1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng nghiên cứu loại hình cho vay tín chấp tại quỹ trợ vốn xã viên, hợp tác xã thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ

87 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

i LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn này “Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng: Nghiên cứu loại hình cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM” là bài nghiên

Trang 1

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn này “Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng:

Nghiên cứu loại hình cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019

Nguyễn Thái Lê An

Trang 2

ii

LỜI CẢM ƠN

Trân thành cảm ơn PGS Tiến sĩ Võ Xuân Vinh đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và truyền đạt cho tôi những ý kiến khoa học về lý thuyết cũng như kinh

nghiệm triển khai thực tế trong quá trình tôi lựa chọn và triển khai đề tài “Các

yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng: Nghiên cứu loại hình cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM”

Chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Sau cùng, cảm tạ quý Thầy, Cô giảng dạy chương trình đào tạo Thạc sĩ Tài chính ngân hàng của Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm hết sức bổ ích để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn

Trang 3

iii

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu này thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi

ro tín dụng tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng được phân thành ba nhóm yếu tố lớn là “Các yếu tố thông tin người vay”, “Các yếu tố trong hộ gia đình” và “Các yếu tố về khoản vay”

Để thực hiện nghiên cứu này, bài nghiên cứu đã tham khảo các bài nghiên cứu về lý thuyết và thực nghiệm đã có trước đây về rủi ro tín dụng, khả năng trả

nợ đúng hạn Đặc biệt là chú trọng tới các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu thông tin được thu thập từ hồ sơ vay vốn của 200 khách hàng ngẫu nhiên từ các đợt vay đã tất toán trong năm 2018 tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM Bài nghiên cứu sử dụng mô hình logic để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến Tuổi tác, Trình độ học vấn, Thu nhập hộ gia đình, Đa dạng hóa kinh doanh, Kinh nghiệm kinh doanh, Mục đích

sử dụng vốn, Thời gian trả nợ có tác động ngược chiều với rủi ro tín dụng Còn các biến Lịch sử trả nợ, Giới tính, Số người phụ thuộc có tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng Trong khi đó hai biến Hôn nhân và Loại hình cư trú không có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%

Từ kết quả đạt được, bài nghiên cứu đưa ra các kiến nghị liên quan đến hoạt động của Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM nhằm hạn chế rủi ro tín dụng ở mức thấp nhất

Trang 4

iv

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu 3

1.7 Kết cấu 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Tổng quan Quỹ CCM, tài chính vi mô và tín dụng cá nhân 5

2.1.1 Tổng quan Quỹ CCM 5

2.1.2 Khái niệm và đặc điểm Tài chính vi mô 7

2.1.3 Khái niệm và đặc điểm tín dụng cá nhân 12

2.1.4 Vay tín chấp 17

2.2 Tổng quan về rủi ro tín dụng 17

2.2.1 Rủi ro 17

2.2.2 Rủi ro tín dụng 18

2.2.3 Đo lường rủi ro tín dụng 19

2.3 Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong bài nghiên cứu 20

2.3.1 Đặc điểm thông tin người vay 21

Trang 5

v

2.3.2 Đặc điểm hộ gia đình 22

2.3.3 Đặc điểm về khoản vay 23

2.4 Tổng quan nghiên cứu trước 24

2.4.1 Nghiên cứu của Norhaziah và Mohd (2012) 24

2.4.2 Nghiên cứu của David (2013) 24

2.4.3 Nghiên cứu của Wongnaa và Awunyo (2013) 25

2.4.4 Nghiên cứu của Samuel và cộng sự (2016) 25

2.4.5 Nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2010), Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011) 26

2.4.6 Nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thanh Bình (2011) 26

2.4.7 Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và Lâm Thị Bích Ngọc (2012) 27

2.4.8 Nghiên cứu của Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017) 27

2.4.9 Nghiên cứu của Trần Thế Sao (2017) 27

2.4.10 Nghiên cứu của Bùi Hữu Phước và cộng sự (2018) 28

2.4.11 Tóm tắt các nghiên cứu trước 28

2.4.12 So sánh với các nghiên cứu trước đây 33

2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 33

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

3.1 Quy trình nghiên cứu 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.3 Mô hình nghiên cứu 39

3.4 Dữ liệu nghiên cứu 43

3.5 Phương pháp xử lý dữ liệu: 44

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46

4.1 Phân tích thống kê mô tả 46

4.1.1 Nhóm các yếu tố thông tin người vay 46

4.1.2 Nhóm các yếu tố trong hộ gia đình 49

4.1.3 Nhóm các yếu tố về khoản vay 49

4.2 Phân tích kết quả hồi quy logistic và các kết quả kiểm định 50

4.2.1 Kết quả mô hình hồi quy logistic 50

Trang 6

vi

4.2.2 Kiểm định Wald 51

4.2.3 Kết quả mô hình logistic lần hai 53

4.2.4 Kiểm định dạng đúng của mô hình 54

4.2.5 Kiểm định khả năng dự báo của mô hình 54

4.3 Thảo luận kết quả 55

4.3.1 Các biến có ý nghĩa thống kê 56

4.3.2 Các biến không có ý nghĩa thống kê 60

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Kết luận 63

5.2 Kiến nghị 64

5.3 Hạn chế của bài nghiên cứu: 65

5.4 Hướng nghiên cứu sau 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 1: THỐNG KÊ MÔ TẢ 71

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY 72

PHỤ LỤC 3: MẪU ĐƠN VAY VỐN 76

PHỤ LỤC 4: BIỂU ĐỒ SCATTER CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH 77

Trang 7

vii

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Phân loại rủi ro 19Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất 34

Trang 8

viii

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu trước 33

Bảng 2.2: Cách tính biến số và kỳ vọng dấu 35

Bảng 4.1: Tóm tắt thống kê mô tả các biến trong mô hình 46

Bảng 4.2: Tình trạng hôn nhân 47

Bảng 4.3: Loại hình cư trú 47

Bảng 4.4: Lịch sử trả nợ 48

Bảng 4.5: Giới tính 48

Bảng 4.6: Trình độ học vấn 48

Bảng 4.7: Đa dạng hóa kinh doanh 49

Bảng 4.8: Mục đích sử dụng vốn 50

Bảng 4.9: Kết quả mô hình hồi quy lần 1 50

Bảng 4.10: Kiểm định Wald X2 52

Bảng 4.11: Kiếm định Wald X3 52

Bảng 4.12: Kết quả mô hình logistic lần hai 53

Bảng 4.13: Kiểm định khả năng dự báo 54

Bảng 4.14: Kết quả tính toán ∆P1/∆Xi 56

Bảng 4.15: Tóm tắt kỳ vọng của giả thuyết nghiên cứu và kết quả mô hình 61

Trang 9

ix

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Quỹ CCM Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã

Trang 10

Đối với các TCTD trong nước, hoạt động tín dụng có vai trò chủ yếu và chiếm tỷ trọng khá cao, nên rủi ro chủ yếu là rủi ro tín dụng Chính vì thế, vấn đề tồn tại và nhất nhối nhất hiện nay trong hoạt động tín dụng là rủi ro tín dụng và những giải pháp nào để có thể phòng ngừa tối đa rủi ro này Đặc biệt là trong việc cho các đối tượng hộ nghèo vay, thực hiện các chính sách hay phát triển chương trình tài chính vi mô để phát triển kinh tế địa phương Đa phần việc cho vay này đều là khoản vay tín dụng cá nhân tín chấp nên cần có các biện pháp riêng nhằm hạn chế tối đa những rủi ro, đảm bảo các đối tượng được vay vốn hoàn trả đúng thời hạn đã cam kết

Vai trò và tầm quan trọng của công cuộc cải thiện, phát triển kinh tế cộng đồng của tài chính vi mô đã đang được khẳng định trong và ngoài nước Sự phát triển, mở rộng quy mô của các TCVM về tín dụng và tiết kiệm trong những năm qua đã đáp ứng phần lớn nguồn vốn cho phát triển kinh tế và công cuộc cải thiện kinh tế cho các đối tượng thu nhập thấp Song song với sự phát triển này thì việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro là điều cần thiết

