Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnchất lượng thông tin báo cáo tài chính được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của cácdoanh nghiệp nhỏ v
Trang 1LÊ HOÀNG MAI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƯỢC THỰC
HIỆN BỞI KẾ TOÁN DỊCH VỤ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.HCM – Năm 2018
Trang 2LÊ HOÀNG MAI
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI KẾ TOÁN DỊCH VỤ CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở TP.HCM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS MAI THỊ HOÀNG MINH
TP.HCM – Năm 2018
Trang 3Tác giả cam đoan nghiên cứu này là do chính tác giả thực hiện, các số liệu và kếtquả của nghiên cứu được phản ánh trung thực Kết quả của nghiên cứu chưatừng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
Các lý thuyết khoa học hay kinh nghiệm kế thừa từ các nghiên cứu trước tác giả cótrích dẫn và ghi nguồn đầy dủ
TP.HCM, tháng 09 năm 2018
Tác giả
Lê Hoàng Mai
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5 Đóng góp của đề tài 3
6 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 5
1.1 Các nghiên cứu về chất lượng thông tin BCTC 5
1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLTT BCTC 6
1.3 Tổng quan về dịch vụ kế toán 11
1.4 Khe hổng nghiên cứu 13
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 14
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 15
2.1 Tổng quan về chất lượng thông tin BCTC 15
2.2 Đặc điểm của DNNVV 17
Trang 52.5.1 Lý thuyết bất cân xứng ( Asymmetric information) 20
2.5.2 Lý thuyết tín hiệu ( Signaling theory) 21
2.5.3 Lý thuyết đại diện ( Agency theory) 21
2.5.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency theory) 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Khung nghiên cứu 24
3.2 Mô hình nghiên cứu 25
3.3 Các giả thuyết được đặt ra cho nghiên cứu 26
3.4 Thiết kế nghiên cứu định lượng 31
3.4.1 Xây dựng thang đo 31
3.4.2 Thiết kế thang đo 31
3.4.2.1 Thang đo trình độ của kế toán viên dịch vụ 32
3.4.2.2 Thang đo phần mềm kế toán 32
3.4.2.3 Thang đo thời gian hoạt động của DN 33
3.4.2.4 Thang đo chính sách thuế 33
3.4.2.5 Thang đo trình độ của nhà quản trị 34
3.4.2.6 Thang đo sự hỗ trợ của nhà quản trị - sự cung cấp hóa đơn chứng từ của DN cho kế toán dịch vụ 35
3.4.2.7 Thang đo phí dịch vụ kế toán 35
Trang 63.5 Phương pháp nghiên cứu 39
3.5.1 Phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 40
3.5.2 Phương pháp phân tích nhân tố (Exploratory Factor Analysis – EFA) 40
3.5.3 Phân tích hồi quy tuyến tính 42
3.5.4 Phương pháp thu thập dữ liệu 42
3.6 Thu thập dữ liệu nghiên cứu 42
3.6.1 Đối tượng và phạm vi khảo sát 42
3.6.2 Phương pháp khảo sát 43
3.6.3 Mẫu khảo sát 43
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 44
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
4.1 Thống kê mô tả về mẫu khảo sát 45
4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo 47
4.2.1 Cronbach’s Alpha của thang đo chất lượng thông tin BCTC 47
4.2.2 Cronbach’s Alpha của thang đo trình độ của kế toán viên dịch vụ 48
4.2.3 Cronbach’s Alpha của thang đo phần mềm kế toán 50
4.2.4 Cronbach’s Alpha của thang đo thời gian hoạt động của doanh nghiệp 50
4.2.5 Cronbach’s Alpha của thang đo chính sách thuế 51
4.2.6 Cronbach’s Alpha của thang đo trình độ của nhà quản trị 52
4.2.7 Cronbach’s Alpha của thang đo sự hỗ trợ của nhà quản trị- sự cung cấp hóa đơn chứng từ của doanh nghiệp cho đơn vị dịch vụ 53
Trang 74.4 Phân tích tương quan 61
4.5 Kiểm định giả thuyết ý nghĩa của các hệ số hồi quy 64
4.6 Kiểm định giả định các sai số có phân phối chuẩn 66
4.7 Kiểm tra giả định liên hệ tuyến tính 67
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 70
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71
5.1 Kết luận 71
5.1.1 Kết luận các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC được lập bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV 71
5.1.2 Đóng góp của đề tài 75
5.2 Kiến nghị 76
5.3 Hạn chế của đề tài 78
TÓM TẮT CHƯƠNG 5 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BCTC: Báo cáo tài chính
CL: Chất lượng
CLTT: Chất lượng thông tin
CLTTKT: Chất lượng thông tin kế toán
DN: Doanh nghiệp
DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa
ERP: Hệ thống hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning)FASB: Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (The Financial AccountingStandards Board)
HTTT: Hệ thống thông tin
HTTTKT: Hệ thống thông tin kế toán
IASB: Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (The
Board)
ISO: Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
KQHDKD: Kết quả hoạt động kinh doanh
PMKT: Phần mềm kế toán
SĐ: Sơ đồ
TQM: Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management)
TT: Thông tin
TTKT: Thông tin kế toán
International Accounting Standard
Trang 9Bảng 2.1 Các tiêu chí để xác định DNNVV theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP 17
Bảng 2.2 Tổng kết các nhân tố tác động đến chất lượng TT BCTC từ cơ sở lý thuyết 23 Bảng 3.1: Tổng hợp thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC được lập bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV 37
Bảng 4.1 Bảng thống kê mô tả các đối tượng khảo sát 45
Bảng 4.2 Cronbach’s Alpha của thang đo chất lượng thông tin BCTC 47
Bảng 4.3 Cronbach’s Alpha của thang đo trình độ của kế toán viên dịch vụ ( lần 1) 48 Bảng 4.4 Cronbach’s Alpha của thang đo trình độ của kế toán viên dịch vụ ( lần 2) 49 Bảng 4.5 Cronbach’s Alpha của thang đo PMKT 50
Bảng 4.6 Cronbach’s Alpha của thang đo thời gian hoạt động của doanh nghiệp 50
Bảng 4.7 Cronbach’s Alpha của thang đo chính sách thuế 51
Bảng 4.8 Cronbach’s Alpha của thang đo trình độ của nhà quản trị 52
Bảng 4.9 Cronbach’s Alpha của thang đo sự hỗ trợ của nhà quản trị- sự cung cấp hóa đơn chứng từ của doanh nghiệp cho đơn vị dịch vụ 53
Bảng 4.10 Cronbach’s Alpha của thang đo phí dịch vụ kế toán 54
Bảng 4.11 Cronbach’s Alpha của thang đo trình độ của tổ chức kiểm toán 55
Bảng 4.12: Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett 56
Bảng 4.13: Bảng phương sai trích 56
Bảng 4.14 : Bảng ma trận xoay nhân tố 58
Trang 10Bảng 4.17 Tính phù hợp của mô hình hồi quy đa biến - ANOVA 63 Bảng 4.18 Bảng kết quả trọng số hồi quy 64
Trang 11Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu của luận văn 24
Sơ đồ 3.2: Mô hình các nhân tố tác động đến CL TT BCTC 26
Sơ đồ 4.1: Biểu đồ tần suất của các phần dư chuẩn hóa 66
Sơ đồ 4.2 : Biểu đồ tần suất PP-Plot 67
Sơ đồ 4.3: Biểu đồ phân tán của phần dư 68
Sơ đồ 4.4: Mô hình các nhân tố tác động đến chất lượng TT BCTC 69
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán đượctrình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán ( Luật kếtoán, 2015) đáp ứng yêu cầu của người sử dụng để đưa ra các quyết định kinh tế phùhợp Redman (1992) cho rằng thông tin chưa thể hiện tính chính xác và đầy đủ thì
có thể gây ra sự bất lợi trong vị thế cạnh tranh của tổ chức và cũng có thể dẫn đếnviệc ra quyết định sai (Kieso & ctg 2007) Wang và cộng sự (1998) cho rằng thôngtin có chất lượng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thành côngcủa tổ chức, các thông tin tốt sẽ giúp tổ chức hoạt động tốt và ngược lại
Thông tin giữ vai trò rất quan trọng trong tổ chức nhưng người sử dụng thông tin lạiluôn phải đối diện với các nguồn thông tin không đủ chất lượng, các thông tinkhông đủ chất lượng này có thể đến từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể từnhững nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan, có thể do vô tình hoặc cố ý từ ngườicung cấp thông tin
Trên thế giới, có rất nhiều sự kiện liên quan đến báo cáo tài chính có chất lượng thôngtin kém gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế toàn cầu Các nhà quản lý cao cấpnhư giám đốc điều hành (CEO) và giám đốc tài chính (CFO) của những công ty như làXerox , Rite Aid, Enron, Worldcom, Global Crossing, Adelphia, Qwest, bị cho rằng
đã tham gia vào việc chế biến số liệu đưa đến báo cáo tài chính sai lệch
Ở Việt Nam cũng có rất nhiều sự kiện liên quan đến chất lượng thông tin báo cáo tàichính kém chất lượng gây ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam Dù cáccác thông tin trên BCTC này chưa nghiêm trọng như các quốc gia trên thế giới, nhưng
nó tác động không nhỏ đến nền kinh tế và niềm tin của công chúng vào báo cáo tàichính của các doanh nghiệp Liên quan đến vấn đề chất lượng báo cáo tài chính kémchất lượng như là Công ty CP bánh kẹo Biên Hoà, Công ty bông Bạch Tuyết, Công
ty đồ hộp Hạ Long…
Các thông tin về báo cáo tài chính kém chất lượng trên đều ở những công ty tập đoàn lớn, công ty niêm yết Trong khi đó các DN lớn có rất nhiều điều kiện để kiểm soát
Trang 13luồng thông tin của họ vì họ có cả nhân lực và vật lực vững mạnh.
