1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại việt nam luận văn thạc sĩ

91 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của c

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 2

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số chuyên ngành: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS LÊ PHAN THỊ DIỆU THẢO

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của lãi suất chiết khấu, tái cấp

vốn, cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi

cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong

luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định

Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các

trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác

TP.HCM, Ngày 23 tháng 03 năm 2020

Chữ ký người thực hiện:………

Họ và tên: Nguyễn Cảnh Tuấn

Trang 4

Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này

Tuy đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên trong bài nghiên cứu này không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia và những bạn đọc tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Trân trọng

Trang 5

TÓM TẮT

Lãi suất có thể được xem là một trong những kênh quan trọng nhất của chính sách tiền tệ (CSTT) Luận văn này tập trung nghiên cứu tác động của lãi suất chiết khấu (DIR), lãi suất tái cấp vốn (CIR), lãi suất cho vay qua đêm (OVR) đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Việt Nam được đại diện bởi tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS), số liệu sử dụng cho nghiên cứu được thu thập từ số liệu của 23 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm

2007 đến năm 2018

Kết quả nghiên cứu cho thấy lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm có tác động cùng chiều đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam Bên cạnh đó, luận văn cũng chỉ ra được rằng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn có mức độ tác động và tầm ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt nam cao hơn so với lãi suất cho vay qua đêm

Từ khóa: Lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, khả

năng sinh lợi ngân hàng thương mại

Trang 6

Interest rates can be considered as one of the most important parts of the monetary policy This research focuses on the effect of discount rates (DIR), capital interest rates (CIR), overnight rates (OVR) on the performance of Vietnamese joint-stock commercial banks which are nominated by the ratio of after - tax over return

on assets (ROA) The research uses the method called general least square (GLS), the figures used in this research are taken from 23 Vietnamese joint-stock commercial banks from 2007 to 2018

The research show that discount rates, capital interest rates, overnight rates has a positive effect on the performance of a joint-stock commercial bank Besides, this research also shows that the discount rates and capital interest rates have higher impacts on the performance of Vietnamese joint-stock commercial banks than overnight rates

Keywords: discount rates, capital interest rates, overnight rate, Performance of

Commercial Banks

Trang 7

MỤC LỤC Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Tóm tắt iii

Abstract iv

Mục lục v

Danh mục từ viết tắt viii

Danh mục bảng ix

Danh mục hình vẽ x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 Lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Ý nghĩa của đề tài 5

1.6.1 Ý nghĩa khoa học 5

1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

1.7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 7

2.1 Cơ sở lý thuyết 7

2.1.1 Các khái niệm 7

2.1.1.1 Chính sách tiền tệ 7

2.1.1.2 Lãi suất 8

Trang 8

2.1.1.3 Khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại

cổ phần 11

2.1.2 Các lý thuyết liên quan 12

2.1.2.1 Lý thuyết của Keynes về việc làm, lãi suất và tiền tệ 12 2.1.2.2 Mô hình IS-LM 14

2.1.2.3 Mô hình định giá lãi suất bán lẻ 15

2.1.2.4 Mô hình định giá lãi cận biên 15

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước 16

2.2.1 Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của lãi suất chính sách đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần 16

2.2.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố khác đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần 20 2.2.3 Giả thuyết nghiên cứu 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Mô hình nghiên cứu 25

3.1.1 Mô hình nghiên cứu 25

3.1.2 Mô tả và đo lường các biến 26

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 31

3.3 Trình tự nghiên cứu 33

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

4.1 Kết quả nghiên cứu 35

4.1.1 Thống kê mô tả biến 35

4.1.2 Phân tích ma trận tương quan 45

4.1.3 Lựa chọn mô hình hồi quy 47

4.1.4 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 48

4.1.5 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 49

4.1.6 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 50

Trang 9

4.1.6 Kết quả ước lượng 51

4.2 Thảo luận kết quả 53

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Một số khuyến nghị 61

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

CÁC PHỤ LỤC 69

Trang 10

12 Pooled OLS Pooled Ordinary Least Squares

Trang 11

DANH MỤC BẢNG Trang

Bảng 2.1 Thống kê các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến khả

năng sinh lợi của NHTMCP 22

Bảng 3.1 Tóm tắt các biến nghiên cứu 31

Bảng 3.2: Danh sách các NHTMCP được chọn làm mẫu trong nghiên cứu 32 Bảng 4.1: Thống kê mô tả biến 35

Bảng 4.2: Hệ số tương quan giữa các cặp biến Mô hình 1 46

Bảng 4.3: Hệ số tương quan giữa các cặp biến Mô hình 2 46

Bảng 4.4: Hệ số tương quan giữa các cặp biến Mô hình 3 46

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định F và Hausman 47

Bảng 4.6: Hệ số VIF của các mô hình 49

Bảng 4.7: Kết quả kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian 50

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định Wooldridge 50

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng các mô hình theo phương pháp GLS 51

Trang 12

DANH MỤC HÌNH VẼ Trang

Hình 4.1: Giá trị lợi nhuận sau thuế trên tài sản bình quân biến thiên qua

các năm 36

Hình 4.2: Giá trị lãi suất chiết khấu biến thiên qua các năm 37

Hình 4.3: Giá trị lãi suất tái cấp vốn biến thiên qua các năm 38

Hình 4.4: Giá trị lãi suất cho vay qua đêm biến thiên qua các năm 39

Hình 4.5: Giá trị tài sản bình quân của NHTMCP qua các năm 41

Hình 4.6: Tỷ lệ dư nợ cho vay bình quân của NHTMCP qua các năm 42

Hình 4.7: Tỷ lệ hiệu quả quản lý bình quân của NHTMCP qua các năm 44

Hình 4.8: Cấu trúc tài sản bình quân của các NHTMCP qua các năm 45

Trang 13

Chương 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1 Lý do nghiên cứu

Lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm là những loại lãi suất chính sách do ngân hàng Trung ương (NHTW) ban hành, đó là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ (CSTT) của Chính Phủ Việc sử dụng công cụ về lãi suất chính sách là nhằm đạt được một số mục tiêu về kinh tế vĩ mô của Chính Phủ như ổn định về giá cả, tạo việc làm và giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững Trong đó hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) được coi

là kênh quan trọng nhất trong việc thực hiện CSTT CSTT không ảnh hưởng trực tiếp mà chúng ảnh hưởng đến các hoạt động của nền kinh tế thông qua các tác động

từ các công cụ của CSTT đến các nguồn lực sẵn có trong hệ thống các NHTMCP (Mishkin, 2013)