Với hoạt động tín dụng cá nhân, cho vay tín chấp vừa là tiềm năng, cơ hội tạo ra doanh thu lớn cho Quỹ CCM, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro mà bản thân Quỹ CCM cần đặc biệt chú trọng Tuy số tiền vay không cao nhưng với nhu cầu, số lượng các khoản vay khá lớn và đối tượng vay vốn khá đa dạng nên rủi ro là điều khó tránh khỏi Hiện tại, Quỹ CCM cho vay tín chấp với số tiền tối đa là 60 triệu đồng cho các đối tượng đang sinh sống và làm việc trên các Quận, Huyện tại TP

Trang 11

2

Hồ Chí Minh Tại thời điểm tháng 31/12/2017 tỷ lệ nợ xấu tại Quỹ CCM là 3.01% (tương đương 5.003.522.750 đồng), trong khi đó tại 31/12/2018 tỷ lệ nợ xấu là 4.44% (tương đương 8.366.534.350 đồng) Điều này cho thấy, tình trạng

nợ quá hạn tại Quỹ CCM đang ngày càng tăng qua các năm và chất lượng các khoản vay đang giảm sút, không được chú trọng đúng mức Số lượng người vay không thực hiện đúng cam kết trả nợ ngày càng nhiều, làm cho tỷ lệ nợ xấu tăng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động và hình ảnh Quỹ CCM Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng để xảy ra nợ quá hạn là điều cần thiết cho Quỹ CCM Để từ đó có những giải pháp tích cực, cụ thể

để hạn chế được rủi ro tín dụng tại Quỹ CCM

Song song với đó, là sự phức tạp, không ổn định do tín dụng đen gây ra, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, kinh tế, đặc biệt là đa phần các đối tượng vay có trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết hay cần nguồn vốn kinh doanh gấp…tuy biết rủi ro khá cao nhưng vẫn chấp nhận vay tín dụng đen Hình thức tín dụng đen cực kỳ linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của người vay nhanh chóng,

số tiền không giới hạn, điều kiện giấy tờ, thủ tục đơn giản, dễ dàng và giải ngân trong bất cứ thời gian nào người vay cần Nên việc áp dụng và phát triển mạnh các loại hình tín dụng cá nhân, tín dụng vi mô với thủ tục đơn giản, nhanh chóng

là điều cần thiết để đáp ứng số lượng lớn nhu cầu nguồn vốn của các cá nhân, bên cạnh đó cũng cần có các biện pháp quản lí từ ban đầu để hạn chế tối đa rủi ro của loại hình này

Tại Việt Nam, tuy có nhiều bài nghiên cứu về rủi ro tín dụng nhưng nghiên cứu về rủi ro tín dụng cá nhân tại các TCVM thì rất ít Đồng thời, qua quá trình học tập, công tác tại Quỹ CCM, bài nghiên cứu mong muốn có thêm góc nhìn sâu sắc hơn về rủi ro trong hoạt động tín dụng cá nhân tại Quỹ CCM, đồng thời đưa

ra những kiến nghị giúp cho Quỹ CCM hạn chế được RRTD cá nhân trong quá

trình hoạt động, nên luận văn này tập trung nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng: Nghiên cứu loại hình cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn

Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM”

Trang 12

3

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng những lý thuyết và phương pháp nghiên cứu khoa học ứng dụng vào tình hình thực tiễn nên luận văn này có mục tiêu nghiên cứu sau:

Xác định các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã Tp Hồ Chí Minh

Đưa ra một số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã Tp Hồ Chí Minh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Những yếu tố nào tác động đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã Tp Hồ Chí Minh?

Chiều tác động và sự tác động của các yếu tố đó đến rủi ro tín dụng trong cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã Tp Hồ Chí Minh như thế nào?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong cho vay tín chấp tại Quỹ trợ vốn Xã viên, Hợp tác xã TP.HCM Mẫu nghiên cứu bao gồm thông tin 200 người vay có đợt tất toán trong năm 2018 tại Quỹ CCM được chọn lọc ngẫu nhiên

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp phân tích định lượng, sử dụng dữ liệu bảng và áp dụng mô hình logit để xác định ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến RRTD trong cho vay tín chấp tại Quỹ CCM Với biến đo lường Y là biến giả (biến nhị phân) Với phương pháp này bài nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy logit trên phần mềm Eviews để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu

1.6 Ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu này sẽ cho biết được các yếu tố chủ yếu tác động đến RRTD

Trang 13

4

trong cho vay tín chấp tại Quỹ CCM Cho vay tín chấp chủ yếu là dựa vào uy tín của người vay mà khi đó người vay không cần phải có các tài sản để thế chấp nên rủi ro tiềm ẩn khá cao Từ kết quả đạt được, bài nghiên cứu sẽ có những kiến nghị nhằm hạn chế RRTD khi cho vay tín chấp và chất lượng hoạt động cho vay của Quỹ CCM cũng được nâng cao

Do hạn chế về mặt dữ liệu, bài nghiên cứu chỉ thu thập dữ liệu thông tin của người vay có phát sinh dư nợ tại Quỹ CCM, nên chỉ mới đánh giá được các yếu

tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong cho vay tín chấp tại Quỹ CCM Hướng nghiên cứu sau, có thể mở rộng mẫu và phạm vi nghiên cứu như chọn mẫu tại nhiều các ngân hàng, Quỹ tín dụng trong Thành phố hoặc các tỉnh thành khác…

Để từ đó có thể đạt được những kết quả tổng thể hơn

Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết Chương này nêu tổng quan về các cơ

sở lý thuyết và tổng hợp các nghiên cứu trước đây về RRTD

Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu Cách lấy dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu và sơ lược các biến độc lập trong mô hình

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này tiến hành phân tích dữ liệu, phân tích hồi quy, thực hiện các kiểm định cần thiết cho bài nghiên cứu và đưa ra nhận xét

Chương 5: Kết luận và kiến nghị Với kết quả có được, chương này sẽ đưa

ra các kết luận Và có những kiến nghị, nêu những hạn chế của bài nghiên cứu cũng như đề xuất hướng nghiên cứu cho các bài nghiên cứu sau

Trang 14

5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương hai bao gồm ba vấn đề chính Đầu tiên là lý thuyết về tài chính vi

mô, tín dụng cá nhân Thứ hai trình bày các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng

cá nhân Tiếp đến sẽ trình bày và tổng hợp một số các nghiên cứu thực nghiệm trước đó về rủi ro tín dụng và trả nợ đúng hạn, từ đó đề xuất mô hình cho bài nghiên cứu

2.1 Tổng quan Quỹ CCM, tài chính vi mô và tín dụng cá nhân

Quỹ trợ vốn CCM do liên minh Hợp tác xã thành phố xin thành lập trên cơ

sở vốn đóng góp của các xã viên, Tổ hợp tác, Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã, vốn hỗ trợ của Nhà nước, vốn ủng hộ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước; hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Thực hiện mục tiêu, định hướng,

kế hoạch, chính sách cho vay của liên minh Hợp tác xã thành phố trong việc phát triển phong trào kinh tế hợp tác và hợp tác xã

Trang 15

Chỉ xét cho vay nhằm tạo ra việc làm có thu nhập và có khả năng tích luỹ

để hoàn trả vốn và lãi cho Quỹ

Không cho vay vốn vượt quá mức cần thiết để cho vay lại hay để sử dụng không đúng mục đích

Việc tái cho vay vốn hoặc xét gia tăng mức cho vay vốn được tiến hành khi người được cho vay vốn thực hiện đúng các cam kết và nghĩa vụ đúng với Quỹ (trả đủ, trả đúng hạn)

Tiến hành việc giám sát chặt chẽ và công khai mọi quy định hướng dẫn trong khâu xét duyệt cho vay

Đặc điểm của Quỹ CCM cũng khác so với các NHTM như:

NHTM lấy lợi luận làm mục tiêu hàng đầu trong khi Quỹ CCM hoạt động

có thể không vì mục tiêu lợi nhuận

NHTM có thể cho vay mọi đối tượng có đủ điều kiện vay vốn trong khi NHCS chỉ cho vay một số đối tượng nhất định

Các NHTM hiện có đủ các nghiệp vụ: tín dụng đầu tư, chứng khoán, thanh toán, thị trường mở, ngoại hối… trong khi Quỹ CCM chỉ thực hiện nghiệp vụ cho vay

Lãi suất cho vay của NTM theo lãi suất thị trường, lãi suất cho vay của Quỹ

Trang 16

7

CCM theo quy định của Chính phủ có thể là lãi suất thị trường hoặc thấp hơn lãi suất thị trường

Các quy định về quy trình khảo sát, quy trình vay vốn, thời hạn vay vốn, xử

lý rủi ro và quy trình xử lý nghiệp vụ của Quỹ CCM có những khác biệt so với quy định của NHTM tùy thuộc vào chính sách can thiệp của Chính phủ Quỹ CCM đang là đơn vị tài chính vi mô có địa bàn quản lí là các Quận, Huyện thuộc

TP Hồ Chí Minh

2.1.2 Khái niệm và đặc điểm Tài chính vi mô

Ledgerwood (2000) cho rằng TCVM là một phương pháp phát triển kinh

tế thông qua các dịch vụ tài chính nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp… TCVM thường bao gồm cả hai yếu tố: trung gian tài chính và trung gian

xã hội Bên cạnh đó Ledgerwood (2000) cũng cho thấy TCVM là việc cung ứng các dịch vụ tài chính cơ bản cho đối tượng là những người nghèo (người có thu nhập thấp) nhưng cũng khẳng định, TCVM vừa có tính kinh doanh (trung gian tài chính) vừa có tính xã hội (trung gian xã hội) Chi tiết hơn thì có thể cho rằng TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo và hộ gia đình có thu nhập thấp hoạt động kinh doanh cá thể và các doanh nghiệp nhỏ của họ Dưới góc nhìn của kinh tế phát triển, Nguyễn Kim Anh và Lê Thanh Tâm (2013) thì TCVM là một trong những cách thức phát triển kinh tế nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác cho các đối tượng có thu nhập thấp trong xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư TCVM vừa là công cụ ngân hàng vừa là công cụ phát triển

Những đặc điểm cơ bản của TCVM

Theo Nguyễn Thái Hà (2016): Thứ nhất, TCVM là một hoạt động kinh

doanh Có thể nói, đây là đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt TCVM với các hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính cho người có thu nhập trung bình, thấp của các định chế tài chính khác trong xã hội Nếu như theo cách tiếp cận truyền thống, những người có thu nhập thấp là đối tượng dễ bị tổn thương trong xã hội

Trang 17

8

cần được trợ giúp về mặt kinh tế nên các dịch vụ tài chính giành cho họ thường

có chi phí thấp (khoản vay có lãi suất thấp; dịch vụ tài chính có chi phí thấp ), tức là hoạt động này mang nặng tính bao cấp Trái lại, TCVM không phải là một hoạt động có tính bao cấp mà có tính kinh doanh – tức là có lợi nhuận – chi phí

mà khách hàng trả cho TCVM không phải là chi phí bao cấp mang tính tượng trưng mà là nhưng chi phí thực thụ của thị trường Thực tế cho thấy, các chi phí

mà khách hàng của TCVM phải chi trả thường cao hơn khá nhiều so với mặt bằng chung của thị trường Như vậy, TCVM là một ngành kinh doanh thực thụ chứ không phải lĩnh vực thuần túy cung ứng dịch vụ mang tính từ thiện

Thứ hai, đối tượng khách hàng của TCVM chủ yếu là những người có thu nhập trung bình thấp trong xã hội Nếu nhìn vào mục đích của hoạt động TCVM ta thấy dường như có sự mâu thuẫn ở đây khi đối tượng tạo ra lợi nhuận cho các hoạt động TCVM lại là nhưng người có thu nhập thấp, thậm chí là nhưng người rất nghèo Tuy nhiên, đây chính là mặt thứ hai của TCVM: một công cụ quan trọng giúp người nghèo thoát nghèo

Thứ ba, dịch vụ được cung ứng bởi TCVM thường có giá trị nhỏ Đặc trưng này được xuất phát từ chính đối tượng khách hàng của TCVM là những người có mức thu nhập trung bình, thấp trong xã hội, thậm chí là những người không bao giờ có cơ hội được tiếp cận đến các dịch vụ của các NHTM bởi thường họ không có tài sản có thể dùng để đảm bảo cho các khoản vay Chính bởi vậy, các hoạt động kinh tế của họ đều là nhưng hoạt động nhỏ lẻ và do đó, nhu cầu về vốn cũng là không lớn Bên cạnh đó, các chủ thể cung cấp dịch vụ TCVM cũng không phải là các trung gian tài chính với tiềm lực mạnh mẽ nên để đảm bảo an toàn, các khoản vay của họ luôn có giá trị khá nhỏ

Thứ tư, TCVM không chỉ là hoạt động kinh doanh mà luôn kết hợp hài hòa giữa mục đích kinh doanh và mục đích xã hội Thông thường, các doanh nghiệp trong xã hội mà hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận (các doanh nghiệp công ích) thì luôn nhận được sự bao cấp từ phía nhà nước bởi đơn giản họ hiếm khi có thể tìm được những khoản thu nhập đủ để bù đắp những chi phí trong hoạt động của mình Những doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận thì sẽ rất

Trang 18

9

khó khăn trong việc thực hiện các chính sách xã hội bởi tôn chỉ lợi ích kinh tế của mình Khác với hai hoạt động đó, TCVM không sống dựa vào nguồn lực dồi dào của Ngân sách Nhà nước mà bằng chính những đồng lợi nhuận kiếm được từ hoạt động kinh doanh của mình và đồng thời cũng không tối đa hóa mục tiêu lợi nhuận khi tìm đến đối tượng khách hàng là tầng lớp đáy của xã hội với mong muốn giúp họ có được những nguồn lực tài chính nhất định để thực hiện hoạt động kinh doanh, thoát đói nghèo Chính bởi đặc trưng này nên có thể coi TCVM

là một phương thức xóa nghèo bền vững trong giai đoạn hiện nay

Thứ năm, TCVM chỉ dẫn cho người nghèo biết cách làm kinh tế và biết tiết kiệm Đây có thể coi là một đặc trưng hết sức cơ bản của TCVM, thể hiện sự khác biệt căn bản của lĩnh vực này so với các hoạt động tín dụng khác trong xã hội Quy định của pháp luật cũng như thực tế hoạt động TCVM cho thấy, để có thể được vay vốn của TCVM, người nghèo buộc phải thực hiện việc gửi tiền tiết kiệm (tiết kiệm bắt buộc) tại chính chủ thể mà họ dự định vay vốn Đòi hỏi này tạo sức ép cho chính những người nghèo buộc phải có hành vi tiết kiệm trong chi tiêu của mình và qua đó, dần tạo thành thói quen tiết kiệm trong cuộc sống hàng ngày, tiền đề để những con người này dần thoát khỏi đói, nghèo Ở một khía cạnh khác, mặc dù pháp luật không có quy định song trên thực tế, các chương trình, dự

án có cung ứng dịch vụ TCVM luôn có những hoạt động hướng dẫn cho người nghèo biết cách kiếm tiền thông qua các hoạt động kinh doanh phù hợp Thực chất, đây chính là một phần của hoạt động TCVM và có những đóng góp không nhỏ vào chính thành công của TCVM này bởi lẽ, việc khách hàng của TCVM biết cách tạo ra thu nhập từ những khoản vay của TCVM chính là tạo khả năng trả nợ của những người nghèo, đói cho chủ thể cung ứng dịch vụ TCVM Có thể thấy, đây chính là một trong những khác biệt căn bản của TCVM với các hoạt động tín dụng khác, đặc biệt là tín dụng ưu đãi dành cho người nghèo Cũng chính bởi yếu tố này nên TCVM luôn được coi là phương thức xóa nghèo bền vững