Đối với hàng loạt các doanh nghiệp nhỏ và vừa, khi mà cả nguồn nhân lực và vậtlực còn nhiều hạn chế thì việc kiểm soát thông tin có chất lượng hay chưa là rất khó
vì họ không có bộ phận chuyên môn để thực hiện các công việc mang tính chuyênmôn cao
Theo thông cáo báo chí về kết quả sơ bộ Tổng điều tra Kinh tế năm 2017 của tổng cụcthống kê thì “vùng Đông Nam bộ tiếp tục là vùng thu hút nhiều doanh nghiệp, nếu xéttheo tỉnh, thành phố thì năm địa phương có số lượng đơn vị lớn nhất lần lượt là TP.HồChí Minh, Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An và Đồng Nai” TP.HCM là nơi tập trungnhiều doanh nghiệp nhất, đóng góp nhiều cho nền kinh tế đất nước, đây là nơi tiênphong cho nhiều công ty trong lĩnh vực hoạt động dịch vụ kinh tế tài chính
Hiện nay lĩnh vực cung cấp dịch vụ kế toán không những thu hút doanh nghiệptrong nước mà có cả các doanh nghiệp nước ngoài Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 174/2016/NĐ-CP quy định một số điều của Luật Kế toán trong đó, dànhriêng một mục để quy định các vấn đề về các doanh nghiệp nước ngoài cung cấpdịch vụ kế toán qua biên giới cho các doanh nghiệp, tổ chức tại Việt Nam nhằm tạođiều kiện thuận lợi cho cam kết hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính
Ở Việt Nam mặc dù có những khuyến khích phát triển dịch vụ kế toán trong quátrình hội nhập kinh tế, nhưng chưa có các nghiên cứu về chất lượng BCTC được lậpbởi kế toán dịch vụ
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả nhận thấy việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đếnchất lượng thông tin báo cáo tài chính được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa là cần thiết, nhằm giúp cho các nhà quản lý và các đối tượng
sử dụng thông tin BCTC của các doanh nghiệp này nhận biết và kiểm soát tốt các tác
nhân có thể ảnh hưởng đến chất lượng thông tin mà họ cần sử dụng, giúp họ cónhững quyết định kinh tế thích hợp Vì TP.HCM là nơi có nhiều DNNVV nhất nêntác giả chọn nơi này để làm khảo sát cho nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin báo
Trang 14cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thực hiện bởi kế toán dịch vụ
từ đó đưa ra những kiến nghị giúp nâng cao chất lượng thông tin BCTC được lập bởi kế toán dịch vụ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của người sử dụng BCTC.Mục tiêu cụ thể:
(1) Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV tại TpHCM
(2) Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin BCTCđược thực hiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV tại TpHCM
Câu hỏi nghiên cứu:
(1) Các nhân tố nào tác động chất lượng thông tin báo cáo tài chính được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV tại TpHCM?
(2) Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV tại TpHCM?
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: giúp đo lường CLTT BCTC vàcác nhân tố tác động đến CLTT BCTC; kiểm định tác động của các nhân tố đến chấtlượng thông tin báo cáo tài chính được lập bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV bằngcác phép kiểm định thích hợp như là Cronbach Alpha, EFA, Anova; đo lường mức độtác động của các nhân tố đến CLTT BCTC bằng mô hình hồi qui Nghiên cứu đượcthực hiện bằng phương pháp khảo sát, việc chọn mẫu ngẫu nhiên phi xác suất, các đốitượng khảo sát chủ yếu là nhà quản lý, kế toán tại các doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ
kế toán và các công ty dịch vụ kế toán ở khu vực TP.HCM
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin báo cáo tàichính được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV
Phạm vi nghiên cứu: các doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ kế toán và các công tydịch vụ kế toán ở khu vực TP.HCM
5 Đóng góp của đề tài
Về khía cạnh lý thuyết: tác giả đã đo lường, phân tích và phản ánh thực trạng chất
Trang 15lượng thông tin BCTC được thực hiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV, qua nghiên cứu tác giả xác định được:
7 nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCTC do đơn vị dịch vụ kế toánthực hiện là Sự hỗ trợ của nhà quản trị - sự cung cấp hóa đơn chứng từ củadoanh nghiệp cho đơn vị dịch vụ, Phí dịch vụ kế toán, Chính sách thuế, Kiểmtoán, Trình độ nhà quản trị, Trình độ kế toán viên dịch vụ và Phần mềm kếtoán
Mô hình hồi qui với 7 nhân tố tác động đến chất lượng thông tin BCTC do đơn
vị dịch vụ kế toán thực hiện của các DNNVV
Về khía cạnh ứng dụng: nghiên cứu giúp nhà quản trị, các bên liên quan có sử dụngBCTC của các DNNVV có sử dụng dịch vụ kế toán có cơ sở để đánh giá chất lượngthông tin BCTC bằng các con số cụ thể Bên cạnh đó từ kết quả của kiểm định và
mô hình hồi qui thì giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp biết được các nhân tố có thểảnh hưởng đến chất lượng TT BCTC của doanh nghiệp họ khi họ thuê kế toán dịch
vụ bên ngoài, từ đó họ sẽ kiểm soát, điều tiết các nhân tố đó nhằm gia tăng chấtlượng TT BCTC của họ
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu trình bày lý do nghiên cứu, khái quát nội dung nghiên cứu vàcác phụ lục, luận văn có kết cấu có 5 chương bao gồm:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Các nghiên cứu về chất lượng thông tin BCTC
Từ thập niên 60 các nghiên cứu tập trung về CLTT BCTC, các nghiên cứu đã tậptrung vào việc xác định là liệu rằng dữ liệu được cung cấp bởi các công ty có manglại lợi ích cho người sử dụng thông tin đó hay không
Ban đầu các nghiên cứu tập trung nghiên cứu vào thuộc tính của thông tin và chỉnghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin báo cáo tài chính
Jonas & Blanchet (2000) đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá ưu điểm cũng nhưhạn chế của các khuôn mẫu, các quy định về CLTT BCTC được ban hành bởi các tổchức FASB và Ủy ban chứng khoán Hoa kỳ Tác giả đã tiến hành xây dựng thang
đo để đo lường CLTT BCTC gồm có 5 thang đo là Thích hợp, Đáng tin cậy, Có khảnăng so sánh, Nhất quán và Rõ ràng Nghiên cứu chỉ dừng lại ở phần nghiên cứuđịnh tính, tác giả chưa tiến hành kiểm định thang đo và nghiên cứu định lượng để cóthể đo lường CLTT BCTC bằng con số cụ thể
Ferdy van Beest & ctg (2009) thực hiện đề tài nghiên cứu CLTT BCTC vào thờigian 2005 và 2007 của các công ty niêm yết tại Mỹ, Anh và Hà Lan Tác giả đã tiếnhành xây dựng thang đo CLTT BCTC dựa trên các tiêu chí về CLTT BCTC củaFASB & IASB 2008 Các thang đo về CLTT BCTC được xây dựng là: Thích hợp,Trình bày trung thực , Có thể hiểu được, Có khả năng so sánh, Kịp thời Kết quảcho thấy CLTT BCTC trong các công ty ở Mỹ có điểm trung bình là 3,47 và 3,58tương ứng cho 2 năm 2005 và 2007 CLTT BCTC trong các công ty tại Anh và HàLan thực hiện kế toán theo IFRS là 3,46 và 3,57 cho 2 năm 2005 và 2007
Nghiên cứu của Đoàn Thị Hồng Nhung & Vũ Thị Kim Lan (2014): nghiên cứu xâydựng quy trình đánh giá CLTT BCTC trong các DN Việt Nam Các tác giả đã xâydựng quy trình để đánh giá CLTT BCTC của DN như sau: chọn những BCTC đượckiểm toán và được quyết toán thuế trước; kiểm tra tính trung thực và hợp lý của cácchỉ tiêu trên BCTC bằng cách kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa các kỳ với nhau vàkiểm tra các bằng chứng xác minh thông tin; Đánh giá các chỉ tiêu tài sản và nguồn
Trang 17vốn trên BCTC Nghiên cứu dừng lại ở việc xây dựng quy trình chung, chưa xâydựng thang đo hay tiến hành đo lường CLTT BCTC trong các DN tại Việt Nam.Tác giả Nguyễn Phương Hồng & Dương Thị Khánh Linh (2014) nghiên cứu đolường CLTT BCTC trong các DN tại Việt Nam trên cơ sở các đặc điểm về CLTTBCTC được ban hành bởi IASB & FASB Thang đo CLTT BCTC của tác giả đưa ralà: Thích hợp; Trình bày trung thực; Có khả năng so sánh; Có thể kiểm chứng; Kịpthời; Có thể hiểu được Kết quả của nghiên cứu cho thấy các thành phần CLTTBCTC trong các DN Việt Nam có giá trị trung bình từ 2,79 đến 3,45 Thang đo Cókhả năng so sánh và Có thể hiểu được có giá trị trung bình cao nhất qua đó thấyBCTC có sự nhất quán về chính sách KT và mức độ trình bày thông tin trên BCTC,các thuộc tính còn lại được đánh giá ở mức độ trung bình.
