnh dưỡng trong nước sông Sompoy 62
3.2.4 Hàm lượng chất thải rắn lơ lừng (TSS) trong nước sông 65
3.2.5 Hàm lượng vi sinh vật (Coliform) trong nước sông Sompoy 67
3.3 Nguyên nhân gây ô nhiễm đến chất lượng nước sông 68
3.3.4 Hiện trạng chất lượng nước 70
3.4 Đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ và sử dụng hợp lý môi trường nước lưu vực sông Sompoy đoạn chảy qua huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 74
3.4.1 Giải pháp quản lý 74
3.4.2 Giải pháp công nghệ 78
3.4.3 Giải pháp khác 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình và tổng số giờ nắng tại Savannakhet 19
Bảng 2.2: Lưu lượng nước mưa trung bình năm (mm/năm) của trạm đo nước mưa Xeno (1995-2010) 20
Bảng 2.3: Lưu lượng nước mưa trung bình năm (mm/năm) của tram đo nước mưa tỉnh Savannakhet (1989-2004) 21
Bảng 2.4: Tốc độ gió trung bình năm và tháng 21
Bảng 2.5: Tốc độ gió lớn nhất trong năm và tháng 22
Bảng 2.6: Độ ẩm không khí trung bình tháng 22
Bảng 2.7: Dự báo dân số ở Kaysone Phomvihane 25
Bảng 2.8: GDP trong giai đoạn 2006-2009 và ước tính cho giai đoạn 2010-2014 25
Bảng 2.9: Ngành kinh tế chính trong Kaysone Phomvihane 26
Bảng 2.10: Bảng quy định các giá trị qi, BPi 53
Bảng 2.11: Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với DO% bão hòa 53
Bảng 2.12: Bảng quy định các giá trị BPi và qi đối với thông số pH 54
Bảng 3.1: Giá trị WQI cho chất lượng nước sông Sompoy theo mùa mưa 57
Bảng 3.2: Diễn biến thông số DO của nước sông Sompoy huyện Kaisone Phomvihan tỉnh Savannakhet 60
Bảng 3.3: Diễn biến thông số COD và BOD5 của nước sông Sompoy huyện Kaisone Phomvihan tỉnh Savannakhet 61
Bảng 3.4: Diễn biến hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước sông 63
Bảng 3.5: Diễn biến hàm lượng tổng chất thải rắn lơ lửng trong nước sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 66
Bảng 3.6: Diễn biến hàm lượng tổng chất thải rắn lơ lửng trong nước sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 67
Bảng 3.7: Số lượng thú nuôi của huyện (2013) 69
Bảng 3.8: Danh sách các điểm quan trắc chất lượng nước sông Sompoy chảy qua địa bàn huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 71
Bảng 3.9: Kết quả phân tích mẫu nước sông Sompoy 72
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: sơ đồ của lưu vực sông Sompoy 28 Hình 2.2: Điều tra khảo sát thực địa khu vực quan trắc sông Sompoy, huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 31 Hình 3.1: Biểu đồ giá trị WQI nước sông Sompoy 58 Hình 3.2: Hàm lượng các chất hữu cơ trong nước phục sản xuất nông nghiệp khu sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 62 Hình 3.3: Hàm lượng các chất dinh dưỡng PO43- trong nước phục sản xuất nông nghiệp khu vực sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 64 Hình 3.4: Hàm lượng các chất dinh dưỡng NH4+ trong nước phục sản xuất nông nghiệp khu vực sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 65 Hình 3.5: Hàm lượng tổng chất thải rắn lơ lửng trong nước phục sản xuất nông nghiệp khu vực sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 66 Hình 3.6: Hàm lượng Coliform trong nước phục sản xuất nông nghiệp khu vực sông Sompoy huyện Kaisone tỉnh Savannakhet 68 Hình 3.7: Bản đồ quan trắc chất lượng nước sông Sompoy đoạn chảy qua huyện
Kaisone tỉnh Savannakhet 74 Hình 3.8: cơ chế quá trình xử lý nước thải trong hồ sinh học 78 Hình 3.9: sơ đồ hệ thống xử lý nước thải bằng bùn hoạt tính thông thường 80
Trang 7Mở đầu
Huyện Kaysone nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Savannakhet với diện tích 681.618 km2, trong đó diện tích đồng bằng chiếm tới 95% của tổng diện tích huyện Kaysone là một huyện được sử quan tâm và phát triển kính tế xã hội nhiều nhất trong tỉnh Người dân trong huyện 75% làm nông nghiệp, 15% kinh doanh và 10% là cán bộ (Dự án hồ thủy lợi sông Sôm Poui năm 2013)
Vùng đồng bằng của Huyện Kaysone nằm trong khu vực vũng sâu nước mưa của sông Sôm poy, Sông nhang và những sông nhỏ chi nhánh của sông Sôm Poy Đồng bằng của Huyện Kaysone rất phủ hợp cho công việc sản xuất nông nghiệp, trong đó 70% của tổng diện tích được khai thác đề làm ruộng Trong công việc sản xuất nông nghiệp đã sử nước từ sông Sôm poy rất nhiều vào mùa mưa và một số nước tưới vào mùa hè
Trong năm 2004, Ủy bản sông Mê Kông quốc tế đã thực hiện nghiên cứu chất lượng nước sông Mê Kông và các chi nhánh có kết quả chất lượng nước từ trạm đo trên sông đạt mức độ từ rất tốt cho đến tốt Trong công việc nghiên cứu từ đầu cho đến cưới của dòng sông cho thấy chất lượng nước không bị suy thoái, trừ một số đoạn chạy qua thủ đô Viêng Chăn thấy rằng nồng độ của oxy hòa tan trong nước hơi thấp, độ đục trong nước cao do chịu ảnh hưởng đất bờ sông xói mòn trên đoạn đầu chạy qua thủ đô Viêng Chăn Từ năm 1992 cho đến nay độ dục của đoạn sông chay qua thủ đô Viêng Chăn có khuynh hướng giảm xuống song song với việc xây dựng thủy điện Xayyabuly
Sông Sompoy là một nhánh sông quan trọng của sông Mêkong chạy qua 1 trong
7 vùng đồng bằng lớn nhất của nước, đây là nơi lưu trữ nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, cấp nước cho hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của địa bản huyện Kaisone tỉnh Savannakhet Hiện nay, chính phủ lào nói chung và tỉnh Savannakhet nói riêng đang có xu hương phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng tỉnh Savannakhet thành khu sản xuất sản phẩm nông nghiệp chính của đất nước và sông Sompoy là nguồn cung cấp nước chính cho khu vực sản xuất này
Vùng đồng bằng sông Sompoy có khuynh hướng xây dựng sản xuất lương thực
và sản phẩm của tỉnh, trong thời gian qua chính quyền tỉnh Savannakhet đã khảo sát nghiên cứu sử dụng tài nguyên nước sông Sompoy và các nhánh của nó để phục vụ sản
Trang 8xuất nông nghiệp vùng đồng bằng trên, dân số tập trung trong vùng này phần lớn còn nghèo và xếp vào huyện đang phát triển của chính phủ lào, nhưng ngược lại vùng này lại có diện tích sản xuất nông nghiệp rất rộng phù hợp cho công việc trồng lúa và chăn nuôi
Để đánh giá tổng quát và định lượng chất lượng nước, nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) WQI là một thông số "tổ hợp" được tính toán từ nhiều thông số chất lượng nước riêng biệt theo một phương pháp xác định Thang điểm WQI thường là từ 0 (ứng với chất lượng xấu nhất) đến 100 (ứng với chất lượng nước tốt nhất) Mới đây, tại Việt Nam, ngày 01/7/2011, Tổng cục môi trường đã ban hành Quyết định số 879/QĐ-TCMT về ban hành sổ tay hướng dẫn tính toán chỉ số chất lượng nước áp dụng cho đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt lục địa Việt Nam Với WQI, có thể giám sát diễn biến tổng quát
về chất lượng nước, so sánh được chất lượng nước các sông, thông tin cho cộng đồng
và các nhà hoạch định chính sách hiểu về chất lượng nước, có thể bản đồ hóa chất lượng nước Với những ưu điểm đó, hiện nay WQI được xem là một công cụ hữu hiệu quản lý nguồn nước
Thực tế cho thấy việc sử dùng nước sông Sôm poui mang lại rất nhiều lợi ít cho sản xuất nông nghiệp và lương thực phục vụ con người, nhưng vẫn chưa có tài liệu nào đánh giá về chất lượng nước của nguồn nước này và trong thời gian tới chính phủ nước công hòa nhân chủ nhân dân lào có quy hoạch xây dựng hồ thủy lợi để phúc vụ sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy luận văn, tiến hành đánh giá chất lượng nước sông Sôm Poui với mực tiêu và nội dung sau:
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiện trạng chất lượng nước và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo mức độ an toàn cho mục đích sử dụng tưới tiêu trong nông nghiệp
Trên cơ sở đó, đề tài ―Đánh giá chất lượng nước sông Sompoy và đề xuất giải pháp đảm bảo sử dụng cho sản xuất nông nghiệp huyện Kaisone Phomvihan tỉnh Savannakhet‖ được lựa chọn với mục đích đánh giá tổng quan chất lượng nước sông Sompoy dựa trên phương pháp mới, có nhiều ưu điểm phục vụ công tác quản lý môi trường và đề xuất các biện pháp quản lý môi trường nước trên địa bàn tỉnh
Trang 9số biện pháp và can thiệp ở các cấp khác nhau để đạt được một con sông vững chắc và tưới tiêu an toàn.
