Khác vớinhững nghiên cứu trước đây, chỉ tìm hiểu mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãnglai và thâm hụt ngân sách nhà nước, luận văn đã mở rộng nghiên cứu sự tác độngcủa các thành phần
Trang 1-Trần Thị Cẩm Tú
CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI 10 QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 2-Trần Thị Cẩm Tú
CÁC THÀNH PHẦN CỦA CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI 10 QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn: GS TS Dương Thị Bình Minh
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á” là côngtrình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực vàchưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Tác giả luận văn
Trần Thị Cẩm Tú
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Tóm tắt
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 2
1.1 Lý do lựa chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa của đề tài 4
1.6 Kết cấu đề tài 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.1.1 Cân đối ngân sách 6
2.1.1.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước 6
2.1.1.2 Tài trợ thâm hụt ngân sách 6
2.1.2 Cán cân thanh toán quốc tế (BOP) 9
2.1.2.1 Khái niệm 9
2.1.2.2 Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế 9
Trang 52.1.3.1 Tác động của cán cân tài khoản vãng lai đến cân đối ngân sách nhà nước 11
2.1.3.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước 13 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây 14
2.2.1 Cân đối ngân sách nhà nước 14
2.2.2 Các cách tiếp cận trong phân tích cán cân thanh toán quốc tế 17
2.2.3 Tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước 20
2.2.3.1 Cán cân tài khoản vãng lai tác động đến cân đối ngân sách nhà nước 20
2.2.3.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước 23 2.3 Kết luận 25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 26
3.1 Phương pháp nghiên cứu 26
3.2 Dữ liệu 28
3.3 Mô hình nghiên cứu 29
3.4 Giới thiệu các biến 29
3.5 Các bước tiến hành 30
3.6 Kết luận 31
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH VÀ PHÂN TÍCH ĐỊNH LƯỢNG VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 33 4.1 Phân tích định tính thực trạng cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếpnước ngoài và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á
33
Trang 64.1.3 Philippines 38
4.1.4 Malaysia 40
4.1.5 Indonesia 42
4.1.6 Ấn Độ 43
4.1.7 Pakistan 44
4.1.8 Bangladesh 45
4.1.9 Sri Lanka 46
4.1.10 Mông Cổ 47
4.2 Phân tích định lượng tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á 48
4.2.1 Kết quả thống kê mô tả 48
4.2.2 Kết quả kiểm định tính dừng 50
4.2.3 Kết quả hồi quy Pool OLS, FEM và REM 51
4.2.4 Kết quả hồi quy GLS 53
4.2.5 Thảo luận về kết quả nghiên cứu: 53
4.3 Kết luận 54
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, HÀM Ý VÀ KIẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH 55
5.1 Kết luận của nghiên cứu 55
5.2 Hàm ý và kiến nghị về chính sách 55
5.2.1 Chính sách tác động cán cân tài khoản vãng lai 56
5.2.2 Chính sách tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài 56
5.2.3 Chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 57
5.3 Hạn chế và hướng phát triển của đề tài 58
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8Union
ngoài
Trang 9nhất
Trang 10vãng lai đến cân đối ngân sách nhà nước 22
Bảng 3.1 Nguồn thu thập số liệu 28
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến sử dụng trong mô hình 49
Bảng 4.2 Tính dừng của các biến trong mô hình 50
Bảng 4.3 Kết quả ước lượng bằng mô hình Pool OLS, FEM, REM 51
Bảng 4.4 Kết quả kiểm định Hausman 52
Bảng 4.5 Kết quả kiểm định LM test 52
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến 52
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 53
Bảng 4.8 Kết quả hồi quy GLS 53
Trang 11Tóm tắt
Cân đối ngân sách nhà nước chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố và là chủ đề đượcnghiên cứu rộng rãi bởi tầm quan trọng của cân đối ngân sách nhà nước đối với sựphát triển bền vững của một quốc gia Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm này, cácnhà làm chính sách sẽ có những điều chỉnh nhằm cải thiện cán cân ngân sách nhànước Mục tiêu của luận văn tìm ra bằng chứng thực nghiệm về tác động của cácthành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốcgia đang phát triển ở châu Á, trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2017 Khác vớinhững nghiên cứu trước đây, chỉ tìm hiểu mối quan hệ giữa thâm hụt tài khoản vãnglai và thâm hụt ngân sách nhà nước, luận văn đã mở rộng nghiên cứu sự tác độngcủa các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nướcthông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài Bằng cách sử dụng hồi quy bình phương tốithiểu tổng quát GLS, tác giả luận văn tìm thấy tác động của cán cân tài khoản vãnglai, đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước là cùng chiều.Nghĩa là khi cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng thì cân đốingân sách nhà nước sẽ được cải thiện
Từ khóa: Cán cân thanh toán quốc tế, cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp
nước ngoài, cân đối ngân sách nhà nước, mô hình GLS
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài
Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ổn định, tăng trưởng kinh tế,giúp phân bổ lại nguồn lực, giảm bất bình đẳng thu nhập và xã hội, quản lý doanhnghiệp nhà nước Nếu ngân sách nhà nước bị thâm hụt lớn sẽ gây bất ổn kinh tế, nóảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực, tổng sản lượng đầu ra, tiết kiệm tư nhân, đầu tư
tư nhân và cán cân tài khoản vãng lai (Papadogonas & Stournaras, 2006) Arjomand
và các cộng sự (2016) cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều của thâm hụt ngânsách nhà nước và tăng trưởng kinh tế khi nghiên cứu vai trò của thâm hụt ngân sách
ở các quốc gia MENA Tuy nhiên, hiện tại ngân sách nhà nước của các quốc giađang phát triển bị thâm hụt lớn, vì ở các nước này, thu nhập thấp nên số thu thuếkhông nhiều, trong khi, nhu cầu về tài trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, bảo hộ cácngành sản xuất trong nước làm chính phủ phải chi tiêu rất lớn, vượt xa khả năng thuthuế của mình
Chính vì thực trạng và tầm quan trọng của thâm hụt ngân sách nhà nước, nên có rấtnhiều nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu các yếu tố tác động đến thâm hụt ngânsách nhà nước Theo Neaime (2015), gánh nặng nợ lớn hay số thu thuế không tươngxứng với chi tiêu của chính phủ cho đầu tư cơ sở hạ tầng làm gia tăng thâm hụtngân sách nhà nước Một nghiên cứu khác của Arjomand và các cộng sự (2016), tácgiả tìm thấy tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác động cùng chiều với thâm hụt ngânsách nhà nước, trong khi, năng suất lao động ảnh hưởng ngược chiều Khalid, A M
và Guan (1999) cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai được tài trợ bởi nợ công, tiềnlãi trên các khoản nợ công này tăng lên qua từng năm, dẫn đến thâm hụt ngân sáchnhà nước lớn hơn Và cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác tìm hiểu mốiquan hệ giữa bộ đôi thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt tài khoản vãng lai.Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc phân tích tácđộng của thâm hụt tài khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước mà khôngphân tích thực nghiệm tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến
Trang 13cân đối ngân sách nhà nước Mặc dù một thành phần khác của cán cân thanh toánquốc tế - đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có những ảnh hưởng đến cân đối ngânsách nhà nước Vì vậy, để làm rõ những vấn đề trên, tác giả luận văn chọn đề tài
“Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế tác động đến cân đối ngân sách nhànước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á” làm luận văn tốt nghiệp của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cânđối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á, từ đó đề xuấtnhững chính sách để bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước
Đề tài trả lời cho câu hỏi nghiên cứu:
- Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm: cán cân tài khoảnvãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại
10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á như thế nào?
- Các giải pháp nào có thể cải thiện cân đối ngân sách nhà nước?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả luận văn phân tích định tính và định lượng để tìm hiểu tác động của cácthành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốcgia đang phát triển ở châu Á
Đối với phân tích định tính, tác giả luận văn sử dụng thống kê mô tả, tổng hợp đểđánh giá thực trạng về các thành phần cán cân thanh toán quốc tế: cán cân tài khoảnvãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc giađang phát triển ở châu Á
Đối với phân tích định lượng, tác giả luận văn thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị
để kiểm định tính dừng của dữ liệu Tiếp theo, thực hiện hồi quy POLS, FEM, REMtheo mô hình nghiên cứu Từ kết quả hồi quy, lựa chọn mô hình tốt nhất và kiểmđịnh tự tương quan, phương sai thay đổi, đa cộng tuyến Sau khi thực hiện các kiểmđịnh trên, tác giả sử dụng mô hình ước lượng GLS để khắc phục và tìm hiểu tácđộng của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nướctại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á
Trang 141.4 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân
thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ởchâu Á Trong đó, luận văn tập trung vào nghiên cứu tác động của cán cân tài khoảnvãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn thu thập dữ liệu theo năm trong giai đoạn từ năm
1991 đến năm 2017 của 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á: Việt Nam, Thái Lan,Philippines, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, MôngCổ
Nguồn dữ liệu: Các dữ liệu về các biến của mô hình nghiên cứu được thu thập từ
worldbank và website chỉ số các biến kinh tế www.ieconomics.com
1.5 Ý nghĩa của đề tài
Từ kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: các thành phầncủa cán cân thanh toán quốc tế, gồm: cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếpnước ngoài tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển
ở Châu Á như thế nào?