1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLTT BCTC
Từ đầu những năm 2000 xuất hiện những nghiên cứu tìm hiểu về các nhân tố ảnhhưởng đến chất lượng thông tin BCTC
Nghiên cứu của Owusu Ansah (1998) nghiên cứu tác động của các nhân tố bên trongdoanh nghiệp ảnh hưởng đến BCTC của các công ty niêm yết tại Zimbabwe , kết quảcho thấy có năm nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin BCTC đó là quy môcông ty, cơ cấu sở hữu, tuổi công ty, tập đoàn đa quốc gia và lợi nhuận của công ty.Alter (2002) xây dựng mô hình hoạt động xác định chín thành phần có quan hệ chặt chẽvới nhau đó là khách hàng, sản phẩm dịch vụ, thực hiện công việc, người tham gia,thông tin, kỹ thuật công nghệ, môi trường và chiến lược Mô hình nghiên cứu đã mô tảđược mối quan hệ giữa sản phẩm thông tin và người sử dụng cũng như các thành phầntrong hệ thống tạo thông tin Tác giả cho rằng khi muốn đánh giá chất lượng của sảnphẩm thì cần phải xem xét mối quan hệ của các thành phần trong hệ thống đó Mô hìnhhoạt động giúp người nghiên cứu có thể dễ dàng xây dựng mô hình nghiên cứu cácnhân tố thành công hay ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán
Trang 18Sơ đồ 1.1: Mô hình hệ thống hoạt động của Alter
Hongjiang Xu và cộng sự (2003) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố tácđộng đến CLTT BCTC trong các DN tại Australia Nghiên cứu xác định các thuộctính CLTT của BCTC là Chính xác, Kịp thời, Đầy đủ và Nhất quán Mô hình nghiêncứu của tác giả có 4 biến độc lập là con người, Hệ thống, Tổ chức và nhân tố Bênngoài; 1 biến phụ thuộc là CLTT BCTC Kết quả phân tích từ nghiên cứu tìnhhuống cho thấy các nhóm nhân tố về Con người, Hệ thống và Tổ chức được xem làtác động đến CLTT BCTC Nghiên cứu chỉ thực hiện nghiên cứu định tính với mụctiêu khám phá các nhân tố tác động đến CLTT BCTC, chưa thiết kế thang đo cácnhân tố và chưa thực hiện phương pháp định lượng để kiểm định kết quả khám phá Theo nghiên cứu của Ismail (2009) về các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống thông tin
kế toán của các doanh nghiệp sản xuất có quy mô nhỏ và vừa- bằng chứng thựcnghiệm tại Malaysia, tác giả xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả thông tin kếtoán như là “sự phức tạp của HTTT KT, sự tham gia của nhà quản lý, kiến thứcHTTT KT của nhà quản lý, kiến thức kế toán của nhà quản lý, hiệu quả tư vấn củanhà tư vấn, hiệu quả tư vấn của cơ quan chính phủ, hiệu quả tư vấn của các công tykiểm toán, sự tồn tại của nhân viên công nghệ thông tin nội bộ”
Đến năm 2013, Al-Hiyari và cộng sự tìm hiểu các nhân tố tác động đến CL TTKT tại
Trang 19Malaysia dựa vào các mô hình của những nghiên cứu trước Tác giả xây dựng môhình các nhân tố tác động đến CLTT KT gồm có: Nguồn lực con người, Sự cam kết
từ phía các nhà quản lý, Vận hành HTTT KT và chất lượng dữ liệu CLTT KT đượcxác định dựa trên các thuộc tính về CLTT BCTC như là Chính xác, Kịp thời, Đầy
đủ và Nhất quán Tác giả thực hiện nghiên cứu bằng phương pháp định lượng vàtiến hành thu thập dữ liệu khảo sát các các học viên của trường Đại học UtaraMalaysia, đang công tác tại các DN Kết quả cho thấy các nhân tố nguồn lực conngười, sự cam kết từ nhà quản lý, chất lượng dữ liệu thì có tác động đến CLTT KT.Hoglund và cộng sự (2016) đã thực hiện nghiên cứu chất lượng BCTC và nhiệm vụcủa kế toán thuê ngoài ở Phần Lan Nghiên cứu khám phá liệu chất lượng báo cáotài chính của các doanh nghiệp nhỏ có khác nhau khi thuê các công ty dịch vụ kếtoán và kế toán nội bộ công ty hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy thuê ngoàichức năng kế toán có tác động đến chất lượng BCTC Bên cạnh đó thì nghiên cứucũng cho thấy trình độ của kế toán viên, quy mô công ty dịch vụ kế toán, thời gian
ký hợp đồng dịch vụ kế toán cũng là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến chấtlượng BCTC của doanh nghiệp khi thực hiện thuê dịch vụ kế toán
Tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượngthông tin kế toán, chất lượng thông tin báo cáo tài chính
Nguyễn Thị Bích Liên (2012) thực hiện đề tài nghiên cứu nhằm xác định và kiểmsoát các nhân tố có tác động đến chất lượng TTKT đối với các DN có ứng dụng hệthống hoạch định nguồn nhân lực (ERP), qua bài nghiên cứu tác giả đã xác địnhđược 6 nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng TTKT cho doanh nghiệp Việt Nam ứngdụng ERP đó là Chính sách nhân sự và quản lý thông tin cá nhân; Kinh nghiệm,phương pháp tư vấn triển khai và chất lượng dữ liệu; Thử nghiệm hệ thống ERP vàhuấn luyện nhân viên; Năng lực, cam kết của Ban quản lý và kiến thức của nhà tưvấn triển khai; Kiểm soát đảm bảo hệ thống ERP tin cậy; Chất lượng phần mềmERP Nghiên cứu chưa tiến hành đo lường và chưa kiểm định mức độ tác động củacủa các nhân tố này đến CLTT KT, nhưng đã tạo ra một nền tảng lý luận chặt chẽ
về tác động của một số nhân tố đến CLTT KT trong các DN có ứng dụng ERP
Trang 20Tác giả Phan Minh Nguyệt (2014) có bài nghiên cứu về mức độ ảnh hưởng của cácnhân tố đến chất lượng TTKT trên BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam, bàinghiên cứu đã xác định và đo lường được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượngTTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam là rủi ro kiểmtoán, nhà quản trị của doanh nghiệp, thuế, lợi ích và chi phí, việc lập và trình bàycáo tài chính.
Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016) đã thực hiện nghiên cứu các tác độngcủa các yếu tố bên ngoài DN đến tính thích đáng của CLTT kế toán trên báo cáo tàichính Các tác giả thực hiện nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu định tính, xâydựng mô hình nghiên cứu gồm có bốn nhân tố bên ngoài doanh nghiệp tác động đếntính thích đáng của chất lượng BCTC như là: áp lực từ thuế, niêm yết chứng khoán,kiểm toán độc lập và chất lượng phần mềm kế toán Nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tốtác động đến thuộc tính tính thích đáng của CLTT BCTC trong các DN Việt Nam, đó lànhân tố áp lực từ thuế, kiểm toán độc lập và chất lượng PMKT
Năm 2016 tác giả Phạm Quốc Thuần thực hiện nghiên cứu các nhân tố tác động đếnchất lượng thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp tại Việt Nam, tác giả đãxây dựng thang đo và đo lường CLTT BCTC trong các doanh nghiêp ở Việt Nam.Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính xác định được 10 nhân tố có tác động đếnCLTT BCTC đó là: Niêm yết, quy mô doanh nghiệp, kiểm toán độc lập, Hành viquản trị lợi nhuận, áp lực từ thuế, hỗ trợ từ phía nhà quản trị, đào tạo và bồi dưỡng,chất lượng PMKT, hiệu quả của HTKSNB, Năng lực nhân viên KT Sau khi thựchiện nghiên cứu định lượng tác giả loại ra 2 biến Niêm yết và quy mô doanh nghiệp
và xem xét hai biến này dưới dạng biến điều tiết, tác giả thu được 8 nhấn tố tácđộng đến CLTT BCTC là kiểm toán độc lập, Hành vi quản trị lợi nhuận, áp lực từthuế, hỗ trợ từ phía nhà quản trị, đào tạo và bồi dưỡng, chất lượng PMKT, hiệu quảcủa HTKSNB, Năng lực nhân viên KT
Trang 21Bảng 1.1 Bảng tổng hợp các nhân tố tác động đến CLTT BCTC
BẢNG TỔNG HỢP CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CLTT BCTC
Kết quả- nhân tố tác động đến
1 Owusu Ansah Tác động của các thuộc tính Quy mô công ty, cơ cấu sở(1998) doanh nghiệp đối với việc công hữu, tuổi công ty, tập đoàn đa
bố thông tin và lập báo cáo của quốc gia và lợi nhuận củacác công ty niêm yết tại công ty
Zimbabwe
2 Alter (2002) Phương pháp hệ thống làm việc Khách hàng, sản phẩm dịch
để tìm hiểu hệ thống thông tin vụ, thực hiện công việc,
và nghiên cứu hệ thống thông người tham gia, thông tin, kỹ
và chiến lược
3 Hongjiang Xu Các nhân tố tác động đến CLTT Các nhóm nhân tố về Con(2003) BCTC trong các DN tại người, Hệ thống và Tổ chức
Australia
4 Ismail (2009) Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu Sự phức tạp của HTTKT, sự
quả của hệ thống thông tin kế tham gia của nhà quản lý,toán trong các DNNVV chuyên kiến thức HTTT KT của nhàlĩnh vực sản xuất: Bằng chứng quản lý, kiến thức kế toán củanghiệm tại Malaysia nhà quản lý, hiệu quả tư vấn
của nhà tư vấn, hiệu quả tưvấn của cơ quan chính phủ,hiệu quả tư vấn của các công
ty kiểm toán, sự tồn tại củanhân viên CNTT nội bộ
5 Al-Hiyari (2013) Các nhân tố tác động đến CL Nguồn lực con người, sự cam
TTKT tại Malaysia kết từ nhà quản lý, chất lượng
dữ liệu
6 Hoglund và cộng Nghiên cứu chất lượng BCTC Trình độ của kế toán viên,
sự (2016) và nhiệm vụ của kế toán thuê quy mô công ty dịch vụ kế
Trang 22ERP và huấn luyện nhân viên;Năng lực, cam kết của Banquản lý và kiến thức của nhà
tư vấn triển khai; Kiểm soátđảm bảo hệ thống ERP tincậy; Chất lượng phần mềmERP
8 Phan Minh “Xác định đo lường mức độ ảnh Rủi ro kiểm toán, nhà quản trịNguyệt (2014) hưởng của các nhân tố đến của doanh nghiệp, thuế, lợi
CLTTKT trình bày trên BCTC ích và chi phí, việc lập vàcủa các công ty niêm yết ở VN” trình bày BCTC
9 Nguyễn Xuân “Tác động của các nhân tố bên Áp lực từ thuế, kiểm toán độcHưng & Phạm ngoài doanh nghiệp đến tính lập và chất lượng phần mềmQuốc Thuần thích đáng của chất lượng thông kế toán
(2016) tin kế toán trên BCTC”
10 Phạm Quốc “ Các nhân tố tác động đến chất Kiểm toán độc lập, Hành viThuần (2016) lượng thông tin báo cáo tài quản trị lợi nhuận, áp lực từ
chính trong các doanh nghiệp thuế, hỗ trợ từ phía nhà quảntại Việt Nam” trị, đào tạo và bồi dưỡng, chất
lượng PMKT, hiệu quả củaHTKSNB, Năng lực nhânviên KT
(Nguồn : tác giả tổng hợp)
1.3 Tổng quan về dịch vụ kế toán
Các hoạt động dịch vụ thuê ngoài cũng bắt đầu hoạt động vào cuối những năm 80( Hussey et al, 2003) Hợp đồng thuê ngoài là thực hiện hợp đồng với các nhà cungcấp dịch vụ bên ngoài để cung cấp một dịch vụ hoặc một chức năng nào đó ( Carey
et al, 2006) Theo nghiên cứu của Ismail (2009) cho thấy rằng các nhà quản lý củacác DNNVV cần có đủ kiến thức kế toán để hiểu rõ hơn các yêu cầu về thông tinkinh doanh, ông cũng khuyến cáo rằng các DNNVV bị hạn chế về nguồn lực thìnên thuê các công ty dịch vụ tư vấn mà hiểu biết về đặc điểm của họ, để có thể giúp
họ khắc phục sự thiếu hiểu biết về lĩnh vực đó, đặc biệt là lĩnh vực kế toán
Haron và cộng sự (2010) tiến hành nghiên cứu nhằm xem xét việc sử dụng dịch vụ
kế toán tại các DN ở Malaysia Thông qua nghiên cứu tác giả nhận thấy ở từng giaiđoạn phát triển khác nhau thì doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn khác
Trang 23nhau vì thế mà sự tác động của kế toán dịch vụ đến chất lượng thông tin kế toán trênBCTC cũng sẽ khác nhau theo từng giai đoạn phát triển của DN Kết quả nghiên cứucho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của kế toán dịch vụ là quan hệ giữacông ty cung cấp DVKT và các công ty khách hàng; các giai đoạn phát triển của DN.
Susela và Helen (2010) thực hiện nghiên cứu kế toán là nhà hỗ trợ và tư vấn cho cácDNNVV ở Malaysia Nghiên cứu dùng phân tích SPSS để xác định và đo lườngmức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả công việc của các đơn vị dịch vụ
kế toán Nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố tác động đến chất lượng công việc màcác kế toán thực hiện là: năng lực của kế toán, mối quan hệ giữa DN và đơn vị thựchiện dịch vụ, vai trò của hiệp hội KT, phí dịch vụ và nhận thức của nhà quản trị.Hussin và cộng sự (2014) tìm hiểu tác động của dịch vụ kế toán đến DNNVVchuyên lĩnh vực sản xuất ở Malaysia Trong bài nghiên cứu các lý thuyết nền đượctác giả sử dụng lý thuyết tài nguyên và lý thuyết đại diện Nghiên cứu cho thấy có 5nhân tố tác động đến chất lượng dịch vụ mà kế toán dịch vụ cung cấp cho các doanhnghiệp đó là: sự mong đợi, khả năng quản lý, hệ thống dịch vụ, kinh nghiệm vànhận thức Các DNNVV quyết định thuê ngoài dịch vụ kế toán thì phụ thuộc vàotrình độ của nhà quản trị, năng lực và quy mô của công ty
Tại Việt Nam hiện tại vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữadoanh nghiệp cung cấp dịch vụ dịch vụ kế toán và khách hàng cũng như nghiên cứu vềchất lượng thông tin BCTC được lập bởi kế toán dịch vụ cho các doanh nghiệp
Để góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán của các kế toán viên hành nghề vàdoanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán, gia tăng tính minh bạch các thông tin kinh
tế tài chính các doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ kế toán, vào năm 2007, Bộ Tàichính đã ban hành “Quyết định 32/2007/QĐ-BTC (QĐ 32) về Quy chế kiểm soátchất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán” Đây là văn bản quan trọng để Hội Kế toán
và Kiểm toán Việt Nam tổ chức các đoàn kiểm tra chất lượng DVKT hàng năm
Tác giả Hà Thị Tường Vy (2014) trình bày các kết quả đạt được khi áp dụng quy chếkiểm tra CL của dịch vụ kế toán Các cuộc kiểm tra chất lượng hàng năm giúp các
Trang 24đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán tuân thủ các qui định của luật pháp, các chính sáchthuế và có thể nâng cao đạo đức nghề nghiệp Kết quả cho thấy là giá phí dịch vụcòn khá thấp chưa tương ứng với giá trị mà đơn vị dịch vụ đã bỏ ra, và nguồn nhânlực từ công ty dịch vụ vẫn còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụcung cấp cho khách hàng.