Nông nghiệp là ngành sử dụng nước lớn nhất trên thế giới Mức tiêu thụ nước cho tưới tiêu đến 70% và trong một số trường hợp 90% nhu cầu nước trên thế giới Do tình trạng thiếu nước tăng theo thời gian do: (i) nhu cầu lương thực toàn cầu tăng; (ii)
đô thị hoá; (iii) thay đổi khí hậu; (iv) nước chất lượng kém được sử dụng ở một số nước - TMWW dường như là một giải pháp hấp dẫn và bền vững, và do đó người ta hy vọng tái sử dụng sẽ tăng lên trong tương lai gần[2]
Nhu cầu tưới nước là rất cấp thiết, khoảng 7% đất được tưới trên toàn thế giới, tức là 20 triệu ha ở 50 quốc gia, được tưới bằng nước thô hoặc được xử lý một phần, gián tiếp hoặc trực tiếp [3] Tuy nhiên, nhiều nước tiên tiến về nông nghiệp khác lại sử
Trang 10dụng nước thải đô thị đã xử lý Các ứng dụng tái sử dụng nước ở Hoa Kỳ theo thứ tự giảm lượng nước là: (1) tưới tiêu nông nghiệp; (2) tái chế công nghiệp và tái sử dụng; (3) thủy lợi cảnh quan; (4) nạp tiền nước ngầm; (5) sử dụng và giải trí; (6) sử dụng không sử dụng được ở đô thị; và cuối cùng, (7) sử dụng lại được có thể sử dụng được Tại California, Hoa Kỳ khoảng 65% nước được tái chế bằng cách tái sử dụng trong nông nghiệp [4-6] Cũng ở Israel, khoảng 64% nước thải đô thị đã xử lý hiện có được tái chế; tổng lượng khí thải sản xuất hàng năm là 1,7 tỷ m3 [7] Cụ thể hơn, ở Ý việc tái
sử dụng được áp dụng trong 4000 ha và chỉ giới hạn ở các đảo Sicily và Sardinia [8,9]
1.1.2 Hiện trạng chất lượng nước sông và sử dụng nước sông trong nông nghiệp
ở Lào
Lào đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và phát triển tài nguyên thiên nhiên Thủy điện, khai thác mỏ và lâm nghiệp là các lĩnh vực hoạt động chính, trong khi du lịch, nông nghiệp và thủy sản cũng đang phát triển và thay đổi Các khu đô thị cũng đang phát triển do sự thay đổi dân số và phát triển thương mại và công nghiệp Do đó, ngày càng có nhiều áp lực đối với môi trường và nhu cầu ngày càng tăng về quản lý tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững[10]
Nước nói chung có nhiều nguồn tài nguyên nước Tổng tài nguyên nước mặt (bao gồm dòng chảy của sông Mê Kông và các chi lưu của nó) là 55.000 m3, cao nhất ở châu Á Tuy nhiên, chỉ có một ít nguồn nước quốc gia đã được phát triển Tổng dung tích lưu trữ của các hồ chứa lớn ít hơn 3% lưu lượng bề mặt hàng năm[10]
Cho đến thời điểm hiện tại, trọng tâm của chất lượng nước ở Lào đã được theo dõi chung về môi trường, bảo vệ môi trường liên quan đến dự án (EIAs, EMPs, vv) và nhận thức của công chúng và giáo dục Sự phát triển nhanh chóng hiện nay của tài nguyên nước và các tác động đối với các lưu vực sông hiện đang gây ra nhiều rủi ro hơn cho sự suy giảm chất lượng nước Các khuyến nghị đã được đưa ra trong các bối cảnh khác nhau để cải thiện việc giám sát chất lượng nước, mô hình hoá và tăng cường
kỹ thuật khác Tuy nhiên, thay vì giải quyết từng khu vực yếu kém, cần phải có một cách tiếp cận có hệ thống hơn[10]
Trang 111.1.2.1 Tình hình chất lượng nước ở Lào
Phòng thí nghiệm Chất lượng Nước của Bộ Nông Lâm nghiệp cho biết, trong 15 năm theo dõi, chất lượng nước ở Lào nói chung là tốt và không bị ảnh hưởng đáng kể bởi các hoạt động của con người Điều này phù hợp với nghiên cứu Chẩn đoán Sông Mekong của Ủy ban sông Mê Công, cho thấy "nước ở lưu vực sông Mê Kông nói chung có chất lượng tốt, nhưng có những ngoại lệ địa phương"
Tuy nhiên, với áp lực tăng trưởng nhân khẩu học nhanh, phát triển kinh tế và đô thị hóa, chất lượng nước ngày càng xấu đi Các vấn đề chính có thể phát sinh bao gồm:
- Việc lắp đặt các công trình thủy điện gây ra một số vấn đề về chất lượng nước hoặc các rủi ro quan trọng Ở hầu hết các hồ chứa nước sâu ở vùng nhiệt đới, trong vài năm đầu sau khi đổ bể, sự suy giảm oxy sẽ diễn ra ở phần dưới của hồ chứa Tình trạng này chủ yếu là do sự phân tầng theo nhiệt độ và sự phân hủy sinh khối ngập chìm hoặc chất hữu cơ (thực vật và cácbon chứa trong đất) Chất lượng nước ở hạ lưu sông bị ảnh hưởng mạnh bởi sự biến động về chất lượng nước trong hồ chứa Nếu nước tuabin xuất phát từ một bể phóng đơn, thấp từ hồ chứa, nó sẽ có lượng oxy hoà tan thấp (anoxic) và
có thể chứa các hợp chất độc cao (metan, thuỷ ngân, vv)
- Lào có nhiều nguồn tài nguyên khoáng sản và đang ngày càng khai thác các nguồn tài nguyên này Trong một số phần của thăm dò quốc gia, quy hoạch và khai thác thực tế đang được tiến hành Khai thác mỏ sử dụng nước trong cả giai đoạn khai thác quặng và chế biến quặng, mặc dù hiện có ít thông tin về số lượng nước tiêu thụ Việc sử dụng nước không nằm trong giấy phép khai thác Trong một số trường hợp
mỏ, khu vực chế biến và khu vực cất trữ chất thải mỏ (rác thải) gần sông ngòi và hồ chứa
- Sự gia tăng dân số ở các thành phố, thị trấn và làng xã dẫn đến thải chất thải và chất hữu cơ của thành phố vào đường thủy Không có trung tâm đô thị nào được sử dụng hệ thống thoát nước hoàn chỉnh Xử lý và xử lý nước thải đô thị thường không đạt yêu cầu; Hầu hết các hộ gia đình đều dựa vào các bể ngâm để xử lý nước thải Đường cống đô thị đóng vai trò như cống thứ cấp, mang các chất thải công nghiệp và
Trang 12sự rò rỉ tràn vào bể chứa vào mùa mưa Do đó, nước trong hệ thống thoát nước luôn bị
ô nhiễm chất thải từ nhà vệ sinh và coliform từ nước thải bể phốt
- Số lượng của các nhà máy công nghiệp ngày càng tăng đã làm tăng tỷ lệ và nguy cơ ô nhiễm Các ngành công nghiệp chính ở Lào là bột giấy, gỗ, chế biến thực phẩm, các nhà máy sản xuất hàng may mặc, nhà máy xi măng và các hố sỏi Hầu hết các hệ thống này chỉ có hệ thống xử lý nước thải hạn chế để giảm nồng độ và lượng chất thải trong nước xả cuối cùng xuống đường thủy
- Ô nhiễm chất hữu cơ, dinh dưỡng và trầm tích có thể được thải ra từ các vùng nông nghiệp Việc sử dụng hoá chất nông nghiệp ở Lào vẫn còn tương đối thấp và dự kiến sẽ tiếp tục tồn tại trong những năm tới Việc tưới tiêu tăng lên có thể dẫn đến việc gia tăng các chất dinh dưỡng, thuốc trừ sâu và trầm tích, đi vào đường thủy thông qua
hệ thống thoát nước nông nghiệp Sự gia tăng về mức độ tưới tiêu cũng có thể mở ra những vùng mới cho các vec tơ nước (muỗi, ốc sên)
- Ở các vùng miền núi, độ che phủ rừng đã bị giảm do nông nghiệp chằng chịt, chuyển đổi đất đai sang nông nghiệp, xây dựng đường xá và khai thác gỗ Xu hướng chính trong các hệ thống chặt và đốt đã giảm nhanh chóng độ che phủ của rừng do cầu
về đất đai và tài nguyên ngày càng tăng Các chu kỳ quay đã giảm xuống còn 3-5 năm Những vòng quay ngắn này cuối cùng làm suy thoái đất và tăng thời gian dốc đứng tiếp xúc và dễ bị xói mòn nghiêm trọng, dẫn đến lắng đọng, thay đổi mô hình dòng chảy hạ lưu và các ảnh hưởng khác đến hệ sinh thái nước hạ lưu
Nếu không thực hiện các biện pháp phòng ngừa đặc biệt, việc giảm thải bỏ chất thải sẽ gia tăng tần số và tác động chất lượng nước xung quanh Sinh thái học thủy sinh
sẽ bị ảnh hưởng đặc biệt[10]
1.1.2.2 Sử dụng nước sông trong nông nghiệp tại Lào và các nước xung quanh
Nông nghiệp cung cấp sinh kế cho hơn 70% dân số lưu vực sông Mê Kông, với 45% dân số được coi là dưới chuẩn nghèo Mặc dù tỷ lệ tăng dân số vẫn còn cao ở Campuchia và Lào (> 2,25%) nhưng vẫn có những thay đổi đáng kể về nhân khẩu học
và dự kiến sẽ có nhiều thay đổi về di cư ra khỏi vùng nông thôn, đến mức diện tích
Trang 13trồng vào mùa khô ở Ví dụ Thái Lan, Thái Lan, bị giới hạn bởi sự sẵn có của lao động Ngành nông nghiệp thường là điểm đầu tiên can thiệp vào việc nâng cao mức sống, cải thiện sinh kế và giảm nghèo
Các chế độ dòng chảy tự nhiên của sông và các chi lưu của nó dẫn đến mực nước cao trong và sau gió mùa, và mực nước thấp vào mùa khô Trong suốt tuyến NE Thái Lan và Lào, cần có một số hình thức bảo quản nước để cho phép tưới vào mùa khô, và rõ ràng là các khu vực tưới tiêu mùa khô nhỏ hơn đáng kể so với các mùa mưa, ngoại trừ vùng đồng bằng, nơi nông dân có thể thu hoạch 7 vụ lúa mỗi năm một lần
Đất trong lưu vực nói chung là nghèo, có tình trạng dinh dưỡng thấp và các khu vực rộng lớn có tính axit khi không có nước, áp đặt giới hạn cho canh tác cây trồng và
sự phù hợp Có sự đa dạng đáng kể về tính chất và mức độ của hệ thống nông nghiệp ở các vùng khác nhau của lưu vực, được bổ sung bởi sự đa dạng sinh học thiên nhiên và nguồn lợi thủy sản rất phong phú
Canh tác bằng cỏ mưa chiếm diện tích lớn nhất và bị chi phối bởi nền văn hoá lúa gạo, do lượng mưa mùa mưa cao, lũ lụt lớn và khai thác nước các vùng ven sông Mặc dù việc sử dụng nước tưới chiếm hơn 70% lượng sử dụng hiện tại, nhưng ít nước được chuyển hướng cho nông nghiệp trong lưu vực, điển hình là ít hơn 10% tổng lưu lượng hàng năm Nước ngầm có diện tích rộng và không được sử dụng rộng rãi, nhưng tiềm năng sử dụng bền vững không chắc chắn ở nhiều nơi Có những vấn đề tiềm ẩn về
ô nhiễm arsenic, đã được xác định rõ ràng ở đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia,
và có thể sẽ lan rộng hơn
Nói chung, năng suất nông nghiệp thấp ở các khu vực của Thái Lan, Lào và Cămpuchia trong lưu vực, mặc dù nông nghiệp phát triển rộng khắp, đa dạng và thâm canh ở ĐBSCL, với diện tích đáng kể của cây ăn quả và thay thế lúa bằng nuôi trồng thủy sản Sự đa dạng hoá trong các doanh nghiệp đang gặp phải sự biến động về giá cả cực đoan, ví dụ như nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi nó được mở rộng để thay thế cho canh tác lúa gạo Nuôi tôm trong các hệ thống sản xuất ven biển đã có nhiều khả năng không dự báo được Một báo cáo gần đây về nghề cá trong gạo (MRC, 2008) nhận thấy rằng sở hữu đất đai không được chính thức hóa hoặc đảm bảo trong thực tế đối với nhiều người, nếu không muốn nói là nhiều nhất, là nông dân và người
Trang 14sử dụng tài nguyên thiên nhiên ở Lào và Campuchia, và điều này sẽ hạn chế đầu tư phát triển hoặc tăng cường sản xuất
Thái Lan và Việt Nam là hai nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới Campuchia và gần đây là Lào đã lên kế hoạch mở rộng diện tích trồng lúa để trở thành những người chơi trong thị trường xuất khẩu Sự tăng giá gạo thế giới gần đây đã làm tăng vị thế này, nhưng mô hình dài hạn về tăng trưởng và năng suất lúa gạo sẽ được xác định trực tiếp bởi sự tiến triển của giá thế giới và sự phát triển và cải cách trong các kênh tiếp thị gạo ở các nước riêng lẻ
Trong suốt lưu vực, có bằng chứng của một làn sóng nông nghiệp thương mại đang gia tăng bên cạnh việc canh tác nông nghiệp truyền thống ở quy mô nhỏ Cho đến khi tái xuất hiện một "cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu" năm 2007, do giá cả hàng hóa tăng cao, chiến lược sinh kế và thu nhập từ xuất khẩu là những mục tiêu bổ sung cho chương trình nghị sự chính sách nông nghiệp trong khu vực Sự phục hồi của chương trình nghị sự về an ninh lương thực, và ở mức độ nào đó, mối lo ngại về những tác động có thể có của biến đổi khí hậu toàn cầu, đã trở nên quan trọng trong các can thiệp lớn hơn trong tưới tiêu và tư nhân và phát triển nông nghiệp Việc phê chuẩn gần đây của nghị viện về lưới nước đề xuất ở Thái Lan và các đề xuất tương tự cho việc phát triển thủy lợi ở quy mô lớn ở Campuchia là ví dụ rõ ràng về kỹ thuật nước quy mô lớn Lợi ích an ninh lương thực cũng có thể là động lực cho việc đầu tư vào lĩnh vực tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển thủy lợi, với sự quan tâm mạnh mẽ của cả Lào và Campuchia
Tỷ lệ nạn phá rừng gần đây đã báo động, trung bình 0.5% mỗi năm trong thời gian bốn năm, do khai thác gỗ và canh tác nương rãy ở các lưu vực phía trên, các đồn điền nhượng quyền thương mại và phát triển mỏ, đặc biệt là ở Campuchia và Lào
1.2 Phương pháp đánh giá chất lượng nước sông
1.2.1 Phương pháp phân tích, quan trắc
1.2.1.1 Phương pháp thống kê, kế thừa truyền thống
Thu thập tất cả các tài liệu liên quan hiện có Trên cơ sở phân tích, đánh giá sẽ kế thừa những thông tin, số liệu khoa học và các công trình nghiên cứu đã có phục vụ thiết thực nội dung, nhiệm vụ cho luận văn…
Trang 151.2.1.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Tiến hành điều tra khảo sát, đo đạc, phỏng vấn thực tiễn nhằm xác định rõ hiện trạng và các nguồn tác động tới môi trường nước, nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích, cụ thể như sau:
- Khảo sát xác định các nguồn tác động đến chất lượng nước của lưu vực sông Sompoy đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Khảo sát, xác định các vị trí quan trắc phân tích đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt
- Hiện trạng công tác quản lý và bảo vệ môi trường nước trên địa bàn tỉnh
1.2.1.3 Phương pháp đo đạc, lấy mẫu ngoài thực địa và phân tích trong phòng thí
nghiệm:
Theo TCVN và các Tiêu chuẩn của Hệ thống Quan trắc môi trường Toàn cầu (GEMS) hoặc Tiêu chuẩn Hoa Kỳ (Standard Methods for the Examination of Water and WasteWater) nếu TCVN không có
1.2.2 Đánh giá bằng chỉ số WQI
Mô hình WQI được đề xuất và áp dụng đầu tiên ở Mỹ vào những năm 1965 -
1970 và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều bang Từ những năm 70 đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm công trình nghiên cứu phát triển và áp dụng mô hình WQI cho quốc gia hay địa phương mình theo một trong 3 hướng:
(i) Áp dụng một mô hình WQI có sẵn của nước ngoài vào quốc gia/địa phương mình;
(ii) Áp dụng có cải tiến một mô hình WQI có sẵn vào quốc gia/địa phương mình; (iii) Nghiên cứu phát triển một mô hình WQI mới cho quốc gia/địa phương mình
Xu thế (i) và (ii) ít tốn kém về nhân lực, thời gian và tài chính, nên phù hợp với các quốc gia đang phát triển
Hiện nay có trên 30 loại WQI đã được triển khai và áp dụng ở nhiều quốc gia: Ấn
Độ, Canada, Chilê, Anh, Wales, Đài Loan, Úc, Malaysia…
Trang 16WQI được xem là một công cụ hữu hiệu đối với các nhà quản lý môi trường trong giám sát chất lượng nước, quản lý nguồn nước, đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm nước, cung cấp thông tin ô nhiễm nước cho cộng đồng và các nhà hoạch định chính sách Với WQI, dễ áp dụng tin học để quản lý chất lượng nước và bản
đồ hóa chất lượng nước (chẳng hạn, màu hóa chất lượng nước theo các thang điểm xác định)
Với việc phân loại chất lượng nước dựa vào giá trị WQI đã được số hóa tạo ra sự
dễ hiểu đối với các cơ quan quản lý nhà nước và dân chúng về hiện trạng mức độ ô nhiễm nước của một đoạn sông, hồ, đầm Chỉ cần được cơ quan quản lý môi trường hoặc quản lý tài nguyên nước thông báo về giá trị WQI kèm theo giải thích ngắn gọn
về phân loại chất lượng nước theo các giá trị này thì các cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và dân chúng có thể hiểu ngay nguồn nước của sông, hồ nào đó có chất lượng thế nào, có phù hợp với mục đích sử dụng cụ thể nào đó hay không
WQI được cập nhật và công bố hàng tháng đối với nhiều dòng sông ở từng bang, giúp cho việc quản lý và sử dụng nước rất tiện lợi và hiệu quả
1.3 Giải pháp sử dụng an toàn nước sông cho sản xuất nông nghiệp
Việc sử dụng an toàn nước là rất quan trọng trong sản xuất rau quả tươi Nước
có thể di chuyển các vi sinh vật gây hại có nguồn gốc từ phân của động vật hoặc người qua một khu vực rộng lớn hoặc một khối lượng lớn sản phẩm Nguồn nước và làm thế nào và khi nào nước được áp dụng rất nhiều ảnh hưởng đến nguy cơ ô nhiễm cây trồng xảy ra
1.3.1 Nguyên nhân gây ô nhiễm nước sông
1.3.1.1 Nguyên nhân tự nhiên:
Bất cứ một hiện tượng nào làm giảm chất lượng nước đều bị coi là nguyên nhân gây ô nhiễm nước Ô nhiễm nước do mưa, tuyết tan, lũ lụt, gió bão… hoặc do các sản phẩm hoạt động sống của sinh vật, kể cả xác chết của chúng Cây cối, sinh vật chết đi, chúng bị vi sinh vật phân hủy thành chất hữu cơ Một phần sẽ ngấm vào lòng đất, sau
đó ăn sâu vào nước ngầm, gây ô nhiễm, hoặc theo dòng nước ngầm hòa vào dòng lớn
Trang 17Lụt lội có thể làm nước mất sự trong sạch, khuấy động những chất dơ trong hệ thống cống rãnh, mang theo nhiều chất thải độc hại từ nơi đổ rác, và cuốn theo các loại hoá chất trước đây đã được cất giữ
Nước lụt có thể bị ô nhiễm do hoá chất dùng trong nông nghiệp, kỹ nghệ hoặc
do các tác nhân độc hại ở các khu phế thải Công nhân thu dọn lân cận các công trường
kỹ nghệ bị lụt có thể bị tác hại bởi nước ô nhiễm hoá chất
- Ô nhiễm nước do các yếu tố tự nhiên (núi lửa, xói mòn, bão, lụt, ) có thể rất nghiêm trọng, nhưng không thường xuyên, và không phải là nguyên nhân chính gây suy thoái chất lượng nước toàn cầu
- Sự suy giảm chất lượng nước có thể do đặc tính địa chất của nguồn nước ví dụ như: nước trên đất phèn thường chứa nhiều sắt, nhôm nước lấy từ lòng đất thường chứa nhiều canxi…
1.3.1.2 Nguyên nhân nhân tạo
Hiện tại hoạt động của con người đang là nguyên nhân chính gây suy giảm chất lượng nguồn nước Có thể xếp thành các nguyên nhân sau:
* Do các chất thải từ sinh hoạt, y tế
Mỗi ngày có một lượng lớn rác thải sinh hoạt thải ra môi trường mà không qua
xử lý bên cạnh đó dân số ngày càng gia tăng dẫn đến lượng rác thải sinh hoạt cũng tăng theo Ở các nước phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số khoảng 5 % trong khi đó tỷ lệ gia tăng dân số ở các nước đang phát triển là hơn 2 %
Ở Việt Nam với mức tăng dân số nhanh chóng đã đưa nước ta vào hàng thứ 12 trong các quốc gia có dân số đông nhất Thế giới Trong vòng hơn 50 năm gần đây (1960- 2013), dân số nước ta tăng gần 4 lần từ 30,172 triệu người lên 90 triệu người Dân số tăng nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt và phát triển kinh tế tăng lên, các nguồn thải tăng, sự ô nhiễm môi trường nước cũng tăng lên
Nước thải sinh hoạt (Domestic wastewater): là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, cơ quan trường học, chứa các chất thải trong quá trình sinh hoạt, vệ sinh của con người Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu
cơ dễ bị phân hủy sinh học (cacbohydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng (photpho,
Trang 18nitơ), chất rắn Tùy theo mức sống và lối sống mà lượng nước thải cũng như tải lượng các chất có trong nước thải của mỗi người trong một ngày là khác nhau Nhìn chung mức sống càng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao
Ở nhiều vùng, phân người và nước thải sinh hoạt không được xử lý mà quay trở lại vòng tuần hoàn của nước Do đó bệnh tật có điều kiện để lây lan và gây ô nhiễm môi trường
* Do sử dụng các hóa chất, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp quá mức
Các hoạt động chăn nuôi gia súc: phân, nước tiểu gia súc, thức ăn thừa không qua xử lý đưa vào môi trường và các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác: thuốc trừ sâu, phân bón từ các ruộng lúa, dưa, vườn cây, rau chứa các chất hóa học độc hại có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đa số nông dân đều sử dụng thuốc bảo vệ thực vật gấp ba lần liều khuyến cáo Chẳng những thế, nông dân còn sử dụng cả các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm như Aldrin, Thiodol, Monitor Trong quá trình bón phân, phun xịt thuốc, người nông dân không hề trang bị bảo hộ lao động
Hiện nay việc sử dụng phân hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật tràn lan trong nông nghiệp làm cho nguồn nước cũng bị ảnh hưởng Lượng hóa chất tồn dư sẽ ngấm xuống các tầng nước ngầm gây ảnh hưởng tới chất lượng nước
Đa số nông dân không có kho cất giữ bảo quản thuốc, thuốc khi mua về chưa sử dụng được cất giữ khắp nơi, kể cả gần nhà ăn, giếng sinh hoạt Đa số vỏ chai thuốc sau khi sử dụng xong bị vứt ngay ra bờ ruộng, số còn lại được gom để bán phế liệu
* Các chất thải, nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp
Tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng phát triển kéo theo các khu công nghiệp được thành lập Do đó lượng rác thải do các hoạt động công nghiệp ngày càng nhiều và chưa được xử lý triệt để thải trực tiếp ra môi trường hay các con sông gây ảnh hưởng tới chất lượng nước
1.3.2 Giải pháp bảo vệ chất lượng nước sông
Dưới đây là một số biện pháp để ngăn ngựa ô nhiễm nước sông:
Rà soát, bổ sung và hoàn thiện chính sách pháp luật và thể chế về bảo vệ môi
Trang 19Đối với luật bảo vệ môi trường đang trong giai đoạn rà soát, sửa đổi cũng cần xem xét cụ thể để bổ sung các nội dung còn thiếu để bảo vệ môi trường nước lưu vực sông
Bổ sung các quy định về sử tham gia của cộng đồng, cung cấp và phổ biến thông tin trong quan lý và bảo vệ môi trường nước vào các văn bản dưới luật, hướng dẫn thi hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Đồng thời, cần xem xét, bổ sung các văn bản hướng dẫn quy định cụ thể đối với công tác điều tra, thống kê
và đánh giá nguồn thải, đặc biệt là nguồn thải tại các lưu vực sông
Ban hành các quy chế bảo vệ môi trường cho từng lưu vực sông trong đó nên rõ các vấn đề môi trường và nguyên tắc ứng xử của các bên liên quan cụ thể, bao gồm các
cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư
Tiếp tục rà soát và bổ sung hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến môi trường nước Xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy đình khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiểu quả, tổng hợp và đa mục tiêu tài nguyên nước
Điều chỉnh phân công phân nhiệm, củng cố hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường nước
Cần rà soát lại chức năng nhiệm vụ của các Bộ ngành liên quan để có những b iện pháp cụ thể khắp phúc những chồng chéo trong phân công phân nhiệm quản lý và bảo vệ môi trường nước Một trong những giải pháp cần được xem xét, đó là việc kiện toàn mô hình tổ chức và hoạt động của các Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông, cụ thể như sau:
Thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về BVMT các LVS do phó thủ tướng chính phủ làm Ban chỉ đạo, Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường làm phó trường Ban chỉ đạo; các Ủy viên bao gồm: Ủy viên thường trực là thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; các ủy viên khác là thứ trưởng các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công thương, Khoa học và Công nghệ, đại diện lãnh đảo Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên địa bàn các lưu vực sông (Xe Bang Pai, Xe Pon, Xe Tha Muok, )
Trang 20Ban chỉ đạo Nhà nước có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giải quyết các vấn đề, nhiện vự liên quan đến BVMT LVS lớn và liên tỉnh trong phạm
vi toàn quốc Giúp cho Ban chỉ đạo Nhà nước là Văn phòng Ban chỉ đạo do Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập
Xây dựng và triển khai thực hiện Quy hoạch LVS, Quy hoạch phân vùng, khai thắc sử dụng nước
Quy hoạch LVS cần được phê duyệt cho mỗi LVS Quy hoạch này sẽ là định hướng cho quản lý và bảo vệ môi trường nước nói chung, môi trường nước LVS nói riêng Các chiến lược, kế hoạch và phát triển của các ngành; chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, các quy hoach sử dụng đất và quy hoạch kế hoạch sử dụng tài nguyên lãnh thổ khác nhau trên LVS sau đó sẽ phải được điều chỉnh cho phù hợp với Quy hoạch quản lý tổng hợp LVS
Cùng với đó, cần xây dựng các quy hoạch phân vùng khai thắc sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải một các hệ thống và đồng bộ đối với từng LVS Đây là cơ
sở để có sự điều chỉnh và thống nhất các quy hoạch phát triển của các ngành trong khai thác, sử dụng môi trường nước Và đó cũng là cơ sở cho việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước dựa trên đánh giá và khả năng tự làm sạch và quy chuẩn cụ thể tại mỗi đoạn sông trên LVS
Quy hoạch cần được xây dựng theo cách tiếp cận có sự tham gia của nhiều bên, dưới tham vấn rộng rãi và có sự đồng thuận cao của cộng đồng trước khi được phê duyệt Cơ chế quản lý và triển khai quy hoạch phải dựa trên cách tiếp cận quản lý tổng hợp, chú trọng vấn đề điều phối, phối hợp đa ngành, liên địa phương, sự tham gia đẩy
đủ của các bên liên quan, đảm bảo tính khả thi, tính hiệu quả của cơ chế giảm sát, đánh giá và cưỡng chế việc quy hoạch
Một trong những giải pháp thực hiện quy hoạch là tăng cường năng lực của các
cơ quan, tổ chức và các bên liên quan, đặc biệt là trong khả năng thực hiện các hoạt động phối hợp liên ngành, liên địa phương
Tăng cường các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường, công tác thanh tra,
Trang 21Đẩy mạnh các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường ở các cấp, đặc biệt là việc kiểm soát ô nhiễm nước tai các LVS nhằm phòng ngừa, khống chế ô nhiễm xảy ra, hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý, nhằm giảm thiểu hoặc loại trừ tối
đa tác động tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
Tập trung chỉ đạo hoàn thành mục tiêu xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là các cơ sở nằm trên LVS Tiếp tục kiểm tra, phát hiện các nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong các LVS để đưa vào diện xử lý
Ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm môi trường mới Nghiêm cấm việc xây dựng các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiem trọng và có nguy cơ gây sự cố môi trường Tùy theo từng LVS, hạn chế đầu tư một số loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao
Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra môi trường một cách thường xuyên Có biện pháp buộc các cơ sở sản xuất thực hiện chương trình tự quan trắc và các quy định khác theo luật BVMT
Thức đẩy việc triển khai các biện pháp tổng thể khả thi nhằm từng bước hạn chế
ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt của các đô thị Tại các thành phố và đô thị lớn, cần sớm xây dựng để đưa vào vận hành các hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung song song với việc đầu tư các công trình xử lý tại nguồn ở ngay các khu dân cư mới
Tăng cường công tác quan trắc, giảm sát môi trường nước mặt, đặc biệt là việc triển khai hệ thống quan trắc tự động liên tục môi trường nước mặt Chú trọng nghiên cứu, phát triển các công nghệ quan trắc hiện đại, tiên tiến
Áp dụng các công cụ kinh tế, giải pháp khoa học và công nghệ trong BVMT nước
Sửa đổi và ban hành phí xả nước thải theo nguyên tắc người gây ô nhiếm phải trả tiền; phí xả nước thải phải bằng hoặc lớn hơn chi phí xử lý ô nhiễm
Đánh giá tổng thể tác động của các công trình thủy lợi, thủy điện, các hoạt động dân sinh nhằm ngăn chặn, giảm thiểu tinh trạng sụt lở, bồi lắng các dòng sông và đề ra các biện pháp nhằm khối phúc lại cảnh quan, sự căn bằng cho các dòng sông
Trang 22Sự tham gia và trách nhiệm của cộng đồng trong quản lý và BVMT nước sông
Xây dựng các cơ chế cụ thể để thu hút sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong đó có cộng đồng dân cư trong các quá trình lập Quy hoạch, kế hoạch và triển khai các biên pháp BVMT nước sông
Tăng cường vài trò của các cộng đồng trong quản lý và sử dụng nguồn nước Công khai hóa các thông tin, dữ liệu liên quan đến tình hình ô nhiễm môi trường nước trên các phương tiện thông tin đại chúng
Thúc đẩy các hợp đồng hợp tác quốc tế trong quản lý và BVMT nước sông, đặc biệt đối với vấn đề xuyên bien giới
Xây dựng các cơ chế hợp tác để ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường nước của các dòng sông, LVS liên quốc gia
Mở rộng hợp tác quốc tế về BVMT nước nói chung, LVS nói riêng, trong phạm
vi khu vực dưới hình thức thiết lập các chương trình, dự án đa phương và song phương Đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ nhằm tranh thủ sự hỗ trỡ dưới mọi hình thức, cũng nhu các kinh nghiệm, kỹ thuật trong BVMT nước sông
1.4 Tài nguyên nước và chất lượng nước
Tài nguyên nước mặt: nguồn nước mặt của Savannakhet chủ yếu do hệ thống sông ngoài cung cấp, Savannakhet co 1 con sông lớn là sông Mê kông và sông Xe Bặng Hiềng và sông Xê Pôn …
Sông Mê Kông: Sông Mê Kông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy qua Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia và đổ ra Biển Đông ở Việt Nam
Tính theo độ dài đứng thứ 12 (thứ 2 tại châu Á), còn tính theo lưu lượng nước đứng thứ 10 trên thế giới (lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 triệu m³) Lưu lượng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000 m³/s Lưu vực của nó rộng khoảng 795.000 km² (theo số liệu của Ủy hội sông Mê Kông) hoặc hơn 810.000
Trang 23cao tỉnh Thanh Hải, băng qua Tây Tạng theo suốt chiều dài tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia trước khi vào Việt Nam Các quốc gia kể trên (trừ Trung Quốc) nằm trong Ủy hội sông Mê Kông
Giao thông bằng đường thủy trên sông Mê Kông gặp nhiều khó khăn do dòng chảy bị thay đổi nhiều theo mùa, các đoạn chảy xiết và các thác nước cao So với tiềm năng to lớn nếu được khai thác đúng mức, hiện nay, chỉ một phần nhỏ của sông được dùng trong việc dẫn thủy nhập điền và tạo năng lực thủy điện Tuy nhiên lưu lượng và nhịp độ nước lũ ban phát nhiều lợi ích: biên độ dao động cao (sai biệt khoảng 30 lần giữa mùa hạn và mùa nước lũ) đem lại nhiều tốt đẹp cho lối canh tác ruộng lúa ngập cho nhiều vùng rộng lớn
Sông Xe Bặng Hiềng bao gồm hầu hết các tỉnh Savannakhet, chảy từ biên giới Lào-Việt Nam đến sông Mê kông cách Savannakhet 90 km về phía hạ lưu Sông có chiều dài 338 km và diện tích lưu vực là 19.223 km2 Các chi lưu chính của nó là Xe Lanong, Xepon, Xethamouk, Xe Xangxoy và Xechamphone Lưu lượng trung bình hàng năm là 538 m3/s, lượng xả tối đa trung bình 4.097 m3/s, và đỉnh lũ 8.500 m3/s vào năm 1974 Lưu lượng trung bình tối thiểu là 27 m3/s (WREA, 2008)
Sông Xê Pôn: Xê Pôn là con sông của Lào và Việt Nam Nó bắt nguồn từ phía Tây dãy núi Trường Sơn trên địa bàn muang Sa Mouay (Sa Muộn) và muang Nong, tỉnh Savannakhet của Lào, đi về hướng Tây Bắc vào địa phận huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, Việt Nam
Trước khi vào hẳn trong lãnh thổ Lào ở Lao Bảo, nó có một đoạn chảy dọc biên giới hai nước Tại giữa trung tâm của sông là mốc biên giới của hai nước, một nửa bên này sông là Việt Nam và nửa kia là nước Lào Từ Lao Bảo sông Xê Pôn chảy về hướng Tây đến thị trấn Xê Pôn của muang Sepone, Savannakhet, đổ nước vào sông Sê Banghiang, gom nước cho sông Mê Kông
Xê Pôn là con sông có mức nước không sâu lắm, chỉ khoảng 1m Xê Pôn cũng
là huyết mạch giao thông đường thủy giữa Lào và Việt Nam Người dân Lao Bảo và Lào dùng nó làm con đường vận chuyển hàng hóa và giao thương với vùng biên giới này Sông Xê Pôn có mức nước không sâu, dòng nước ở đây rất trong trẻo và không bị
Trang 24ô nhiễm nguồn nước vì không có khu công nghiệp nào ở gần đó Ngoài ra, Xê Pôn có cảnh quan rất đẹp, hòa quyện cùng với rừng núi ở nơi đây, nối liền huyện Hương Hóa
và tỉnh Savannakhet của Lào Hàng ngày luôn có thuyền máy tấp nập chạy qua lại giữa hai nơi ấy để chở hàng và giao thương
1.5 Tầm quan trong của lưu vực sông
Sông Sompoy đóng vài trò rất quan trong trong công việc sản xuất nông nghiệp, chính phủ lào cũng như lãnh đào tỉnh Savannakhet đang xây dựng dự án hồ thủy lợi trên khu vực sông Sompoy
Khu vực này có thế mạnh xây dựng khu vực sản xuất lương thức và sản phẩm nông nghiệp của tỉnh, trong những năm gần đây tỉnh Savannakhet cố gắng nghiên cứu
để sử dụng thế mạnh tiềm năng của sông Sompoy và các nhánh của nó phục vụ công việc sản xuất nông nghiệp trong phạm vi của huyện, mà có dân số rất đông phần lớn còn nghèo và còn thuộc loại thành phố đang phát triển của chính phủ, nhưng lại có diện tích sản xuất nông nghiệp rất rộng và bằng phẳng phủ hợp cho công việc sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi Việc xây dựng kế hoạch để phát triển dự án này, đặc biệt Cục Thủy lợi đã tập chung vào công việc nghiện cứu, khảo sát - thiết kế, xây dựng và quản lý hiệu quả sử dụng nước, trong giai đoạn đầu để chứng minh thế mạnh về mặt lưu lượng nước, địa điểm, hồ chứa nước và diện tích tưới
Trang 25CHƯƠNG II – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng nước lưu vực sông Sompoy chảy qua địa bàn huyện Kaisone tỉnh Savannakhet
- Bộ chỉ số WQI
- Các giải pháp quản lý môi trường nước ở địa bàn nghiên cứu
2.1.2 Đặc điểm khí hậu, ký tượng thủy văn
2.1.2.1 Đặc điểm khí hậu
Tỉnh Savannakhet có đặc điểm là khí hậu gió mùa, gió mùa tây nam có thời
kỳ mưa ướt kéo dài (tháng 5 đến tháng 10) và khô (tháng 11 đến tháng 4) Nó có khí hậu nhiệt đới ẩm nhiệt đới gió mùa theo phân loại khí hậu Köppen với một ít đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới vì thành phố nằm cách đường xích đạo 16,5 ° Tháng nóng nhất là tháng 4 (trung bình = 33.98 ° C) với nhiệt độ dao động từ 16.60 ° C đến 40.20 ° C, trong khi tháng lạnh nhất tháng 12 (trung bình = 27.33 ° C) với nhiệt
độ từ 6.00 ° C đến 30.30 ° C Sự thay đổi nhiệt độ ngày đêm lớn hơn vào mùa đông
do điều kiện khô Thành phố gặp mùa khô trong những tháng mùa đông và mùa mưa vào những tháng hè do sự kích hoạt của gió mùa
a Về chế độ nhiệt:
Savannakhet là tỉnh nóng nhất và khô nhất của Lào: nhiệt độ trung bình là 30,30 ° C, cao hơn khoảng 2 độ so với mức trung bình của cả nước Nhiệt độ trung bình cao nhất là 36.49 ° C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 13.76 ° C và nhệt độ cao nhất vào tháng Tư khoảng 40.20 ° C
Bảng 2.1 Nhiệt độ trung bình và tổng số giờ nắng tại Savannakhet
NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRUNG BÌNH THÁNG ( 0
Trang 26TỔNG SỐ GIỜ NẮNG TRUNG BÌNH NĂM VÀ THÁNG (giờ)
Xe no 7.76 7.41 6.90 7.16 4.95 3.48 2.73 3.40 5.37 7.63 8.07 7.93 6.07 78.86 Tha khek 8.57 8.36 7.69 7.77 5.92 4.00 4.49 4.39 5.17 7.29 8.21 8.45 6.69 87.00 Savan 8.45 8.13 7.37 7.18 6.35 5.18 5.34 4.25 5.06 7.03 7.95 7.71 6.67 86.67
(Nguồn: Trạm khí tượng Savannakhet, 2010)
b Về chế độ mưa:
Sông Sompoy đạt ở vùng khí hậu gió mùa, gió mùa tây nam có thời kỳ mưa ướt kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 lượng mưa đạt 85% của tổng lượng mưa trong năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có lưu lượng nước mưa đạt 15% của tổng lượng mưa trong năm Tháng 8 thường là tháng mưa nhiều nhất, số lượng mưa trung bình năm của trạm đo xeno là 1447 mm/năm và trạm đo của tỉnh Savannakhet cũng tương đương nhau là 1531,3 mm/ năm Số ngày mưa trung bình là 103 ngày, thấp nhất 79ngày và nhiều nhất là 124 ngày riêng huyện Kaisone Phomvihan số lượng mưa trung bình là 120 mm/tháng hoặc 1,445 mm/năm
Bảng 2.2: Lưu lượng nước mưa trung bình năm (mm/năm) của trạm đo nước mưa
Trang 27Bảng 2.3: Lưu lượng nước mưa trung bình năm (mm/năm) của tram đo nước mưa
c Tốc độ gió và hướng gió:
Trên địa bàn Savannakhet, trong năm có 2 mùa chính, mùa Mưa và mùa Hè với hướng gió Tây Nam Tốc độ gió trung bình trong các tháng khoảng từ 1,28 đến 1,91 m/s Tốc độ gió lớn nhất dao động trong khoảng từ 6.00 đến 56.00 m/s
Bảng 2.4: Tốc độ gió trung bình năm và tháng
TỐC ĐỘ GIÓ TRUNG BÌNH NĂM VÀ THÁNG (m/s) TrD/Th 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB TỔNG
Xe no 1.60 1.39 1.29 1.34 1.48 1.33 1.20 1.37 1.50 1.57 1.73 1.87 1.47 17.67 Tha khek 1.22 1.45 1.26 1.36 1.15 1.20 1.20 1.42 1.10 1.17 1.41 1.47 1.28 15.41 Savan 2.23 1.88 1.80 2.08 2.10 1.90 1.75 1.90 1.68 1.20 2.23 2.28 1.91 23.03
(Nguồn: Trạm khí tượng Savannakhet, 2010)
Trang 28Bảng 2.5: Tốc độ gió lớn nhất trong năm và tháng
TỐC ĐỘ GIÓ LỚN NHẤT TRONG NĂM VÀ THÁNG (m/s) TrD/T
Cao nhất
Xe no 4.00 6.00 5.00 6.00 6.00 6.00 4.00 4.00 5.00 4.00 6.00 6.00 6.00 6.00 Tha
Trung bình 56.5 57.5 59 61 61.5 70.5 72.5 72.5 67.5 61.5 62.5 57.5 56.5 Cao nhất 85 89 96 98 94 98 97 100 100 100 98 99 98 Thấp nhất 13 15 18 22 23 41 45 45 35 23 25 15 13
(Nguồn: Trạm khí tượng Savannakhet, 2010)
2.1.2.2 Thủy văn
Sông Sompoy thuộc loại sông nhỏ nhưng có nước chảy tràn suất trong năm,
có lưu lượng nước khá lớn trong mùa Mưa khiến cho bị lũ lụt trong một số năm và
có lưu lượng nước ít trong mùa Hè, sông Sompoy bao gồm hai sông chính như sông Sompoy và sông Nhang
Tuy nhiên, tỉnh Savannakhet có rất nhiều nguồn tài nguyên nước Có nhiều con sông (Xẻ Bằng Fai, Xe Nou và Xẻ Bằng Hiêng) và các dòng suối chảy quanh tỉnh, phục vụ mục đích nước uống và tưới tiêu cho vùng này
Các con sông lớn hình thành một số ranh giới của tỉnh Savannakhet: Sông Mekong tạo thành ranh giới phía tây và ranh giới quốc tế với Thái Lan Các bộ phận của sông Xe Bang Fai (239 km) bắt nguồn từ Sông Tây Nguyên và Sông Nê Nou tạo thành biên giới giữa các tỉnh Khammouane và Savannakhet Sông Xe Bàng Hiền (338 km) cũng bắt đầu ở vùng Cao nguyên Trắng và đổ xuống sông Mê Công
Trang 29Lưu vực sông Xe Bặng Hiềng bao gồm hầu hết các tỉnh Savannakhet, chảy
từ biên giới Lào-Việt Nam đến sông Mêkông cách Savannakhet 90 km về phía hạ lưu Sông có chiều dài 338 km và diện tích lưu vực là 19.223 km2 Các chi lưu chính của nó là Xe Lanong, Xepon, Xethamouk, Xe Xangxoy và Xechamphone Lưu lượng trung bình hàng năm là 538 m3
/s, lượng xả tối đa trung bình 4.097 m3/s,
và lũ đỉnh lũ 8.500 m3/s vào năm 1974 Lưu lượng trung bình tối thiểu là 27 m3
/s (WREA, 2008)
Dòng chảy sông Mekong ở Savannakhet đã được ghi nhận liên tục từ năm
1929 với sự gián đoạn nhỏ Chiều sâu lớn nhất được ghi nhận tối đa là 49.100 m3/s với mực nước cao nhất khoảng 138.66 m so với mực nước biển vào năm 1991
Các sự kiện cực đoan của lũ lụt
Kaysone Phomvihane gặp lũ lụt và hạn hán trên cơ sở hàng năm Vị trí của
nó nằm bên bờ sông Mekong làm cho nó dễ bị lũ lụt gia tăng từ bờ sông tràn ngập
và hậu thuẫn của lũ lụt dọc theo các chi lưu và các hành lang thoát nước kết hợp với lượng mưa thâm canh thường xuyên trên thị trấn và lưu vực sông Nó cũng chịu hạn hán và bão nhiệt đới
Ban Thahe & Xayamoungkhoun và Ban Thahe bị ảnh hưởng nặng nề bởi các trận lũ năm 1995-1996 và 1997-1998 Vào năm 2005, năm 2008 và năm 2011, Sông Mekong tràn ngập bởi các cửa ngập lũ miền Bắc và miền Nam không hoạt động và các đường ống dẫn nước trong các kênh thoát nước tự nhiên Lũ lụt ở Kaysone Phomvihane trong năm 2011 ảnh hưởng đến 23 làng, 318 hộ gia đình và 91% (419 ha) ruộng lúa (Nguồn: Kaysone Phomvihane, Văn phòng Nông Lâm, 28-9-2011)
Sự ngập lụt cục bộ trong tình trạng thoát nước kém ở khu vực Senna và quanh chợ Đào Heung dẫn đến lũ lụt 30-50 cm mỗi khi trời mưa nhiều Tương tự, kênh thoát nước của Huay Kilamang tràn ngập khi nước tràn qua các cống bịt và bị chặn
Hạn hán đã trải qua những năm 1984, 1994, 1995, 1996, 1988, 2007, 2010
và 2012 trong cả mùa khô và mùa mưa Trong năm 2007, nước mặt sông Mêkong trung bình thấp hơn mức đo cực tiểu (125.022 m) ở 124.842 m Trong năm 2010 mực nước trung bình của Mêkong thậm chí còn thấp hơn ở mức 124.422 m
Nhìn chung, điều kiện khí hậu - thuỷ văn của tỉnh Savannakhet tương đối thuận lợi về các mặt để có thể phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững,
Trang 30thuận lợi cho phát triển các ngành nông, lâm nghiệp nói chung Tuy vậy, vào mùa mưa với lượng mưa tập trung lớn thường xảy ra tai biến lũ lụt ở khu vực dọc theo lưu vực sông Sompoy và sông Nhang
2.1.3 Kinh tế - xã hội
Kaysone Phomvihane là một thị trấn biên giới làm trung tâm chế biến nông nghiệp lớn và là điểm đến nổi bật của các ngành sản xuất và doanh nghiệp Vị trí chiến lược của nó trên sông Mekong từ thị trấn Mukdahan ở Thái Lan tạo ra cơ hội đáng kể cho các hoạt động kinh tế và đầu tư tăng lên Với sự gia tăng giao dịch qua biên giới và giao lưu thương mại, thị trấn đang nổi lên như một trung tâm kinh tế năng động cho đầu tư của khu vực công và tư nhân
Sự phát triển nhanh chóng của dân số đô thị và sự mở rộng của trung tâm thị trấn tạo ra những thách thức phức tạp về môi trường và xã hội Với nguồn lực hạn chế, chính quyền địa phương đang gặp khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về cơ sở hạ tầng đô thị thiết yếu và đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế
đô thị hoá
2.1.3.1 Đặc điểm dân số
Theo dữ liệu điều tra dân số tháng 3 năm 2015, tổng dân số của toàn quận Kaysone Phomvihane là 112.559 người Huyện có dân số lớn nhất của tỉnh Savannakhet So với dân số năm 2010 là 78.900 người, trong 5 năm, dân số của huyện đã tăng hơn 33.600 người
Theo FYSEDP, dự kiến dân số của thị trấn vào năm 2030 sẽ tăng khoảng 37.000 người Dân số của thị trấn và khu vực đặc biệt dự kiến sẽ ở mức 128.200 cho đến năm 2030.Tổng số hộ gia đình là 12.252, cho một hộ gia đình có quy mô trung bình ở thị trấn là 5.8 Về phân bố giới tính, dân số nữ 38.914 và chiếm 51% tổng dân số cao hơn một chút so với nam giới 37.991 (49%) Sự phân bố này là xu hướng dự kiến trong vài thập kỷ tới
Thị xã có mật độ dân số tương đối cao 41,6 người / km2 so với mật độ dân
số toàn huyện là 17 người / ha, khu vực trung tâm thành phố cũ là khu vực đông dân nhất trong khu vực thị trấn
Trang 31Bảng 2.7: Dự báo dân số ở Kaysone Phomvihane
NĂM DÂN SỐ TRONG THỊ TRẤN DÂN SỐ TRONG SSEZ TỔNG DÂN SỐ
2.1.3.2 Hoạt đông kinh tế
Với sự hiện diện chiến lược dọc theo hành lang vận tải, Kaysone Phomvihane đã nổi lên như là đầu mối cho sự phát triển của các ngành công nghiệp
và Trường đại học đã được thành lập ở tỉnh Savannakhet Ngành dịch vụ, ngành công nghiệp và thương mại là
nguồn thu nhập chính cho người dân địa phương làm việc trong các cơ sở kinh doanh tư nhân và các cơ sở của chính phủ
Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội thứ tám của Savannakhet 2020), GDP của Kaysone Phomvihane trong giai đoạn 2006 - 2014 có xu hướng tăng lên từ 9,4% trong năm 2006 đến 9,75% trong năm 2010 Trong đó, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và dịch vụ có xu hướng giảm xuống từ 20,9% trong năm 2006 đến 19,1% vào năm 2014 đối với ngành nông lâm kết hợp, từ 48,2% trong năm
(2016-2006 xuống 45,6% vào năm 2014 đối với ngành dịch vụ, trong khi ngành công nghiệp nhỏ tăng từ 30,8% năm 2006 lên 35,5% năm 2014
Bảng 2.8: GDP trong giai đoạn 2006-2009 và ước tính cho giai đoạn 2010-2014
Năm
06-07 07-08 08-09 09-10 10-11 11-12 12-13 13-14 Tăng trưởng
GDP (%) 9.41 9.68 9.75 9.82 9.97 10.85 10.89 Nông lâm
nghiệp (%) 20.9 20.9 20.7 20.5 20.3 20.0 19.6 19.1 Công nghiệp-
Thương
mại-Thủ công (%) 30.8 31.2 31.8 32.3 32.9 33.4 34.3 35.1 Dịch vụ (%) 48.2 47.8 47.4 47.0 46.6 46.7 46.1 45.6 GDP bình quân
Trang 32Mặc dù ngành nông nghiệp đang suy giảm, nhưng gạo vẫn là sản phẩm nông nghiệp chiếm ưu thế trong Kaysone Phomvihane Sản xuất lúa gạo được thực hiện trên diện tích 14.681 ha Ngoài sản xuất lúa, khu vực này đang trở thành khu vực trồng cao su và bạch đàn; Có 180 ha trồng cao su và 105 ha trồng bạch đàn
Khoảng 60% hộ gia đình trong thành phố tham gia vào các hoạt động trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ và phản ánh sự tăng trưởng của ngành thương mại cấp trung bình - lớn và các doanh nghiệp thương mại trong thành phố Hơn một phần ba (38%) hộ gia đình vẫn đang tham gia vào sản xuất nông nghiệp, bao gồm nông dân nhỏ, sản xuất lúa gạo, nuôi gia súc, gia cầm và nuôi cá
Bảng 2.9: Ngành kinh tế chính trong Kaysone Phomvihane
Dịch vụ và cơ sơ hạ tầng
Trong thị trấn có 40 trường mẫu giáo, 71 trường tiểu học, 21 trường trung học và một trường đại học Về tiếp cận các dịch vụ và cơ sở chăm sóc sức khoẻ thị trấn cung cấp bệnh viện, 13 trung tâm y tế, 34 nhà thuốc và 39 phòng khám tư nhân
Có ba chợ / trung tâm thương mại lớn và hai chợ nhỏ hoạt động trong thị trấn Các thị trường này là các cửa hàng bán rau, trái cây, thịt và hàng gia công tại địa phương Tại trung tâm thị trấn có 3.226 thương mại và cửa hàng đăng ký tạo ra thu nhập theo thứ tự của 9.700.000.000 kip
Dịch vụ vận tải và phương tiện
Kaysone Phomvihane có thể tiếp cận bằng đường bộ, đường hàng không và đường thủy Việc hoàn thành Cầu Hữu nghị sông Mê Kông lần thứ hai sẽ giúp bạn
dễ dàng tiếp cận với các công ty giao nhận, vận chuyển hành khách và xe buýt đến
Trang 33cấp các đường dẫn dễ dàng đến Việt Nam qua NR9, có xe buýt đưa đón đến Mukdahan (Thái Lan) và Quảng Trị (Việt Nam) Trạm xe buýt ở trung tâm thị trấn cung cấp các tuyến quốc gia (Vientiane, Pakse, Thakek và các tỉnh khác ở Lào) và các dịch vụ quốc tế cho các chuyến đi đến các vùng khác của Lào và đến Thái Lan
và Việt Nam (Quảng Trị, Đà Nẵng, Thua Tien Hue va Ha Noi) Có 12 xe buýt đưa đón mỗi ngày từ Mukdahan đến Savannah Casino
Kaysone Phomvihane có một sân bay quốc tế nằm ở phía Nam của thị trấn với tổng diện tích 104 ha, và một đường băng dài 1.650 m Các chuyến bay nội địa qua Savannakhet giữa Vientiane và Pakse hoạt động ba lần một tuần, và các chuyến bay quốc tế đến Siem Reap (Campuchia) và Bangkok (Thái Lan) cũng hoạt động ba lần một tuần
sở xử lý và cung cấp nước đã bị suy giảm do năng lực tài chính và tài nguyên cho Vận hành và Bảo trì còn hạn chế
Thoát nước và vệ sinh
Hệ thống vệ sinh bao gồm việc điều trị cá nhân trong từng hộ gia đình, các tòa nhà và cơ sở kinh doanh sử dụng nhà tiêu xả hoặc nhà vệ sinh xả ra bể tự hoại
và ngâm hố (tràn vào hệ thống thoát nước) Trong năm 2005, khoảng 71% số hộ gia đình ở Kaysone Phomvihane đã được sử dụng nhà vệ sinh; Đến năm 2010 con số này đã tăng lên 97%
Nước thải từ các mục đích sử dụng khác bao gồm xáo trộn, giặt đồ và chuẩn
bị thức ăn chủ yếu thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước mưa mà không cần xử lý Không có bẫy bôi trơn / bùn cát lắp đặt để xử lý dầu mỡ từ các hộ gia đình hoặc các doanh nghiệp thương mại nhỏ Các ngành công nghiệp nhỏ thường thải chất thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước sau khi xử lý đơn giản thông qua bể chứa Việc lắp đặt không đầy đủ đường ống thoát nước từ bể tự hoại là gây rò rỉ nước thải do
đó làm ô nhiễm đất và nước ngầm
Trang 342.1.4 Đa dạng sinh học
Trong phạm vi khu vực sông Sompoy, tài nguyên thiên nhiên trước đay rất phong phú như rừng thiên nhiên, các loại sinh vật sinh vật, có rất nhiều ao, đầm lầy
và hồ Hiện nay, một số tài nguyên thiên nhiên đã giàm xuống chằng hạn như rừng
tự nhiên và các loại sinh vật vì bị phá hủy từ chặt gây phá rừng của người dân trong địa phương tác động đến lưu lượng nước trong các sông giảm xuống khiến cho tần
số hạn hán và lũ lụt càng ngày càng tăng lên
Trong tương lai, chính phủ lào nói chung và lãnh đào tỉnh nói riêng sẽ xây dựng hồ thủy lợi để đảm bảo sản xuất lương thực o trong khu vực này, dự án này sẽ mang lại sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học, ngoài ra có thể phúc hồi hệ sinh thái và môi trường
2.1.5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Lựa chọn trên cơ sở thực tế, đoạn sông chảy qua khu dân cư và khu vực sản xuất nông nghiệp của huyện Kaisone tỉnh Savannakhet
Trang 35Sông Sompoy là một trong những chi nhành nhỏ của sông mê kông, số lượng nước rất lớn trong mùa Mưa thỉnh thoảng lũ lụt trong một số năm nhưng lại có ít số lượng nước vàn mùa Hè, sông Sompoy bao gồm hai sông chính như sông Sompoy
và sông Nhang Sông Sompoy đã được chọn làm sông phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của địa bàn huyện Kaisone tỉnh Savannakhet, đa số người dân làm nông nghiệp và một số trang trại, gạo trồng phần lớn là loại nếp địa phương và loại cải tạo, loại cải tạo gồm 20% bắt đầu trồng vào tháng sáu và thu hoạch cuối tháng 10 đến tháng 11, một số nơi không thể thu hoạch được bợi ảnh hưởng của nước lũ trong một số năm Trong mùa khô người dân hay trồng thực vật cho bột, râu, dưa, ngô và các loại đậu bắt đầu trồng vào tháng 12 và thu hoạch vào tháng 4, phần lớn người dân bị hạn chế trồng trọt trong mùa hè vì không có nguồn nước đáp ứng trong công việc sản xuất Nguồn nước sử dụng tưới tiêu trong nông nghiệp trong mùa hè phần lớn sử dụng nước từ các Đập nhân tạo trong sông Sompoy
Trước đây chất lượng nước của sông Sompoy rất tốt, nhưng hiện nay chất lượng nước bị suy giảm do công việc xây dựng các nhà máy, sử dụng trong nông nghiệp và xả nước thải vào nguồn nước Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nước là nước thải từ các nhà máy sẩn xuất và trang trại Căn cứ vào tài liệu nghiên cứu trong sông Mê Kông do ủy ban sông mê kông quốc tế đại diện, ―nói chung chất lượng nước trong sông mê kông và các nhánh vẫn còn tốt, trừ trong một
số nơi‖ Tuy nhiên, bợi áp lực từ việc phát triển nhành chóng của dân số, phát triển kinh tế - xã hội và độ thị dã khiến cho chất lượng nước bị suy giảm Trong năm
2004, Đoàn ủy ban sông mê kông quốc tế đã tổ chức nghiên cứu chất lượng nước trong sông mê kông và các nhánh có kết quả như, nói chung chất lượng nước đo từ các trạm đo trong sông mê kông đạt mức từ rất tốt cho đến tốt Hiện nay, do sự phát triển của dân số sống trong trong khu vực này tăng lên và xây dựng nhà máy sản xuất mới đã khiến cho chất lượng nước sông Sompoy càng ngày càng bị suy giảm
Do đó, việc đánh giá hiện trạng chất lượng nước và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo mức độ an toàn cho mục đích sử dụng tưới tiêu trong nông nghiệp là một vấn đề cần thiết
Trang 36… nằm gọn trong địa bàn huyện Kaisone tỉnh Savannakhet)
Lưu vực sông Sompoy năm trong phạm vi tọa độ địa lý: Đường song 16º32'50'' bắc, đường kính độ 104º47'30" đông, có tổng diện tích lưu vực là 540 km2, bao gồm toàn bộ hay lãnh thổ huyện Kaisone thuộc tỉnh Savannakhet, trong
đó chính lưu vực sông Sompoy có chiều dài 36 km, độ sâu của sông từ 3-5 m, rộng 5-10m và diện tích lưu vực sông là 486 km2
2.1.5.2 Đặc điểm địa hình
Sông Sompoy là một nhánh nhỏ của sông Mê Kông nhưng nắm vài trò quan trong trong chính sách phát triển nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh Savannakhet, sông Sompoy bắt nguồn từ xeno chảy qua huyện Kaisone tỉnh Savannakhet và điểm cuối của sông này là đổ vào sông mê kông Tổng chều dâì của sông Sompoy là 36
km với tổng lưu lượng nước trung bình đạt 137 triểu m3/năm Lưu vực sông Sompoy có địa hình đơn gian với một vùng sinh thái điển hình: đồng bắng lớn số 2 của đất nước Lào Lưu vực có rất nhiều sông, suối có chiều dài hơn 10 km Các nhánh sông chính của lưu vực sông Sompoy bao gồm sông Nhang, sông Nhang Nhai và rất nhiều sông suối theo bờ sông Sompoy
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thống kê, kế thừa truyền thống
Thu thập tất cả các tài liệu liên quan hiện có Trên cơ sở phân tích, đánh giá
sẽ kế thừa những thông tin, số liệu khoa học và các công trình nghiên cứu đã có phục vụ thiết thực nội dung, nhiệm vụ cho luận văn…
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Tiến hành điều tra khảo sát, đo đạc, phỏng vấn thực tiễn nhằm xác định rõ hiện trạng và các nguồn tác động tới môi trường nước, nhu cầu sử dụng nước cho các mục đích, cụ thể như sau:
- Khảo sát xác định các nguồn tác động đến chất lượng nước của lưu vực Sông Sompoy đoạn chảy qua địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Khảo sát, xác định các vị trí quan trắc phân tích đánh giá hiện trạng môi
Trang 37- Hiện trang công tác quản lý và bảo vệ môi trường nước trên địa bàn tỉnh
2.2.3 Phương pháp đo đạc, lấy mẫu ngoài thực địa và phân tích trong phòng
thí nghiệm:
Theo TCVN và các Tiêu chuẩn của Hệ thống Quan trắc môi trường Toàn cầu (GEMS) hoặc Tiêu chuẩn Hoa Kỳ (Standard Methods for the Examination of Water and WasteWater) nếu TCVN không có
Hình 2.2: Điều tra khảo sát thực địa khu vực quan trắc sông Sompoy,
huyện Kaisone tỉnh Savannakhet
Trang 382.2.3.1 Phương pháp xác định tổng hàm lượng chất thải rắn lơ lựng (TSS)
c Nguyên tắc của phương pháp
Mẫu được sau khi được làm đồng nhất sẽ được tiến hành lọc bằng giấy lọc sợi thủy tinh Lượng cặn được giữ lại trên giấy lọc được sấy khô đến khối lượng không đổi ở 103 – 1050C Khối lượng tăng lên trên sau khi lọc chính là lượng tổng chất rắn lơ lửng
d Yếu tố ảnh hưởng
Lưu giữ và bảo quản mẫu luôn đồng nhất trong suốt quá trình vận chuyển
Nhiệt độ sấy cũng ảnh hưởng quan trọng đến kết quả phân tích, vì mất mát mẫu do sự bay hơi của một số chất hữu cơ, nước kết tinh, sự phân hủy hóa học do nhiệt, cũng như quá trình oxi hóa, sự phụ thuộc vào thời gian và nhiệt độ sấy Hạn chế tối đa việc mở tủ sấy trong quá trình sấy để giảm thiểu sự hút ẩm trở lại đối với mẫu
Mẫu sau khi sấy ở 103 – 1050C có thể chứa nước kết tinh cũng như một lượng nước cơ học Sự mất mát mẫu do quá trình bay hơi hữu cơ có thể xảy ra, tuy nhiên ảnh hưởng do quá trình này thường là rất nhỏ
Kết quả phân tích có thể giảm do sự chuyển đổi hóa học từ bicarbonate thành carbonate và khí CO2, một số muối gốc clorua và nitrate có thể bị mất trong quá trình sấy
Lượng dầu mỡ cao trong mẫu cũng gây khó khăn trong việc chọn thời gian sấy hợp
lý để khối lượng mẫu đạt đến giá trị không đổi
Giới hạn khối lượng mẫu sau khi sấy không lớn hơn 200 mg, điều này có thể giải thích là do kéo dài thời gian lọc có thể gây tắc nghẽn giấy lọc hoặc có thể chất keo bị giữ lại làm tăng kết quả
e Thiết bị, dụng cụ
Trang 39- Phễu lọc màng (membrane filter funnel.)
- Máy hút chân không
f Lấy mẫu và bảo quản mẫu
Mẫu phân tích được chứa trong chai thủy tinh hoặc chai nhựa, với điều kiện chất huyền phù (chất lơ lửng) không bám dính vào bình chứa Bắt đầu phân tích càng sớm càng tốt Nếu mẫu chưa tiến hành phân tích ngay cần tiến hành bảo quản lạnh ở 40C cho đến khi phân tích để giảm thiểu sự phân hủy vi sinh của các chất rắn Tốt nhất không nên lưu mẫu quá 24h, trong một số trường hợp không được lưu mẫu quá 7 ngày Để mẫu ở nhiệt độ phòng trước khi tiến hành phân tích
g Cách tiến hành phân tích
Xử lý mẫu
Các hạt không đồng nhất như lá, gậy, cá, rác nên loại trừ khỏi các mẫu Quá nhiều chất cặn lắng trên tấm lọc sẽ ngăn nước và kéo dài quá trình cô cạn Các chất bảo quản có trong mẫu không thể tồn tại một thời gian dài vì vậy các phân tích nên thực hiện càng sớm càng tốt Sự vận chuyển và bảo quản trong thời gian ngắn thường không ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra
Phân tích:
Chuẩn bị giấy lọc thủy tinh: (nếu giấy lọc thủy tinh được sấy thì bỏ qua bước này) Đưa mặt nhám vào mặt trong phễu lọc, mở máy hút chân không và rửa ba lần liên tiếp với khoảng 20mL nước cất Tiếp tục hút để loại bỏ nước hoàn toàn Chuyển giấy lọc sang một đĩa nhôm trơ, cho vào tủ sấy ở khoảng nhiệt độ 103 –
1050C trong 1h, sau đó để nguội trong bình hút ẩm trong 15 phút, cân và ghi khối lượng Lặp lại chu kỳ sấy, để nguội và cân cho đến khi khối lượng không đổi hoặc khối lượng thay đổi là nhỏ hơn 4% hay sự khác biệt khối lượng là 0,5 mg Bảo quản giấy lọc trong bình hút ẩm
Trang 40Chọn thể tích mẫu phù hợp để khối lượng mẫu thu được sau sấy khoảng 2,5 – 200 mg cặn Nếu khối lượng lọc nhỏ hơn 2,5 mg thì có thể tăng khối lượng mẫu lên đến 1L Nếu thời gian lọc lâu hơn 10 phút thì có thể giảm khối lượng mẫu cho phù hợp
Phân tích mẫu: Cho giấy lọc vào phễu lọc Mở máy hút chân không, làm ướt giấy lọc bằng một lượng nhỏ nước cất Khuấy mẫu bằng máy khuấy từ để mẫu đạt
độ đồng nhất, trong khi khuấy lấy một lượng mẫu phù hợp cho vào phễu lọc, vị trí pipet hút mẫu ở điểm gần trung điểm bình chứa nhưng không nằm trong vùng xoáy Rửa lọc 3 lần với 10 mL nước cất, tiếp tục hút chân không để khô mẫu trong khoảng 3 phút Đối với mẫu có hàm lượng chất rắn hòa tan cao cần rửa lọc nhiều lần hơn Cẩn thận lấy giấy lọc cho vào chén sứ Sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 103 – 1050C trong khoảng 1h, lấy mẫu cho vào bình hút ẩm để cân bằng nhiệt độ đến nhiệt độ phòng và cân Lặp lại chu kỳ sấy, hút ẩm và cân cho đến khi khối lượng thay đổi ít hơn 4% hoặc sự sai khác của các mẫu là 0,5 mg
h Tính toán kết quả
L mg X
V
B A
Trong đó:
A: Khối lượng ban đầu của giấy lọc, mg
B: Khối lượng giấy lọc và mẫu sau khi sấy, mg