Tóm lại, về mặt bản chất thì TCVM là một hoạt động kinh tế hết sức đặc biệt trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng khi có thể kết hợp một cách hết sức hài hòa

Trang 19

10

giữa mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận (để tồn tại) và thực hiện được vai trò xã hội quan trọng của mình (góp phần xóa đói, giảm nghèo) TCVM không phải là hoạt động kinh doanh tiền tệ thuần túy như các NHTM hay bất kỳ một TCTD nào khác đồng thời, TCVM cũng không phải là một hoạt động mang tính xã hội theo kiểu “bao cấp – từ thiện” như các dịch vụ được cung ứng bởi NHCSXH hiện nay TCVM là dịch vụ ngân hàng hướng đến phục vụ những đối tượng có thu nhập trung bình, thấp của xã hội nhưng với mức lãi suất đủ cao để TCVM có thể tồn tại, đồng thời người thụ hưởng dịch vụ (người vay) cũng đủ khả năng để chấp nhận Nói một cách ngắn gọn, TCVM chính là phương thức xóa đói giảm nghèo bền vững có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nơi mà số lượng người nghèo, đói vẫn còn ở mức cao như Việt Nam

Theo Nguyễn Thái Hà (2016), vai trò của Tài chính vi mô bao gồm:

Thứ nhất, TCVM đã và đang giúp một bộ phận dân cư thoát khỏi đói nghèo thông qua việc cải thiện thu nhập Thực tế, các chương trình, dự án hoạt động TCVM không chỉ cấp vốn cho người nghèo mà còn truyền cho họ cách tạo

ra thu nhập một cách hiệu quả từ những đồng vốn vay đó Đây thực sự là một việc làm có ý nghĩa vì giúp cho người nghèo có thể vượt qua cái nghèo một cách đơn giản hơn rất nhiều so với việc chỉ đơn giản là cho họ vay một món tiền với lãi suất thấp Ngoài ra, việc sử dụng vốn vay hiệu quả chính là tiền đề quan trọng

để tổ chức cho vay có thể thu hồi được vốn vay của mình Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất lý giải cho câu hỏi tại sao phần lớn các chương trình, dự án hoạt động TCVM đều tồn tại với thời gian lâu dài chỉ bằng những khoản tài trợ không lớn của các tổ chức phi chính phủ lúc ban đầu;

Thứ hai, TCVM góp phần làm giảm bớt thiệt hại mà người nghèo có thể phải gánh chịu do những tác động bất thường Bản thân người nghèo, do sự yếu kém về năng lực tài chính nên thực sự khá nhạy cảm và rất dễ bị tốn thương bởi những tác động bất thường như thiên tai, hỏa hoạn, bệnh tật hay sự suy giảm về khả năng tài chính của gia đình và bản thân… Sự đồng hành của TCVM trên bước đường của người nghèo đã và đang thực sự là nguồn động viên cần thiết cả

Trang 20

11

về vật chất và tinh thần, sẵn sàng cùng với họ đối mặt với những quy luật khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường, nơi mà sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng trở nên rõ nét Đây thực sự là một ý nghĩa xã hội quan trọng mà ngành TCVM mang lại cho xã hội chúng ta hiện nay;

Thứ ba, tại Việt Nam nói riêng, TCVM góp phần nâng cao vị trí xã hội của người phụ nữ Việt Nam Vai trò này xuất hiện khi hầu hết các chương trình,

dự án có hoạt động TCVM ở Việt Nam đều hướng đến đối tượng khách hàng là những người phụ nữ Việc người phụ nữ được tiếp cận đến một nguồn tài chính

và được học cách tạo ra thu nhập từ những nguồn tài chính đó sẽ làm cải thiện vị trí của họ cả trong gia đình và trong xã hội;

Thứ tư, dưới góc độ kinh tế, TCVM hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả, thể hiện qua việc bảo toàn vốn và thu được mức lợi nhuận rất đáng khích lệ Việt Nam, với số lượng đối tượng khách hàng khá lớn, trải đều ở các địa phương trong cả nước chính là thị trường rộng lớn mà TCVM

có thể khai thác Nếu có một cơ chế quản lý tốt và một cách tiếp cận đúng đắn với sự hỗ trợ cần thiết từ phía pháp luật, TCVM Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực kinh doanh thực sự hiệu quả Đây là một điểm đáng mừng và thực sự cần thiết vì đó là yếu tố căn bản để tổ chức TCVM tồn tại và phát triển bền vững, qua đó đóng góp nhiều hơn nữa vào công cuộc chống đói nghèo hiện nay

Thứ năm, dưới góc độ xã hội, TCVM sẽ góp phần hạn chế tham nhũng, góp phần bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội Thoạt nghe có vẻ vai trò này là khá xa

lạ và quá sức với TCVM song trên thực tế điều này là hoàn toàn khả thi Có thể khẳng định, sự tồn tại của tín dụng ưu đãi đã, đang và sẽ luôn có những ý nghĩa nhất định với xã hội nói chung và những đối tượng khó khăn trong xã hội nói riêng song cũng không thể phủ nhận rằng, sự hiện diện của tín dụng ưu đãi cũng tạo thêm cơ hội trục lợi cho giới trung lưu, làm gia tăng cơ hội tham nhũng cho những đối tượng có chức quyền Sự xuất hiện của TCVM làm cho người nghèo, đói có thể thoát nghèo mà không cần nhờ đến các khoản tín dụng ưu đãi chính là

Trang 21

12

đã làm giảm bớt cơ hội tham nhũng, trục lợi của giới trung lưu trong xã hội Ngoài ra, TCVM còn giúp góp phần người nghèo hạn chế phải tiếp cận đến các hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi khi đã có được những nguồn tài chính cần thiết Điều này sẽ góp phần hạn chế việc gia tăng các hoạt động tín dụng nặng lãi trong xã hội trong giai đoạn hiện nay

Đối tượng chủ yếu có các tổ chức tài chính vi mô chủ yếu là các cá nhân

có nhu cầu vốn vay Từ đó, bài nghiên cứu có tìm hiểu thêm về tín dụng cá nhân

và vay tín chấp nhằm có thêm cơ sở lý thuyết để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu

2.1.3 Khái niệm và đặc điểm tín dụng cá nhân

Theo Nguyễn Minh Kiều (2007): Tín dụng vốn là quan hệ vay mượn được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hiện vật trên nguyên tắc người đi vay hoặc tổ chức đi vay phải hoàn trả cho người hoặc tổ chức cho vay cả nợ gốc lẫn lãi sau một khoản thời gian nhất định theo thỏa thuận Hoạt động tín dụng có thể chia làm nhiều hình thức khác nhau căn cứ vào các tiêu chuẩn khác nhau, trong

đó nếu căn cứ đối tượng đi vay thì có thể phân chia thành tín dụng cá nhân và tín dụng doanh nghiệp

Tín dụng có 2 nguyên tắc là: Sử dụng vốn vay đúng mục đích và hoàn trả

nợ gốc, lãi vốn vay đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng (Châu Văn Thưởng và Phùng Hữu Hạnh, 2013)

Trên cơ sở định nghĩa về Tín dụng nêu trên và trong phạm vi của bài nghiên cứu này, đối tượng của tín dụng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình

có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy bài nghiên cứu này cho rằng Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó TCTD đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc

hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể

Trang 22

13

Tín dụng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và

hộ gia đình

Tín dụng cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế giới, nhưng là một khái niệm khá mới ở thị trường Việt Nam Tuy nhiên tín dụng cá nhân đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số đông (hơn 96 triệu người), đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích

Hiện nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn Chính vì thế, các sản phẩm tín dụng các nhân tại các TCTD hiện khách hàng rất quan tâm Đây là cơ

sở để các ngân hàng tự tin đẩy mạnh mảng kinh doanh tín dụng này

Đối tượng của tín dụng cá nhân khá đa dạng nhưng có thể khái quát thông qua các trường hợp phổ biến sau:

Các đối tượng có thu nhập thấp: Có nhu cầu tín dụng không cao, việc vay vốn nhằm tạo ra cân đối giữa thu nhập và chi tiêu

Các đối tượng có thu nhập trung bình: nhu cầu tín dụng cá nhân có

xu hướng tăng mạnh, đối tượng này muốn vay vốn để sử dụng chi tiêu hơn là dùng chính tiền tích lũy, dự phòng của mình để chi tiêu

Các đối tượng có thu nhập cao: vay vốn nhằm tăng khả năng thanh toán, xem khoản vay này như một khoản vay linh hoạt để chi tiêu khi nguồn vốn tích lũy của mình chưa cao hay lợi nhuận do đầu tư, kinh doanh chưa thu được Các đối tượng trên chủ yếu như là cán bộ công nhân viên thuộc Nhà nước, liên doanh, tiểu thương…

* Đặc điểm tín dụng cá nhân

Theo Đường Thị Thanh Hải (2014) thì tín dụng cá nhân có năm đặc điểm sau:

Trang 23

14

• Thứ nhất, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng vay lớn Những

tài sản của người vay có giá trị lớn thường được tích lũy từ trước hay do giá trị hàng hóa dịch vụ tiêu dùng không quá đắt đỏ Vì vậy, mức vay cá nhân thường

thấp, chủ yếu là tiêu dùng cá nhân, phân tán nên chi phí quản lí khá cao Tuy

nhiên, dù mức vay tương đối thấp nhưng nhu cầu đối với loại hình này lại rất cao

do đây là nhu cầu vay vốn khá phổ biến, đa dạng và đủ mọi tầng lớp dân cư nên khiến cho tổng quy mô vay của loại hình này khá lớn

• Thứ hai, mức lãi suất cho vay chưa linh hoạt Vì mức vay khá nhỏ

nên đa phần người vay quan tâm nhiều vào việc hàng tháng phải chi trả số tiền bao nhiêu hơn là quan tâm đến lãi suất Việc chia các khoản vay thành nhiều kỳ hạn trả nợ với số tiền như nhau cho mỗi kỳ nên khiến cho lãi suất cho vay mang tính cố định, hầu như không thay đổi trong suốt quy trình tín dụng Vì vậy, với loại hình này thì lãi suất sẽ ở một mức cố định thay vì thay đổi theo thị trường

như những khoản vay khác

• Thứ ba, có chi phí lớn nhất Tuy có mức vay khá thấp, nhưng do

nhu cầu đối với loại hình này lại khá cao, các thông tin về các cá nhân thường không đầy đủ và chính xác hoàn toàn, điều này gây khó khăn cho tổ chức tín dụng từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định khách hàng đến khâu giải ngân, thu nợ…nên thời gian để thực hiện cho một khoản tín dụng cá nhân này khá mất thời

gian và mất nhiều chi phí

• Thứ tư, mức độ rủi ro cao Tín dụng cá nhân chủ yếu là tin vào sự

hợp tác và uy tín của người vay Nếu như người vay thiếu sự hợp tác trong quá trình trả nợ hay cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình thì rủi ro là điều không tránh khỏi Đồng thời, lãi suất cũng là một trong những rủi ro dễ xảy ra đối với loại hình này Đồng thời mức độ rủi ro cao hơn so với các loại hình khác dưới ba góc độ Thứ nhất là luôn tồn tại nhóm khách hàng chây ì, lừa đảo Thứ hai các rủi ro mang tính khách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thất nghiệp, bệnh tật… Thứ ba là các rủi ro chủ quan như tình trạng công việc, sức khỏe khách hàng, diễn biến tâm lí khách hàng…ảnh hưởng đến tài chính và khả năng

Trang 24

15

trả nợ của cá nhân, hộ gia đình

• Thứ năm, lợi nhuận lớn Bên cạnh việc chi phí và rủi ro của loại

hình này cao thì bù lại đó khoản lợi nhuận mà nó mang lại cũng rất cao nhờ vào

số lượng, quy mô và nhu cầu khá lớn cho loại hình này Chính vì triển vọng về lợi nhuận cũng như đa đạng đối tượng trong loại hình này mà hầu hết các nước phát triển, đang phát triển hiện nay, tín dụng cá nhân đã trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của các tổ chức tín dụng và dần khẳng định được vai trò của mình

Tín dụng cá nhân thường dẫn đến các rủi ro

Rủi ro do thông tin bất cân xứng: Trong quá trình thẩm định hồ sơ vay của khách hàng thì yếu tố cần thiết quan trọng nhất bên cạnh tính hợp pháp, hợp

lý của việc đảm bảo khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo để có thể đưa ra quyết định cho vay hay không là thông tin khách hàng và việc xác minh thông tin đó

Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng

là tương đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với các đối tác…

Ngược lại, đối với khách hàng cá nhân, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập thì sẽ không trả được nợ vay cho ngân hàng

Rủi ro tác nghiệp

Do đặc điểm của tín dụng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng

số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của CBTD Do

đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để

Trang 25

có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng, nhưng không có ý chí trả nợ vay trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì sẽ rất khó khăn cho TCTD khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ

Vai trò của tín dụng cá nhân trong nền kinh tế

Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế Tín dụng cá nhân

là kênh hỗ trợ vốn để dân chúng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống

từ thỏa mãn nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Để có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, do đó tạo nhiều công ăn việc làm, tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trước các đối thủ trong và ngoài nước trong thời kỳ hội nhập

Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội Là một phần của tín dụng nói chung, tín dụng cá nhân cũng có vai trò tích cực đối với xã hội Tín dụng cá nhân góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy và hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn,

từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao

Tín dụng cá nhân giúp kích cầu trong nền kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, thúc đẩy sản xuất trong nước Do đó thu hút nhiều lực lượng lao động tham gia xây dựng, sản xuất tạo công ăn việc làm, hướng đến các mục tiêu xã hội như xóa đói, giảm nghèo, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội góp phần ổn định trật

tự xã hội

Trang 26

17

2.1.4 Vay tín chấp

Theo Vũ Xuân Tiền (2008): Vay tín chấp là hình thức vay tiền ngân hàng

và các tổ chức tín dụng được bảo đảm bằng sự tín nhiệm, không cần có tài sản thế chấp Tất nhiên, tài sản thế chấp được đề cập ở đây là một tài sản hữu hình hoặc một bất động sản đầu tư Khái niệm trên cho thấy, vay tín chấp không phải

là việc cho vay không có bảo đảm mà cao hơn, tài sản bảo đảm là sự tín nhiệm giữa người cho vay (các ngân hàng, tổ chức tín dụng) và người vay Từ những phân tích trên, có thể thấy, vay tín chấp có những đặc trưng cơ bản sau:

Một là, vay tín chấp không thể thực hiện được trong giai đoạn đầu của mối quan hệ giữa người cho vay và người vay Để có được sự tín nhiệm, quan hệ vay – cho vay phải trải qua một thời gian nhất định

Hai là, thế chủ động trong việc quyết định cho vay tín chấp thuộc về người cho vay Bởi lẽ, khi và chỉ khi người cho vay có được độ tin cậy rất cao đối với người vay mới có thể quyết định cho vay tín chấp

Ba là, người vay đóng một vai trò to lớn trong quá trình tạo ra sự tín nhiệm để có thể vay tín chấp Trong nhiều trường hợp, chính hoạt động kinh doanh có hiệu quả và sự minh bạch của người vay lại là nhân tố quyết định để các tổ chức tín dụng quyết định cho vay tín chấp

Bốn là, sự tín nhiệm (“tài sản” đảm bảo tiền vay) lại là loại tài sản vô hình, không thể đem đấu giá để thu hồi vốn cho vay Vì vậy, quyết định cho vay tín chấp của các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần đặc biệt cẩn trọng và vì vậy, khó khăn là lẽ đương nhiên

2.2 Tổng quan về rủi ro tín dụng

2.2.1 Rủi ro

Theo Allan Willet (1951), rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi

Theo Nguyễn Hải Sản (1996), rủi ro thường được định nghĩa là xác suất

có thể xảy ra một thiệt hại Nó là sự may rủi về một hậu quả không có lợi hay là

Trang 27

Dựa vào các lý thuyết tổng quan trên, bài nghiên cứu này tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến RRTD, một trong những rủi ro được chú trọng nhiều nhất tại Quỹ CCM

2.2.2 Rủi ro tín dụng

Theo Gestel và Baesens (2008), Santomero (1997), Khi người vay không thực hiện việc trả nợ theo cam kết ban đầu thì RRTD sẽ phát sinh Nó phát sinh

từ việc người vay không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không thực việc trả nợ

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát hành do người vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản đã vay nào đó (Nguyễn Minh Kiều, 2007)

Rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) không trả nợ của khách hàng nên các TCTD cần nhận diện nguyên nhân của nó càng rõ, càng kỹ thì sẽ càng tốt (Norden và Weber, 2010)

Tại Điều 3, Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN nêu rõ: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa

vụ của mình theo cam kết

Theo Nguyễn Minh Kiều (2007) thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục

Phân loại rủi ro:

Trang 28

19

(Nguồn: Nguyễn Minh Kiều, Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại 2009)

Hình 2.1: Phân loại rủi ro Nhằm thống nhất khái niệm RRTD trong suốt đề tài này, bài nghiên cứu

sử dụng khái niệm: Rủi ro tín dụng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của

Tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết

2.2.3 Đo lường rủi ro tín dụng

Từ các khái niệm rủi ro tín dụng đã nêu trên, có nhiều tiêu chi để phản ảnh rủi ro tín dụng như:

- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ

- Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu

- Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất

- Nợ đáng nghi ngờ (Nợ có vấn đề)

- Nợ không có tài sản đảm bảo

Trong bài nghiên cứu này, rủi ro tín dụng sẽ được đo lường thông qua chất lượng các khoản vay biểu hiện bằng trạng thái nhóm nợ mà các khoản vay được phân loại theo quy định hiện hành của NHNN Việt Nam Việc phân loại nhóm nợ theo Văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014, phân làm 5 nhóm nợ:

Rủi ro giao dịch

Rủi ro

lựa chọn

Rủi ro đảm bảo

Rủi ro nghiệp vụ

Rủi ro danh mục

Rủi ro nội tại

Rủi ro tập trung

Rủi ro tín dụng

Trang 29

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần

Do các khoản vay tại Quỹ CCM là vay tín chấp, thời gian vay tương đối ngắn nên bài nghiên cứu đánh giá khoản vay có rủi ro dựa trên tiêu chí các khoản

nợ có phát sinh quá hạn từ 10 ngày trở lên, đó là các nhóm nợ 2, 3, 4, 5 Để từ đó

có thể đánh giá chính xác rủi ro của các khoản vay Các khoản vay có mức nợ quá hạn và nợ xấu càng cao thì rủi ro tín dụng càng lớn và ngược lại

2.3 Các yếu tố tác động đến rủi ro tín dụng trong bài nghiên cứu

RRTD phản ánh quan trọng tình hình hoạt động kinh doanh của các TCTD Vì vậy, việc nhận dạng và phòng ngừa luôn là việc trọng tâm cần làm Ở Việt Nam nói riêng và Thế giới nói chung có khá nhiều bài nghiên cứu về việc

Trang 30

Bài nghiên cứu chia các yếu tố theo ba nhóm chính: Nhóm các yếu tố thông tin người vay; nhóm các yếu tố trong hộ gia đình và nhóm các yếu tố về khoản vay

2.3.1 Đặc điểm thông tin người vay

Đặc điểm thông tin người vay trong bài nghiên cứu này bao gồm: Tuổi tác, hôn nhân, loại hình cư trú, lịch sử trả nợ, giới tính và trình độ học vấn

Về yếu tố tuổi tác: Theo David (2013): Người trả nợ càng lớn tuổi thường trả nợ đúng hạn hơn Điều này đúng với các nghiên cứu của Samuel và cộng sự (2016), Wongnaa và Awunyo (2013)

Tình trạng hôn nhân, đa phần những người vay đã kết hôn thường sẽ ít thích mạo hiểm và tính toán kỹ lưỡng hơn so với người vay độc thân Tuy nhiên, bên cạnh đó có những ý kiến trái chiều như David (2013), Wongnaa và Awunyo (2013) cho rằng những người vay vốn đã kết hôn có thể sử dụng các khoản vay của mình để nhằm trang trải nhu cầu phát sinh của gia đình thay vì sử dụng nó vào đúng mục đích cam kết ban đầu, nên xác suất để xảy ra nợ quá hạn cao

Loại hình cư trú của người vay, đặc biệt là đối với loại hình vay tín chấp thì loại hình cư trú tại địa phương cũng khá quan trọng Những khách hàng

Trang 31

22

thường trú lâu năm thường có trách nhiệm, uy tín tại địa phương và địa phương cũng hiểu hơn thông tin những người vay này hơn so với những người vay từ nơi khác đến tạm trú Dựa trên thực tế tại Quỹ CCM, bài nghiên cứu nhận thấy biến loại hình cư trú cần thiết đưa vào mô hình để xem xét về tác động của biến này đối với rủi ro tín dụng

Lịch sử trả nợ Theo Lê Khương Ninh và Lâm Thị Bích Ngọc (2012), Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017) thì những người vay từng có nợ quá hạn trong những lần vay trước đây thì xác suất người vay sẽ tái diễn nợ quá hạn trong lần vay tiếp theo cao hơn sao với những người vay không có nợ quá hạn trước đây

Xét về giới tính, những người vay nữ giới thường tính toán, có tính kỷ luật hơn nên xác suất trả nợ đúng hạn sẽ cao hơn so với người vay là nam giới (Norhaziah và cộng sự, 2012; David, 2013; Wongnaa và Awunyo, 2013)

Trình độ học vấn của người vay là một yếu tố khá quan trọng để đánh giá khả năng trả nợ của người vay Người vay có trình độ học vấn càng cao thì xác suất để xảy ra rủi ro tín dụng càng thấp Những người vay này có cơ hội tiếp thu các thành tựu về khoa học kỹ thuật lớn hơn những người vay có trình độ học vấn thấp Đồng thời họ cũng có thể tính toán kỹ lưỡng kế hoạch kinh doanh trước và trong khi vay vốn một cách tốt hơn để tạo ra lợi nhuận tối đa

Trang 32

23

vẫn có những trường hợp người vay kiểm soát được khả năng kinh tế của mình, thận trọng trong việc thu chi, có trách nhiệm cao với khoản vay, nên vẫn xảy ra những trường hợp người vay có thu nhập thấp nhưng tỷ lệ để xảy ra RRTD lại thấp hơn so với những người vay có thu nhập trung bình

Đa dạng hóa ngành nghề trong hộ gia đình Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011) nhận định rằng nếu người vay kinh doanh ba ngành nghề trở lên thì tỷ lệ để xảy ra RRTD thấp hơn só với những người vay kinh doanh dưới ba ngành nghề Bùi Hữu Phước và cộng sự (2018) cũng cho ra kết quả như vậy

Xét về yếu tố kinh nghiệm kinh doanh Trương Đông Lộc (2010), Samuel và cộng sự (2016), Wongnaa và Awunyo (2013) cho rằng những người vay càng có thâm niêm lâu năm thì họ có sự am hiểu ngành nghề, chuyên môn nghề nghiệp cao, kiến thức vững chắc, có đầu ra sản phẩm ổn định… nên tỷ lệ để xảy ra RRTD thấp hơn so với những người vay có thâm niên ít

Số người phụ thuộc của người vay có tác động khá cao đến việc có để xảy ra RRTD hay không Nếu số người phụ thuộc càng nhiều thì việc trang trải cho các chi phí trong gia đình càng tăng cao, từ đó khoản tiền có thể tiết kiệm và tích lũy để trả nợ không ổn định hoặc có thể không thực hiện đúng cam kết trả nợ ban đầu do chi phí phát sinh quá nhiều, điều này sẽ làm cho tỷ lệ xảy ra RRTD tăng cao (Samuel và cộng sự, 2016; Trần Thế Sao, 2017)