1.4 Khe hổng nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu nước ngoài và trong nước liên quan đến đề tài dựkiến thực hiện tác giả nhận thấy:
Các nghiên cứu về CLTT BCTC có quá trình phát triển nổi bật, có rất nhiều nghiêncứu cho lĩnh vực này và được sự quan tâm của nhiều tổ chức trên thế giới nhưFASB, IASB
Các nhà nghiên cứu trước đã tìm ra được nhiều nhân tố tác động đến CLTT BCTC,các nhân tố đó có thể xuất phát từ bên trong DN hay bên ngoài DN Tuy nhiên cácnghiên cứu nước ngoài xác định các nhân tố tác động đến CLTT BCTC thì đượcthực hiện tại các quốc gia khác, có sự khác biệt về kinh tế, hệ thống chính trị vàpháp luật đối với Việt Nam Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế, cácquy định về hành nghề kế toán còn đang được hoàn thiện trong khi đó thì các nướctrên thế giới đã áp dụng các quy định về hành nghề kế toán Tác giả nhận thấy cầnthiết xem xét các nhân tố tác động đến CLTT BCTC có phù hợp với bối cảnh củaViệt Nam không và mức độ tác động của các nhân tố đó như thế nào
Các nghiên cứu trước ở Việt Nam tập trung nghiên cứu về CLTT BCTC ở quy mô tổngthể các doanh nghiệp, các doanh nghiệp lớn niêm yết chứng khoán, các doanh nghiệp
có ứng dụng công nghệ cao như ERP Tác giả thấy chưa có nhiều nghiên cứu đếnCLTT BCTC của các DNNVV, đặt biệt là đối với các DN có thuê dịch vụ kế toán bênngoài Trong khi đó tỷ trọng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số lượng rất lớn vàđóng góp rất nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế Các DNNVV có cơ chế hoạt độnggọn nhẹ, họ thường thuê ngoài các chức năng mà họ yếu kém, đặc biệt là trong lĩnh vực
kế toán Trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay thì việc đầu tư cho các bộ phận cóchuyên môn cao hay dùng giá trị đó đầu tư kinh doanh sản xuất là mối
Trang 25bận tâm của các DNNVV Các DNNVV sử dụng báo cáo tài chính để biết được tìnhhình kinh doanh, kêu gọi vốn đầu tư và vay ngân hàng thì liệu rằng TT BCTC đượclập bởi kế toán dịch vụ có chất lượng hay chưa để giúp người sử dụng ra các quyếtđịnh kinh tế phù hợp Nên việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượngBCTC được lập bởi các kế toán dịch vụ là cần thiết, để doanh nghiệp có thể kiểmsoát tốt các yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC mà họ cần sửdụng Định hướng của nghiên cứu này:
Xác định các nhân tố tác động đến CLTT BCTC được thực hiện bởi kế toán dịch vụcủa các DNNVV như là các yếu tố xuất phát từ bên trong doanh nghiệp, các yếu tốbên ngoài doanh nghiệp như là các yếu tố xuất phát từ công ty dịch vụ kế toán vàmôi trường hoạt động của doanh nghiệp
Đo lường mức độ tác động của các nhân tố này đến chất lượng BCTC được thựchiện bởi kế toán dịch vụ của các DNNVV ở TP.HCM
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Ở chương 1 luận văn trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và các nghiêncứu trong nước các nghiên cứu về chất lượng thông tin BCTC, các nhân tố tác độngđến chất lượng thông tin BCTC, sau đó tóm tắt các kết quả từ nghiên cứu trước để cóthể lựa chọn và kế thừa các nhân tố phù hợp với bối cảnh nghiên cứu của mình Bên
cạnh đó tác giả cũng tìm hiểu tổng quan về hoạt động dịch vụ kế toán đề làm cơ sở dẫn chứng cho đề tài
Qua tìm hiểu các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu, từ đó định hướng cho nghiên cứu của mình
Trang 26CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về chất lượng thông tin BCTC
Khái niệm về thông tin
Theo AICPA (1970), thông tin kế toán là những thông tin tài chính, có liên quanđến các thực thể kinh tế sử dụng thông tin đó cho việc ra các quyết định kinh tế(Needles & ctg, 1993)
Thông tin là những thông báo về tin tức, các sự kiện, con số được thể hiện dưới hìnhthức thích hợp với người sử dụng để phục vụ việc ra quyết định “Thông tin có íchvới việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và tăng tri thức về vấn đềđược đề cập” (Gelinas and Dull, 2008)
Theo Luật KT Việt Nam (2003; 2015) cho rằng thông tin KT chứa đựng nhữngthông tin kinh tế, tài chính trong BCTC cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tincủa đơn vị KT
Khái niệm về chất lượng
Trong nghiên cứu của Deming (1986), ông rằng chất lượng nên được nhằm vào nhucầu của người tiêu dùng còn theo nghiên cứu của Garvin (1988) lại rằng chất lượngđược xác định bằng số lượng hay mức độ của một hoặc nhiều thuộc tính sở hữu bởisản phẩm vì đối tượng nghiên cứu của họ là khác nhau, Deming thì thực hiên nghiêncứu trên đối tượng là người tiêu dùng còn Garvin thì có đối tượng nghiên cứu là sảnphẩm
Chất lượng là một phạm trù rất phức tạp, trong đó có các định nghĩa khá phổ biếnnhư “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” hay “Chất lượng là sự phù hợp với cácyêu cầu hay đặc tính nhất định” nhưng có một định nghĩa được áp dụng rộng rãinhất là theo Tiêu chuẩn ISO 9000:2005 chất lượng là: "Mức độ đáp ứng các yêu cầucủa một tập hợp có đặc tính vốn có"
Khái niệm về chất lượng thông tin
Có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về chất lượng thông tin Theo Wang
và cộng sự năm 1999 thì “chất lượng thông tin có thể định nghĩa là thông tin phù hợpcho việc sử dụng của người sử dụng thông tin” hay theo Kahn và Strong (1998) thì
Trang 27“chất lượng thông tin là đặc tính của thông tin để giúp đạt được các yêu cầu hay sựmong đợi của người sử dụng thông tin” Tác giả Nguyễn Thị Bích Liên (2014) chorằng tuy có các định nghĩa và quan điểm khác nhau về chất lượng thông tin nhưngchúng đều có 1 số đặc điểm chung, đó là: chất lượng thông tin hay chất lượng dữliệu tùy thuộc cảm nhận của người sử dụng thông tin.
Theo tác giả Trần Phước và cộng sự (2014) đã thực hiện nghiên cứu cơ sở văn hóaViệt Nam có ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam, tácgiả đề cập thông tin là kết quả của quá trình thu thập và xử lý dữ liệu, vì vậy muốngia tăng chất lượng của thông tin ta phải kiểm soát tốt các yếu tố có thể làm ảnhhưởng đến quá trình tạo ra thông tin Thông tin là một loại sản phẩm vô hình, thôngtin có chất lượng hay chưa là do cảm tính của người sử dụng vì thế để có thể giatăng CLTT thì cần phải tìm hiểu về mục đích của người sử dụng thông tin đó
Khái niệm về chất lượng thông tin BCTC
Theo Luật kế toán (2015) “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chínhcủa đơn vị kế toán được trình bày theo mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế
độ kế toán.”, thông tin trình bày trên BCTC của các DNNVV là dựa trên các biểumẫu của Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/08/2016 và thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài Chính trong đó bao gồm: Bảng cân đối kếtoán, Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Bảng lưu chuyển tiền tệ, Bảngthuyết minh BCTC
Chất lượng thông tin kế toán theo Luật kế toán Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu vềtính trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, có thể hiểu được và có thể so sánh Hiệnnay quy định các thông tin trình bày trong BCTC theo thông tư 200/2014/TT-BTC phảiphản ánh trung thực, hợp lý tình hình kinh doanh của DN; các thông tin tài chính phảithích hợp để người sử dụng có thể đưa ra được các quyết định kinh tế; Các thông tin tàichính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu; Thông tin phải có thểkiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu; các thông tin phải được trình bày nhất quán có thể sosánh giữa các kỳ kế toán và có thể so sánh giữa các DN với nhau Các đặc điểm về chấtlượng thông tin kế toán theo quan điểm hội tụ của dự án hội tụ giữa
Trang 28IASB và FASB, (FASB,2010), (IASB,2010) được chia thành hai phần đó là đặcđiểm chất lượng cơ bản trong đó yêu cầu về tính thích hợp và trình bày trung thực,phần thứ hai là các đặc điểm chất lượng bổ sung như là kịp thời, dễ hiểu, có thể sosánh và có thể kiểm chứng.
Báo cáo tài chính là một trong những sản phẩm mà kế toán cung cấp cho nhà quản
lý, những bên liên quan với tổ chức gọi chung là người sử dụng thông tin, để cungcấp thông tin cho người sử dụng có những quyết định kinh kế liên quan đến tổ chức.Cách thức để đánh giá chất lượng thông tin của báo cáo tài chính cũng giống nhưcách đánh giá chất lượng thông tin khác tức là thông tin phải phù hợp và hữu ích đốivới người sử dụng chúng
2.2 Đặc điểm của DNNVV
Theo nghiên cứu của Banham Heather C(2010) các DNNVV có những đặc điểmkhác so với các doanh nghiệp lớn như vấn đề về nguồn lực cả về nhân lực và vậtlực, khả năng chuyện biệt hóa một lĩnh vực hoạt động Ngành nghề kinh doanh củadoanh nghiệp nhỏ và vừa thường chỉ tập trung vào một ngành chính của công ty chứkhông đa dạng hoặc có quy mô lớn như các doanh nghiệp lớn, do đó các nghiệp vụkinh tế cũng có phần đơn giản hơn
Các tiêu chí để xác định DNNVV theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗtrợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thay thế Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009
Bảng 2.1 Các tiêu chí để xác định DNNVV theo Nghị định 39/2018/NĐ-CP
Quy mô Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Số lao động tham Số lao động tham gia Tổng nguồn tham gia bảo Tổng nguồn Tổng nguồn
Lĩnh vực Doanh thu Doanh thu gia bảo hiểm xã hội Doanh thu bảo hiểm xã hội bình
bình quân năm Nông nghiệp,
Trang 29Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 11/03/2018
Theo tổng cục điều tra kinh tế 2017 thì các DNNVV tiếp tục tăng nhanh và chiếm tỷtrọng cao trong nền kinh tế Các DNNVV có các đặc điểm sau:
DNNVV năng động, linh hoạt trước những thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng,
Bộ máy tổ chức, sản xuất, quản lý gọn nhẹ ,các quyết định quản lý thực hiệnnhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp Qua đó góp phần tiết kiệm chiphí quản lý doanh nghiệp
Vốn đầu tư ban đầu ít, đều này cũng tạo ra áp lực cạnh tranh cao trong cácDNNVV
Cơ sở vật chất kỹ thuật ,trình dộ công nghệ kỹ thuật thường gặp nhiều hạn chế do vốn đầu tư ít
Trình độ quản lý theo các chức năng còn hạn chế Các chủ DNNVV có thểgặp khó khăn về kiến thức kinh tế thị trường, họ thường quản lý bằng kinhnghiệm và thực tiễn là chủ yếu
Do các đặc điểm riêng nên việc phải cân đối chi phí trong các DNNVV cũng là mộttrong những quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp này
2.3 Công tác kế toán tại các DNNVV
Nghiên cứu của Võ Văn Nhị (2013) có đề cập đến đối tượng sử dụng TTKT của cácDNNVV là chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng vì thế mà việc công bố thông tinBCTC của các DN này đơn giản hơn các công ty lớn và cũng có những giới hạn nhấtđịnh Bên cạnh đó thì do nguồn lực có giới hạn, nên việc đầu tư và tổ chức công tác kếtoán tại các DN còn nhiều hạn chế Vì thiếu khả năng quản lý, thiếu hụt về tài chính vànguồn nhân lực trong các DNNVV đã thúc đẩy các doanh nghiệp này thuê ngoài để cảithiện tổ chức của họ DNNVV phải đối mặt với các khó khăn trong chức năng kế toán
là thiếu chuyên môn hoặc nhân lực (Dorasamy và cộng sự 2010; Ismail, 2002: Hasnah
và cộng sự, 2011) Nghiên cứu của Sian và Roberts (2009) ở Anh cho thấy có khoảng55% doanh nghiệp nhỏ thuê ngoài các hoạt động kế toán như là báo
Trang 30cáo thuế, báo cáo tài chính và hệ thống sổ sách kế toán Ở Malaysia, theo nghiêncứu của Jayabalan và cộng sự (2009) thì phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuêngoài hoạt động kế toán để thực hiện các công việc như là báo cáo tài chính, báocáo quản trị và báo cáo thuế.
Thông tư 133/2016/TT-BTC và thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kếtoán doanh nghiệp, các DNNVV có thể cân nhắc để lựa chọn thực hiện theo thông
tư nào cho phù hợp với tình hình kinh doanh và yêu cầu quản lý của họ Sau khiBCTC được lập thì cũng phải được ký theo quy định của Luật kế toán, khi doanhnghiệp không thể tự lập BCTC mà thuê đơn vị kinh doanh dịch vụ kế toán, ngườihành nghề kế toán lập BCTC thì họ phải ký vào BCTC này
2.4 Dịch vụ kế toán
Các dịch vụ kế toán ngày càng thể hiện khả năng cung cấp dịch vụ chuyên nghiệpcủa mình họ tham gia nhiều hơn vào quá trình hoạt động tài chính của công ty, họlập các báo cáo tài chính và báo cáo cho nhà quản trị (Yahya Kamyabi and SuselaDevi, 2011)
Theo Luật kế toán (2015) có trích kinh doanh dịch vụ kế toán là: “việc cung cấpdịch vụ làm kế toán, làm kế toán trưởng, lập báo cáo tài chính, tư vấn kế toán và cáccông việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật này cho các
tổ chức, cá nhân có nhu cầu”
Tác giả Đinh Thị Thùy Liên (2018) cho rằng “Các DN dịch vụ kế toán và kiểm toánđóng vai trò quan trọng trong việc trợ giúp, tư vấn cho các nhà đầu tư, các DN vềpháp luật, chế độ, thể chế tài chính, kế toán của Nhà nước, cũng như việc lập, ghi sổ
kế toán, tính thuế, lập báo cáo tài chính”, tác giả cho rằng việc chỉ có từ 2 DN dịch
vụ kế toán, kiểm toán vào năm 1991 thì đến 2018 cả nước đã có gần 240 DN dịch
vụ kế toán, kiểm toán, trong đó có hơn 140 DN dịch vụ kiểm toán và gần 100 DNdịch vụ kế toán và đã đóng góp rất nhiều cho ngân sách nhà nước Các hoạt độngdịch vụ kế toán, kiểm toán không chỉ hỗ trợ DN tạo ra thông tin kinh tế, tài chínhtheo quy định của pháp luật mà còn góp phần tăng trưởng kinh tế bên cạnh đó còntăng tính công khai, minh bạch của các thông tin tài chính
Trang 31Dịch vụ kế toán ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củakhách hàng, các dịch vụ này giúp doanh nghiệp giải quyết mâu thuẫn là mong muốnchi phí thấp nhưng hiệu quả công việc phải cao và góp phần tăng chất lượng thôngtin BCTC.
2.5 Lý thuyết nền
Để có thể đưa ra các giả thuyết nghiên cứu, tác giả tìm hiểu và phân tích các lý thuyếtnền có liên quan như là lý thuyết bất cân xứng, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết đại diện và
lý thuyết phụ thuộc nguồn lực để phát triển các giả thuyết trong luận văn của mình
2.5.1 Lý thuyết bất cân xứng ( Asymmetric information)
Vào khoảng những năm 1970 các nghiên cứu về lý thuyết thông tin bất cân xứngbắt đầu được thực hiện, các nhà nghiên cứu tiên phong cho lý thuyết này là GeorgeAkerlof, Michael và Joseph Stiglitz đã rất vinh dự nhận được Nobel kinh tế
Thông tin bất cân xứng là việc các bên tham gia cố tình che đậy những thông tinkhông có lợi cho họ và chỉ cung cấp những thông tin có lợi, việc thông tin bất cânxứng càng trở nên phổ biến hơn khi tính minh bạch của thông tin, khả năng tiếp cậnthông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém
Khái niệm về thông tin bất cân xứng là trạng thái mất cân bằng trong cơ cấu thôngtin giữa các chủ thể giao dịch có nắm giữ thông tin không ngang nhau, nó mô tả tìnhhuống về việc những người tham gia tương tác trên thị trường có được những thôngtin khác nhau về giá trị hoặc chất lượng của một dịch vụ hay một tài sản đang đượcgiao dịch
Trong nền kinh tế, thông tin bất cân xứng có thể dẫn đến những quyết định kinh tếsai lầm Các dấu hiệu của hiện tượng TT bất cân xứng như là DN không chủ độngcung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, xảy ra hiện tượng rò rỉ thông tin chưa hoặckhông được phép công khai, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin cho các cổ đônglớn mà không cung cấp thông tin rộng rãi cho tất cả các cổ đông, che đậy hoặc làmgiảm các thông tin bất lợi, thổi phồng các thông tin có lợi, tung tin đồn thất thiệt
Như vậy thông tin bất cân xứng có thể gây ra những quyết định kinh tế chưa phù hợpcho các nhà đầu tư, các bên liên quan sử dụng thông tin BCTC của doanh nghiệp từ
Trang 32đó có thể gây ra những ảnh hưởng, tổn thất nặng nề cho nền kinh tế.