Từ những nền tảng lý thuyết kết hợp với kết quả của ước lượng GLS, luận văn đưa
ra một số đề xuất về chính sách để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốcgia đang phát triển ở Châu Á
1.6 Kết cấu đề tài
Đề tài gồm có các phần sau:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc
tế đế cân đối ngân sách nhà nước và các nghiên cứu trước đây
Trong chương này sẽ giới thiệu một số nghiên cứu liên quan đến cán cân thanh toánquốc tế, cân đối ngân sách nhà nước, tác động của cán cân tài khoản vãng lai, đầu tưtrực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước qua các nghiên cứu thựcnghiệm
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu
Trang 15Nội dung của chương trình bày phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giớithiệu các biến, các giả định được sử dụng cũng như quy trình thực hiện hồi quy vàkiểm định mô hình và kết quả ước lượng.
Chương 4: Phân tích định tính và định lượng về tác động của các thành phần cáncân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước
Trình bày kết quả phân tích định tính về thực trạng của ngân sách nhà nước, cán cântài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu
Á Đồng thời, kết quả hồi quy ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của cácthành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước cũng đượctrình bày trong chương này
Chương 5: Kết luận, hàm ý và kiến nghị về chính sách
Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả luận văn đề xuất một số kiến nghị vềchính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang pháttriển ở Châu Á
Trang 16CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC THÀNH PHẦN CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TẾ ĐẾN CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH
NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Cân đối ngân sách
2.1.1.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước là việc điều chỉnh số thu đảm bảo cho chi tiêu củachính phủ (Cameron, 2004) Vì vậy, cân bằng ngân sách nhà nước là sự khác biệtgiữa tổng số thu và chi tiêu Ngân sách nhà nước bị thâm hụt khi chi tiêu công vượtquá số thu thuế và thặng dư khi số thu thuế lớn hơn chi tiêu công Ngân sách nhànước có mối quan hệ ngược chiều với chi tiêu công Nghĩa là, nếu số thu thuế khôngđổi, việc tăng chi tiêu công sẽ làm xấu đi ngân sách nhà nước Ngược lại, ngân sáchnhà nước có mối quan hệ cùng chiều với số thu thuế, nếu số thu thuế tăng trong khichi tiêu công không đổi, giúp cải thiện ngân sách nhà nước Những chính phủ có sốthu bất ổn thì thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn và nếu chính phủ kiểm soátchi tiêu tốt hơn sẽ giảm thâm hụt ngân sách nhà nước (Morrison, 1982)
2.1.1.2 Tài trợ thâm hụt ngân sách
Theo Govil (2014), để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước, chính phủ có thểvay mượn từ ngân hàng trung ương, vay nợ nước ngoài, vay nợ các ngân hàngthương mại và vay nợ từ khu vực phi ngân hàng trong nước
Vay nợ ngân hàng trung ương được thực hiện bằng việc tăng cung tiền (Govil,2014) Tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách chỉ được sử dụng khi chínhphủ buộc phải phát hành tiền để lưu hành lúc thực sự cần thiết (Ghosh, 2002) Giả
sử M là lượng tiền tệ đang lưu hành, V là vòng quay của tiền, P là mức giá hàng
hóa, T là khối lượng giao dịch, mua bán, theo Boariu & Bilan (2007), phương trình
sức mua tiền tệ của Irving Fisher có dạng:
Vì vậy, nếu cung tiền tăng, trong khi khối lượng hàng hóa và dịch vụ, vòng quaytiền tệ không thay đổi, mức giá gia tăng Tại một mức thu nhập danh nghĩa, sự gia
Trang 17tăng mức giá làm giảm thu nhập thực của các cá nhân và tổ chức Vì vậy, tăng cungtiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước tác động đến việc phân phối thunhập của người dân theo đúng chủ đích của chính phủ, đó là, lượng tiền tăng thêmđược dùng để mua hàng hóa, dịch vụ và chi tiêu công (Fischer & Dornbusch, 1997).Tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách làm tăng giá Tuy nhiên, trong dài hạn,tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước có làm lạm phát gia tăng haykhông, còn phụ thuộc vào cách sử dụng nguồn lực của chính phủ (Boariu & Bilan,2007) Nếu lượng tiền in thêm được sử dụng để tài trợ cho các dự án đầu tư, làm sảnlượng tăng Do đó, sự gia tăng lượng tiền lưu thông sẽ tương đương với số lượnghàng hóa, dịch vụ giao dịch tăng lên Đến cuối cùng, trong dài hạn, sẽ không còn sựtăng giá Nếu lượng tiền in thêm được sử dụng để tài trợ cho chi tiêu dùng, khônglàm tăng GDP, trong dài hạn, gây ra tình trạng lạm phát.
Tài trợ thâm hụt bằng hình thức vay nợ, bao gồm vay nợ ngân hàng thương mại, vay
nợ nước ngoài, vay nợ khu vực phi ngân hàng trong nước (Govil, 2014) Khi tài trợthâm hụt ngân sách nhà nước bằng vay nợ từ ngân hàng thương mại, hay các tổchức phi ngân hàng, phát hành trái phiếu sẽ gây ra hiện tượng lấn át đầu tư, lạmphát và gánh nặng nợ trong tương lai (Paiko, 2012) Việc tài trợ thâm hụt ngân sáchnhà nước bằng vay nợ, chính phủ có thể mở rộng chi tiêu nhưng đồng thời làm tăngthêm nợ công dẫn đến hậu quả trong ngắn hạn và dài hạn Chính phủ không chỉ phảitrả lãi suất hàng năm cho các khoản vay mà còn phải trả lại khoản tiền vay gốc, dẫnđến trong tương lai, thuế sẽ tăng Keynes (1930) đã nhấn mạnh đến hiệu quả mởrộng của việc tài trợ nợ trong chi tiêu của chính phủ hoặc thâm hụt ngân sách nhànước Trong mô hình Keynes (1930) với mức giá P cố định, C là tiêu dùng của hộgia đình, I là đầu tư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ, sự gia tăng chi tiêu của chínhphủ thông qua sử dụng tiền vay dẫn đến sự thay đổi về tổng chi tiêu (C + I + G).Nếu nền kinh tế đang dưới mức toàn dụng, chi tiêu của chính phủ tăng lên sẽ làmtăng sản lượng hoặc thu nhập Từ đây, thuế thu được từ thu nhập sẽ tăng, dẫn đếngiảm thâm hụt ngân sách nhà nước Tuy nhiên, chi tiêu của chính phủ được tài trợbằng nợ được bù đắp phần lớn nhờ hiệu quả của việc huy động vốn từ đầu tư tư
Trang 18nhân Hiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân diễn ra theo nhiều cách Thứ nhất,các khoản vay của chính phủ để bù đắp ngân sách sẽ làm tăng cầu về các khoản vaydẫn đến mức lãi suất tăng lên Việc tăng lãi suất sẽ làm cho đầu tư tư nhân giảm Do
đó, sự gia tăng chi tiêu của chính phủ trong việc vay nợ đã làm giảm đầu tư tư nhân.Mặt khác, gánh nặng nợ mà xã hội phải gánh gia tăng do việc mở rộng nợ trong chitiêu của chính phủ Nếu thâm hụt ngân sách nhà nước phát sinh do giảm thuế, chitiêu của chính phủ không đổi, điều này cũng sẽ dẫn đến tăng lãi suất và sẽ gây rahiệu ứng chèn lấn đối với đầu tư tư nhân Điều này xảy ra vì việc giảm thuế kíchthích tiêu dùng, tiêu dùng của người dân làm giảm tiết kiệm Sự sụt giảm tiết kiệmlàm tăng lãi suất dẫn đến sự sụt giảm trong đầu tư tư nhân Ngoài ra, việc vay nợnước ngoài để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước làm gia tăng nợ nước ngoài vàảnh hưởng đến cán cân thanh toán quốc tế, rủi ro tỷ giá hối đoái (Govil, 2014).Thâm hụt ngân sách nhà nước cũng có thể được tài trợ bằng tăng thuế (Okafor vàcác cộng sự, 2017) theo lý thuyết đường cong Laffer Lý thuyết Laffer do Arrthur B.Laffer đưa ra năm 1974 Lý thuyết cho rằng những thay đổi về thuế suất có tác động
về mặt số học và kinh tế đến số thu thuế Về mặt số học, khi thuế suất hạ xuống sẽlàm giảm số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước tăng và ngược lại, khi thuế suấttăng làm tăng số thu thuế, thâm hụt ngân sách nhà nước giảm Về mặt kinh tế, theoLaffer (2004) việc giảm thuế suất tác động tích cực đến việc làm và sản lượng, do
đó tạo ra động lực để tăng cường các hoạt động kinh tế Nếu thuế suất tăng sẽ khôngkhuyến khích những hoạt động kinh tế bị đánh thuế Vì vậy, Mitchell (2010) đãkhuyến cáo các nhà hoạch định chính sách nên đặt mức thuế ở mức tối đa hóa tăngtrưởng chứ không phải mức tối đa hóa số thu và đường cong Laffer không cho biếtviệc cắt giảm thuế sẽ làm giảm hay tăng số thu thuế Những thay đổi về thuế suấtảnh hưởng như thế nào đến số thu thuế còn phụ thuộc vào hệ thống thuế, thời hạn ápdụng, khả năng tiếp cận các hoạt động kinh tế ngầm, thuế suất hiện hành, tỷ lệ lỗhổng pháp lý hay năng suất của nền kinh tế (Okafor và các cộng sự., 2017) Lýthuyết đường cong Laffer đã được Trostel (1995) mở rộng trong mô hình tăngtrưởng tân cổ điển Theo Trostel, thâm hụt tài chính làm trì hoãn thuế hiện tại,
Trang 19nghĩa là, thuế suất tương lai sẽ tăng Nếu thuế dựa vào thu nhập, việc tăng thuế sẽgiảm tỷ lệ tiền lương ròng trong tương lai Ngoài ra, việc giảm thuế suất hiện hànhdẫn đến tăng tỷ lệ tiền lương ròng hiện tại Điều này ảnh hưởng đến đầu tư vốn nhânlực Vì vậy, thâm hụt ngân sách nhà nước ảnh hưởng đến tiêu dùng, việc làm, đầu tưvốn, tổng sản lượng, tỷ lệ tiền lương ròng (Okafor và các cộng sự, 2017).