2.3.3 Đặc điểm về khoản vay

Đặc điểm về khoản vay bao gồm hai yếu tố: Mục đích sử dụng vốn và thời gian trả nợ

Việc thực hiện mục đích sử dụng vốn có đúng với kế hoạch ban đầu đề

ra hay không cũng là một trong những yếu tố quyết định đến việc tạo ra thu nhập, lợi nhuận và từ đó là tiền đề cho việc thực hiện đúng cam kết trả nợ Khi đó RRTD được giảm tối thiểu (Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết, 2011; Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành, 2017 và Bùi Hữu Phước và cộng sự, 2018)

Trang 33

24

Thời gian trả nợ Theo David (2013) và Trần Thế Sao (2017) thì nếu thời gian trả nợ vay càng dài thì người vay sẽ có nhiều thời gian hơn và khoản vay hoàn trả định kỳ cũng sẽ được chia nhỏ nhiều lần để từ đó người vay có thể chủ động hơn trong việc tiết kiệm, tích lũy và thực hiện tốt việc trả nợ theo cam kết

Từ đó, khả năng xảy ra RRTD cũng được giảm tối thiểu

2.4 Tổng quan nghiên cứu trước

2.4.1 Nghiên cứu của Norhaziah và Mohd (2012)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logit đa biến để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ trong chương trình tài chính vi mô tại Malaysia Mẫu khảo sát của bài nghiên cứu là hồ sơ vay của 309 người vay ở Tekun Nasional thuộc bán đảo Malaysia Bài nghiên cứu sử dụng các biến độc lâpj: tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm kinh doanh, giáo dục tôn giáo, tổng thu nhập

hộ gia đình, tổng doanh số bán hàng, khoảng cách đến văn phòng cho vay, các hình thức kinh doanh, thời gian phê duyệt khoản vay và giám sát khoản vay có tác động đến khả năng trả nợ của người vay Nghiên cứu cho thấy cải thiện thu nhập và tổng thu nhập sẽ làm tăng khả năng trả nợ của người vay Vì vậy bài nghiên cứu còn đưa ra các chương trình, khóa đào tạo nhằm giúp cho người vay cách tiếp thị sản phẩm, cải thiện được khả năng bán hàng, quản lý tài chính và gia tăng lợi nhuận của họ Kết quả còn cho thấy chưa tìm thấy mối liên hệ giữa biến tuổi tác, giáo dục, tổng thu nhập hộ gia đình đến khả năng trả nợ của người vay Vì vậy bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra lại kết quả nghiên cứu của các biến này khi áp dụng tại nơi nghiên cứu là Quỹ CCM

2.4.2 Nghiên cứu của David (2013)

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thông kê mô tả và phân tích hồi quy để nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ theo vùng của người nông dân hợp tác xã quy mô nhỏ trong khu vực Nam – miền Nam Nigeria

Dữ liệu nghiên cứu là 96 người từ 16 hợp tác xã Kết quả nghiên cứu cho thấy các tám biến có tác động cùng chiều: độ tuổi, mức vay, thời gian trả nợ, trình độ học vấn, thu nhập ròng của trang trại, giám sát cho vay, tham gia các công việc

Trang 34

25

khác và qui mô trang trại Các biến có tác động nghịch chiều: tình trạng hôn nhân, giới tính, qui mô hộ gia đình và chi phí thuê thiết bị Bài nghiên cứu còn khuyến khích việc người vay nên cải thiện thu nhập để nâng cao khả năng hoàn trả nợ vay

2.4.3 Nghiên cứu của Wongnaa và Awunyo (2013)

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và mô hình probit

để nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của nông dân Quận Sene, Ghana Bài nghiên cứu lấy mẫu ngẫu nhiên từ bảng khảo sát trả lời câu hỏi của 100 người trong nông dân Kết quả chỉ ra các yếu tố: giáo dục, kinh nghiệm, lợi nhuận, tuổi tác, giám sát khoản vay và thu nhập phi nông nghiệp tác động tích cực đến việc trả nợ so với các biến giới tính, hôn nhân có tác động tiêu cực, trong khi yếu tố quy mô hộ gia đình thì có ảnh hưởng không rõ ràng Kết quả thống kê mô tả còn cho thấy, có 42% người được khảo sát là mù chữ Hơn 93% là nam và hầu hết có gia đình (91%) Ngoài ra hầu hết người được khảo sát

có 6-10 người trong hộ gia đình (66%) và 54% trong đó có 1 – 10 năm kinh nghiệm làm nông nghiệp

2.4.4 Nghiên cứu của Samuel và cộng sự (2016)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình probit để nghiên cứu các yếu tố quyết định việc hoàn trả vốn vay của nông dân Hợp tác xã nhỏ ở Remo, Bang Ogun, Nigeria Bài nghiên cứu lấy mẫu ngẫu nhiên 120 người để trả lời theo bảng câu hỏi Kết quả phân tích mô tả cho thấy độ tuổi trung bình của những người vay được khảo sát là 47 tuổi, đây là độ tuổi trung niên, phần lớn trong số đó là nam giới và đã kết hôn Quy mô hộ gia đình đa số là 4 - 6 thành viên với quy mô gia đình trung bình là 5 Kết quả cho thấy tuổi tác, giáo dục, kinh nghiệm canh tác, thu nhập trang trại ròng và quy mô cho vay là những yếu tố chính quyết định đến việc tăng tỷ lệ trả nợ đúng hạn, trong khi số người phụ thuộc gia đình thì ngược lại Để cải thiện khả năng trả nợ trong khu vực nghiên cứu, bài nghiên cứu này khuyến nghị cải thiện phát triển thu nhập của người vay trong khu vực và tầm quan trọng của giáo dục đối với nền kinh tế Kết quả còn cho thấy không tìm thấy

Trang 35

26

mối liên hệ giữa giới tính, hôn nhân với khả năng hoàn trả nợ vay Bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra lại sự tác động của hai biến độc lập trên để xét có sự tác động đến rủi ro tín dụng tại Quỹ CCM hay không

2.4.5 Nghiên cứu của Trương Đông Lộc (2010), Trương Đông Lộc và

Nguyễn Thị Tuyết (2011)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình logit để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTM Nhà nước ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Dữ liệu nghiên cứu là 202 hồ sơ vay từ 4 NHNN Kết quả cho thấy các yếu

tố tỷ lệ vay trên giá trị tài sản đảm bảo tăng và mục đích vay tác động cùng chiều với RRTD trong khi đó các biến khả năng tài chính người vay, quá trình kiểm tra giám sát của ngân hàng, kinh nghiệm của người vay và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng có tác động nghịch chiều Tương đồng với nghiên cứu trên, kết quả của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011) còn cho thấy đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh cũng tác động nghịch chiều với RRTD Bên cạnh đó, kết của nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết (2011) còn cho thấy không tìm thấy mối liên hệ giữa biến kinh nghiệm kinh doanh và rủi ro tín dụng Tuy nhiên, theo đánh giá của đề tài này thì kinh nghiệm kinh doanh của người vay đem lại khoản thu nhập tương đối ổn định nếu kinh nghiệm người vay có thâm niên cao Vì vậy, bài nghiên cứu này sẽ kiểm tra biến kinh nghiệm kinh doanh có tác động đến rủi ro tín dụng tại Quỹ CCM hay không

2.4.6 Nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thanh Bình (2011)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình probit, để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay đúng hạn của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang Dữ liệu được thu thập của 436 hộ Bài nghiên cứu cho thấy các yếu tố thu nhập sau khi vay, số thành viên có thu nhập có tác động cùng chiều, trong khi đó các yếu tố lãi suất vay, trình độ học vấn chủ hộ và ngành nghề chính tạo thu nhập nghịch chiều với khả năng trả nợ Cuối cùng, kết quả phân tích định lượng còn cho thấy khả năng trả nợ đúng hạn của những hộ vay sử dụng đúng mục đích nông nghiệp cao hơn so với mục đích khác, và không tìm thấy mối liên hệ giữa biến tuổi tác và