2.5.2 Lý thuyết tín hiệu ( Signaling theory)
Trong lý thuyết hợp đồng, tín hiệu là việc một bên chuyển tải một cách đáng tin cậythông tin cho một bên khác Nó giải quyết thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp vàcác bên liên quan Các DN phải cung cấp thông tin cho các bên liên quan trên tinh thần
tự nguyện để tạo nên sự khác biệt cho doanh nghiệp mình với các DN khác
Thông qua lý thuyết tín hiệu ta có thể thấy rằng các công ty hoạt động hiệu quả sẽthể hiện chất lượng thông tin tốt, còn các công ty hoạt động chưa hiệu quả sẽ cóchính sách che đậy những thông tin yếu kém
Thông tin BCTC của doanh nghiệp có thể tác động đến quyết định của nhà quản trị,các bên liên quan khi họ sử dụng thông tin đó Nên chủ đích của người cung cấpthông tin là chỉ cung cấp những thông tin nào có lợi nhất cho họ
Khi thời gian hoạt động của doanh nghiệp càng dài, họ sẽ có kinh nghiệm hơn trongmôi trường hoạt động của mình từ đó giúp các doanh nghiệp ngày càng tuân thủ cácquy định của chính sách thuế, họ cung cấp hóa đơn chứng từ cho đơn vị dịch vụ đầy
đủ và kịp thời từ đó sẽ càng ngày gia tăng chất lượng của BCTC
Như vậy dựa vào lý thuyết này, tác giả sẽ tìm hiểu các nhân tố thời gian hoạt độngcủa công ty, chính sách thuế, sự hỗ trợ của nhà quản trị - sự cung cấp hóa đơnchứng từ của doanh nghiệp cho đơn vị dịch vụ
2.5.3 Lý thuyết đại diện ( Agency theory)
Năm 1976, nhà nghiên cứu Jensen và Meckling công bố nghiên cứu về lý thuyết đạidiện, nghiên cứu này cho thấy mối liên hệ giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền.Các nhà quản trị sẽ tìm cách vận dụng chính sách kế toán, các quy định của luậtthuế khi lập báo cáo tài chính sao cho có lợi nhất cho doanh nghiệp
Lý thuyết đại diện cho rằng sẽ phát sinh xung đột khi có thông tin không được cungcấp đầy đủ và bất cân xứng giữa người cung cấp thông tin và người sử dụng thôngtin Để có thể giảm xung đột lợi ích giữa các bên, thì cần phài giám sát những hành
vi không bình thường, tư lợi của người quản lý công ty như việc thuê ngoài kế toándịch vụ hay các đơn vị kiểm toán độc lập Các chi phí liên quan đến lý thuyết này như
Trang 33là chi phí giám sát, chi phí liên kết và chi phí khác.
Lý thuyết này cung cấp cơ sở giải thích cho việc tại sao nhà quản lý lựa chọn nhữngchính sách có lợi nhất cho doanh nghiệp của mình, như việc đối phó với những thayđổi bất lợi từ môi trường kinh doanh cũng như việc giảm thiểu các chi phí phát sinh.Như vậy dựa vào lý thuyết này, luận văn sẽ nghiên cứu vào các nhân tố như là phídịch vụ kế toán, tổ chức kiểm toán
2.5.4 Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency theory)
“ Nguồn lực của tổ chức được hiểu như là tất cả tài sản, năng lực, quy trình hoạt động,thông tin và tri thức được kiểm soát bởi tổ chức và giúp tổ chức nhận thức và thực hiệncác chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất hoạt động” nguồn lực thể hiện sứcmạnh và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác
Bên cạnh các nguồn lực bên trong doanh nghiệp, thì các doanh nghiệp cũng thuêcác dịch vụ bên ngoài
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực được xây dựng bởi Pfeffer và Salancik vào năm 1978,
nó cung cấp nền tảng về vai trò nguồn lực của doanh nghiệp, lý thuyết này cho thấy vaitrò của hội đồng quản trị, nhà quản lý của doanh nghiệp trong việc cung cấp và sử dụngcác nguồn tài nguyên của công ty Bên cạnh đó nguồn tài nguyên quý nhất của doanhnghiệp là nguồn nhân lực, trình độ của nhân viên là một trong những nguồn lực quantrọng nhất góp phần vào thành công của mỗi doanh nghiệp
Áp dụng lý thuyết này vào luận văn của mình tác giả kỳ vọng nhân tố trình độ củanhà quản trị, trình độ của kế toán viên dịch vụ, phần mềm kế toán có ảnh hưởng đếnchất lượng thông tin của báo cáo tài chính
Qua nghiên cứu các lý thuyết nền, tác giả tổng hợp các nhân tố tác động đến CLTTBCTC được thực hiện bởi kế toán dịch vụ và kỳ vọng chiều tác động của các nhân tốnày đến CLTT BCTC Bảng tổng kết này với việc tìm hiểu các kết quả các nghiên cứutrước ở Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, giúp tác giả có cơ sở để đề xuất mô hìnhnghiên cứu và hình thành các giả thuyết nghiên cứu được trình bày ở chương 3
Trang 34Bảng 2.2 Tổng kết các nhân tố tác động đến chất lượng TT BCTC từ cơ sở
lý thuyết
Chiều tác
1 Thời gian hoạt động của công ty Lý thuyết tín hiệu Cùng chiều
3 Sự cung cấp hóa đơn chứng từ Lý thuyết tín hiệu Cùng chiềucủa doanh nghiệp cho đơn vị
dịch vụ
6 Trình độ của nhà quản lý Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực Cùng chiềuTrình độ của kế toán viên dịch
8 Phần mềm kế toán Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực Cùng chiều
(Nguồn : tác giả tổng hợp)
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 tác giả tìm hiểu các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu để làm cơ
sở cho nghiên cứu của tác giả Các lý liên quan được trình bày như là lý thuyết bấtcân xứng, lý thuyết tín hiệu, lý thuyết đại diện và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực vàmột số khái niệm cơ bản có liên quan đến chất lượng, thông tin, BCTC hayDNNVV Từ kết quả của các nghiên cứu trước và các lý thuyết có liên quan tác giả
có căn cứ để xác định các nhân tố có ảnh hường đến chất lượng thông tin BCTC
Trang 35CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Khung nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Kế thừa thang đo từ các nghiên cứu
trước
Điều chỉnh thang đo
Khảo sát, thu thập số liệu
Kiểm định giả thuyết
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Trang 36Tác giả xin trình bày khung nghiên cứu sẽ thực hiện các công việc như sau:
Sau khi tìm hiểu thực tiễn, tìm ra vấn đề cần thực hiện nghiên cứu, tác giả xác định mục tiêu và vấn đề cần nghiên cứu ( trình bày ở phần mở đầu)
Tìm hiểu và phân tích các nghiên cứu trước, tổng hợp cơ sở lý thuyết ( trìnhbày ở chương 1 và 2) tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và đưa ra các giảthuyết nghiên cứu
Tác giả kế thừa thang đo từ các nghiên cứu trước, tiến hành điều chỉnh cácthang đo cho phù hợp với nghiên cứu của mình đối với các DNNVV có sửdụng dịch vụ kế toán làm BCTC, sau đó thiết kế các câu hỏi trong bảng khảosát
Tiến hành khảo sát và thu thập số liệu, sau đó tiến hành mã hóa và nhập vào phần mềm SPSS
Thực hiện phân tích dữ liệu như là thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy, phântích nhân tố, phân tích hồi quy để kiểm định thang đo, giả thuyết và mô hình
Từ kết quả thu được tác giả đưa ra kết luận và kiến nghị
3.2 Mô hình nghiên cứu
Mô hình hoạt động của Alter (2002) đã mô tả được mối quan hệ giữa sản phẩmthông tin và người sử dụng cũng như các thành phần hệ thống tạo ra thông tin, ưuđiểm của mô hình hoạt động giúp người nghiên cứu có thể dễ dàng xây dựng môhình nghiên cứu các nhân tố thành công hay ảnh hưởng chất lượng thông tin kếtoán, dựa vào mô hình này tác giả xác định ba nhóm nhân tố chính có thể tác độngđến chất lượng BCTC được lập bởi kế toán dịch vụ của DNNVV là đơn vị dịch vụ
kế toán, DNNVV và môi trường hoạt động của DN Các nhân tố được nhận diệnthông qua nguyên tắc suy diễn, chất lượng thông tin phụ thuộc vào các yếu tố tạo ra
nó, cho nên nhân tố nào ảnh hưởng đến quá trình tạo ra thông tin thì cũng ảnhhưởng đến chất lượng thông tin
Trong mô hình hoạt động thì đơn vị kế toán dịch vụ được xem như là người thực hiệncông việc trong đó người tham gia là các kế toán viên dịch vụ, thông tin là sự hỗ trợcủa nhà quản trị- sự cung cấp hóa đơn chứng từ của doanh nghiệp cho dịch vụ kế
Trang 37toán, kỹ thuật/ công nghệ được xem như là phần mềm kế toán, sản phẩm dịch vụ làBCTC và khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, môi trường hoạt động củadoanh nghiệp là chiến lược công ty và các chính sách thuế.
Bên cạnh đó, dựa vào cơ sở lý thuyết, tác giả xây dựng mô hình các nhân tố ảnhhưởng đến CLTT BCTC gồm 8 biến độc lập và 1 biến phụ thuộc
Sơ đồ 3.2: Mô hình các nhân tố tác động đến CL TT BCTC
(Nguồn: tác giả đề xuất)
3.3 Các giả thuyết được đặt ra cho nghiên cứu
Trên mô hình nghiên cứu đề xuất, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu:
Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực của Pfeffer và Salancik (1978) cung cấp nền tảng vềnguồn lực của doanh nghiệp, trong đó nguồn nhân lực là rất quan trọng Theo nghiêncứu của Trần Đình Khôi Nguyên (2010) trình độ của kế toán viên là một trong nhữngnhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chế độ kế toán trong DN Trình độ chuyên môn,năng lực của kế toán viên là một trong những nhân tố quan trọng có thể ảnh hưởng đếnchất lượng thông tin báo cáo tài chính Nếu họ chưa thật sự sắc sảo, họ có thể ghi
Trang 38nhận chưa đúng bản chất nghiệp vụ của doanh nghiệp chưa tính đến các tình huống
mà chính các doanh nghiệp cố tình che giấu về số liệu cung cấp cho họ hoặc cũng
có thể do một số quy định của pháp luật chưa thật sự rõ ràng làm cho họ gặp khókhăn trong việc phản ánh thông tin của báo cáo tài chính, giả thuyết được đặt ra là:
H1: Trình độ của kế toán viên dịch vụ có tác động cùng chiều với chất lượng thông BCTC.
Lý thuyết nguồn lực đề cập “ Nguồn lực của tổ chức được hiểu như là tất cả tài sản,năng lực, quy trình hoạt động, thông tin và tri thức được kiểm soát bởi tổ chức vàgiúp tổ chức nhận thức và thực hiện các chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và hiệusuất hoạt động” Chất lượng phần mềm kế toán là một trong những nhân tố đượcphát hiện trong nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016)trong đề tài “Tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đángcủa chất lượng thông tin kế toán trên BCTC” Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng
là các DNNVV, các công ty dịch vụ kế toán phải trang bị cho mình rất nhiều nguồnlực, quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, trình độ của kế toán viên nhưng vấn đề
về cơ sở vật chất máy móc thiết bị, các phần mềm hỗ trợ công việc của người kếtoán viên cũng là những yếu tố quan trọng trong việc tạo ra sản phẩm có chất lượngcho khách hàng, nên giả thuyết là:
H2: Phần mềm kế toán của công ty dịch vụ kế toán có tác động cùng chiều với chất lượng thông tin BCTC.
Lý thuyết tín hiệu cho thấy khi thời gian hoạt động của doanh nghiệp càng dài thì họcàng kinh nghiệm trong môi trường hoạt động của họ và kinh nghiệm về cách lập cácbáo cáo ngày càng tăng, việc có thể hiểu được BCTC bên cạnh việc lập và trình bàyBCTC ngày càng được cải thiện hơn so vơi lúc mới bắt đầu hoạt động Owusu Ansah(1998) nghiên cứu các nhân tố bên trong DN có tác động đến việc công bố thông tin
Trang 39của DN Nên giả thuyết được đưa ra là:
H3: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp có tác động cùng chiều với chất lượng thông tin BCTC
Để giải quyết thông tin bất cân xứng giữa doanh nghiệp và các bên liên quan thì đòihỏi thông tin phải được chuyển đến bên còn lại một cách đáng tin cậy và thông tin
đó phải tuân theo một chuẩn mực được quy định bởi pháp luật Nguyễn Thị HuyềnTrâm (2007) đề cập đến quy định pháp lý ảnh hưởng đến tổ chức công tác tại cácDNNVV Vì kế toán là lĩnh vực rất nhạy cảm, bị tác động và chi phối bởi luật kếtoán, các chuẩn mực, quy định được ban hành bởi cơ quan nhà nước Việt Namđang trong quá trình hội nhập, chúng ta đang dần tiếp nhận các chuẩn mực kế toánquốc tế như sự đổi mới trong Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính thành Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014, vàQuyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 thành Thông tư số 133/2016/TT-BTC ngày 26/08/2016 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp thực hiện lộ trình chiếnlược cải cách thuế giai đoạn 2011 – 2020 “từ ngày 01/01/2009 thuế suất thuế TNDNphổ thông giảm từ 28% xuống 25% và từ 01/01/2014 giảm từ 25% xuống 22% và20% từ 01/01/2016 Riêng DNNVV được áp dụng mức 20% ngay từ ngày01/7/2013” bên cạnh đó thuế cũng có những miễn giảm để khuyến khích sự đầu tưcủa các DN Sự thay đổi này có tác động rất nhiều đến công việc của các kế toánviên, nên giả thuyết được đặt ra là:
H4: Chính sách thuế có tác động cùng chiều với chất lượng thông tin BCTC
Thông thường, nhà quản trị của công ty là người duy nhất hoàn toàn hiểu được mụctiêu và hướng đi của công ty (Thong 1999) Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho thấyvai trò của nhà quản trị trong tổ chức Kiến thức của nhà quản lý là một trong nhữngnhân tố được đế cập trong nghiên cứu của Ismail (2009) khi xác định yếu tố ảnh
Trang 40hưởng đến HTTT kế trong trong DN Do đó, khi nhà quản trị có kiến thức, hiểu cáccông nghệ sẽ có thể lựa chọn phần mềm phù hợp cho các công ty của họ (Hussin et
al 2002).Thông tin BCTC là sản phẩm của các kế toán viên, nó là một sản phẩmđặc biệt mà đòi hỏi người sử dụng nó phải có một kiến thức nhất định thì mới có thểhiểu được, còn để đánh giá là nó đã có chất lượng chưa, đáp ứng đầy đủ yêu cầu củamột quy trình phức tạp thì đòi hỏi người quản trị phải được trang bị một kiến thứcthật sự vững vàng vì vậy giả thuyết là:
H5: Trình độ của nhà quản trị có tác động cùng chiều với chất lượng thông tin BCTC
Một trong những nguyên nhân làm cho BCTC giảm tính trung thực và tính minh bạch
là do ý muốn chủ quan của doanh nghiệp, họ cố tình trình bày BCTC theo mục đíchriêng của họ, có thể là giấu lãi hoặc giấu lỗ Đối với các doanh nghiệp lớn muốn niêmyết trên sàn giao dịch chứng khoán , họ phải đáp ứng điều kiện để được niêm yết làphải có lãi hai năm liên tục nên họ sẽ tìm cách chế biến số liệu để có một báo cáo đápứng đủ yêu cầu Đối với các công ty khác như là công ty trách nhiệm hữu hạn, doanhnghiệp tư nhân, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì mục đích của họ lại khác
Họ không cần phải báo lãi như các DN lớn nên mục đích của các doanh nghiệp này làlàm sao có thể giảm được thuế nhiều nhất, vậy nên họ lại có xu hướng muốn giấu lãibằng cách giấu doanh thu Để nâng cao chất lượng thông tin BCTC, điểm mấu chốt là
do ý thức của chủ doanh nghiệp Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn thông tin củaBCTC trung thực và minh bạch, không phục vụ mục đích riêng của doanh nghiệp thìchất lượng BCTC mới được gia tăng Cũng có thể xảy ra các tính huống như là tài liệu
bị mất, số liệu bị mờ hoặc bị chỉnh sửa, doanh nghiệp chỉ cung cấp chứng từ photohoặc chụp hình gởi qua mail chứ không cung cấp chứng từ gốc cho đơn vị dịch vụ Lýthuyết tín hiệu đề cập thông tin từ doanh nghiệp phải được chuyển tải đến cho bên khácmột cách tin cậy, thông tin đó phải đực cung cấp đầy đủ, kịp thời Theo nghiên cứuCharles Cullinan Xiaochuan Zheng (2017) thì kế toán dịch vụ có thể yêu cầu phối hợp
và được cung cấp thông tin nhiều hơn từ khách hàng khi