2.1.2 Cán cân thanh toán quốc tế (BOP)
2.1.2.1 Khái niệm
Theo định nghĩa của IMF (2009), cán cân thanh toán quốc tế là một báo cáo thống
kê những giao dịch kinh tế của một quốc gia với các quốc gia khác trên thế giớitrong một khoảng thời gian, có thể là một năm hoặc một quý Cán cân thanh toánquốc tế được ghi nhận theo nguyên tắc kế toán kép, một giao dịch sẽ được ghi nhậnbằng hai bút toán: bút toán nợ và bút toán có
2.1.2.2 Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế
Theo công ước quốc tế, cán cân thanh toán quốc tế bao gồm tài khoản vãng lai, tàikhoản vốn và tài khoản tài chính, dự trữ ngoại hối và sai số thống kê (Copeland,2005)
Theo định nghĩa của IMF (2009), tài khoản vãng lai cho thấy dòng chảy của hànghóa, dịch vụ, thu nhập sơ cấp và thu nhập thứ cấp của một quốc gia với các nướckhác Và cân bằng tài khoản vãng lai chính là sự khác biệt giữa tổng xuất khẩu, thunhập phải thu và tổng nhập khẩu, thu nhập phải trả Tài khoản vãng lai bao gồm:cán cân mậu dịch, xuất nhập khẩu thuần về dịch vụ, tiền lãi, lợi nhuận và cổ tứcnhận được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư gián tiếp nước ngoài cộng vớitiền lương của người lao động ở nước ngoài, tổng các khoản biếu, cho tặng nhậnđược từ những người di cư ra nước ngoài (Copeland, 2005)
Tài khoản vốn và tài khoản tài chính là tài khoản ghi nhận các dòng vốn trực tiếpảnh hưởng đến tài sản và nợ nước ngoài của một quốc gia Trong đó, tài khoản vốnphản ánh những giao dịch mua bán tài sản cố định Các thành phần của tài khoản tàichính bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài thuần, đầu tư gián tiếp nước ngoài thuần,
Trang 20đầu tư khác thuần bao gồm cho vay, tín dụng thương mại, tài sản dự trữ (Copeland,2005).
Dự trữ ngoại hối bao gồm vàng và các tài sản khác của ngân hàng trung ương,những tài sản này dễ dàng giao dịch trên thị trường tài chính quốc tế (Manchev,2009) Theo cuốn sách tái bản lần thứ sáu của IMF (2009), dự trữ ngoại hối là cáctài sản bằng ngoại tệ được kiểm soát bởi các cơ quan tiền tệ, để tài trợ trực tiếp cho
sự mất cân bằng thanh toán, và gián tiếp điều chỉnh mức độ cân bằng thông qua việccan thiệp trên thị trường ngoại hối để tác động đến tỷ giá hối đoái
Sai số thống kê bao gồm giao dịch không thống kê được hoặc bị bỏ sót vì các hoạtđộng kinh tế ngầm, phi chính thức (Copeland, 2005)
2.1.2.3 Các yếu tố tác động đến cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế chịu sự tác động của từng thành phần của cán cân thanhtoán quốc tế Ngoài ra, cán cân thanh toán quốc tế còn bị ảnh hưởng bởi chênh lệchtăng trưởng giữa các quốc gia, giá tương đối (giá cả hàng hóa nội địa so với hànghóa nước ngoài), lợi nhuận từ đầu tư vốn nước ngoài (CEA, 2004) Theo CEA(2004), một quốc gia với tỷ lệ tăng trưởng nhanh hơn các quốc gia khác, dòng vốnvào các quốc gia này cũng sẽ cao hơn, dẫn đến thâm hụt thương mại tương ứng Giátương đối chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố, bao gồm chi phí lao động, sản xuất, năngsuất lao động và tỷ giá hối đoái Đối với nhiều sản phẩm, chi phí lao động, sản xuất
ở các nước đang phát triển thường thấp hơn so với các nước phát triển Vì vậy, giácủa những hàng hóa này được sản xuất ở các nước đang phát triển có thể thấp hơn
so với giá của những hàng hóa tương tự được sản xuất tại các nước phát triển Do
đó, sẽ ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu của các quốc gia, dẫn đến tác động đến cáncân thanh toán quốc tế Lợi nhuận từ đầu tư vốn nước ngoài tác động đến các quyếtđịnh đầu tư, ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thanh toán quốc tế
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu lạm phát gia tăng, làm cho hàng hoácủa một quốc gia trở nên đắt đỏ hơn so với các nước khác Vì vậy, xuất khẩu giảm,nhập khẩu tăng dẫn đến làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế (Khuram và các cộng
sự, 2015)
Trang 21Tỷ giá hối đoái cũng tác động đến cán cân thanh toán quốc tế Một quốc gia theođuổi chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi, nếu tỷ giá hối đoái tăng (đồng nội tệ giảmgiá), các điều kiện khác không đổi, xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm, góp phần cảithiện cán cân thanh toán quốc tế (Kandil, 2009).
Thu nhập thực của một quốc gia tăng, người dân sẽ có nhu cầu tiêu dùng hàng hoánhiều hơn Trong khi các yếu tố khác không đổi, lúc này sẽ có hiện tượng thiếu hụthàng hoá Để bù đắp sự thiếu hụt này, nhu cầu nhập khẩu hàng nước ngoài tăng.Bên cạnh đó, xuất khẩu giảm Kết quả cuối cùng làm xấu đi cán cân thanh toán
2.1.3.1 Tác động của cán cân tài khoản vãng lai đến cân đối ngân sách nhà nước
Hệ thống tài khoản quốc gia định nghĩa về mối quan hệ giữa cân đối ngân sách nhànước và cán cân tài khoản vãng lai rõ ràng nhất (Fidrmuc, 2003) và (Bagnai, 2006).Theo Mankiw (2002), thu nhập của nền kinh tế là Y, tổng tiêu dùng tư nhân là C,chi tiêu của chính phủ G, đầu tư tư nhân I, và xuất khẩu ròng X – M, S là tiết kiệmcủa nền kinh tế, Sg là tiết kiệm của khu vực công, Sp là tiết kiệm tư nhân, Yd là thunhập hiệu dụng, T là thuế, chi chuyển nhượng R, cán cân ngân sách B, phương trìnhhàm tổng cầu trong nền kinh tế mở có dạng:
Trang 22Tuy nhiên, nếu không có mối quan hệ liên tục giữa tiết kiệm và đầu tư thì nhữngthay đổi trong quy mô tiết kiệm sẽ làm thay đổi cân đối ngân sách nhà nước Việctăng dự phòng ngân sách nhà nước dẫn tới việc tăng tiết kiệm quốc gia do dự kiến
sẽ tăng thuế trong tương lai, do đó chi tiêu của người tiêu dùng không tăng và thâmhụt tài khoản vãng lai, trong khi thâm hụt ngân sách nhà nước giảm Trong trườnghợp này, không xuất hiện hiện tượng thâm hụt kép (Mukhtar, Zakaria, & Ahmed,2007)
Theo giả thuyết cân bằng Ricardo, thâm hụt ngân sách nhà nước không thay đổi lãisuất và tỷ giá hối đoái và không ảnh hưởng đến việc tiết kiệm và tiêu dùng và do đókhông ảnh hưởng đến sự cân bằng của tài khoản vãng lai Như vậy, theo giả thuyết
Trang 23cân bằng Ricardo, sự cân đối của ngân sách nhà nước và sự cân bằng của tài khoảnvãng lai tương đối độc lập hoặc có liên quan ngược chiều (Makin, 2002).
Trong khi đó, Summers (1988) lập luận rằng chính phủ của một quốc gia sử dụngchính sách tài khoá để điều chỉnh vị thế bên ngoài của mình Nghĩa là, chính phủmuốn xoá bỏ sự mất cân bằng tài khoản vãng lai thì sẽ sử dụng ngân sách nhà nướcnhư là một công cụ để thực hiện Điều này dẫn đến mối quan hệ nhân quả giữa thâmhụt tài khoản vãng lai kéo theo thâm hụt ngân sách nhà nước Tuy nhiên, mối quan
hệ nhân quả theo chiều này không thống nhất
2.1.3.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động gián tiếp đến cân đối ngân sách nhà nướcthông qua tài khoản vãng lai Gia tăng dòng vốn vào, đồng nội tệ bị đánh giá caolàm tăng lượng hàng nhập khẩu và giảm xuất khẩu (Kim & Kim, 2006) Nhiều tácgiả đã liên kết các dòng vốn FDI và FPI với thâm hụt tài khoản vãng lai của mộtquốc gia thông qua các kênh tỷ giá hối đoái (Hobza & Zeugner, 2014) và (Cecen &Xiao, 2014) Họ lập luận rằng việc gia tăng dòng vốn đổ vào làm cho đồng nội tệtăng giá, dẫn đến hàng nhập khẩu rẻ hơn và hàng hóa xuất khẩu đắt hơn Do đó,nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ tăng và xuất khẩu giảm Kết quả làm xấu đi cán cân tàikhoản vãng lai của các nền kinh tế liên quan Ngoài ra, theo phương trình 2.5, tăngđầu tư trong khi tiết kiệm không đổi, làm giảm thặng dư tài khoản vãng lai Vì vậy,
sự gia tăng dòng FDI thu hút đầu tư cho nền kinh tế trong nước và làm xấu đi tàikhoản vãng lai
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến cân đối ngân sách nhà nướcnhư thế nào? Đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là nguồn thay thế để lấp khoảngtrống giữa tiết kiệm và đầu tư cần thiết ở các nước đang phát triển Các công tynước ngoài mang lại không chỉ vốn tài chính mà còn cả kỹ thuật quản lý cũng như
kỹ năng kinh doanh và công nghệ đang thiếu ở các nước đang phát triển Thâm hụtngân sách nhà nước cũng có thể được bù đắp bằng thuế lợi nhuận thu được từ cáccông ty xuyên quốc gia (Kipyegon, 2016) Ngoài ra, FDI thúc đẩy tạo ra việc làm;
Trang 24tăng hiệu quả sản xuất; chuyển giao công nghệ; và phát triển cơ sở hạ tầng Tuynhiên, FDI cũng có thể có những tác động tiêu cực đối với các nước tiếp nhận, hiệuứng chèn lấn đầu tư đối với các công ty trong nước; đưa vốn, lợi nhuận về nước; vàtạo sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài FDI cũng có thể hạn chế khả năng pháttriển nội địa vì sự thống trị của các công ty đa quốc gia đối với các doanh nghiệp địaphương (Todaro & Smith, 2003) Tuy nhiên, nhiều quốc gia sử dụng ưu đãi thuếđầu tư để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Điều này sẽ ảnh hưởng đến ngânsách nhà nước (Cleeve, 2008) Markusen (1984) cho rằng hiệu quả thuế của FDI làkhông chắc chắn Đầu tư nước ngoài tăng số thu thuế thông qua đánh thuế lợi nhuận
và giảm số thu thuế vì các doanh nghiệp trong nước chia sẽ lợi nhuận với các doanhnghiệp nước ngoài Theo Bond & Samuelson (1986), các nước tiếp nhận có thể bịmất một số khoản thu thuế trong ngắn hạn nếu các ưu đãi thuế được đưa ra để thuhút FDI trong giai đoạn đầu Số thu thuế có thể tăng trong dài hạn bởi vì đầu tưnước ngoài sẽ không rút khỏi trong khoảng thời gian được hưởng ưu đãi này Bond
& Samuelson, (1986) tuyên bố rằng các nước tiếp nhận có thể thu hút FDI bằngcách áp đặt thuế nhập khẩu và giảm thuế cho sản xuất trong nước FDI có thể tăngphúc lợi quốc gia bằng cách giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng năng suất thông qua chuyểngiao công nghệ và tăng thu ngân sách của chính phủ thông qua thuế Vì vậy, đầu tưtrực tiếp nước ngoài tác động đến cân đối ngân sách nhà nước là không đồng nhất
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
2.2.1 Cân đối ngân sách nhà nước
Cân đối ngân sách nhà nước là mục tiêu quản lý của hầu hết các quốc gia Vì vậy,
có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm tìm hiểu hậu quả, nguyên nhân của sự mất cânđối ngân sách nhà nước Beetsma và các cộng sự (2008) nghiên cứu thực nghiệmhậu quả của việc tăng chi tiêu công đối với cán cân thương mại và thâm hụt ngânsách nhà nước ở Liên minh Châu Âu, sử dụng cách tiếp cận tự hồi quy vectơ VAR.Trong khi các nghiên cứu khác có xu hướng coi tỷ số cân bằng thương mại/GDP làmột biến, nhóm tác giả đã tách xuất khẩu và nhập khẩu thành các biến riêng biệt để
Trang 25theo dõi chi tiết hơn các nguồn của sự cân bằng thương mại Hơn nữa, Beetsma vàcác cộng sự sử dụng số liệu hàng năm, điều này tạo thuận lợi cho việc giải thích các
cú sốc về chính sách tài khóa Theo ước tính cơ bản của nhóm tác giả, tăng 1% GDPtrong chi tiêu công làm nhập khẩu tăng và lượng hàng xuất khẩu giảm, dẫn đến sựsụt giảm cán cân thương mại khoảng 0,5% Thêm vào đó, gia tăng 1% chi tiêu tạo ra0,7 % sự thâm hụt ngân sách nhà nước, do đó chỉ ra sự liên quan tiềm ẩn của giảthuyết về thâm hụt kép đối với Liên minh châu Âu
Ngoài ra, cân đối ngân sách nhà nước cũng bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khác.Roubini & Sachs (1989) tiếp cận theo hướng các yếu tố kinh tế và chính trị quyếtđịnh thâm hụt ngân sách nhà nước ở các nền dân chủ công nghiệp thu được kết quảtrái với Beetsma Roubini & Sachs (1989) kết luận tại nhiều quốc gia, tỷ lệ thuếkhông đồng nhất và thâm hụt ngân sách nhà nước quá lớn đến nỗi không thể giảithích bằng sự gia tăng đột ngột chi tiêu chính phủ Trong giai đoạn 1960-1973, hầuhết các nền kinh tế OECD đều có tỷ lệ nợ/GDP tăng hoặc giảm nhẹ Với sự suygiảm tăng trưởng và sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ chi tiêu của chính phủ trênGDP tăng, đã gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước đáng kể và tỷ lệ nợ trên GDPtăng mạnh ở một số quốc gia Quá trình này càng trầm trọng thêm bởi lãi suất thựcsau năm 1979 tăng mạnh Nouriel cũng khẳng định thâm hụt ngân sách nhà nướcgia tăng ở các nền dân chủ công nghiệp bởi vì những khó khăn trong quản lý chínhtrị trong chính phủ liên minh
Cân đối ngân sách nhà nước đã xấu đi nhanh chóng ở hầu hết các quốc gia trongnhững năm gần đây, đặt ra câu hỏi: những yếu tố nào giải thích những thay đổi lớnnhư vậy? Để trả lời câu hỏi này, Tujula, Mika; Guido (2004) đã nghiên cứu cácquốc gia châu Âu trong giai đoạn năm 1970 đến 2002 Phân tích của tác giả chothấy tăng trưởng kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước thôngqua quá trình ổn định tự động Lãi suất cao hơn ảnh hưởng xấu đến ngân sách Nămbầu cử rõ ràng gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước lớn hơn Đối với các nước EU,việc tiếp cận ngày quyết định tham gia EMU sớm thúc đẩy việc củng cố tài chính,nhưng các ảnh hưởng đã giảm sút kể từ thời điểm này Có một số bằng chứng cho
Trang 26thấy giá thị trường tài sản (giá nhà và thị trường chứng khoán) cũng ảnh hưởng đếncân đối ngân sách nhà nước mặc dù hiệu quả của chúng thường bị giới hạn vàkhông phải lúc nào cũng có ý nghĩa thống kê Tiếp cận theo hướng khác, Combes &Saadi-Sedik (2006), phân tích những ảnh hưởng của độ mở thương mại đối với cânđối ngân sách nhà nước bằng cách phân biệt tác động của tự do hoá so với các chínhsách thương mại Combes và Saadi-Sedik sử dụng công cụ ước lượng hệ thốngGMM, phân tích kinh tế lượng tập trung vào 66 nước đang phát triển trong giaiđoạn 1974-1998 Kết quả cho thấy độ mở thương mại làm tăng sự tiếp xúc của mộtquốc gia với các cú sốc từ bên ngoài Điều này dẫn đến tác động ngược chiều đốivới cân đối ngân sách nhà nước với điều kiện thương mại không ổn định Ngoài ra,
độ mở thương mại ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước thông qua một sốkênh khác như tham nhũng, bất bình đẳng về thu nhập Sau đó, tự do hoá và chínhsách thương mại có những tác động ngược lại: đầu tiên sẽ làm ngân sách nhà nướcxấu đi nhưng về sau sẽ được cải thiện Ngoài ra, khi Murwirapachena và các cộng
sự (2013) tiến hành nghiên cứu các yếu tố kinh tế quyết định thâm hụt ngân sáchnhà nước của Nam Phi bằng mô hình VECM, Murwirapachena và các cộng sự nhậnthấy rằng tất cả các yếu tố kinh tế đều có tác động tiêu cực đến thâm hụt ngân sáchnhà nước ngoại trừ nợ nước ngoài Tuy nhiên, dự trữ ngoại hối giải thích sự thay đổithành phần lớn nhất của thâm hụt ngân sách nhà nước, tiếp theo là nợ nước ngoài,thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế và đầu tư của chính phủ
Cân đối ngân sách nhà nước làm giảm lãi suất, gia tăng tiết kiệm và đầu tư, giảmthâm hụt thương mại, giúp nền kinh tế phát triển trong dài hạn (Steven & Ramsay,1997) Theo quan điểm của Kynes, thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ tạo ra kích thíchtài chính trong thời kỳ suy thoái, trong khi sẽ hạn chế tài chính trong thời kỳ bùng
nổ Tuy nhiên, Kynes không ủng hộ kích thích tài chính khi nợ công quá lớn Bêncạnh đó Vickrey (1996) lập luận rằng thâm hụt lớn hơn được dùng để tái đầu tư tưnhân là một nhu cầu kinh tế Laubach (2009) ước tính tác động của nợ chính phủ vàthâm hụt lên lãi suất Kho bạc Thu thập dữ liệu 30 năm, các tác động ước tính củathâm hụt và nợ của chính phủ đối với lãi suất đều có ý nghĩa thống kê Kết quả thực
Trang 27nghiệm thu được, tỷ lệ thâm hụt và nợ công sẽ làm tăng lãi suất dài hạn, khoảng0,25% trên 1% trong tỷ lệ thâm hụt/ GDP, và 0,3-0,4% cho tỷ lệ nợ/GDP Ngoài ra,theo mô hình số nhân của phương trình ngân sách, việc thay đổi cân đối ngân sáchnhà nước sẽ thay đổi tổng cầu bằng một khoản tiền tương đương với sự thay đổitrong chi tiêu.
Để cải thiện cân đối ngân sách nhà nước, trong một nghiên cứu thực nghiệm tại ViệtNam, Nguyễn Quỳnh Thơ (2013) đã đề xuất đa dạng hóa nguồn thu, khai thácnguồn thu trong nước và hạn chế các nguồn thu phụ thuộc từ bên ngoài, trong khiphân bổ chi tiêu nên tập trung vào các lĩnh vực thiết yếu như giáo dục, y tế và cơ sở
hạ tầng Bên cạnh đó, để có thể tăng được số thu cho ngân sách nhà nước, Bùi ThịMai Hoài, Sử Đình Thành, & Bùi Duy Tùng (2015) cũng đưa ra đề xuất đa dạnghoá và mở rộng cơ sở thuế đối với Việt Nam
2.2.2 Các cách tiếp cận trong phân tích cán cân thanh toán quốc tế
Có ba cách tiếp cận trong phân tích cán cân thanh toán quốc tế (Pierce & Tysome, 1987): cách tiếp cận theo hệ số co giãn, cách tiếp cận hấp thụ, cách tiếp cận tiền tệ Cách tiếp cận truyền thống theo hệ số co giãn do Robinson xây dựng và phát triển vào năm 1930, tập trung vào điều kiện hệ số co giãn cần thiết cho sự phá giá để cải thiện cán cân tài khoản vãng lai Với ΒB là cán cân thanh toán quốc tế, đại diện là B là cán cân thanh toán quốc tế, đại diện là tài khoản vãng lai, được đo bằng tiền nội tệ Xuất khẩu, X, đo bằng nội tệ và nhập
Pf là giá ngoại tệ nhập khẩu) và tỷ giá hối đoái E được định nghĩa là đơn vị tiền tệ trong nước để mua một đơn vị ngoại tệ Để có được điều kiện độ co giãn, Robison thiết lập phương trình tài khoản vãng lai:
Cách tiếp cận này giả định rằng với khả năng dự phòng, độ co giãn cung của hàngxuất khẩu và nhập khẩu là vô hạn, vì vậy, mức giá được xem như là không đổi Đặctrưng của cách tiếp cận này là điều kiện nổi tiếng của Marshall-Lerner, trong đó nêu
rõ rằng sự phá giá sẽ cải thiện cán cân thanh toán quốc tế trên tài khoản vãng lai nếutổng độ co dãn theo giá của cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1
Trang 28Phương pháp tiếp cận hệ số co giãn của Robison cho thấy sự mất cân đối trong cânbằng cán cân thanh toán quốc tế là do những biến động giá tương đối, và việc khôiphục lại trạng thái cân bằng đòi hỏi sự điều chỉnh giá tương đối, thông qua sự thayđổi tỷ giá hoặc thông qua phá giá đồng nội tệ tuyệt đối nếu giá ngoại tệ không đổi,hoặc mức tăng giá trong nước tương đối nhỏ nếu mức giá nước ngoài tăng (Pierce &Tysome, 1987).
Cách tiếp cận cán cân thanh toán quốc tế theo hướng hấp thụ do Meade phát triểnnăm 1951 Phương pháp hấp thụ tập trung vào sự mất cân đối tài khoảng vãng lai do
sự khác biệt giữa sản lượng trong nước và chi tiêu trong nước (IMF, 2000) Cáchtiếp cận hấp thụ giả định rằng mức thu nhập là yếu tố chính quyết định mức độ hấpthụ và cán cân thanh toán quốc tế chủ yếu được xác định bởi mức độ hấp thụ Với A
= G + I + C và đại diện cho xuất khẩu là biến ngoại sinh (xuất khẩu F được đobằng nội tệ), Py là thu nhập quốc gia, theo Pierce & Tysome (1987), phương trìnhcân bằng cán cân thanh toán quốc tế B có dạng:
Từ phương pháp tiếp cận hấp thụ, một số hàm ý chính sách được đưa ra Có hai loạichính sách kiểm soát mà các nhà chức trách có thể thực hiện trong việc đưa Py và Acùng thay đổi như nhau (Musoke, 2002) Thứ nhất, có những biện pháp điều chỉnhchi tiêu theo lịch trình hấp thụ trong nền kinh tế, gồm các thay đổi về mức độ vàthành phần của ngân sách, cũng như việc điều chỉnh chi phí và khả năng tín dụng.Thứ hai, những biện pháp kiểm soát chuyển chi được thiết kế để chuyển hướng chitiêu trong nước ra nước ngoài cho trong nước và cả chi tiêu nước ngoài cho sảnlượng trong nước, với ý định ảnh hưởng đến Py thông qua quá trình số nhân chitiêu Những hạn chế về phá giá và nhập khẩu, chẳng hạn như thuế quan và hạnngạch, là những ví dụ về các chính sách chuyển chi phí Thông điệp chung xuất hiện
từ mô hình hấp thụ là việc loại bỏ sự mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế đòihỏi sự gia tăng Py so với A hoặc sự giảm A so với Py, chỉ khi tổng số tiền thu được
từ các khoản thu ngoại tệ tăng so với các khoản thanh toán ngoại tệ Cách tiếp cậnhấp thụ có nhược điểm là đã bỏ qua điều kiện tiền tệ Tuy nhiên, bằng cách chỉ
Trang 29ra thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế có nghĩa là vượt quá khoản thanh toán đốivới các khoản thu, cách tiếp cận hấp thụ đã chú ý đến bản chất tiền tệ của thâm hụt
và thặng dư cán cân thanh toán quốc tế (Pierce & Tysome, 1987)
Cách tiếp cận tiền tệ khi phân tích cán cân thánh toán quốc tế thể hiện mối quan hệgiữa cán cân thanh toán quốc tế và cung tiền của quốc gia (Chacholiades, 1990).Hơn nữa, cách tiếp cận này lập luận rằng nếu có thặng dư hay thâm hụt trong cáncân thanh toán quốc tế sẽ dẫn đến sự mất cân bằng trong thị trường tiền tệ Thâmhụt là do cung tiền vượt quá cầu tiền, trong khi thặng dư là do cầu tiền vượt quácung tiền (Howard & Mamingi, 2002) Do đó, cách tiếp cận tiền tệ tập trung vào tácđộng tiền tệ của sự mất cân bằng cán cân thanh toán quốc tế Về giá cả, cách tiếpcận tiền tệ coi mức giá chung là yếu tố quyết định giá trị thực của tài sản danhnghĩa, tiền và nợ quốc tế Giá tương đối đóng vai trò thứ yếu vì chúng chỉ có tácdụng tạm thời trên cán cân thanh toán (Fleermuys, 2005)
Với ∆R là mức thay đổi dự trữ ngoại hối, Y thu nhập thực của nền kinh tế, P là mứcgiá, I là đầu tư tư nhân, D là tín dụng nội địa, theo Fleermuys (2005), phương trình
dự trữ ngoại hối có dạng:
Phương trình 2.16 là phương trình cơ bản của cách tiếp cận tiền tệ đối với cán cânthanh toán quốc tế, cho thấy cán cân thanh toán là kết quả của sự phân kỳ giữa tăngtrưởng cầu tiền và tăng trưởng tín dụng trong nước, trong khi hệ quả tiền tệ của cáncân thanh toán đưa thị trường tiền tệ về vị trí cân bằng (Fleermuys, 2005) Với cầutiền ổn định, sự gia tăng tín dụng trong nước làm dự trữ ngoại hối giảm một lượngtương đương Do đó, hệ số ∆D, được gọi là hệ số bù trừ, cho thấy mức độ thay đổitín dụng trong nước được bù đắp bằng những thay đổi trong dự trữ quốc tế(Dhliwayo, 1996)
Cách tiếp cận tiền tệ cho rằng cán cân thánh toán bị thâm hụt là kết quả của việcgiảm cung tiền dẫn đến những thay đổi trong dự trữ ngoại hối Tình trạng này chỉmang tính tạm thời, với điều kiện không có sự can thiệp của các cơ quan tiền tệNhiều nền kinh tế nhỏ bị thâm hụt liên tục trong cán cân thanh toán vì chính quyền
Trang 30sử dụng chính sách tín dụng và chính sách chi tiêu để duy trì mức sản lượng và việclàm (Howard & Mamingi, 2002).
2.2.3 Tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước
2.2.3.1 Cán cân tài khoản vãng lai tác động đến cân đối ngân sách nhà nước.
Summers (1988) khi nghiên cứu chính sách thuế và khả năng cạnh tranh của Mỹ, đãlập luận rằng chính phủ cắt giảm thuế đối với các khoản đầu tư kinh doanh sẽ tăngkhả năng cạnh tranh của Mỹ Với giả định, vốn quốc tế tự do di chuyển, giảm thuế
để kích thích đầu tư sẽ dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh quốc tế Các biện phápthúc đẩy đầu tư thu hút nguồn vốn từ nước ngoài dẫn đến sự đánh giá cao về tỷ giáthực và giảm khả năng cạnh tranh của các ngành trong nước Tài khoản vãng lai là
sự khác biệt giữa tiết kiệm quốc gia và đầu tư quốc gia, sự gia tăng đầu tư gây ra sựsụt giảm trong cán cân thương mại Ngược lại, các chính sách thuế thúc đẩy tiếtkiệm nhưng không có tác động trực tiếp đến đầu tư sẽ cải thiện cán cân thương mại.Nghĩa là, chính phủ muốn xoá bỏ sự mất cân bằng cán cân tài khoản vãng lai thì sẽ
sử dụng ngân sách nhà nước như là một công cụ để thực hiện Điều này dẫn đến mốiquan hệ nhân quả thâm hụt tài khoản vãng lai kéo theo thâm hụt ngân sách nhànước Một nghiên cứu khác, Feldstein & Horioka (1980) đã tìm thấy sự tác độngcùng chiều của thâm hụt tài khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước, vớigiả định nếu trong thực tế, tiết kiệm và đầu tư không có mối tương quan với nhau,vốn tự do di chuyển
Ngoài ra, cũng có rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa thâm hụt cân đốingân sách nhà nước và cán cân tài khoản vãng lai Các nghiên cứu trước đây đã sửdụng những cách tiếp cận, phương pháp, các mẫu khác nhau để điều tra nghiên cứutác động của thâm hụt tài khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước Trướctiên, Hatemi & Shukur (2002) đã sử dụng thử nghiệm F-test, Bootstrap đa biến và
mô hình VAR để khảo sát hướng quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách nhànước và thâm hụt tài khoản vãng lai trong nền kinh tế Mỹ, giai đoạn quý 1 năm
1975 đến quý 2 năm 1998 Các kết quả từ nghiên cứu chỉ ra rằng hai biến này
Trang 31không có quan hệ nhân quả với nhau Tuy nhiên, khi phân chia mẫu thành hai giaiđoạn phụ, kết quả cho thấy chỉ có thâm hụt ngân sách nhà nước gây ra thâm hụt tàikhoản vãng lai trong giai đoạn 1975-1989, và thâm hụt tài khoản vãng lai gây rathâm hụt ngân sách nhà nước trong giai đoạn phụ thứ hai từ 1990-1998 Ý nghĩa củakết quả này là việc giảm thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ dẫn đến giảm thâm hụt ngânsách nhà nước trong nền kinh tế Mỹ Giảm thâm hụt thương mại có thể đạt đượcbằng cách giảm nhập khẩu, tăng xuất khẩu hoặc kết hợp cả hai biện pháp này Mộtnghiên cứu khác, Corsetti & Müller (2006) sử dụng mô hình hồi quy vectơ VAR đểtìm hiểu mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt tài khoản vãnglai ở các nước Úc, Canada, Anh và Mỹ Corsetti và Muller đã tìm thấy bằng chứngủng hộ cho mối quan hệ ngược chiều giữa cân bằng tài khoản vãng lai và cân đốingân sách nhà nước của các nước này Trong năm này, Kim & Kim (2006) sử dụngkiểm định Wald test để nghiên cứu mức thâm hụt ngân sách nhà nước cao có dẫnđến thâm hụt tài khoản vãng lai của Hàn Quốc cao hơn hay không? Kết quả thựcnghiệm cho thấy rằng chỉ có quan hệ nhân quả một chiều xảy ra, đó là thâm hụt tàikhoản vãng lai lớn hơn sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước trầm trọng hơn.Cũng có kết quả tương tự khi Marinheiro (2008) nghiên cứu trường hợp của HyLạp Marinheiro đã tìm thấy mối quan hệ dài hạn, nhân quả một chiều của thâm hụttài khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, Sobrino (2013)
đã xem xét mối quan hệ giữa tài khoản vãng lai và thặng dư tài chính và chi tiêungân sách cho một nền kinh tế hàng hóa của Peru Sử dụng dữ liệu hàng quý chonền kinh tế mở, bài nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho quan hệ nhân quả đảongược chiều, nghĩa là tài khoản vãng lai gây ra thâm hụt tài chính Tuy nhiên, khônggiống như các bằng chứng thực nghiệm trước đây về chủ đề này, mối quan hệ nhânquả ngược lại cho thấy một tác động ngược chiều vì sự tiêu dùng tài chính khôngphản ứng đồng nhất khi xảy ra những cú sốc thường xuyên với tài khoản vãng lai.Trong ngắn hạn, chính sách tài khóa không có ảnh hưởng đến tài khoản vãng lai,nhưng những cải thiện trong tài khoản vãng lai làm tăng mức thâm hụt ngân sáchnhà nước Bằng chứng này phù hợp với một nền kinh tế nhỏ dựa trên
Trang 32hàng hóa mở và rất nhạy cảm với cú sốc giá bên ngoài Bên cạnh đó, các nghiên cứucủa Misztal (2012), Alkswani (2000) cũng tìm thấy tác động của thâm hụt tài khoảnvãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Nickel & Vansteenkiste (2008) khi nghiên cứu thực nghiệm tại 22 nướccông nghiệp về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt tàikhoản vãng lai đã thu được kết quả gần với quan điểm Ricardo Kết quả thựcnghiệm cho thấy, ở những quốc gia có tỷ lệ nợ/GDP cao, mối quan hệ giữa bộ đôithâm hụt là ngược chiều hoặc không tồn tại, có nghĩa là, thâm hụt tài khoản vãng lai
sẽ không gây ra thâm hụt ngân sách nhà nước Algieri (2013) cũng thu được kết quảtương tự khi nghiên cứu thực nghiệm tại các nước sử dụng đồng euro: Hy Lạp,Ireland, Ý, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha
Kết quả của những nghiên cứu trước đây về tác động cán cân tài khoản vãng lai đếncân đối ngân sách nhà nước sẽ được tóm tắt trong bảng 2.1:
Bảng 2.1 Kết quả của những nghiên cứu trước đây về tác động cân tài khoản vãnglai đến cân đối ngân sách nhà nước
ĐỘNG
nhân quả Granger
Trang 33Kalou và Dữ liệu hàng quý từ Kiểm định đồng liên kết
-Müller (2006)
2.2.3.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước.
Sahoo và các cộng sự (2016) nghiên cứu, xem xét các mối liên kết giữa toàn cầuhóa, chất lượng thể chế, đầu tư trực tiếp nước ngoài và tài khoản vãng lai cho haimươi ba nước châu Á trong giai đoạn 1998 đến 2013 Sahoo và các cộng sự (2016)kết luận rằng cải cách thể chế có thể thúc đẩy nhiều dòng FDI hơn, tuy nhiên điềunày có thể dẫn đến sự suy thoái của tài khoản vãng lai bằng cách thúc đẩy nhậpkhẩu cũng như nhu cầu đầu tư tăng lên trong nền kinh tế trong nước Sau khi kiểmsoát các biến ngoại sinh khác, nghiên cứu cho thấy dòng vốn FDI và cải cách thểchế có ảnh hưởng ngược chiều đến tài khoản vãng lai
Cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm xem xét tác động của đầu tư trực tiếpnước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước thông qua tác động đến số thu thuế củaphương trình ngân sách Gropp và Kostial (2000) đã tiến hành nghiên cứu thựcnghiệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài ảnh hưởng đến số thu thuế của 25 nướcOECD trong giai đoạn 1988-1997 Bằng chứng thu được, dòng vốn trực tiếp nướcngoài vào hay ra đều ảnh hưởng đến hệ thống thuế của quốc gia đầu tư hay tiếpnhận nguồn vốn Đặc biệt, hai tác giả đã tìm được mối quan hệ cùng chiều (ngược
Trang 34chiều) của cơ sở thuế với dòng vốn vào của đầu tư trực tiếp nước ngoài (dòng vốn racủa đầu tư trực tiếp nước ngoài) Điều này cũng chứng minh cho mối quan hệ cùngchiều giữa dòng vốn vào của đầu tư trực tiếp nước ngoài và số thu thuế Mặt khác,Sarısoy và Koç (2010) đã điều tra tác động của dòng vốn FDI đến số thu thuế thunhập doanh nghiệp tại 21 quốc gia OECD trong giai đoạn 1981 - 2008 và thấy rằngdòng vốn FDI có tác động tích cực đến số thu thuế thu nhập doanh nghiệp Trongmột nghiên cứu khác, Okey (2013) đã điều tra tác động của FDI đến số thu thuế tại
8 nước Tây Phi trong giai đoạn 1989 - 2009 bằng cách sử dụng dữ liệu bảng và thấyrằng FDI có tác động tích cực đến số thu thuế Mahmood và Chaudhary (2013) cũngthu được kết quả tương tự khi nghiên cứu thực nghiệm tại Pakistan Để kiểm tra tácđộng của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến số thu thuế, nghiên cứu sử dụng FDI vàthu nhập bình quân đầu người là các biến độc lập và số thu thuế là biến phụ thuộc
Mô hình ARDL được sử dụng để tìm hiểu mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn trong
mô hình số thu thuế Kết quả nghiên cứu cho thấy FDI có tác động cùng chiều và có
ý nghĩa đối với số thu thuế Vì vậy đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần nâng caophúc lợi chung thông qua tăng thu thuế cho chính phủ
Tuy nhiên, Hassen và Ramakrishna (2016) đã nỗ lực điều tra mối quan hệ giữa dòngchảy FDI và số thu thuế ở Ethiopia như thuế thu nhập, thuế thương mại và thuế thunhập doanh nghiệp và thu được kết quả ngược lại Nghiên cứu sử dụng các phươngpháp chuỗi thời gian và phân tích hợp nhất sử dụng mô hình ARDL trong giai đoạn1974-2014 Kết quả cho thấy cả đầu tư trực tiếp nước ngoài và tổng sản phẩm quốcnội đã ảnh hưởng tiêu cực đến tổng số thu thuế cả trong ngắn hạn và dài hạn
Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu thực nghiệm khác lại cho thấy đầu tư trực tiếpnước ngoài không có ảnh hưởng đến số thu thuế, nếu có thì mối quan hệ này cũngtương quan rất yếu Bunescu và Comaniciu (2014) đã kiểm tra mối tương quan giữa
số thu thuế và nhân tố ảnh hưởng ở 27 nước thành viên EU và nhận thấy có sựtương quan yếu giữa số thu thuế và luồng vốn FDI Ngoài ra, Odabas (2016) khôngtìm thấy mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài đến số thuthuế khi xem xét tác động của luồng vốn vào của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến số
Trang 35thu thuế tại các nền kinh tế chuyển đổi của Liên minh châu Âu bao gồm Bulgaria,Croatia, Séc, Estonia, Hungary, Latvia và Slovenia trong giai đoạn 1996-2012 bằngcách sử dụng kiểm định nhân quả Dumitrescu và Hurlin.
Qua những nghiên cứu thực nghiệm cho chúng ta thấy FDI tác động đến cân đốingân sách nhà nước thông qua thuế là không đồng nhất, trong khi không ảnh hưởngđến chi tiêu chính phủ Vì vậy, tác động của nó đến cân đối ngân sách nhà nướccũng không đồng nhất
2.3 Kết luận
Chương 2 của luận văn giới thiệu phần cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sáchnhà nước, bao gồm: cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài.Trong đó, cân đối ngân sách nhà nước là việc điều chỉnh số thu đảm bảo cho chitiêu của chính phủ (Cameron, 2004) Ngân sách nhà nước bị thâm hụt khi chi tiêuvượt quá nguồn thu Để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, chính phủ có thể vay mượn
từ ngân hàng trung ương, vay nợ nước ngoài, vay nợ các ngân hàng thương mại vàvay nợ từ khu vực phi ngân hàng trong nước (Govil, 2014) Thâm hụt ngân sách nhànước cũng có thể được tài trợ bằng tăng thuế (Okafor và các cộng sự, 2017)
Cán cân thanh toán quốc tế là một báo cáo thống kê những giao dịch kinh tế củamột quốc gia với các quốc gia khác trên thế giới trong một khoảng thời gian, có thể
là một năm hoặc một quý (IMF, 2009) Theo công ước quốc tế, cán cân thanh toánquốc tế bao gồm cán cân tài khoản vãng lai, tài khoản vốn và tài khoản tài chính, dựtrữ ngoại hối và sai số thống kê (Copeland, 2005) Cán cân tài khoản vãng lai và đầu
tư trực tiếp nước ngoài tác động đến cân đối ngân sách nhà nước qua kết quả cácnghiên cứu thực nghiệm trước đây không đồng nhất
Trang 36CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 3.1 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích định tính: tác giả luận văn thực hiện thống kê mô tả, phân tích tổng hợp đểđánh giá thực trạng về cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài và cânđối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á
Phân tích định lượng Tác giả luận văn phân tích tác động của các thành phần cáncân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang pháttriển ở châu Á Để phân tích dữ liệu bảng, kinh tế lượng có rất nhiều kỹ thuật có thể
sử dụng Kỹ thuật đơn giản nhất là mô hình hồi quy không đổi theo thời gian, khônggian Pool OLS Tuy nhiên, mô hình Pool OLS thường không hiệu quả Để khắcphục những hạn chế của mô hình hồi quy Pool OLS, mô hình tác động cố định(fixed - effects) và mô hình ảnh hưởng biến thiên REM (random - effects) được sửdụng phổ biến nhất Ngoài ra, để khắc phục những nhược điểm của mô hình FEM,REM, phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu tổng quát GLS được tác giả luậnvăn lựa chọn làm phương pháp luận Trong nội dung của phần này sẽ tổng quátphương pháp Pool OLS, FEM, REM và mô hình GLS Đồng thời, những bước thựchiện hồi quy cũng sẽ được trình bày cụ thể trong phần này
Phương pháp Pool OLS áp dụng cho loại dữ liệu có hệ số không đổi theo thời gian
và cá nhân (Gujarati, 2011) Có nghĩa là giả định rằng giá trị tung độ gốc của 10quốc gia phải như nhau và hệ số độ dốc của biến giải thích cũng bằng nhau trong tất
cả các quốc gia trong mẫu Tuy nhiên, mô hình OLS có nhược điểm đó là dễ gây rahiện tượng tự tương quan vì hệ số Durbin-Watson nhỏ
Mô hình tác động cố định FEM FEM được sử dụng chỉ khi quan tâm đến việc
phân tích tác động của các biến số thay đổi theo thời gian (Gujarati, 2011) FEM tìmhiểu mối quan hệ giữa dự báo và các biến kết quả trong một thực thể (quốc gia, conngười, công ty) Mỗi một thực thể có những đặc điểm riêng có thể hoặc không ảnhhưởng đến các biến dự đoán Khi sử dụng FEM, các nhà nghiên cứu giả định rằngđặc điểm của mỗi cá nhân có thể tác động hoặc làm chệch các biến dự đoán hoặccác biến kết quả và cần phải kiểm soát việc này Đây cũng là giả thiết về mối tương
Trang 37quan giữa phần dư và các biến dự đoán FEM loại bỏ ảnh hưởng của những đặcđiểm không thay đổi theo thời gian này để chúng ta có thể đánh giá được hiệu quảthuần của các dự báo trên biến kết quả Một giả định quan trọng khác của mô hìnhFEM là những đặc điểm riêng biệt của cá nhân không thay đổi theo thời gian, vàkhông được tương quan với các đặc điểm cá nhân khác Nhược điểm của mô hìnhFEM, nếu mô hình có nhiều biến thì dễ bị hiện tượng đa cộng tuyến (Baltagi, 2008).
Mô hình tác động ngẫu nhiên REM Trong REM, sự khác biệt giữa các thực thể
được giả định là ngẫu nhiên và không tương quan với các biến dự báo hoặc biến độclập bao gồm trong mô hình (Gujarati, 2011) Theo Greene (2008), sự khác biệt giữa
mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM là sự biếnđộng giữa các quan sát chéo là yếu tố tương quan với các biến hồi quy trong môhình, chứ sự khác nhau không phải là hiệu ứng ngẫu nhiên hay không Nếu sự khácbiệt giữa các thực thể có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc thì nên sử dụng hiệu ứngngẫu nhiên Lợi thế của REM đó là bao gồm các biến số bất biến thời gian
Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát GLS (Generalized least squares model)
phương pháp bình phường tối thiểu tổng quát (GLS) thường được sử dụng để ướclượng các tham số không xác định trong mô hình hồi quy tuyến tính và khắc phụchiện tượng tự tương quan xảy ra khi thực hiện hồi quy bằng các phương pháp PoolOLS, FEM, REM (Gujarati, 2011) Phương pháp bình phương tối thiểu tống quát làước lượng không chệch, vững, hiệu quả và tiệm cận (Baltagi, 2008) Trường hợpđặc biệt của bình phương tối thiểu tổng quát GLS là bình phương nhỏ nhất có trọng
số WLS (weighted least squares) WLS xảy ra khi giá trị các biến trong mẫu quansát không tương đồng (tồn tại hiện tượng tự tương quan) nhưng lại không có sựtương quan giữa các biến quan sát Trọng số của mỗi đơn vị đó chính là sự biếnthiên của các biến Phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát GLS còn có mộttrường hợp khác là bình phương tối thiểu tổng quát khả thi FGLS (Feasiblegeneralized least squares) Mô hình FGLS gồm hai bước: sử dụng mô hình OLShoặc một mô hình khác để ước lượng, phần dư của mô hình hồi quy được sử dụng
Trang 38để xây dựng ma trận hiệp phương sai Sau đó, dựa vào ma trận hiệp phương sai phùhợp để thực hiện hồi quy theo GLS Đối với mẫu có kích thước lớn, hồi quy theophương pháp bình phương tối thiểu khả thi sẽ hiệu quả hơn so với OLS Nhưngtrong trường hợp mẫu nhỏ, ước lượng FGLS sẽ không hiệu quả bằng OLS (Kuan,2004).
3.2 Dữ liệu
Luận văn thu thập số liệu 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á trong khoảng thờigian từ năm 1991 đến năm 2017, bao gồm: Việt Nam, Thái Lan, Philippines,Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Mông Cổ Các quốcgia này đều theo đuổi chính sách định hướng thị trường như tự do hoá thương mại
và thả nổi tỷ giá hối đoái, tốc độ phát triển kinh tế nhanh và tương đối đồng đều, tốc
độ gia tăng dân số, tăng trưởng GDP bình quân đầu người không cách biệt quá lớn.Ngoài ra, xu hướng tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cânđối ngân sách của 10 quốc gia này tương đối giống nhau Các dữ liệu thu thập từWordbank và các chỉ số kinh tế quốc tế Bảng 3.1 sẽ trình bày rõ hơn về nguồn thuthập số liệu
Bảng 3.1 Nguồn thu thập số liệu
quốc nội
Trang 393.3 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên số liệu hàng năm của 10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, luận văn tiếnhành chạy mô hình hồi quy ước lượng Pool OLS, FEM, REM, GLS Để tìm hiểu tácđộng của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhànước, tác giả luận văn dựa trên mô hình hồi quy dữ liệu bảng của Anoruo &Ramchander (1998), có dạng sau:
(BB/GDP)it =β1 + β2i(CA/GDP)it +β3i (FDI/GDP)it +β4iINFit +β4iEXit +
Trong đó: BB/GDP là cân đối ngân sách nhà nước trên tổng sản phẩm quốc nội,CA/GDP là cán cân tài khoản vãng lai trên tổng sản phẩm quốc nội, FDI/GDP làđầu tư trực tiếp nước ngoài vào trên tổng sản phẩm quốc nội, EX là biến tỷ giá hốiđoái, GDP là tổng sản phẩm quốc nội, i và t lần lượt là chỉ mục quốc gia, thời gian,
ɛ là sai số ngẫu nhiên của mô hình.
3.4 Giới thiệu các biến
Để loại trừ xu hướng đi lên trong thâm hụt do sự gia tăng về mức giá và tăng trưởngkinh tế, chuỗi thâm hụt danh nghĩa được tính bằng tổng sản phẩm quốc nội của quốcgia (Xie & Chen, 2014) Trọng tâm chính của luận văn là tìm hiểu tác động của cácthành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách, gồm: cán cân tàikhoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuy nhiên, để tránh làm sai lệch kết quả,luận văn sử dụng các biến kiểm soát Các biến này bao gồm tỷ giá hối đoái (EX),tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và lạm phát (INF)
Lạm phát (%) có thể có tác động đến các khoản thu và chi của chính phủ thông qua
sự gia tăng danh nghĩa về thuế suất và khung thuế, và thông qua việc lập chỉ số giácác khoản thu và chi Ngoài tác động này, lạm phát có thể tác động đến cân đốingân sách bằng cách giả định các chính phủ điều chỉnh chính sách trong trường hợplạm phát, ví dụ như lạm phát cao làm giảm khả năng cạnh tranh và rủi ro gây áp lựclên tỷ giá cố định cho các nước tham gia vào một thỏa thuận tỷ giá hối đoái (Perotti
& Kontopoulos, 2002) Nó cũng có thể làm tăng lãi suất dài hạn và do đó có tácđộng tiêu cực đến đầu tư và tăng trưởng kinh tế Mặt khác, các chính phủ cũng có
Trang 40thể sử dụng lạm phát để làm giảm giá trị thực của nợ chính phủ danh nghĩa Nhưvậy, hiệu quả tổng thể của lạm phát đối với các cân đối ngân sách nhà nước không
rõ ràng (Tujula, Mika; Guido, 2004)
Tỷ giá hối đoái (Nội tệ/USD) Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến cân đối ngân sáchthông qua sự tác động đến xuất nhập khẩu của một quốc gia Đồng thời, tỷ giá hốiđoái tăng cũng làm tăng nợ công (Carrera & Vergara, 2012) Điều này cũng tácđộng đến cân đối ngân sách Để tránh sai lệch khi hồi quy, biến tỷ giá hối đoái sẽđược lấy logarit Nepe
Tổng sản phẩm quốc nội (USD) Tăng trưởng kinh tế, gia tăng GDP là một trongnhững mục tiêu kinh tế vĩ mô luôn được các nhà chính sách quan tâm Nếu chínhphủ sử dụng chính sách tài khoá mở rộng hay chính sách tài khoá thắt chặt để tácđộng đến tổng cầu, những chính sách này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số thu thuế haychi tiêu chính phủ Do đó, tác động đến cân đối ngân sách nhà nước (Tujula, Mika;Guido, 2004) Để tránh sai lệch khi hồi quy, biến tỷ giá hối đoái sẽ được lấy logaritNepe
3.5 Các bước tiến hành
Kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị của Levin-Lin-Chu Với giả
thiết H0: Dữ liệu bảng có nghiệm đơn vị
H1: Dữ liệu bảng ổn định
Nếu giả thiết H0 bị bác bỏ, thì dữ liệu sẽ có tính dừng
Hồi quy Pool OLS, FEM, REM Sau khi thực hiện kiểm định tính dừng của dữ liệu
10 quốc gia đang phát triển tại Châu Á, tác giả bài khoá luận tiến hành hồi quy theo
mô hình 3.1 bằng các ước lượng Pool OLS, FEM, REM
Để xem xét tính hiệu quả của kỹ thuật Pooled OLS và REM, luận văn sử dụng kiểmđịnh LM test, với giải thiết
H0: Var (β0i) = 0
H1: Var (β0i) # 0