Trang 36

27

khả năng trả nợ đúng hạn Theo quan điểm của đang nghiên cứu này, tuổi tác của người vay sẽ tác động đến tâm lý tích lũy và trả nợ vay của người vay nên biến tuổi tác sẽ có tác động đến rủi ro tín dụng Vì vậy, đây là biến cần được thực hiện lại trong bài nghiên cứu này

2.4.7 Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và Lâm Thị Bích Ngọc (2012)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình logic để nghiên cứu Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam ở Đồng bằng Sông Cửu Long Dữ liệu nghiên cứu là từ 454 doanh nghiệp Kết quá nghiên cứu có năm yếu tố tác động thuận chiều với RRTD

là Quy mô, nợ phải trả, lịch sử vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng và cạnh tranh Trong khi đó các biến ROA, xếp hạng doanh nghiệp có tác động nghịch chiều

2.4.8 Nghiên cứu của Phan Đình Khôi và Nguyễn Việt Thành (2017)

Nghiên cứu đã sử dụng mô hình logit nhị thức và logit đa thức để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTM Nhà nước ở Hậu Giang Dữ liệu nghiên cứu là 316 hồ sơ của 5 ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến có tác động cùng chiều với RRTD bao gồm: tài sản đảm bảo, lịch sử vay vốn và ngành nghề chính tạo ra thu nhập Trong khi đó các biến khả năng tài chính người vay, sử dụng vốn vay, kinh nghiệm cán bộ tín dụng và kiểm tra giám sát vốn vay có tác động nghịch chiều Bài nghiên cứu còn cho rằng việc thực hiện hiệu quả công tác đánh giá năng lực tài chính của người vay trước khi cho vay, thẩm định, giám sát mục đích sử dụng vốn vay chặt chẽ và giám sát nguồn thu nhập chính của người vay cũng sẽ làm giảm tỷ lệ xảy ra rủi ro tín dụng

2.4.9 Nghiên cứu của Trần Thế Sao (2017)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy logic để nghiên cứu về các yếu

tố ảnh hưởng khả năng trả nợ ngân hàng của nông hộ trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An Bài nghiên cứu sử dụng số mẫu là 250 hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tác động dương với khả năng trả nợ bao gồm: Trình độ

Trang 37

28

học vấn, diện tích đất canh tác, thu nhập phi nông nghiệp và thời hạn trả nợ Bên cạnh đó, các yếu tố số tiền vay và số người phụ thuộc có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng trả nợ đúng hạn Bên cạnh đó, các biến Tuổi tác, Trình độ học vấn, kinh nghiệm kinh doanh và số lần thăm của cán bộ tín dụng không có ý nghĩa thống kê Với kết quả này bài nghiên cứu cũng sẽ kiểm tra lại các biến độc lập không có ý nghĩa thống kê có tác động hay không đến rủi ro tín dụng tại Quỹ CCM

2.4.10 Nghiên cứu của Bùi Hữu Phước và cộng sự (2018)

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình logic để nghiên cứu RRTD tại NHTM

cổ phần ngoại thương – Chi nhánh Kiên Giang Bài nghiên cứu sử dụng số mẫu

là 120 hồ sơ Các biến độc lập tham gia vào mô hình bao gồm: Năng lực tài chính của khách hàng, Tài sản đảm bảo, Sử dụng vốn vay, Kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, Đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, Trình độ quản lí doanh nghiệp, Kiểm tra giám sát vốn vay

Kết quả cho thấy ở mức độ RRTD 1, tác động đến tín hiệu rủi ro bao gồm: Tài sản đảm bảo, năng lực tài chính của khách hàng, hoạt động kinh doanh

đa dạng, kinh nghiệm của nhân viên ngân hàng và kiểm tra, giám sát khoản vay

Ở mức độ RRTD 2, các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của NHTM chỉ là bốn yếu

tố liên quan đến tín hiệu, ít hơn một yếu tố như vậy với mức độ RRTD 1, tài sản thế chấp không ảnh hưởng đến mức độ rủi ro tín dụng 2

2.4.11 Tóm tắt các nghiên cứu trước

Dưới đây là bảng tóm tắt các nghiên cứu trước đây, thể hiện các biến độc lập và kết quả nghiên cứu đạt được:

Trang 38

-Tổng thu nhập hộ gia đình

-Tổng doanh số bán hàng -Khoảng cách đến văn phòng cho vay

-Các hình thức kinh doanh -Thời gian phê duyệt khoản vay

-Giám sát khoản vay

Khả năng trả nợ

- Tương quan thuận: Giới tính

- Tương quan nghịch: Giám sát khoản vay, Tổng doanh số bán hàng, Các hình thức kinh doanh

- Các yếu tố: Tuổi tác, Giáo dục, Tôn giáo, Khoảng cách đến văn phòng cho vay, Tổng thu nhập hộ gia đình, Thời gian phê duyệt khoản vay không

có ý nghĩa thống kê

David

(2013)

-Độ tuổi -Mức vay -Thời gian trả nợ -Trình độ học vấn -Thu nhập ròng của trang trại

-Giám sát cho vay -Tham gia các công việc khác

-Qui mô trang trại -Tình trạng hôn nhân -Giới tính

-Qui mô hộ gia đình -Chi phí thuê thiết bị

Khả năng trả nợ

-Tương quan thuận: độ Tuổi, mức vay, thời gian trả nợ, trình độ học vấn, thu nhập ròng của trang trại, giám sát cho vay, tham gia các công việc khác và qui mô trang trại -Tương quan nghịch: tình trạng hôn nhân, giới tính, qui mô hộ gia đình và chi phí thuê thiết bị

Trang 39

-Tương quan thuận: giáo dục, kinh nghiệm, lợi nhuận, tuổi tác, giám sát khoản vay và thu nhập phi

- Kinh nghiệm canh tác

- Qui mô trang trại

- Số người phụ thuộc

- Thu nhập ròng

- Lãi suất vay

- Qui mô cho vay

Khả năng trả nợ

-Tương quan thuận: tuổi tác, giáo dục, kinh nghiệm canh tác, thu nhập trang trại ròng và quy mô -Tương quan nghịch: số người phụ thuộc gia đình

-Quá trình kiểm tra giám sát của ngân hàng

-Kinh nghiệm của người vay

-Kinh nghiệm của cán bộ tín dụng

Rủi ro tín dụng

-Tương quan thuận khi tỷ

lệ vay trên giá trị tài sản đảm bảo tăng và mục đích -Tương quan nghịch: khả năng tài chính người vay, kiểm tra giám sát của ngân hàng, kinh nghiệm của người vay và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng

Trang 40

-Việc sử dụng vốn vay -Kinh nghiệm của cán bộ tín dụng

-Số lần kiểm tra, giám sát khoản vay của cán bộ tín dụng

-Việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của khách hàng vay -Tài sản đảm bảo

Rủi ro tín dụng

Các yếu tố có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng: Khả năng tài chính của khách hàng, việc sử dụng vốn vay, kinh nghiệm của cán

bộ tín dụng, số lần kiểm tra khoản vay của cán bộ tín dụng và việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của

- Thu nhập sau khi vay

- Lãi suất vay

- Tuổi tác

- Ngành nghề chính

- Số thành viên có thu nhập

- Trình độ học vấn

Khả năng trả nợ

-Tương quan thuận: Thu nhập sau khi vay, số thành viên có thu nhập -Tương quan nghịch: lãi suất vay, trình độ học vấn chủ hộ và ngành nghề chính tạo thu nhập

- Thời gian quan hệ tín dụng

- Cạnh tranh

Rủi ro tín dụng

-Tương quan thuận: Quy

mô, nợ phải trả, lịch sử vay, kinh nghiệm của cán

bộ tín dụng và cạnh tranh -Tương quan nghịch: ROA, xếp hạng doanh nghiệp

Ngày đăng: 14/09/2020, 16:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm