Tôi cam đoan rằng luận văn nghiên cứu với nội dung “Các yếu tố ảnhhưởng đến cấu trúc vốn của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” là bài nghiêncứu của chính tôi.Ngoài trừ những tài liệu th
Trang 1NGUYỄN TRẦN TUẤN KHOA
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, Tháng 4 năm 2018
Trang 2NGUYỄN TRẦN TUẤN KHOA
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ TÂN PHƯỚC
TP Hồ Chí Minh, Tháng 4 năm 2018
Trang 3Tôi cam đoan rằng luận văn nghiên cứu với nội dung “Các yếu tố ảnhhưởng đến cấu trúc vốn của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam” là bài nghiêncứu của chính tôi.
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này,tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng đượccông bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm hay nghiên cứu nào của người khác được sử dụngtrong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tạicác trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, 2018
NGUYỄN TRẦN TUẤN KHOA
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
LỜI CAM ĐOAN 4
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN 4
1.7 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
1.8 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
2.1 GIỚI THIỆU CHƯƠNG 6
2.2 NỀN TẢNG LÝ THUYẾT CỦA CẤU TRÚC VỐN 6
2.2.1 Khái niệm cấu trúc vốn ( Capital Structure ) 6
2.2.2 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu ( Optimal Capital Structure ) 8
2.2.3 Theo quan điểm truyền thống (Lý thuyết cổ điển) 9
2.2.4 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (Mô hình MM) 9
2.2.5 Thuyết chi phí trung gian 11
2.2.6 Mô hình cấu trúc vốn tối ưu (Lý thuyết cân bằng) 13
2.2.7 Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng) 14
2.2.8 Thuyết điều chỉnh thị trường 15
2.2.9 Thuyết hệ thống quản lý 17
Trang 52.3.2 Nghiên cứu của R Gropp & F Heider (2009) 20
2.3.3 Nghiên cứu của Cebry Calayan (2010) 21
2.3.4 Đánh giá về ưu và nhược điểm của các nghiên cứu có liên quan 23
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 24
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 25
3.1 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 25
3.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ LIÊN QUAN LỢI NHUẬN NHTM 27 3.3 THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 32
3.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NHTM 35
3.5 THỰC TRẠNG VỀ QUY MÔ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 38
3.6 THỰC TRẠNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐINH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 39
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 41
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
4.1 MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM 42
4.1.1 Biến phụ thuộc (M Heider & R Gropp) 42
4.1.2 Biến độc lập 43
4.2 DỮ LIỆU MẪU 45
4.3 PHƯƠNG PHÁP KIỂM ĐỊNH VÀ ƯỚC LƯỢNG 45
4.3.1 Nội dung phân tích dữ liệu 45
4.3.2 Phương pháp kiểm định 46
4.3.3 Phương pháp ước lượng hồi quy 49
4.4 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ GIỮA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 52
Trang 64.6 KIỂM ĐỊNH LỰA CHỌN MÔ HÌNH 55
4.7 KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THIẾT ĐỊNH LƯỢNG 57
4.7.1 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư trên dữ liệu bảng -Greene (2000) 57
4.7.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng– Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 58
4.8 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY 58
4.8.1 Kết quả hổi quy 58
4.8.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 61
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 68
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1.1 Kết luận 69
5.1.2 Định hướng phát triển của hệ thống NHTM Việt Nam 69
5.1.3 Kiến nghị 72
5.2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 76
5.3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7LEV: Đòn bẩy tài chính
LNST: Lợi nhuận sau thuế
MH: Mô hình
NH: Ngân hàng
NHNN: Ngân hàng Nhà nước
NHTM: Ngân hàng Thương mại
ROA: Tỷ suất sinh lời trên tài sản
ROE: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
SIZE: Quy mô
STT: Số thứ tự
TMCP : Thương mại cổ phần
VCSH: Vốn chủ sở hữu
VN: Việt Nam
Trang 8Bảng 2.1: Kết quả thực nghiệm của Octavia và Brown (2008)
Bảng 2.2: Kết quả thực nghiệm của Gropp & Heider (2009)
Bảng 2.3: Kết quả thực nghiệm của Çağlayan và Şak (2010)
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát Việt Nam giai đoạn
2006-2016
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.2: Ma trận tương quan tuyến tính đơn giữa các cặp biến
Bảng 4.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương saiBảng 4.4: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và FEM
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định lựa chọn Pooled và REM
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định lựa chọn FEM và REM
Bảng 4.7: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi của các mô hình
Bảng 4.8: Kết quả kiểm tra tự tương quan phần dư các mô hình
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Đòn bẩy tài chính từ giai đoạn 2006 đến 2016
Biểu đồ 3.2: Tình hình lợi nhuận NHTM Việt Nam giai đoạn 2006-2016Biểu đồ 3.3: Đồ thị tổng tài sản các ngân hàng giai đoạn 2006 đến 2016Biểu đồ 3.4: Đồ thị tài sản cố định giai đoạn 2006 đến 2016
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Lý thuyết nổi tiếng của Modigliani và Milner (1958) đã kết luận rằng việclựa chọn cấu trúc vốn như thế nào thì sẽ không có tác động gì đến giá trị doanhnghiệp Tuy nhiên lý thuyết đó được kết luận khi nghiên cứu dựa trên những giảđịnh của thị trường vốn hiệu quả và hoàn hảo, thực tế thì thị trường vẫn tồn tạinhiều khuyết điểm nhất là ở thị trường các nước đang phát triển
Các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trong thời gian tiếp theo chỉ rarằng trong thực tế thị trường vẫn còn nhiều rào cản và cấu trúc vốn tác động ít nhiềuđến giá trị của doanh nghiệp Và cấu trúc vốn là một trong những vấn đề quan trọngtrong lý thuyết về tài chính doanh nghiệp nói chung (Caglayan và Sak, 2010)
Ngoài ra, vì tính chất đặt biệt của định chế tài chính trung gian này và chứcnăng kinh doanh tiền tệ, hơn nữa các khoản nợ của các ngân hàng có vẻ mang tínhkhác biệt so với các tổ chức phi tài chính khác (Caglayan và Sak 2010) Ngân hàng
có chức năng là trung gian tài chính nhằm phân phối nguồn vốn cho các ngành nghềsản xuất kinh doanh trong toàn xã hội, nền hoạt động của nó đóng một vai trò hếtsức quan trọng trong nền kinh tế Cũng chính vì lý do đó, hoạt động của ngân hàngcũng chịu sự quản lý chặt chẽ bởi các quy định pháp lý Vì vậy trong các nghiên cứuthực nghiệm thường loại trừ loại hình này ra khỏi các mẫu nghiên cứu
Cuộc khủng tài chính năm 2007- 2008 bắt nguồn từ nước Mỹ được xem làcuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử từ trước đến nay Hậu quả của nó là nhiều
tổ chức tài chính lớn trên thế giới bị phá sản hoặc phải nhờ đến chính phủ để tái cấutrúc lại (JP Morgan, Lehman Brothers…), việc cho vay dưới mức đã thúc đẩy cuộckhủng hoảng này, qua đó buộc chúng ta phải nhìn nhận về việc nghiên cứu cấu trúcvốn tối ưu giúp cho các ngân hàng có thế kiểm soát được rủi ro và nâng cao đượchiệu quả hoạt động Để làm được điều đó các ngân hàng phải xác định được
Trang 10chính xác các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn và mức độ tác động của nó đến cấutrúc vốn của các ngân hàng.
Như vậy, từ các lý do đã nêu trên cho ta thấy được tính cấp thiết của việcnghiên cứu cấu trúc vốn của ngân hàng, đặc biệt là cấu trúc vốn của ngân hàngthương mại Việt Nam Xuất phát từ tính cấp thiết trên, tác giả đã lựa chọn và quyếtđịnh thực hiện nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của cácNgân hàng Thương mại Việt Nam”
Ngành ngân hàng có quan hệ mật thiết với nền kinh tế, nó chịu ảnh hưởngnặng nề khi nền kinh tế gặp khó khăn, trong những năm gần đây vấn đề ngân hàngmất cân đối trong cơ cấu nguồn vốn và tài sản là đề tài được tranh cãi nhiều nhấthiện nay Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu trên thế giới về cấu trúc vốnchỉ giới hạn trong các doanh nghiệp phi tài chính và chỉ có một số ít liên quan đếnlĩnh vực Ngân hàng
Ở Việt Nam chỉ có 1 số ít các công trình nghiên cứu liên quan đến cấu trúcvốn của các ngân hàng như nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn tại
hệ thống NHTM tại Việt Nam” Võ Lê Hoài Giang (2013) hay nghiên cứu củaNguyễn Quốc Tuấn (2016) “ Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh tạicác NHTM tại Việt Nam”, trong khi nó là đầu mối lưu thông cho mọi hoạt động tiềntệ
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là khám phá những nhân tố tác động đến cấu trúcvốn của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam Qua đó đề xuất mô hình và nâng caohiệu quả sử dụng vốn ở các NHTM Việt Nam
Tiến hành nhận định về cấu trúc vốn và các nhân tố tác động đến cấu trúcvốn của Ngân hàng thương mại Việt Nam Từ đó, xác định các yếu tố ảnh hưởngđến cấu trúc vốn các ngân hàng thương mại, đưa ra các hàm ý chính sách về quản lý
Trang 11cấu trúc vốn và các giải pháp xây dựng cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại ViệtNam.
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Nhằm đạt được các mục tiêu đã nêu ở trên, bài nghiên cứu sẽ làm rõ câu hỏinghiên cứu sau:
Tồn tại hay không tác động của các yếu tố nội tại như rủi ro tài sản, lợinhuận, tài sản cố định, giá thị trường ngân hàng, quy mô ngân hàng; và yếu tố vĩ môtăng trưởng kinh tế, lạm phát đến cấu trúc vốn của ngân hàng thương mại ViệtNam?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đếnhiệu quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại niêm yết tại Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu là tập trung vào các ngân hàng thương mại niêm yết ViệtNam, dựa trên cơ sở thu thập các báo cáo từ ngân hàng nhà nước Việt Nam, cũngnhư báo cáo được kiểm toán của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn từ năm
2006 đến 2016
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phân tích định tính kết hợp với mô hình nghiên cứu định lượng, sử dụngphương pháp thống kê, hệ thống hóa dữ liệu và so sánh các dữ liệu được thu thập
Ứng dụng mô hình kinh tế lượng để kiểm định cấu trúc vốn và các nhân tốtác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam Sử dụng cácphương pháp GMM nhằm kiểm soát phương sai thay đổi, tự tương quan và nội sinhđảm bảo ước lượng vững và hiệu quả
Sử dụng chương trình Stata 13 cũng như Microsoft Excel để hỗ trợ việc tính
toán và xử lý dữ liệu nghiên cứu.
Trang 121.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về cấu trúc vốn của Ngân hàng Thương mại.Chương 3: Thực trạng cấu trúc vốn của các Ngân hàng Thương mại Việtnam
Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
1.7 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.
Đề tài hệ thống phân tích những yếu tố tác động và kiểm định chiều hướngtác động của các nhân tố này đến cấu trúc vốn của ngân hàng thông qua việc kếthừa, tổng hợp chọn lọc các kết quả của các công trình nghiên cứu thực nghiệm trênthế giới
Đề tài đi sâu khám phá, phân tích tác động của các nhân tố đã được đề cậptrong phân cơ sở lý thuyết có chọn lọc lại để phù hợp với điều kiện nghiên cứu tạicác ngân hàng thương mại niêm yết Việt Nam
Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định mô hình giả thuyết nghiêncứu, đề tài đưa ra một số nhận định về cấu trúc vốn ngân hàng Đồng thời, đề tài nàycũng đề xuất một số giải pháp cho các nhà quản trị Tài chính - Ngân hàng trong việclựa chọn cấu trúc vốn của tổ chức
1.8 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt lý luận, đề tài hệ thống, phân tích những nhân tố tác động và kiểmđịnh chiều hướng tác động của các nhân tố này đến cấu trúc vốn ngân hàng thôngqua việc kế thừa, tổng hợp và chọn lọc các kết quả của những công trình nghiên cứuthực nghiệm trên thế giới và trong nước
Trang 13Về mặt thực tiễn, đề tài đi sâu khám phá, phân tích tác động của các nhân tố
đã được đề cập trong phần cơ sở lý thuyết có chọn lọc lại để phù hợp với điều kiệncủa hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định mô hình giả thuyếtnghiên cứu, đề tài đưa ra một số nhận định về cấu trúc vốn ngân hàng Đồng thời,
đề tài cũng đề xuất một số giải pháp cho các nhà quản trị tài chính – ngân hàngtrong việc lựa chọn cấu trúc vốn của tổ chức Thêm vào đó, các nhà lãnh đạo vàquản trị ngân hàng cũng có cái nhìn đúng đắn hơn, sâu sắc hơn và có thể trả lờiđược câu hỏi: liệu rằng có hay không có những nhân tố tác động đến cấu trúc vốnngân hàng và tầm quan trọng của chúng như thế nào; lẽ dĩ nhiên, từ đó sẽ hỗ trợ rấtnhiều trong việc nâng cao năng lực quản trị, làm chuyên nghiệp hóa, lành mạnh hóacấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 2.1 GIỚI THIỆU CHƯƠNG
Tiếp theo chương 1, ta sẽ đi tìm hiểu và phân tích về quá trình phát triển, tìnhhình hoạt động và rủi ro của ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2006 –
2016, đồng thời, ta sẽ phân tích mô tả thực trạng cấu trúc vốn, các nhân tố tác độngđến cấu trúc vốn và mối tương quan giữa các nhân tố và cấu trúc vốn của các ngânhàng thương mại Việt Nam cũng như lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước
để bước đầu nhận định những nhân tố có thể tác động đến cấu trúc vốn của các ngânhàng thương mai Tạo cơ sở lý thuyết để tìm ra mô hình và mối quan hệ thựcnghiệm cho các phần tiếp theo
2.2 NỀN TẢNG LÝ THUYẾT CỦA CẤU TRÚC VỐN
2.2.1 Khái niệm cấu trúc vốn (Capital Structure)
Trong khí các lý thuyết về cấu trúc vốn rất da dạng, muôn màu muôn vẻ thìcác nghiên cứu thực nghiệm trong thời gian gần đây lại có vẻ ít nghiên cứu hơn vềcấu trúc vốn này Và Rajan và Zingales (1995) đã chỉ ra một vấn đề được cho là
nhức nhối: Liệu chúng ta có biết gì về cấu trúc vốn? Trong khi đó, Brounen và cộng
sự (2005) đã có kết luận rằng: Từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã được
tiến hành, có vẻ như những điều mà chúng ta biết chỉ là một phần bề nổi bên trên nào đó của tảng băng cấu trúc vốn mà thôi.
Xét về mặt lý thuyết, cấu trúc vốn (Capital Structure) được hiểu như là một
thuật ngữ nhằm mô tả phương pháp và nguồn gốc tạo thành nên nguồn vốn đểdoanh nghiệp có thể dùng để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, công cụ dụng cụ vàcác tài sản khác nhằm hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Hơn nữa, cấu trúcvốn còn được định nghĩa chính là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dàihạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho các quyếtđịnh đầu tư của doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007)
Trang 15Ngoài ra, trong lĩnh vực tài chính, Brounen và cộng sự (2005) đã định nghĩa
rằng: Cấu trúc vốn được đề cập đến như các phương thức mà một công ty hay
doanh nghiệp bất kỳ tài trợ cho nguồn vốn được huy động thông qua việc kết hợp các loại vốn ngắn hạn và dài hạn (bao gồm vốn chủ sở hữu, nợ và chứng khoán).
Bên cạnh đó, một số lý thuyết học thuật trong những năm gần đây cũng chorằng cấu trúc vốn có thể được hiểu như là một thành phần của đòn bẩy tài chính
hoặc “cấu trúc” (structure) nợ phải trả của doanh nghiệp và được giải thích cho
những biến động về tỷ lệ nợ phải trả trên toàn doanh nghiệp (Çağlayan và Şak,
2010) Thêm vào đó, những nghiên cứu trước đây nghiên cứu của Gropp và Heider(2009), Octavia và Brown (2008), v.v… đã sử dụng biến đại diện cho cấu trúc vốnngân hàng và biến phụ thuộc là biến đòn bẩy tài chính
Về mặt lý thuyết, đòn bẩy tài chính (Financial Leverage) là khái niệm được biết đến như là có liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực dùng để tài trợ (vay
nợ) Nó thể hiện tỷ lệ tổng khoản nợ của doanh nghiệp trong cơ cấu của nguồn vốn.
Đòn bẩy tài chính phát sinh khi doanh nghiệp có quyết định vay nợ để tài trợ cho tàisản của mình Việc này chỉ diễn ra khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn cho đầu tư tăngcao trong khi nguồn tự tài trợ đã không đủ khả năng đảm bảo tài trợ (vốn chủ sởhữu) Thông thường, tất cả các loại hình doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nóiriêng chỉ sử dụng đòn bẩy khi có thể chắc chắn rằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản caohơn lãi suất đi vay
Hơn nữa, Có hai tác động khi sử dụng đòn bẩy tài chính Thứ nhất, doanhnghiệp phải tăng thu nhập từ hoạt động kinh doanh để chi trả chi phí tài chính cố
định (gốc vay và lãi vay) Thứ hai, khi doanh thu đã đạt đến điểm hòa vốn thì lợi
nhuận của doanh nghiệp sẽ gia tăng nhanh chóng ứng với mỗi phần thu nhập từ hoạtđộng tăng thêm này Đây cũng chính là lợi ích và kỳ vọng của các doanh nghiệp khilựa chọn sử dụng đòn bẩy tài chính trong cái bánh huy động vốn của mình
Như vậy, tóm tắt lại, nghiên cứu về cấu trúc vốn chính là đi vào nghiên cứu
về cách thức lựa chọn tỷ lệ phù hợp giữa vốn chủ sở hữu và nợ với mục tiêu là tối
Trang 16đa hóa giá trị của doanh nghiệp Hay nói một cách chính xác hơn thì việc đi xácđịnh cấu trúc vốn cho các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại
(hiện hữu trên thế giới và cả Việt Nam) nói riêng là đi xác định mức độ đòn bẩy tài
chính phù hợp trong cơ cấu nguồn vốn huy động Lẽ dĩ nhiên, biến “đòn bẩy tài
chính” (L) cũng chính là biến phụ thuộc được lựa chọn trong mô hình nghiên cứu
“các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam”
được đề cập trong đề tài này
2.2.2 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu (Optimal Capital Structure)
Cấu trúc vốn tối ưu là một thuật ngữ chỉ về cấu trúc vốn mà trong đó cấu trúc
nợ trên vốn chủ sở hữu được xác định dưới dạng tốt nhất cho một doanh nghiệp, khi
mà chi phí sử dụng vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanh nghiệp đạt được lớnnhất
Một cách lý tưởng, cấu trúc vốn tối ưu là một hỗn hợp nợ dài hạn, cổ phần
ưu đãi và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quâncủa doanh nghiệp Với một cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn bình quân được tối
thiểu hóa, tổng giá trị các chứng khoán của doanh nghiệp (và, vì vậy, giá trị của
doanh nghiệp) được tối đa hóa Do đó, cấu trúc vốn có chi phí sử dụng vốn tối thiểu
được gọi là cấu trúc vốn tối ưu (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007)
Về mặt học thuật, chi phí vốn thấp nhất đến từ các khoản vay nợ thường Tuynhiên, các chi phí vay phát sinh và rủi ro cũng dần tăng theo khi doanh nghiệp có xuhướng càng vay thêm nhiều nợ Lúc đó, cấu trúc vốn tối ưu được hiểu như là một sựcân bằng lý tưởng giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay nhằm làm giảm chi phí sử dụngvốn một cách tối thiểu cho các tổ chức, doanh nghiệp, ngân hàng hay công ty
Ngoài ra, tỷ lệ nợ ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp cũng cần được xemxét khi kiểm định về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và hướng đến cấu trúc vốn tối
ưu Nó cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn, rõ ràng hơn không chỉ về các rủi ro bênngoài mà còn về các rủi ro tiềm ẩn bên trong Chính vì vậy, xác định cấu trúc vốn
Trang 17tối ưu là một vấn đề đang được đặt ra không chỉ cho các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh mà còn cho các nhà quản trị trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
2.2.3 Theo quan điểm truyền thống (Lý thuyết cổ điển)
Quan điểm về cấu trúc vốn truyền thống cho rằng khi một doanh nghiệp bắtđầu vay mượn, thuận lợi vượt trội hơn bất lợi Chi phí nợ thấp, kết hợp với thuận lợi
về thuế sẽ khiến WACC (Chi phí vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng
Tuy vậy, khi tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu và nợ vay tăng, tác động của tỷ lệ nợvay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chiphí vốn chủ sở hữu tăng) Ở mức tỷ lệ vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợcũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phásản cao hơn) Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC
sẽ tăng
Vấn đề chính của quan điểm truyền thống là không có một lý thuyết cơ sởthể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu do tỷ lệ giữa vốn nợ và vốn chủ
sở hữu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu do nguy cơ vỡ nợ
2.2.4 Lý thuyết cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (Mô hình MM)
Trái ngược với quan điểm truyền thống, Modilligani và Miller (1958) đãnghiên cứu xem chi phí vốn tăng hay giảm khi một doanh nghiệp tăng hay giảm vaynợ
Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ramột số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giảđịnh là thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch và tỷ lệvay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí; việc đánh thuế được bỏqua và nguy cơ được tính hoàn toàn bằng tính không ổn định của các luồng tiền
Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, MM tranh luận rằng thế thì các doanhnghiệp có cơ hội kinh doanh giống nhau và tiền lãi mong đợi hàng năm giống nhauphải có tổng giá trị giống nhau bất chấp cấu trúc vốn bởi vì giá trị của một doanh
Trang 18nghiệp phải phụ thuộc vào giá trị hiện tại của các hoạt động của nó, không phải dựatrên cách thức cấp vốn Từ đây, có thể rút ra rằng nếu tất cả những công ty như vậy
có tiền lời mong đợi giống nhau và giá trị giống nhau cũng phải có WACC giốngnhau ở mọi mức độ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu
Mặc dù những giả định về thị trường vốn hoàn hảo là không có thực, tuynhiên, có 2 giả thiết cần được nhấn mạnh và chúng có tác động đáng kể đến kết quả:
1 Giả định là không có việc đánh thuế: đây là vấn đề quan trọng và mộttrong những thuận lợi then chốt của nợ là việc giảm nhẹ thuế cho những chi tiêu tiềnlãi
2 Nguy cơ trong lý thuyết của MM được tính toán hoàn toàn bởi tính biếnđổi của các luồng tiền Họ bỏ qua khả năng các luồng tiền có thể dừng vì vỡ nợ.Đây là một vấn đề đáng kể khác với lý thuyết này nếu nợ cao
Đưa ra các giả định này có nghĩa chỉ có một thuận lợi của việc vay tiền (nợ
rẻ hơn và ít rủi ro cho nhà đầu tư) và một bất lợi (chi phí vốn chủ sở hữu tăng cùngvới nợ vì tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn)
Modigliani và Miler chỉ ra là những tác động này cân bằng một cách chínhxác Việc sử dụng nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng lợitức cao hơn này chính xác là những gì họ bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốnvay so với tổng vốn Với các giả thuyết trên, dẫn đến các phương trình cho lý thuyếtcủa MM
Vg = Vu: Tổng giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ bằng tổng giá trị củadoanh nghiệp không sử dụng nợ
Năm 1963, Modilligani và Miller đưa ra một nghiên cứu tiếp theo với việcloại bỏ giả thiết về thuế thu nhập doanh nghiệp Theo MM, với thuế thu nhập doanhnghiệp, việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp Vì chi phí lãi vay làchi phí hợp lý được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó mà mộtphần thu nhập của doanh nghiệp có sử dụng nợ được chuyển được chuyển cho các
Trang 19nhà đầu tư theo phương trình: Vg = Vu + T.D: giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợbằng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ cộng với khoản lợi từ việc sử dụng
nợ Trong đó, D là tổng số nợ sử dụng, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp,T.D là khoản lợi từ việc sử dụng nợ
Như vậy, theo mô hình thuế MM (1963) cấu trúc vốn có liên quan đến giá trịcủa doanh nghiệp Sử dụng nợ càng cao thì giá trị doanh nghiệp càng tăng và giatăng đến tối đa khi doanh nghiệp được tài trợ 100% nợ
2.2.5 Thuyết chi phí trung gian
Theo quan điểm của thuyêt quan hệ trung gian, cầu trúc vốn có thể ảnhhưởng đến các vấn đề trung gian và các vấn đề trung gian có lẽ cũng ảnh hưởng đếnquyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp Thuyết này đưa ra hai giả thuyết có tácđộng và liên quan chặt chẽ lẫn nhau Đó là cấu trúc vốn ảnh hưởng như thế nào đếncác vấn đề trung gian và ngược lại, các vấn đề trung gian có ảnh hưởng ra sao đếncấu trúc vốn
Cấu trúc vốn ảnh hưởng đến các vấn đề trung gian
Giả thuyết này cho rằng lượng tiền mặt nhàn rỗi có thể gây nên vấn đề trunggian Chính vì thế, sự gia tăng trong mức độ vay nợ cho các doanh nghiệp với lưulượng tiền mặt tự do chắc chắn sẽ bớt đi các vấn đề trung gian vì nó làm cho cácchủ sở hữu phải xuất ra một khoản tiền mặt lớn vượt mức Thuyết quan hệ trunggian chỉ ra rằng tạo lợi nhuận từ tiền cho vay ngoài khoản trợ cấp do đánh thuế Cácdoanh nghiệp với các vấn đề trung gian lớn và có nhiều tiềm năng (quyền sở hữuvốn đầu tư thấp bởi hội đồng quản trị, sự bù đắp của các thành viên hội đồng quảntrị, các công ty có quỹ tiền mặt khá thấp) sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận cho các cổ đông
từ việc tăng tiền vay nợ Chính vì vậy đã nảy sinh tranh cãi giữa nhà quản trị và các
cổ đông hiện hữu của doanh nghiệp Khi vay nợ để đầu tư vào một dự án một cách
có hiệu quả thì các nhà quản trị sẽ không được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạtđộng của dự án đó nhưng họ phải gánh chịu toàn bộ chi phí vay nợ phát sinh chotoàn bộ dự án này để làm tăng lợi nhuận này
Trang 20Dự báo: Tăng tiền cho vay sẽ làm giảm lưu lượng tiền mặt nhàn rỗi.
Giảm lưu lượng tiền nhàn rỗi sẽ làm giảm những sự đầu tư có NPV âm
Viêc giảm những dự án đầu tư có NPV âm sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp(đặc biệt đối với các doanh nghiệp lớn có nhiều tiền mặt)
Điểm mấu chốt là các hoạt động liên quan đến vay mượn được xem nhưđiểm cốt yếu liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, nó yêu cầu ban quản trị phảivận hành doanh nghiệp một cách có hiệu quả nhằm tránh những kết quả không tốtdẫn đến không thể chi trả các khoản lãi cho các khoản nợ của doanh nghiệp, thêmvào đó, nó còn yêu cầu ban quản trị phải tham gia đóng góp vào lượng tiền mặtnhàn rỗi đó Vì vậy, nảy sinh mâu thuẫn giữa các chủ nợ và các nhà quản lý khi cácchủ nợ e sợ các khoản vốn cho vay của mình có khả năng không thể thu hồi khi kếtquả kinh doanh không tốt do trách nhiệm hữu hạn của doanh nghiệp trong cáckhoản đầu tư Do đó, các chủ nợ có thể đưa ra các điều khoản nhắm để hạn chế vàkiểm soát trong hợp đồng vay
Các bằng chứng thực nghiệm phù hợp với luận điểm của thuyết này như sau:
Tỷ giá hối đoái tăng (giảm) theo tác dụng đòn bẩy sẽ làm tăng (giảm) giá trị cổ phiếu
Các doanh nghiệp có tiền mặt lớn sẽ có tỷ lệ D/A cao hơn (D/A: Nợ/Tài sản)
Vấn đề trung gian ảnh hưởng đến cấu trúc vốn
Giả thuyết của vấn đề này nằm ở việc lựa chon một cấu trúc vốn tốt nhất củaban quản lý đối với việc chọn một tỷ lệ vay nợ thấp cho doanh nghiệp nhằm giảmthiểu khả năng phá sản bởi trình trạng thanh khoản của họ
Dự đoán: Các doanh nghiệp sẽ có nguy cơ phá sản bởi vấn đề trung gian vàmức độ tác động của đòn bẩy sẽ bị ảnh hưởng bởi mức độ giám sát của ban quản trị(các hội đồng quản trị tích cực/độc lập, các nhà đầu tư tích cực) và sự khuyến khích
sẽ được tạo ra cho ban quản trị
Trang 21Bằng chứng thực nghiệm phù hợp với thuyết này ở điểm sau:
Nhìn chung, các doanh nghiệp có lực đòn bẩy thấp
Tỷ giá hối đoái tăng (giảm) theo tác dụng đòn bẩy sẽ làm tăng (giảm) giá trị
2.2.6 Mô hình cấu trúc vốn tối ưu (Lý thuyết cân bằng)
Trong thị trường hoàn hảo và hiệu quả, Modilligani và Miler (1958) chứngminh rằng cấu trúc vốn là không phù hợp Tuy nhiên, cũng theo mô hình MM(1963), việc thuế suất cao hơn vào lợi nhuận của doanh nghiệp cho thấy vay nợnhiều hơn Còn DeAngelo và Masulis (1980) thì cho rằng việc trợ cấp thuế cao hơncho thấy vay nợ ít hơn
Mô hình MM giả định tiền lãi thu được mong đợi từ việc đầu tư trong hàngnăm là không đổi nên dẫn đến giá trị của doanh nghiệp là như nhau cho dù cấu trúcvốn như thế nào đi nữa Nếu trong thực tế tiền lãi dự đoán đang ở xu hướng giảmxuống thì sử dụng nhiều nợ vay sẽ có tác động tiêu cực và có thể dẫn doanh nghiệpđến chỗ kiệt quệ và phá sản Trong quá trình phá sản sẽ phát sinh các khoản chi phínhư chi phí pháp lý và chi phí hành chính, và các khoản thiệt hại của doanh nghiệpphải gánh chịu từ phá sản làm cho các nhà quản trị bỏ qua các các cơ hội đầu tư vàocác dự án có khả năng sinh lời (Myers, 1977) Các chi phí đó gọi là chi phí kiệt quệtài chính Khi các chi phí kiệt quệ tài chính cao cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu caohơn nợ trong cấu trúc vốn
Thuyết chi phí trung gian thì cho thấy các vấn đề trung gian có thể là nguyênnhân cho nhiều hay ít nợ hơn Quá nhiều vốn cổ phần có thể dẫn đến dòng tiền mặt
tự do và mâu thuẫn về lãi, lợi ích giữa các chủ sở hữu và các nhà quản lý (Jensen,1986) Vay nợ quá nhiều có thể dẫn đến việc thế chấp nhiều tài sản của doanhnghiệp và mâu thuẫn lợi ích giữa các chủ nợ và các nhà quản lý (Fama và Miller,1972; Jensen và Meckling, 1976) Đối với mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quảntrị, mâu thuẫn phát sinh khi người quản trị không sở hữu toàn bộ vốn chủ sở hữu
Trang 22Khi đó, họ không được hưởng toàn bộ lợi nhuận từ hoạt động đầu tư mà họ lại phảigánh chịu toàn bộ chi phí từ hoạt động đầu tư đó Vì vậy, đã phát sinh các chi phítrung gian để giám sát hoạt động và hạn chế các hành vi không như mong muốn.Đối với mâu thuẫn giữa chủ nợ và nhà quản lý phát sinh khi các chủ nợ lo sợ cáckhoản vốn cho vay của mình không thể thu hồi khi kết quả đầu tư không tốt do tráchnhiệm hữu hạn của các khoản đầu tư Vì vậy, phát sinh các khoản chi phí trung giancủa nhà quản lý dưới hình thức chi phí nợ vay cao nhằm giám sát các doanh nghiệpphải tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng vay.
Ngoài ra, các điều khoản trong hợp đồng vay cũng hạn chế nhiều lợi ích củadoanh nghiệp
Thuyết cân bằng xác định cấu trúc vốn tối ưu bằng cách thêm vào mô hìnhModilligani và Miler (1958) các yếu tố phi hoàn hảo khác nhau, bao gồm thuế, chiphí kiệt quệ tài chính và chi phí trung gian, song vẫn không mất đi các giả định tínhhiệu quả của thị trường và thông tin hoàn hảo Như vậy, tác động tổng hợp 3 yếu tố:thuế, chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí trung gian khi sử dụng nợ vay với nhữngtác động ngược chiều nhau hình thành lý thuyết cấu trúc tài chính tối ưu
Nhìn chung, việc đưa chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí trung gian vào môhình Modilligani Miler (1968) và mô hình Modilligani và Miler (1958) đã dẫn đến
lý thuyết cân bằng về cấu trúc vốn Những mô hình này cũng đều thừa nhận một cấutrúc vốn tối ưu
2.2.7 Thuyết trật tự phân hạng (Thông tin bất cân xứng).
Thuyết trật tự phân hạng thị trường được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers vàMajluf (1984) dự đoán không có một cấu trúc nợ trên vốn cổ phần mục tiêu rõ ràng
Giả thuyết được đặt ra là ban quản trị dự đoán về hoạt động tương lai củadoanh nghiệp chính xác hơn các nhà đầu tư bên ngoài có thể thu thập được (thôngtin không cân xứng) và việc đưa ra quyết định đầu tư có lẽ cho biết mức độ kiếnthức của nhà quản lý và sự không chắc chắn về lượng tiền mặt tương lai
Trang 23Khi ban quản trị có sự tin tưởng cổ phiếu được đinh giá cao hơn là định giáthấp, họ có thể phát hành chứng khoán (để huy động nguồn vốn bên ngoài) Vì thế,khi doanh nghiệp có xu hướng hướng đến thị trường vốn bên ngoài, những thịtrường này chấp nhận cổ phiếu được định giá cao hơn là định giá thấp, và vì vậy,hoạt động này sẽ truyển tải những thông tin không thuận lợi cho các nhà đầu tư Kếtquả là ban quản trị sẽ nỗ lực để tránh đi vào các thị trường vốn (nguồn tài chính bênngoài) Nếu ban quản trị đi theo những thị trường vốn này, có khả năng họ phát sinh
nợ nhiều hơn nếu như họ tin là cổ phiếu của họ được đánh giá thấp và sẽ sinh ra vốn
cổ phần nếu như họ cho rằng cổ phiếu của họ được đánh giá cao
Vì vậy, phát hành cổ phần từ việc bán cổ phiếu sẽ có thể sẽ truyển tải nhiềuthông tin không thuận lợi hơn là tìm kiếm từ nguồn đi vay Điều này khiến các nhàquản trị có xu hướng quan tâm nguồn tài trợ từ cho vay hơn là vốn cổ phần từ việcphát hành cổ phiếu
Những quyết định về cấu trúc vốn doanh nghiệp sẽ không dựa vào tỷ lệNợ/Tài sản tối ưu mà được quyết định từ việc phân hạng các thị trường Đầu tiên,các nhà quản trị sẽ dự định sử dụng nguồn vốn nội bộ tự có, tiếp theo có thể tiếnhành vay nợ, và cuối cùng là phát hành vốn cổ phần
Trọng tâm của thuyết này là không tập trung vào cấu trúc vốn tối ưu nhưnhững học thuyết trước nhưng lại tập trung vào quyết định tài chính trong tương lai
Tỷ lệ Nợ/Tài sản = f {hoạt động kinh doanh, nhu cầu đầu tư}
Như vậy, Myers và Majluf cho rằng sẽ không có một cấu trúc vốn tối ưu vớicác doanh nghiệp
2.2.8 Thuyết điều chỉnh thị trường.
Thuyết điều chỉnh thị trường cho rằng cấu trúc vốn được dựa trên điều chỉnhthị trường là lời giải thích tự nhiên nhất Thuyết này đơn giản là cấu trúc vốn pháttriển như một kết quả liên tiếp của những nỗ lực trước đây nhằm điều chỉnh thịtrường cổ phiếu
Trang 24Có 2 mô hình điều chỉnh thị trường cổ phiếu dẫn đến mô hình cấu trúc vốn.Thứ nhất là mô hình của Myers và Majluf (1984) với các nhà quản lý và cácnhà đầu tư đầy lý trí và các chi phí lựa chọn bất lợi khác nhau giữa các doanhnghiệp và khoảng thời gian khác nhau Lucas và McDonald (1990) và Korajczyk,Lucas, và McDonald (1992) nghiên cứu lựa chọn bất lợi khác nhau theo khoảng thờigian khác nhau Phù hợp với những chuyện này, Korajczyk và những người khác(1991) nhận thấy rằng các doanh nghiệp có xu hướng thông báo việc phát hành cổphiếu theo sau việc đăng tin, như thế sẽ làm giảm đi tính phi đối xứng của thông tin.Hơn nữa, Bayless và Chaplinsky (1996) nhận thấy việc phát hành cổ phiếu tập trungvào giai đoạn ảnh hưởng của thông báo nhỏ hơn Nếu các chi phí phát sinh từ cấutrúc vốn tối ưu nhỏ so với dao động cuối cùng trong chi phí phát hành, những daođộng trước đây trong tỷ lệ giá cả thị trường so với giá cả trên sổ sách sau đó có tácđộng lâu dài.
Mô hình thứ hai của điều chỉnh thị trường cổ phiếu có liên quan đến các nhàđầu tư không đủ lý trí (hay các nhà quản lý) và định giá sai trong các khoản thờigian khác nhau (hay sự am hiểu về định giá sai) Các nhà quản lý phát hành cổphiếu khi họ tin rằng giá trị của nó thấp và mua lại cổ phiếu khi họ tin rằng giá trịcủa nó cao Ngược lại giá cả thị trường so với giá cả trên sổ sách được biết rất rõ là
có quan hệ với tiền lãi cổ phiếu tương lai, và các giá trị tuyệt đối của giá cả thịtrường so với giá cả trên sổ sách được liên kết với những mong đợi quá xa của cácnhà đầu tư Nếu các nhà quản lý vẫn cố khai những mong đợi quá xa như vậy, việcphát hành cổ phiếu thực tế sẽ có liên quan tích cực với giá cả thị trường so với giá
cả trên sổ sách, đây là một trường hợp theo lối kinh nghiệm Nếu không có cấu trúcvốn tối ưu, các nhà quản lý sẽ không cần thay đổi quyết định khi mà các doanhnghiệp có vẻ như được đánh giá đúng và giá trị cổ phiếu là bình thường, bỏ qua cácdao động tạm thời trong giá cả thị trường so với giá cả trên sổ sách nhằm có nhữngảnh hưởng vĩnh viễn lên nợ Mô hình điều chỉnh thị trường thứ 2 không yêu cầu thịtrường phải thực sự không hiệu quả Nó không đòi hỏi các nhà quản lý phải dự báo
Trang 25thành công lãi của cổ phiếu Đơn giản giả thuyết cho rằng các nhà quản lý tin rằng
họ có thể điều chỉnh được thị trường
Theo thuyết này, các doanh nghiệp nợ thấp có xu hướng tăng nguồn vốn khigiá trị tiền của họ cao, và ngược lại những doanh nghiệp nợ cao có xu hướng tăngnguồn vốn khi giá trị tiền của họ thấp Phần lớn cấu trúc vốn là kết quả liên tiếp củanhững nỗ lực điều chỉnh thị trường cổ phiếu Trong thuyết này, không có cấu trúcvốn tối ưu, vì thế mà các quyết định tài chính điều chỉnh thị trường chỉ nhiều lênthành kết quả cấu trúc vốn theo thời gian
2.2.9 Thuyết hệ thống quản lý
Trong thuyết cấu trúc vốn được đưa ra dựa trên các hệ thống quản lý củaZwiebel (1996), giá trị tiền cao và cơ hội đầu tư thuận lợi tạo điều kiện dễ dàng chonguồn vốn cổ phần, nhưng cũng chính vào lúc đó các nhà quản lý trở nên bảo thủ
Họ có thể từ chối gia tăng nợ để tạo ra tính cân bằng cho các giai đoạn sau Điềunày có khả năng làm điều chỉnh thị trường chứ không phải là thị trường khác biệtkhi các nhà quản trị tiến hành phát hành cổ phiếu khi giá trị tiền cao và sau đókhông cân bằng lại giá trị Các nhà quản trị vẫn không cố tình khai thác một cáchtriệt để các nhà đầu tư mới Chính xác hơn là, họ chỉ khai thác các nhà đầu tư hiệnhữu từ trước đến giờ mà không có sự cân đối lại
Các nhà nghiên cứu lý thuyết thuần túy bắt đầu nghiên cứu bằng cách chứngminh từ thị trường hoàn hảo nơi không có thuế và các chi phí rủi ro phá sản, sự giatăng của rủi ro lên Vốn chủ sở hữu sẽ được bù đắp bằng cách gia tăng tỷ suất sinhlời kỳ vọng, do đó đòn bẩy tài chính được xem như không có ảnh hưởng gì đến giátrị doanh nghiệp Sau đó, các nhà kinh tế học sẽ bỏ bớt các giả định không có thuế,không có chi phí phá sản để chứng minh rằng quyết định cấu trúc vốn có liên quannhất tới sự cân bằng giữa việc tận dụng lá chắn thuế của nợ vay với việc gia tăng rủi
ro phá sản Ở mức thấp của việc vay nợ chủ yếu là lợi ích từ lá chắn thuế Nhưngkhi quá lạm dụng lá chắn thuế, sử dụng nợ vay nhiều thì nguy cơ phá sản gia tăng
và giá trị doanh nghiệp giảm
Trang 26Đến nay, các nhà nghiên cứu cấu trúc vốn đã rút ra 2 lợi ích: nó giúp chúng
ta có được cách hiểu thấu đáo hơn về quyết định tài chính, và nó đã chứng tỏ sự hữuích trong việc hiểu và diễn giải sự gia tăng trong việc tái cấu trúc vốn
2.3 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN.
2.3.1 Nghiên cứu của Moniac Octavia & R Brown (2008)
Trong nghiên cứu của Gropp và Heider (2009) đã thực hiện kiểm định thựcnghiệm về cấu trúc vốn của các ngân hàng thương mại ở những đất nước phát triển(Hoa Kỳ và Châu Âu), đề tài nghiên cứu của Octavia và Brown (2008) lại có xuhướng nghiêng về kiểm định thực nghiệm các ngân hàng tại những quốc gia đangphát triển
Trong các nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng mẫu khảo sát với thời gian
là từ năm 1996 đến thời điểm cuối là năm 2005 Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệmđược các tác giả thu thập từ các nguồn báo cáo tài chính của ngân hàng khác nhau.Sau khi bỏ qua các ngân hàng không thích hợp và không có đủ dữ liệu ra khỏi cỡmẫu, kết quả cuối cùng, các tác giả đã đưa ra được 56 ngân hàng thương mại niêmyết đến từ 10 quốc gia đang phát triển (Cộng hòa Liên bang Brazil, Ấn Độ, Jordan,Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Pakistan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, và Zimbabwe) trongkhoảng thời gian 9 năm từ 1996 đến 2005
Đồng thời, các tác giả đã tiến hành kiểm định thực nghiệm để xem liệu rằng
có các yếu tố tác động ảnh hưởng đến cấu trúc vốn có phải là yếu tố quan trọng tạinhững nước đang phát triển được nghiên cứu hay không Kết quả là Octavia vàBrown đã tìm thấy được bằng chứng cho thấy được tầm quan trọng và mối quan hệ
có thể giải thích của các biến độc lập ở các quốc gia này Ngoài ra, hai tác giả cũngtìm ra rằng kết quả thực nghiệm của các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của cácngân hàng thương mại dường như có khác biệt giữa giá trị sổ sách và giá trị thịtrường tác động đến biến đòn bẩy tài chính Hơn nữa, chiều hướng tác động đượctìm ra trong nghiên cứu này của các biến có vẻ như không giống với sự tương quan
đã được kỳ vọng ban đầu Hơn nữa, nghiên cứu này cũng đưa ra kết luận rằng ở đâu
Trang 27đó có một số bằng chứng thuyết phục đã hỗ trợ cho kỳ vọng ảnh hưởng khá quantrọng của các nhân tố vĩ mô trong việc xác định cấu trúc vốn ngân hàng (có ý nghĩathống kê).
Ngoài ra, trong kết quả kiểm định thực nghiệm này, Octavia và Brown(2008) còn chỉ ra rằng các khu vực tư nhân ở các quốc gia đang phát triển dườngnhư đóng một vai trò quan trọng hơn khi xem xét mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến việc lựa chọn cơ cấu vốn so với các quốc gia phát triển
Như vậy, trong khi Gropp và Heider (2009) đã không tìm thấy được bằngchứng nào để giải thích cho sự khác biệt hoàn toàn giữa giá trị sổ sách và giá trị thịtrường của các ngân hàng thương mại niêm yết tại những quốc gia phát triển, thìnghiên cứu của Octavia và Brown (2008) đã hỗ trợ được bằng chứng cho luận điểm
có sự khác biệt như đã nêu ở trên (mẫu nghiên cứu là các ngân hàng tại các quốc giađang phát triển)
Về mô hình kiểm định, các tác giả đã tiến hành kiểm định năm nhân tố: Quy
mô (Size), Lợi nhuận (Prof), Tỷ số giá trị thị trường so với giá trị sổ sách (MTB),Tài sản thế chấp (Coll), và Cổ tức (Div)
Qua kết quả nghiên cứu (bảng 1.5), Octavia và Brown (2008) đã tìm thấychứng cứ cho thấy biến Quy mô (Size) có tác động đồng biến đến đòn bẩy tài chính(theo giá trị sổ sách) Trái ngược lại, biến Lợi nhuận (Prof) có tác động nghịch biếnđến đòn bẩy tài chính (theo giá trị sổ sách) Kết quả này khá tương đồng với chứng
cứ thực nghiệm của Gropp và Heider (2009)
Trang 28Bảng 2.1: Kết quả thực nghiệm của Octavia và Brown (2008)
Kết quả hồi quy Gropp và Heider
(2009)
tài chính tài chính tài chính tài chính
(Theo giá (Theo giá (Theo giá
(Theo giá trị sổ trị thị trị thị
trị sổ sách) sách) trường) trường)
* biểu thị biến quan sát tại mức ý nghĩa
10% **biểu thị biến quan sát tại mức ý
nghĩa 5%
***biểu thị biến quan sát tại mức ý nghĩa 1%
2.3.2 Nghiên cứu của R Gropp & F Heider (2009)
Công trình nghiên cứu của Gropp và Heider (2009) đã kiểm định các nhân tốtác động đến cấu trúc vốn ngân hàng của các nước phát triển bằng cách sử dụngnhững dữ liệu đã thu thập được từ 200 ngân hàng lớn tại đất nước Hoa Kỳ và Châu
Âu trong khoảng thời gian kể từ năm 1991 đến mốc thời điểm cuối là năm 2004
Các tác giả đã nghiên cứu những tác động của 6 biến độc lập là: Tỷ số giá trịthị trường so với giá trị sổ sách (Market-to-book ratio), Lợi nhuận (Profits), Quy mô
Trang 29(Size), Tài sản thế chấp (Collateral), Cổ tức (Dividends), và Rủi ro (Risk) Đồngthời, các tác giả cũng đã sử dụng biến đại diện cho cấu trúc vốn ngân hàng là biếnĐòn bẩy tài chính Biến phụ thuộc này được tính theo hai cách: một là giá trị sổsách (Book Leverage) và hai là giá trị thị trường (Market Leverage)
Công trình nghiên cứu này đã khám phá ra rằng hầu hết các ngân hàngdường như đã lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu của họ theo cùng một cách tương tự nhưcác công ty Thêm vào đó, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của họ cũng đãchứng minh cho quan điểm: thực sự có tồn tại hiện hữu những nhân tố tác động đếncấu trúc vốn của các ngân hàng (tương đồng như các doanh nghiệp phi tài chính).Tóm lại, những chứng cứ phát hiện của Gropp và Heider (2009) được thể hiện trongbảng 2.3.2 bên dưới:
Bảng 2.2: Kết quả thực nghiệm của Gropp & Heider (2009)
chấp
-2.3.3 Nghiên cứu của Cebry Calayan (2010)
Công trình nghiên cứu của Çağlayan và Şak (2010) đã tiến hành kiểm định
về cấu trúc vốn của các ngân hàng dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết và kết quả thựcnghiệm của các doanh nghiệp, tổ chức phi tài chính bằng cách sử dụng phương phápphân tích dữ liệu bảng Các tác giả thực hiện khám phá và kiểm tra xem liệu rằngcác nền tảng lý thuyết khoa học về cấu trúc vốn có thể lý giải cho sự lựa chọn cấutrúc vốn của các ngân hàng hay không, và liệu rằng chiều hướng tác động có tương
tự nhau giữa các lý thuyết kỳ vọng và kết quả thực nghiệm, hay là phải chăng
Trang 30có bằng chứng thuyết phục cho thấy đâu đó một vài sự khác biệt Câu hỏi được đặt
ra và công trình nghiên cứu tiến hành thực hiện tìm kiếm chứng cứ
Trong phần giới thiệu mở đầu của bài nghiên cứu, các tác giả đã tiến hành hệthống lại những kỳ vọng khác nhau về mối quan hệ giữa các biến độc lập và biếnđòn bẩy tài chính trong ba lý thuyết: một là Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (TheTrade-off Theory), hai là Lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking-order Theory),
và ba là Lý thuyết về chi phí đại diện (The Agency Theory) thể hiện qua bảng 1.3
Về thời gian nghiên cứu của mẫu dữ liệu, các tác giả đã xác định và phânchia ra hai giai đoạn thời gian khác nhau để khảo cứu sự khác biệt các nhân tố tácđộng đến cấu trúc vốn của các ngân hàng tại đất nước Thổ Nhĩ Kỳ: một là thời giansau cuộc khủng hoảng tài chính (1992 – 2000) và hai là thời gian thực hiện tái cấutrúc nền kinh tế (2001 – 2007)
Bảng 2.3: Kết quả thực nghiệm của Çağlayan và Şak (2010)
THỜI GIAN MẪU NGHIÊN CỨU
Cả 2 giai đoạn Giai đoạn 1 2
-Dấu cộng "+" thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa biến độc lập và biến
ĐBTC Dấu trừ "-" thể hiện mối quan hệ nghịch biến giữa biến độc lập và biến ĐBTC
Kết quả cuối cùng, công trình nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng thuyếtphục về các biến Quy mô (SIZE) và Tỷ số giá trị thị trường trên sổ sách (Market tobook – MTB) có mối quan hệ đồng biến với biến Đòn bẩy tài chính (Book Leverage
Trang 31– BL) Và trái ngược lại, hai biến Tài sản cố định (Tangibility – TANG) và Lợinhuận (Profitability – PROF) có mối quan hệ nghịch biến với biến Đòn bẩy tàichính ở riêng mỗi giai đoạn khảo cứu (giai đoạn một là 1992-2000 và giai đoạn hai
là 2001-2007) Bên cạnh đó, kết quả cũng có bằng chứng tương tự khi kiểm địnhchung cho cả hai giai đoạn (1992-2007) (được hệ thống lại trong bảng 1.4) Ngoài
ra, thêm vào phần kết của nghiên cứu, các phân tích dữ liệu cũng cho thấy một sốbằng chứng về kỳ vọng của lý thuyết trật tự phân hạng (The Pecking-order Theory)trong mẫu nghiên cứu của các ngân hàng tại quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
2.3.4 Đánh giá về ưu và nhược điểm của các nghiên cứu có liên quan
Nhìn chung, những phát hiện của những nghiên cứu này đã góp phần hướngđến một sự hiểu biết sâu hơn, hoàn thiện hơn về hành vi tài chính của các NHTM tạicác quốc gia có mức độ phát triển khác nhau Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng mỗiquốc gia có một nền kinh tế và chính trị riêng biệt dẫn đến các cơ sở dữ liệu có độtin cậy ở những mức độ khác nhau (đặc biệt là những nguồn dữ liệu tốt) có thể tạonên rào cản chính trong bài nghiên cứu khi phân tích về cấu trúc vốn Chính vì thế,cần có nhiều nghiên cứu xa thêm, sâu thêm với những nguồn dữ liệu phong phúhơn, đa dạng hơn để kiểm định lại các nhân tố này; đồng thời bổ sung thêm sự thiếuhụt các nhân tố khác có thể ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty tại nước(mà bài nghiên cứu vẫn còn chưa đề cập đến)
Qua các lý thuyết và các nghiên cứu của các tác giải ở trên ta thấy rằng môhình của Gropp & Heider (2007) với thời gian nghiên cứu dài và các biến nghiêncứu là phù hợp, kết quả thực nghiệm đáng tin cậy và có thể tìm được nguồn dữ liệuđáng tin cậy cho nghiên cứu về cấu trúc vốn của các NHTM ở Việt Nam Tác giả sẽvận dụng linh hoạt mô hình nghiên cứu của tác giả này đề áp dụng cho bài nghiêncứu về cấu trúc vốn ở Việt Nam như trình bày ở chương 4 bài nghiên cứu này
Trang 32TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Qua chương 2, ta đã lần lượt đi tìm hiểu và phân tích về quá trình phát triển,tình hình hoạt động và rủi ro của ngành ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2006 –2016
Đồng thời, ta cũng đã phân tích mô tả thực trạng cấu trúc vốn, các nhân tốtác động đến cấu trúc vốn và mối tương quan giữa các nhân tố và cấu trúc vốn củacác ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả ban đầu, ta có nhận định sau: Tài sản
cố định (TANG), Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và Lạm phát (INF)
có tác động ngược chiều đến Đòn bẩy tài chính (L) Ngược lại, Tỷ suất sinh lợi trêntài sản (ROE), Rủi ro trên tài sản (RISK) và Quy mô (SIZE) có tác động thuận chiềuđến Đòn bẩy tài chính
Với các kết quả sơ khởi ban đầu đạt được trên đây, đến chương tiếp theo, ta
sẽ tiến hành nghiên cứu định lượng để nhận định rõ hơn về mức độ và chiều hướngtác động thực sự của các nhân tố này đến cấu trúc vốn của các ngân hàng thươngmại Việt Nam
Trang 33CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 3.1 THỰC TRẠNG CẤU TRÚC VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
NHTM Qua phần Mô tả thống kê và đồ thị biểu diễn biến đòn bẩy tài chính(L), kết quả cho ta thấy rằng đòn bẩy tài chính tại các ngân hàng thương mại ViệtNam trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2016 bình quân là 91,85%.Trong đó, tỷ lệ đòn bẩy cao nhất là 92.88% và thấp nhất là 89.66%
Biểu đồ 3.1: Đòn bẩy tài chính từ giai đoạn 2006 đến 2016
(Nguồn: số liệu người nghiên cứu thu thập) Nếu nhìn lướt qua Đồ thị Thống kê bìnhquân các nhân tố trong giai đoạn khảo cứu, ta có cảm giác rằng đòn bẩy tài chính
trung bình qua các năm có tăngnhưng cũng có giảm Tuy nhiên, dường như mức chênh nhau qua từng năm khôngnhiều (ngoại trừ hai năm 2007 và 2009 biên độ dao động khá đáng kể so với cácnăm trước) Cụ thể, đòn bẩy tài chính bình quân qua các năm như sau: 2006 là92.88%; 2007 là 90.16%; 2008 là 89.66%; 2009 là 90.86%; 2010 là 92.71%; 2011
là 92.85%; và 2012 là 92.16% Trong đó, tỷ lệ sử dụng đòn bẩy có xu hướng giảmtrong những năm 2007 và 2008 Trái ngược lại, đòn bẩy tài chính lại gia tăng ở hai
Trang 34năm 2010 (1.85%) và 2011 (13.9%) lần lượt so với năm 2008 và 2009 Như vậy,việc gia tăng sử dụng nhiều nợ hơn trong cấu trúc vốn của các ngân hàng cao nhất làvào năm 2011 (vượt đến 3.85%) so với năm 2007, và giảm cao nhất là năm 2008(sụp giảm 1.53%) so với cùng kỳ năm trước.
Đồng thời, xét về cơ cấu tổng nợ phải trả, có vẻ như các ngân hàng Việt Namtrong những năm gần đây có xu hướng gia tăng nợ dài hạn nhanh hơn là nợ ngắnhạn Tuy nhiên, nếu nhìn tổng quát thì ta lại nhận ra rằng dường như lát bánh nợngắn hạn lại chiếm tỷ trọng tương đối cao hơn so với lát bánh nợ dài hạn trong tổngnguồn huy động nợ từ bên ngoài Hay nói đúng hơn, các ngân hàng thương mại ViệtNam thường thiên về duy trì đòn bẩy tài chính ngắn hạn hơn là dài hạn Quả thực,vấn đề này có thể xuất phát từ hiệu ứng dây chuyền về huy động nguồn vốn tiếtkiệm từ các khách hàng38
Có lẽ là vì lo sợ rủi ro, vì đắng đo sự mất giá, vì cân nhắc lợi nhuận biếnđộng, v.v…mà họ thường ưa thích lựa chọn những kỳ hạn gửi tiền ngắn hạn hơn làduy trì một kỳ hạn quá dài với nhiều biến cố khôn lường không mong muốn sẽ xảy
ra Suy cho cùng, dù bản chất căn nguyên như thế nào đi chăng nữa thì đây cũngchính là sở thích gửi tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội và cũng là thực trạngđiển hình khi duy trì tỷ trọng đòn bẩy tài chính ngắn hạn tương đối cao hơn so vớidài hạn của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những thời điểm nóng sốtnhư hiện nay
Nhìn chung, xét về toàn cục, có vẻ như tỷ lệ đòn bẩy tài chính bình quân quacác năm đều có xu hướng tăng lên (nhiều hơn là giảm xuống) khi ngành ngân hàngngày càng hiện đại, phổ biến và phát triển (Vào năm 2006, các ngân hàng có đònbẩy tài chính là 92.88% Qua 10 năm sau, vào năm 2016, tỷ lệ này cũng ở mứctương tự 92.82% so với trước khủng hoảng tài chính năm 2006
Tổng kết lại, ta có thể nói rằng: Sau thời gian khủng hoảng kinh tế thế giớicác ngân hàng thương mại tại Việt Nam dường như đang trở lại về chiều hướng cấu
Trang 35trúc vốn thâm dụng nợ cao (và cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp phi tài chính).
3.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ LIÊN QUAN LỢI NHUẬN
NHTM.
Năm 2006, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam là 2.8% Đến năm 2007,nền kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao 5.98% Bắt đầu từ năm 2008, dướitác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam chỉđạt tốc độ tăng trưởng 4.54%, chỉ số lạm phát lên tới 23%, nhập siêu cao năm 2009,nguồn vốn đầu tư nước ngoài chững lại
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát Việt Nam giai đoạn 2006-2016
Tốc độ tăng trưởng Tỷ lệ lạm Năm kinh tế phát
(Nguồn: Ngân hàng thế giới)
Từ năm 2010, nền kinh tế dần hồi phục sau khủng hoảng, tình hình kinh tếViệt Nam cũng được cải thiện Để khắc phục tình trạng suy giảm kinh tế, kích cầuđầu tư và tiêu dùng trong khuôn khổ chính sách khẩn cấp chung của Chính Phủ,
Trang 36NHNN đã nới lỏng chính sách tiền tệ, cùng lúc đó chính phủ đưa ra biện pháp kíchthích tài khóa khiến nhu cầu vay tăng cao Nền kinh tế Việt Nam đã khá thành côngkhi đạt được mức tăng trưởng tương đối cao so với các nước trong khu vực (5,3%)trong khi vẫn giữ được lạm phát ở mức ổn định (7%) Tuy nhiên, chính các biệnpháp nới lỏng đó đã dẫn đến hiện tượng lạm phát cao năm 2010-2011 cũng như hiệntượng bong bóng chứng khoán, bong bóng bất động sản đã kéo nền kinh tế chậmphục hồi.
Từ năm 2010, theo Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, mục tiêu kinh tế
- xã hội của năm 2010 là phấn đấu phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng tính ổnđịnh kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng, ngăn chặn lạm phát cao trở lại, tăng khảnăng bảo đảm an sinh xã hội Trong bối cảnh khó khăn nền kinh tế thế giới, với sựđiều hành linh hoạt của Chính phủ, Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng GDPđạt 4-5%, các ngành công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu tăng so với 2009 Tuynhiên, nền kinh tế vẫn tiềm ẩn những khó khăn nội tại, cơ cấu kinh tế chuyển dịchchậm, hiệu quả đầu tư thấp, nhập siêu có xu hướng tăng, dự trữ ngoại tệ thấp, lạmphát tăng cao (năm 2012 đến 18%) Trước tình hình đó, Chính phủ đã ban hànhNghị quyết 11/NQ-CP đưa ra 6 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm kiềm chế lạm phát,
ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội Nhờ sự triển khai đồng bộ các giảipháp, đến hết quý IV/2011, kinh tế vĩ mô đã có chuyển biến khả quan hơn: GDPduy trì mức tăng trưởng ổn định, lạm phát tăng chậm lại; thâm hụt cán cân thươngmại thu hẹp, tỷ giá ổn định
Đến năm 2014 tốc độ tăng trưởng nền kinh tế tăng 4.85%, mức cao nhất kể
từ năm 2011 đến nay Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,49%, cao hơnmức 2,64% của năm 2013 Khu vực công nghiệp và xây dựng có bước tăng đột pháđáng kể và đạt 7,4%, mức cao nhất trong 3 năm gần đây Tuy nhiên, khu vực dịch
vụ lại chỉ tăng 5,96%, thấp hơn mức 6,56% của năm trước Những con số này chothấy tăng trưởng GDP của Việt Nam đang dần thoát đáy Điểm tích cực đáng ghinhận khác là kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm 2014 tiếp tục tăng mạnh Cụ thể,kim ngạch xuất khẩu đạt 150 tỷ USD tăng đến 13,6%, trong đó, riêng khu vực FDI
Trang 37không tính dầu thô tăng 16,67%, cao hơn khu vực kinh tế trong nước là 10,4% Cònnhập khẩu đạt 148 tỷ USD, tăng 12,1% so với năm trước Như vậy, năm 2014 ViệtNam xuất siêu tới 2 tỷ USD Đây là mức xuất siêu cao nhất từ trước đến nay Một sốtín hiệu tích cực khác đối với nền kinh tế là lạm phát năm 2014 gần như được kiểmsoát hoàn toàn Chỉ số CPI cả năm chỉ tăng 1,84%, đây là mức thấp nhất kể từ năm
2002 đến nay Trong các nhóm hàng ngoại trừ giáo dục tăng 8,24%, còn lại hầu hếtcác nhóm hàng hóa khác đều tăng khá thấp
Đồng tiền của Việt Nam trong năm 2014 khá ổn định Tỷ giá tiền đồng so với
đô la Mỹ có vài đợt biến động nhỏ nhưng không đáng kể và nằm trong giới hạn camkết của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong khi đó, hầu hết các đồng tiền trên thếgiới đều mất giá khá mạnh so với đồng đô la Tuy nhiên, việc tiền đồng mất giá íthơn các đồng tiền khác cũng làm giảm tính cạnh tranh của những mặt hàng sản xuấttrong nước
Lãi suất được xem là một trong những điểm sáng của nền kinh tế trong năm
2014 Hiện nay, lãi suất huy động và cho vay gần như thấp nhất từ trước đến nay.Việc lãi suất giảm và ngân hàng mở rộng “hầu bao” góp phần làm chi phí tài chínhdoanh nghiệp giảm và nhiều doanh nghiệp hồi sinh khi tiếp cận được nguồn vốn.Cùng với lãi suất giảm, điểm tích cực khác về tài chính là tính hệ thống ngân hàngtrong năm qua khá ổn định VAMC đóng vài trò khá tích cực trong việc mua lại nợxấu của các ngân hàng
Về môi trường pháp luật, các luật như Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất độngsản, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã được Quốc hội thông qua trong năm.Những luật này đều có nhiều tiến bộ so với trước Luật Nhà ở mở rộng đối tượng làdoanh nghiệp, cá nhân nước ngoài có thể mua, sở hữu nhà tại Việt Nam Điều nàyđược kỳ vọng sẽ tạo ra một “luồng gió mới” trên thị trường bất động sản LuậtDoanh nghiệp có sự thay đổi cơ bản trong “tư duy” khi chuyển từ việc “xin cho”sang việc được làm “những điều pháp luật không cấm” Điều này được kỳ vọng sẽ
“cởi trói” cho doanh nghiệp rộng đường phát triển hơn Tinh thần cải cách hành
Trang 38chính của nhà làm luật thông qua việc đơn giản hóa các thủ tục; minh bạch hóa tàiliệu, giấy tờ cần thiết; rút ngắn và định rõ thời hạn xử lý hồ sơ cũng được thể hiệnkhá rõ trong những luật này Đây là những thay đổi quan trọng giúp tạo hành langpháp lý cho doanh nghiệp có thể hoạt động tốt hơn.
Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2014, ông Võ Đại Lược nhận định: “Tái cơcấu nền kinh tế của Việt Nam chậm chạp vì đổi mới thể chế quá chậm, các nhóm lợiích vẫn chi phối được chính sách và sự phân bổ các nguồn lực… Trong khi chỉ cóthể gia tăng nội lực khi có chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân”
Kinh tế năm 2015 diễn ra trong bối cảnh thị trường toàn cầu có những bất ổn,kinh tế thế giới vẫn đối mặt với nhiều rủi ro lớn với các nhân tố khó lường Triểnvọng kinh tế khu vực Eurozone chưa thật lạc quan Thương mại toàn cầu sụt giảm
do tổng cầu yếu Kinh tế thế giới chưa lấy lại được đà tăng trưởng và phục hồichậm Giá dầu thô giảm mạnh dẫn đến giá cả hàng hóa có xu hướng giảm nhanh,ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu Sự bất ổn của thị trường tài chính toàn cầu vớiviệc giảm giá đồng Nhân dân tệ và tăng trưởng sụt giảm của kinh tế Trung Quốc đãtác động mạnh tới kinh tế thế giới Ở trong nước, giá cả trên thị trường thế giới biếnđộng, nhất là giá dầu giảm gây áp lực đến cân đối ngân sách Nhà nước, nhưng đồngthời là yếu tố thuận lợi cho việc giảm chi phí đầu vào, phát triển sản xuất và kíchthích tiêu dùng Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5.55% và mức lạm phát được kiểm soát
Trang 39chức quốc tế cho rằng không dưới 10%, thậm chí có thể cao hơn rất nhiều Như vậy,việc giải quyết nợ xấu là một vấn đề không dễ dàng và cần nhiều thời gian.
Kinh tế Việt Nam đã trải qua năm 2016 với nhiều khó khăn trước những biếnđộng lớn của nền kinh tế toàn cầu Kinh tế thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển,
ẩn chứa nhiều yếu tố bất định Nổi bật nhất trong số đó là sự kiện nước Anh quyếtđịnh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) sau một cuộc trưng cầu dân ý (Brexit) vàchiến thắng của ông Donald Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi tháng11/2016 Bên cạnh đó, chính sách nới lỏng tiền tệ của Nhật Bản không đạt được như
kỳ vọng khiến nước này chìm sâu
hơn vào vòng xoáy giảm phát Kinh tế châu Âu không có nhiều cải thiện so với năm2015; lạm phát duy trì ở mức thấp, vấn đề về việc làm cũng không có nhiều chuyểnbiến
Ngược lại, Trung Quốc và một số nước đang phát triển lại có sự tăng trưởngtương đối ổn định Kinh tế Trung Quốc đang dần dịch chuyển đúng hướng theochiến lược tái cân bằng mà chính phủ nước này đề ra Trong khi đó, các tổ chứcquốc tế cũng đưa ra những đánh giá lạc quan về triển vọng của các nước nền kinh tếmới nổi trong giai đoạn tiếp theo
Thị trường hàng hóa thế giới có sự thay đổi ngược chiều giữa một số loạihàng hóa cơ bản, trong khi tài sản biến động mạnh theo những sự kiện trong năm.Giá các mặt hàng năng lượng phục hồi ổn định trong khi giá các loại lương thựcchính biến động mạnh trong năm 2016
Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, nền kinh tế Việt Nam đãbộc lộ những dấu hiệu cho thấy tính dễ bị tổn thương trước các cú sốc Tăng trưởngkinh tế của 2 quý đầu năm 2016 lần lượt là 5,48% và 5,78% so với cùng kỳ nămtrước Mặc dù, được phục hồi trong nửa cuối năm nhưng tăng trưởng kinh tế cả nămchỉ đạt 6,21%, thấp hơn mức 6,68% năm 2015 và mục tiêu 6,3% mà Chính phủ đặt
ra trong phiên họp thường kỳ tháng 9/2016
Trang 40Tính tới cuối năm, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,74% so với tháng 12/2015.Trong khi đó, lạm phát lõi vẫn duy trì trong khoảng 1,7-1,9% trong cả năm 2016,điều này khiến khoảng cách giữa lạm phát và lạm phát lõi ngày càng được nới rộng.Điều này cho thấy, sự gia tăng mạnh trong chỉ số giá các nhóm hàng lương thực -thực phẩm, năng lượng và do Nhà nước quản lý.
Mặc dù, suy giảm trong những tháng giữa năm, chỉ số giá các mặt hànglương thực thế giới do Ngân hàng Thế giới tính toán vẫn tăng từ 85,95 điểm cuốinăm 2015 lên mức 93,15 điểm trong tháng 11/2016 Đi cùng xu hướng này, chỉ sốgiá nhóm hàng lương thực và thực phẩm của Việt Nam trong tháng 12 lần lượt tăng2,57% và 3,34% (so với cùng kỳ năm trước), so với mức tăng -1,65% và 1,47%tương ứng của hai nhóm hàng này cùng kỳ năm 2015
3.3 THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Đánh giá lợi nhuận của ngân hàng qua các chỉ số đo lường lợi nhuận, số liệucho thấy hai chỉ số ROA, ROE, NIM có sự biến động giống nhau trong giai đoạn2006-2016 Sau năm 2006 tăng trưởng nóng, sang năm 2007, cùng gánh chịu cáctác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, thị trường chứngkhoán sụt giảm, tốc độ tăng trưởng tiền gửi, tài sản suy giảm, đặc biệt là sự sụt giảmthu nhập ngoài lãi làm ROA trung bình của khối các ngân hàng niêm yết giảmxuống còn 1,3% (năm 2007) và ROE trung bình giảm xuống mức 12.5% (năm2007), NIM trung bình 2.3% Biểu đồ thể hiện biến động các chỉ tiêu lợi nhuậnđược trình bày dưới đây