Khi nền kinh tế bị lạm phát, NHTW có thể sử dụng CSTT thắt chặt để kiểm soát lạm phát NHTW thực hiện bằng cách tăng tỷ lệ lãi suất chính sách của mình, điều này sẽ làm số lượng tiền dùng trong việc cho vay của các NHTMCP sẽ

bị giảm và làm cho chi phí huy động vốn cũng tăng lên, các khoản vay sẽ trở nên đắt đỏ và mọi người sẽ vay ít hơn Ngược lại, nếu mục tiêu là kích cầu để phát triển nền kinh tế thì NHTW sẽ giảm tỷ lệ lãi suất của mình Do đó chi phí cho việc đi vay sẽ giảm, nó sẽ hấp dẫn người đi vay hơn Như vậy CSTT trong đó có chính sách về lãi suất ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến khả năng sinh lợi của NHTMCP (Solomon, 2012)

Trong giai đoạn từ 2007 - 2018 là quãng thời gian mà nền kinh tế của Việt Nam có nhiều CSTT thay đổi, cụ thể là về lãi suất, nhằm mục tiêu ổn định và phát triển nền kinh tế theo định hướng của Chính Phủ Riêng giai đoạn từ tháng 7/2017 đến nay thì chỉ có 2 lần ban hành quyết định thay đổi lãi suất theo Quyết định số 1424/QĐ-NHNN năm 2017 và Quyết định số 1870/QĐ-NHNN ngày 12/9/2019 Thế nhưng trước đó, có những năm NHTW phải điều chỉnh lãi suất rất nhiều lần

Trang 14

Điển hình là năm 2008, NHTW đã 09 lần ban hành quyết định thay đổi các loại lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm

Đứng trước việc thay đổi lãi suất do NHTW ban hành cụ thể là lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm trong giai đoạn từ năm

2007 – 2018 có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam như thế nào, tầm quan trọng của từng loại lãi suất ra sao cần có câu trả lời

Mặc dù trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu nói về các yếu

tố tác động đến khả năng sinh lợi của NHTMCP điển hình như của Ben Naceur và Goaied (2003), Mahmud và cộng sự (2016), San và Heng (2012), Dawood (2014),

Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014), Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà (2012), Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2016) Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này chỉ đánh giá về sự ảnh hưởng của các yếu

tố thuộc bên trong và bên ngoài của các NHTMCP đến khả năng sinh lợi của chúng Bên cạch đó cũng có những nghiên cứu nói về sự tác động của chính sách tiền tệ trong đó có nêu chính sách về lãi suất đến khả năng sinh lợi của NHTMCP tiêu biểu mà đề tài thu thập được được như của Amaliawiati và cộng sự (2013), Udeh (2015) , Maigua và Mouni (2016), Altavilla và cộng sự (2017), Nguyễn Thanh Nhân và cộng sự (2017), Phạm Chí Quang và Nguyễn Hữu Tú (2018) , Zaman và cộng sự (2014), Punita và cộng sự (2006), Akomolafe và cộng sự (2015) Tuy nhiên các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu chung chung

là chỉ đề cập đến sự tác động của CSTT trong đó có lãi suất chính sách Trong khi

đó, các nghiên cứu chuyên sâu về sự tác động của lãi suất do NHTW ban hành đến khả năng sinh lợi của NHTMCP tại Việt Nam còn khá khiêm tốn và không đầy đủ

về sự ảnh hưởng của cả 3 loại lãi suất như của đề tài này

Do vậy, đề tài “Tác động của lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại Việt Nam” được thiết kế để tìm hiểu về sự ảnh hưởng này Ngoài ra nghiên cứu sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học và thực tiễn cho những người làm chính sách tiền tệ, những người quản lý và điều hành NHTMCP đưa ra những quyết định mang đến sự hiệu quả cho bản thân

Trang 15

ngân hàng nói chung và cho nền kinh tế nói riêng Đồng thời, nghiên cứu còn có thể giúp cho các nhà đầu tư tài chính có cơ sở để nhìn nhận và đánh giá từ đó có những phương án đầu tư hiệu quả trước sự việc thay đổi của lãi suất do NHTW ban hành

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu sự tác động của lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam Do đó nghiên cứu này cần đạt được những mục tiêu sau:

• Phân tích, kiểm định sự tác động của lãi suất chiết khấu đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

• Phân tích, kiểm định sự tác động của lãi suất tái cấp vốn đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

• Phân tích, kiểm định sự tác động của lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

• Gợi ý một số chính sách nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu trên thì luận văn phải làm rõ và trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:

• Sự tác động của lãi suất chiết khấu đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam như thế nào?

• Sự tác động của lãi suất tái cấp vốn đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam như thế nào?

• Sự tác động của lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam như thế nào?

• Cần những giải pháp chính sách về lãi suất như thế nào để nâng cao khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam?

Trang 16

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung xem xét sự tác động của lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

• Phạm vi nghiên cứu

Từ năm 2007 đến nay, hoạt động thâu tóm, sáp nhập, hợp nhất, thành lập mới trong hệ thống ngân hàng diễn ra khá phức tạp Do vậy, nghiên cứu chỉ thực hiện trên mẫu 23 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2018 Thông tin lấy được từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên được công bố trên website của các ngân hàng này và trên các website tài chính có uy tín như vietstocsk.vn, website của NHNN, cafef.vn, vv…

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng (Panel regression) dựa trên dữ liệu thứ cấp của 23 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007-2018 với tổng số 276 quan sát

Các mô hình hồi quy sử dụng gồm có: Hồi quy theo mô hình bình phương nhỏ nhất (Pooled Ordinary Least Squares - Pooled OLS), đây là phương pháp hồi quy dựa trên giả định bộ dữ liệu không có tồn tại các yếu tố riêng biệt về không gian và thời gian Hồi quy theo mô hình tác động cố định (Fixed Effect Model - FEM) và theo mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model - REM), đây là hai phương pháp hồi quy mà không bỏ qua các yếu tố riêng biệt về không gian và thời gian Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng bình phương nhỏ nhất tổng quát (General Least Square- GLS), đây là phương pháp hồi quy kiểm soát được hiện tượng phương sai thay đổi và tự tương quan mà trong hồi quy dữ liệu bảng hay gặp

Các kiểm định sử dụng gồm: Kiểm định F( F test) để lựa chọn giữu hai mô hình Pooled OLS và FEM, kiểm định Hausman để lựa chọn giữa hai mô hình FEM

và REM từ đó tìm ra mô mình hồi quy tối ưu nhất Sử dụng hệ số phóng đại

Trang 17

phương sai (Variance inflation factor-VIF) để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến, dùng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian để kiểm tra hiện tượng phương sai thay đổi, dùng kiểm định Wooldridge để kiểm tra hiện tượng tự tương quan trong

1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Từ kết quả mà luận văn đã đạt được song song với đó là các đánh giá,

phân tích chuyên sâu hơn về mức mức độ tác động của lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

Do vậy, nghiên cứu đã cung cấp thêm cơ sở khoa học không những có thể giúp cho những nhà làm chính sách, những người quản lý điều hành NHTMCP đưa ra những quyết sách mang đến sự hiệu quả cho bản thân ngân hàng nói chung

mà còn cho nền kinh tế nói riêng Ngoài ra nghiên cứu này còn giúp cho các các nhà đầu tư tài chính liên quan có những cơ sở nhìn nhận và đánh giá khách quan từ

đó có những hướng đầu tư tài chính hiệu quả vào các ngành nghề, lĩnh vực liên quan trước sự việc thay đổi lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn, cho vay qua đêm của NHTW

Trang 18

1.7 Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Kết cấu của luận văn gồm 5 chương được trình bày cụ thể như sau:

Chương 1: Phần giới thiệu, trong chương này luận văn trình bày lý do

nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nêu ra câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu dữ liệu và phương pháp sử dụng để nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, trong

chương này luận văn trình bày cơ sở các lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan đến lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm của NHTW, khả năng sinh lợi của các NHTMCP và sự tác động của lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Các lý thuyết này là tiền đề để đưa ra các giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này luận văn xây

dựng khung tiếp cận nghiên cứu, xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận đã được trình bày ở chương 2 Trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu,

xử lý dữ liệu, cách thức chọn mẫu và cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu, trong chương luận văn trình bày các

bước nghiên cứu gồm thống kê mô tả và các kết quả phân tích hồi quy Đánh giá các tác động của lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm của NHTW đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Trên cơ sở lựa chọn mô hình hồi quy hiệu quả nhất, kiểm định các khuyết tật của mô hình và xử lý khuyết tật của mô hình

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị, trong chương này luận văn nêu

những đóng góp của luận văn và một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của các NHTMCP Đồng thời, chỉ ra những mặt hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài

Trang 19

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN

NGHIÊN CỨU TRƯỚC

có thể được sử dụng như là một công cụ để điều tiết của tín dụng, ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế (Chowdhury và cộng sự, 2003)

CSTT bao gồm việc xây dựng và thực hiện các chính sách của NHTW để đạt được mục tiêu mong muốn, các chính sách và quyết định nhằm hướng dẫn lãi suất cho vay của NHTMCP ở mức độ nhu cầu tín dụng phù hợp với nền kinh tế Các mục tiêu mà NHTW tìm cách đạt được nói chung là kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, giảm thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế ổn định Các công cụ của CSTT như nghiệp vụ thị trường mở (Open market operations -OMO), tỷ lệ chiết khấu, dự trữ bắt buộc, minh bạch tài chính, kiểm soát trực tiếp hệ thống ngân hàng và quy định lãi suất trực tiếp (Loayza và Schmidt, 2002)

Từ những quan điểm trên có thể thấy CSTT là một trong những công cụ của NHTW để điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu mong muốn như là kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ, giảm thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế ổn định Các công cụ hữu hiệu được thực hiện như hoạt động thị trường mở,

tỷ lệ chiết khấu, dự trữ bắt buộc, minh bạch tài chính, kiểm soát trực tiếp hệ thống ngân hàng và quy định lãi suất trực tiếp Như vậy ta có thể thấy lãi suất do NHTW ban hành là một trong những công cụ của CSTT của Chính Phủ tác động vào nền kinh tế nói chung và NHTMCP nói riêng

Trang 20

Ở Việt Nam, Thủ tướng Chính Phủ, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng các công cụ và biện pháp điều hành để thực hiện mục tiêu CSTT quốc gia theo quy định của Chính Phủ nhằm đạt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng kinh tế Nội dung này được quy định tại mục 4, điều 3 của Luật NHNN số 46/2010/QH12 được Quốc Hội ban hành ngày 16/6/2010 (gọi tắt là Luật NHNN năm 2010)

Theo Luật NHNN năm 2010, Thống đốc NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia bao gồm: Nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, chính sách lãi suất, quản lý hạn mức tín dụng, quản lý lãi suất của các NHTMCP Trong đó chính sách lãi suất là một bộ phận của CSTT mà ở đó NHTW

sử dụng các công cụ lãi suất của mình để quản lý và điều tiết lãi suất thị thường nhằm mục tiêu điều tiết vĩ mô hoạt động của NHTMCP nói riêng và nền kinh tế nói chung Trong đó bộ ba lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm để bù đắp thâm hụt trong thanh toán là một công cụ rất quan trọng và hữu hiệu

2.1.1.2 Lãi suất

Lãi suất là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của nền kinh tế Nó là mức giá mà người vay trả cho việc sử dụng số tiền họ vay từ người cho vay hoặc tổ chức tài chính hoặc phí trả cho tài sản vay Chúng là những yếu tố kinh tế chính ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế (Crowley, 2007)

Theo Corb (2012) thì lãi suất chính sách là công cụ kinh tế được ban hành bởi NHTW để kiểm soát lạm phát và thúc đẩy phát triển kinh tế

Như vậy có thể hiểu lãi suất nói chung là mức giá mà người đi vay trả cho người cho vay Trong đó lãi suất do NHTW ban hành là một công cụ kinh tế nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Ở Việt Nam, theo Luật NHNN năm 2010 thì có nhiều loại lãi suất do NHTW công bố được sử dụng để điều hành CSTT bao gồm: lãi suất cơ bản, lãi

Trang 21

suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm, lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở, các lãi suất này được NHTW ban hành tuỳ thuộc vào mục tiêu CSTT nhằm điều tiết nền kinh tế vĩ mô cụ thể trong từng giai đoạn

Theo quy định tại Khoản 1, điều 12, chương III, Luật NHNN năm 2010 quy định: “NHNN công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản ( LSCB) và các loại lãi suất khác để điều hành CSTT, chống cho vay nặng lãi” Các loại lãi suất được NHTW sử dụng trong điều hành CSTT do NHTW quy định được sử dụng làm căn

cứ để các tổ chức tính dụng (TCTD) xác định mức lãi suất kinh doanh của mình Trong phạm vi của đề tài này chỉ nghiên cứu lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm và các loại lãi suất được khái niệm như sau:

• Lãi suất chiết khấu

Chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của ngân hàng là nghiệp vụ NHNN mua các giấy tờ có giá còn thời hạn thanh toán, mà các giấy tờ có giá này các NHTMCP đã mua trên thị trường sơ cấp hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp (điều 2 Quyết định số Số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12 tháng 8 năm 2003 của NHNN)

Hiện nay, quy định về chiết khấu, tái chiết khấu đã được Quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung điều 10 và điều 12 Quy chế chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng

Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà NHTW áp dụng cho các khoản vay của ngân hàng thương mại tại quầy của nó (Nguyễn Văn Ngọc, 2012)

Lãi suất chiết khấu là lãi suất NHTW áp dụng để tính số tiền thanh toán khi thực hiện chiết khấu giấy tờ có giá Lãi suất chiết khấu do NHTW xác định và công

bố, phù hợp với mục tiêu của CSTT trong từng thời kỳ, được quy định tại điều 3 quyết định Số 898/2003/QĐ-NHNN ngày 12 tháng 8 năm 2003 của NHNN Đến nay thì lãi suất tái chiết khấu được NHNNCP quy định tại Quyết định 1870/QĐ-NHNN ngày 12/9/2019 là 4%

Trang 22

• Lãi suất tái cấp vốn

Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHTW nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các tổ chức tín dụng, được quy định tại khoản 1 và 2 điều 11 Luật NHNN Việt Nam năm 2010 NHTW quy định

và thực hiện việc tái cấp vốn cho TCTD theo các hình thức như cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá; chiết khấu giấy tờ có giá; các hình thức tái cấp vốn khác

Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất do NHNN áp dụng khi tái cấp vốn (khoản 1

và 2 điều 11 Luật NHNN Việt Nam năm 2010) Khi các TCTD thiếu hụt vốn ngắn hạn có thể lên vay NHNN thông qua hình thức cầm cố giấy tờ có giá hoặc xin vay lại theo hồ sơ tín dụng Tuỳ từng thời kỳ kinh tế, mức lãi suất tái cấp vốn được NHTW xác định khác nhau nhưng nhìn chung, lãi suất tái cấp vốn tăng/giảm tác động trực tiếp tới chi phí vốn từ đó tác động tới lãi suất cho vay của các TCTD Cũng như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn thay đổi tùy theo từng thời kỳ Đến nay thì lãi suất cấp vốn cũng được NHNN Việt Nam quy định tại Quyết định 1870/QĐ-NHNN ngày 12/9/2019 là 6%

• Lãi suất cho vay qua đêm

Cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng là việc NHNN Việt Nam cho các ngân hàng vay có bảo đảm bằng cầm cố các giấy tờ có giá trong khoảng thời gian tính từ cuối ngày làm việc hôm trước đến 8 giờ 30 phút ngày làm việc liền kề tiếp theo (Khoản 2 điều 2 Quyết định số 04/2007/QĐ-NHNN ngày

22 tháng 01 năm 2007 của NHNN Việt Nam)

Lãi suất cho vay qua đêm hay còn gọi là lãi suất liên ngân hàng Đây là lãi suất vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng, thông qua thị trường liên ngân hàng Lãi suất này áp dụng trong trường hợp NHTMCP tham gia thanh toán điện tử liên ngân hàng nhưng không đủ vốn để bù đắp chênh lệch âm giữa tổng giá trị các khoản thanh toán chuyển đến và tổng giá trị các khoản thanh toán chuyển đi được xác định vào cuối ngày giao dịch

Trang 23

Mức lãi suất cho vay qua đêm do Thống đốc NHNN Việt Nam quy định phù hợp với mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ Thời điểm tính, thu lãi tiền cho vay qua đêm do Sở Giao dịch - NHNN Việt Nam hướng dẫn phù hợp với quy định của NHNN Việt Nam về phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi đối với các tổ chức tín dụng (điều 7 quyết định số 04/2007/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 01 năm 2007 của NHNN Việt Nam) Lãi suất cho vay qua đêm luôn biến động lên xuống tùy thuộc thời điểm trong ngày do NHTW Việt Nam quyết định điều chỉnh tăng/giảm lãi suất cho vay qua đêm

2.1.1.3 Khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại

Khả năng sinh lợi là khả năng kiếm lợi nhuận hợp lý của chủ sở hữu công

ty Phần lớn tổ chức tồn tại là để kiếm được tỷ suất lợi nhuận và lợi nhuận cho thấy hiệu quả và hiệu suất tổng thể của một công ty ( Warren , 2005)

Có thể chia tỷ lệ lợi nhuận thành các phần: Lợi nhuận biên và lợi nhuận Lợi nhuận biên cho thấy tỷ lệ thể hiện khả năng của công ty trong việc chuyển đổi tài sản thành lợi nhuận, ngoài ra lợi nhuận biên còn thể hiện hiện khả năng của công ty trong việc tạo ra lợi nhuận cho các cổ đông của mình (Bessis, 2003)

Theo Nguyễn Văn Ngọc (2012), khả năng sinh lợi hay tỷ suất lợi nhuận (profitability) là khái niệm phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và quy mô doanh nghiệp Khả năng sinh lợi cho chúng ta biết hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định

Ngân hàng thương mại cũng có thể được xem là một doanh nghiệp NHTMCP cũng hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép Bởi vậy khả năng sinh lợi của NHTMCP là khả năng chống lại những tổn thất không mong đợi, cũng như là khả năng tăng cường năng lực tài chính và cải thiện khả năng sinh lợi trong tương lai thông qua tái đầu tư lợi nhuận giữ lại (ECB, 2010)

Khả năng sinh lợi của NHTMCP có thể được đo lường bằng nhiều chỉ tiêu, chẳng hạn: Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở

Trang 24

hữu (ROE), thu nhập ngoài lãi ròng biên (NOM) , thu nhập lãi ròng biên (NIM), hệ

số Tobin’s Q… Tuy nhiên ROA là chỉ số được sử dụng rộng rãi trong phân tích khả năng sinh lợi của ngân hàng Đây là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả quản lý của ngân hàng, biểu thị cho khả năng biến tài sản thành lợi nhuận của NHTMCP ROA cao cho thấy hoạt động của ngân hàng là hiệu quả với cơ cấu tài sản hợp lý và linh hoạt ngược lại ROA thấp phản ánh chính sách hoạt động không hiệu quả hoặc chi phí hoạt động quá mức

Thông thường , khả năng sinh lợi được tính bằng cách lấy lợi nhuận trên tổng tài sản sử dụng, khối lượng tư bản dài hạn hoặc số người lao động Công thức tính ROA như sau:

ROA = Lợi nhuận sau thuế / Tổng tài sản

2.1.2 Các lý thuyết liên quan

2.1.2.1 Lý thuyết của Keynes về việc làm, lãi suất và tiền tệ

Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ của Keynes được xem như

là nghiên cứu ban đầu về truyền dẫn CSTT trong đó có cơ chế về lãi suất của Chính Phủ Theo Keynes (1936), lãi suất được coi là một biến tài chính thuần túy, mức độ được xác định không phải bởi cung và cầu các khoản vay mà đúng hơn bởi nguồn cung tiền và nhu cầu thanh khoản Sự gia tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh

tế sẽ làm cho lãi suất giảm, biến đổi lãi suất là phương pháp rất hữu hiệu để ổn định

hệ thống kinh tế thị trường Mức lãi suất sẽ xác định mức tổng hợp nhu cầu và sẽ lan rộng ra toàn bộ hệ thống kinh tế thông qua ba cách: ưu tiên cho thanh khoản, hiệu quả hoạt động của đầu tư, số nhân đầu tư (Skousen, 1997)

Keynes đã đề xuất giải pháp táo bạo, rõ ràng và có tính đổi mới đó là Chính Phủ phải gián tiếp can thiệp vào kinh tế hoạt động bằng cách kích thích tổng cầu theo cách thao túng lãi suất và kiểm soát khối lượng tiền tệ Theo cách này, lãi suất trở thành yếu tố thiết yếu của hoạt động kinh tế Cơ chế này hoạt động như sau:

Trang 25

NHTW kiểm soát mức lãi suất; giảm lãi suất sẽ xác định giá cho vay giảm dần; giá cho vay giảm dần này sẽ tạo ra sự gia tăng nhu cầu về tính thanh khoản; nhu cầu tăng đối với các khoản thanh khoản sẽ được bảo đảm bởi sự gia tăng số lượng tiền; từ đó sẽ tăng mức độ tiêu thụ và đầu tư (Laurentiu, 2008)

Bên cạnh đó tỷ lệ lãi suất là nguyên nhân chứ không phải là kết quả của hiệu quả hoạt động của nền kinh tế Nó phụ thuộc vào kỳ vọng của nền kinh tế cũng như những chính sách lãi suất của Chính Phủ nhằm điều tiết nền kinh tế Tức lãi suất tác động đến hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, tỷ lệ lãi suất phụ thuộc vào kỳ vọng của nền kinh tế và những chính sách lãi suất của Chính Phủ nhằm điều tiết vĩ

mô nền kinh tế (Tily, 2007)

Từ đó cho đến nay cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ trong đó có cơ chế

về lãi suất được các nhà kinh kế học nghiên cứu một cách sâu rộng, cụ thể:

Bernanke (1986) đã nghiên cứu về sự tác động qua lại giữa thu nhập và tiền, theo quan điểm của ông thì sự biến động trên thị trường tín dụng là do CSTT hoặc cũng có thể là do các yếu tố khác tác động Do khối lượng tiền lưu thông có tác động cùng chiều đến tín dụng nên điều này càng khẳn định lượng tiền lưu thông ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng trong đó có hoạt động của NHTMCP Về cơ bản thì CSTT là sự tác động Chính Phủ lên lượng tiền lưu thông trên thị trường, trong

đó công cụ về lãi suất là một công cụ quan trọng do NHTW ban hành để Chính Phủ thực hiện CSTT của mình

Taylor (1995) nhìn nhận kênh lãi suất truyền thống hoạt động thông qua chi phí vốn là cực kỳ quan trọng trong cơ chế truyền dẫn CSTT Tác động của lãi suất chính sách đến nền kinh tế nói chung và khả năng sinh lợi của NHTMCP nói riêng đó có thể gọi là một cơ chế truyền dẫn CSTT, nó mô tả quá trình mà Chính Phủ sử dụng CSTT để tác động đến nền kinh tế bằng nhiều công cụ trong đó có chính sách về lãi suất được ban hành bởi NHTW

Như vậy, theo lý thuyết của Keynes và các nhà nghiên cứu lý thuyết theo trường phái của ông đã chỉ ra rằng quá trình truyền dẫn của CSTT trong đó có chính sách về lãi suất được diễn ra như sau: Bằng cách quy định về lãi suất, Chính

Trang 26

Phủ tác động lên lượng tiền lưu thông trên thị trường làm cho lãi suất thị trường thay đổi Việc làm này gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả của nền kinh tế nói chung

và đến hoạt động tín dụng nói riêng, trong đó NHTMCP được xem là chủ thể quan trọng nhất của hoạt tính dụng Do đó, bằng hành động quy định lãi suất được NHTW ban hành, Chính Phủ đã gián tiếp can thiệp vào khả năng sinh lợi của hệ thống NHTMCP thông qua thị trường tiền tệ

2.1.2.2 Mô hình IS-LM

Lý thuyết này được Mishkin thiết lập Ông đã dựa trên cơ sở lý luận của học thuyết kinh tế Keynes và thiết lập nên mô hình IS-LM truyền thống dựa trên hiệu ứng sự tác động vào sự thay đổi lượng tiền lưu thông Mishkin (1996) đã xây dựng kênh lãi suất có thể được mô tả thông qua phương trình:

M  ir  (I+C)  Y

(Với M là cung tiền, ir là lãi suất thực, I và C lần lượt là đầu tư và tiêu dùng, Y là tổng sản lượng)

Khi Chính Phủ thực hiện CSTT mở rộng, Chính Phủ giảm lãi suất chính sách lúc này làm cho khối lượng tiền lưu thông trên thị trường tăng và từ đó tác động lên lãi suất thị trường, làm lãi suất thị trường giảm xuống Một khi lãi suất giảm xuống thì sẽ làm giảm chi phí về vốn từ đó kích thích đầu tư I và tiêu dùng C tăng , sau đó làm cho sản lượng Y tăng lên Do đó có thể thấy được lãi suất là một kênh quan trọng để Chính Phủ tác động đến lãi suất thị trường Khi lãi suất thị trường thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của người tiêu dùng và doanh nghiệp Tóm lại khi lãi suất thị trường giảm dẫn đến chi phí về vốn của các doanh nghiệp sẽ giảm theo, lúc này họ sẽ mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh

và nhu cầu về vốn cao hơn Do đó sẽ thúc đẩy tín dụng cho vay của các NHTMCP

từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của chúng Ngược lại khi Chính Phủ thực hiện CSTT thắt chặt, Chính Phủ sẽ điều chỉnh lãi suất chiết khấu tăng lên làm cho lãi suất thị trường cũng thây đổi theo chiều hướng tăng cao, đến lúc này các doanh

Trang 27

nghiệp sẽ thu hẹp quy mô sản suất kinh doanh do chi phí về vốn tăng cao từ đó ảnh xấu đến hoạt động tín dụng của các NHTMCP và làm lợi nhuận hay khả năng sinh lợi của chúng sẽ bị thay đổi

2.1.2.3 Mô hình định giá lãi suất bán lẻ

Rousseas (1985) đã thiết lập nên mô hình mà các NHTMCP định giá lãi suất bán lẻ của mình Mô hình này được thiết lập dựa vào khung lý thuyết mô hình thiết lập giá bán có cộng thêm phần lợi nhuận ( markup pricing ) Theo mô hình này thì các NHTMCP là những người quyết định về lãi suất trong hoạt động cho vay trên thị trường, họ thiết lập lãi suất bán lẻ bằng công thức cộng thêm lợi nhuận biên vào biến phí dựa vào phương trình: i = k(u)

Trong đó, i là khoản lãi suất cho vay, u là biến phí đơn vị, k là lợi nhuận biên cộng thêm theo biến phí (markup)

Biến phí chính của các NHTMCP là các thay đổi trong chi phí đầu vào, trong hoạt động cho vay của mình thì chi phí huy động vốn được xem như là chi phí có tỷ trọng lớn nhất, nó là chi phí sử dụng vốn của ngân hàng và nó là một biến kinh tế ngoại sinh Mặc khác lãi suất chính sách là do NHTW ban hành nên nó cũng là lãi suất nằm ngoài sự quyết định của NHTMCP Do vậy chi phí vốn sẽ có mối quan hệ với lãi suất do NHTW ban hành Khi NHTW thay đổi lãi suất thì chi phí vốn của các NHTMCP cũng bị thay đổi từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của chúng

2.1.2.4 Mô hình định giá lãi cận biên

Kế thừa mô hình định giá lãi suất bán lẻ của Rousseas (1985) , Ho và Saunders (1981) cho rằng mô hình định giá của Rousseas là đúng nhưng chưa đủ khi nghiên cứu của họ cho rằng lãi suất bán lẻ của NHTMCP ngoài phụ thuộc vào biến ngoại sinh còn phụ thuộc vào biến nội sinh, tức chúng được quyết định bởi những nhà điều hành của NHTMCP Mô hình định giá được thiết lập như sau:

Trang 28

ro trong quá trình kinh doanh của họ Cụ thể là lãi suất huy động (Interest rate deposit -IRD) sẽ bằng lãi suất thị trường trừ đi một khoảng lãi suất biên (a) và lãi suất cho vay (Interest rate loan - IRL) sẽ bằng lãi suất thị trường cộng với một khoảng lãi suất biên (b) Do đó ngoài lãi suất thị trường, tùy vào từng giai đoạn, từng tình hình cụ thể mà các nhà điều hành các ngân hàng có những quyết định tối

ưu hóa tham số a và b phù hợp để tối đa hóa khả năng sinh lợi dựa trên mối quan

hệ lợi nhuận và rủi ro

Như vậy theo mô hình định giá lãi cận biên của Ho và Saunders (1981) cho thấy rằng việc định giá lãi suất bán lẻ của NHTMCP để đem đến lợi nhuận cho ngân hàng nó phụ thuộc vào hai yếu tố: Thứ nhất là yếu tố ngoại sinh là những yếu bên thuộc bên ngoài, các yếu tố này là các yếu tố tạo thành chi phí vốn vay trong

đó có yếu tố về lãi suất chính sách do NHTW ban hành Thứ hai là yếu tối nội sinh

là những yếu tố do bản thân các nhà điều hành NHTMCP quyết định mức tỷ lệ lãi suất biên nhằm tăng khả năng sinh lợi của ngân hàng Qua đó một lần nữa mô hình này chỉ ra rằng lãi suất chính sách là một trong hai yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP

2.2 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.2.1 Các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của lãi suất chính sách đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại cổ phần

Có rất nhiều nghiên cứu trước nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Tuy nhiên các nghiên cứu này phần lớn là tìm hiểu về các yếu tố thuộc về đặc tính cơ bản của ngân hàng hoặc các yếu tố vĩ mô có ảnh

Trang 29

hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Trong đó những nghiên cứu về của lãi suất do NHTW ban hành tác động đến khả năng sinh lợi của NHTMCP còn khá là

ít Đề tài chỉ tổng hợp được một số nghiên cứu tiêu biểu như của Amaliawiati và cộng sự (2013), Udeh (2015) , Maigua và Mouni (2016), Altavilla và cộng sự (2017), Nguyễn Thanh Nhân và ctg (2017), Phạm Chí Quang và Nguyễn Hữu Tú (2018) , Zaman và cộng sự (2014) Punita và cộng sự (2006), Akomolafe và cộng sự (2015) Sau đây, tóm tắt một số nghiên cứu tiêu biểu nêu trên

Nghiên cứu của Amaliawiati và cộng sự (2013) tập trung vào mối quan hệ giữa tỷ lệ lãi suất cho NHTW ban hành (Bank Interest rate - BI), một trong những công cụ lãi suất của CSTT của NHTW Indonesia và khả năng sinh lợi của các NHTMCP (bằng cách cách sử dụng ROA và NIM) được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia từ năm 2005 đến năm 2012 Sử dụng phương pháp hồi quy

dữ liệu bảng, kết quả cho thấy rằng rằng lãi suất do NHTW ban hành (BI), tỷ lệ lãi suất cho vay (LOANRATE), hiệu quả quản lý (OCTOI), tỷ lệ cho vay (LDR) có tác động tiêu cực, cấu trúc vốn (CAR), tỷ lệ nợ xấu (NPL) tác động tích cực lên khả năng sinh lợi của NHTMCP

Udeh (2015) xem xét tác động của các CSTT đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Nigeria, số liệu lấy của ngân hàng Zenith Plc từ năm 2005 đến năm

2012, bằng phương pháp hồi quy dữ liệu chuổi thời gian với kiểm định t-test Kết quả cho thấy lãi suất chiết khấu do NHTW ban hành, Cấu trúc tài sản có tác động ngược chiều đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Zenith Plc

Nghiên cứu Maigua và Mouni (2016) nhằm điều tra ảnh hưởng của lãi suất chiết khấu của NHTW đến khả năng sinh lợi các NHTMCP ở Kenya thông qua mẫu nghiên cứu là 26 NHTMCP Thông qua kỹ thuật phân tích hồi quy nhiều biến với phương pháp GMM, kết quả cho thấy tỷ lệ lãi suất chiết khấu của NHTW,

tỷ lệ lạm phát và tỷ giá có ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP trong khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có ảnh hưởng tiêu cực Nghiên cứu kết luận rằng mức chiết khấu cao hơn, tỷ lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái dẫn đến hiệu

Trang 30

quả cao hơn trong các NHTMCP ở Kenya, mức tỷ lệ dự trữ bắt buộc cao hơn dẫn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng ở Kenya thấp hơn

Altavilla và cộng sự (2017) phân tích tác động của các CSTT đối với lợi nhuận của các NHTMCP thuộc khu vực đồng tiền euro (ECB) với dữ liệu được lấy

từ ECB Thông qua phương pháp Bayesian vector-autoregression (BVAR), kết quả cho thấy CSTT nới lỏng, khi NHTW giảm lãi suất chiết khấu trong ngắn hạn không ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng Tuy nhiên, trong dài hạn, lãi suất chiết khấu thấp có thể có một ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận

Nguyễn Thanh Nhân và cộng sự (2017) tập trung vào việc kiểm tra tác động của CSTT đối với lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam bằng cách sử dụng hồi quy dữ liệu bảng Dữ liệu trong nghiên cứu được thu thập từ 20 NHTMCP kinh doanh tại thị trường ngân hàng Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2014 Cơ sở tiền tệ (MB), lãi suất chiết khấu (DIS) và tỷ lệ dự trữ bắt buộc (RRR) được đại diện cho CSTT Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận của ngân hàng và CSTT Trong số các biến được lựa chọn đại diện cho CSTT của NHTW, chỉ có MB

có tác động tích cực đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng ở mức ý nghĩa 10%

Nghiên cứu của Phạm Chí Quang và Nguyễn Hữu Tú (2018) đã sử dụng hai mô hình ECM và VAR để kiểm định về tính liên thông về lãi suất ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, lãi suất chính sách có tác động cùng chiều với lãi suất thương mại (IRD và IRL ) của các NHTMCP ở Việt Nam giai đoạn giai đoạn từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2016 tính liên thông dài hạn hầu như không thay đổi so với những tác động ngắn hạn, xét về mức độ thì lãi suất chính sách tác động tới IRD mạnh hơn so với tác động tới IRL Trong khi đó IRD và IRL là những yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Ảnh hưởng của cú sốc lãi suất chính sách tới sản lượng trong nền kinh tế là không rõ ràng Ảnh hưởng của cú sốc lãi suất chính sách tới lạm phát (CPI) chủ yếu trong ngắn hạn (khoảng

11 tháng đầu), trong đó tác động thuận chiều trong khoảng 3-4 tháng đầu nhưng ngược chiều trong khoảng từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 11 sau đó Mặt khác, lãi suất chính sách phản ứng rõ ràng và thuận chiều với CPI trong khoảng 8 tháng đầu

Trang 31

Điều này hàm ý khi có cú sốc về lạm phát thì có thể có sự điều chỉnh tức thì các công cụ CSTT tương ứng Những kết quả phân tích thực chứng này phù hợp với cơ

sở lý thuyết và khá phù hợp với thực tiễn diễn ra tại Việt Nam Đây là những kết quả có ý nghĩa thống kê và có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô trong quá trình sử dụng, vận hành các công cụ lãi suất hướng tới các mục tiêu ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế

Zaman và cộng sự (2014) nghiên cứu sự tác động của lãi suất của NHTW Pakistan đến đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP, số liệu lấy từ báo cáo tài chính của 20 NHTMCP trong giai đoạn 2007-2011, bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Kết quả là lãi suất do NHTW ban hành (IR) có tác động ngược chiều với khả năng sinh lợi của NHTMCP, quy mô ngân hàng (SIZE) và có tác động cùng chiều đến chiều với khả năng sinh lợi của các NHTMCP được đo bằng ROA và ROE

Tác động của chính sách tiền tệ đối với khả năng sinh lợi của các NHTMCP ở Ấn Độ đã được Punita và cộng sự (2006) điều tra trong giai đoạn 1995

- 2000 Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Kết quả thu được là lãi suất chiết khấu do NHTW ban hành (BR), tỷ lệ dự trữ bắt buộc (CRR) và tỷ lệ thanh khoản bắt buộc (SLR) có ảnh hưởng đáng kể và tiêu cực đến lợi nhuận của các NHTMCP, trong khi đó tỷ lệ cho vay bắt buộc (LR) có tác động tích cực và đáng kể đến lợi nhuận của NHTMCP

Akomolafe và cộng sự (2015) nghiên cứu sự tác động của chính sách tiền

tệ đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Nigeria, số liệu lấy trong đoạn từ năm 2003 đến năm 2013 của các NHTMCP, bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Kết quả cho thấy chính sách tiền tệ mà đại diện bởi cung tiền (LMS) và lãi suất (INT) tác động tích cực đến khả năng sinh lợi của NHTMCP, ngược lại cấu trúc vốn (CAP) tác động tiêu cực

Qua đó, có thể thấy các nghiên cứu nước ngoài và trong nước đã bắt đầu chú ý đến mối qua hệ giữa lãi suất dưới ảnh hưởng của CSTT đối với khả năng sinh

Trang 32

lợi của các NHTMCP trong những năm gần đây và điều này cũng đã được ghi nhận trong các lý thuyết kinh tế từ trước

2.2.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố khác đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần

Một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng được chia thành hai nhóm: Nhóm các yếu tố khách quan và nhóm yếu tố chủ quan Nhóm yếu tố khách quan bao gồm các yếu tố thuộc

về môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến toàn bộ những ngân hàng trong hệ thống như chính sách tiền tệ, điều kiện kinh tế xã hội, quy định pháp lý có liên quan,…; Nhóm các yếu tố chủ quan liên quan đến nội tại trong ngân hàng cũng có tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Các nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố chủ quan điển hình gồm có quy mô ngân hàng, tỷ lệ dư nợ cho vay của ngân hàng (tức quy mô về vốn cho vay trên tiền gửi), hiệu quả quản lý chi phí (tức chi phí hoạt động trên tổng thu nhập) và cấu trúc vốn của ngân hàng Các nghiên cứu điển hình như sau:

Ben Naceur và Goaied (2003) đã quan sát tác động của các biến số cụ thể liên quan đến các NHTMCP của Tunisia bên cạnh các chỉ số kinh tế vĩ mô cùng với tác động của cấu trúc tài chính đối với lợi nhuận của các ngân hàng ở Tunisia

từ 1980-2000 Bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, họ kết luận rằng cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản có tác động tích cực và quy mô có tác động tiêu cực đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Tunisia

Trong khi đó, Mahmud và cộng sự (2016) khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của NHTMCP ở Bangladesh Với dữ liệu lấy của 15 NHTMCP từ năm 2003 đến năm 2013 bằng phương pháp PCSEs đã tìm ra quy mô tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ số nợ trên vốn có ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng sinh lợi và quy mô vốn có quan hệ tích cực với khả năng sinh lợi của các NHTMCP được nghiên cứu

Trang 33

Theo San và Heng (2012) khi nghiên cứu các yếu tố quyết định đến lợi nhuận của ngân hàng Malaysia từ năm 2003-2009 bằng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng Kết quả chỉ ra rằng chỉ số hiệu quả quản lý chi phí tác động tiêu cực đến lợi nhuận Trong khi đó quy mô ngân hàng lại tác động tích cực

Dawood (2014) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của 23 NHTMCP Pakistan giai đoạn 2009-2012 bằng phương pháp Pooled OLS Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả quản lý chi phí có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các NHTMCP Trong khi đó, tỷ lệ dư nợ cho vay, quy mô ngân hàng ảnh hưởng tích cực đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng

Lê Tấn Phước và Bùi Xuân Diễm (2016) nghiên cứu các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam Số liệu thu thập từ 20 NHTMCP giai đoạn từ 2007-2015 bằng phương pháp hồi quy đa biến sử dụng phần mềm Stata 12 Kết quả nghiên cứu cho thấy: GDP tác động nghịch chiều, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LOANi,t), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAPi,t) tác động cùng chiều với hiệu quả hoạt động Trong khi đó tỷ lệ lạm phát năm (CPIt)

Không có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu về đa dạng hóa thu nhập và các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam của Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) lấy số liệu thu thập từ 22 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007-2013 Áp dụng phương pháp ước lượng SGMM (System Generalized Method of Moments) cho dữ liệu bảng Kết quả cho thấy: Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản có tương quan thuận, tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hay hiệu quả quản lý của ngân hàng có tương quan nghịch đến khả năng sinh lợi của ngân hàng Nghiên cứu chưa tìm thấy sự ảnh hưởng của yếu tố quy mô đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng

Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà (2012) đã dựa vào khung phân tích CAMEL và bộ chỉ số lành mạnh tài chính Dữ liệu nghiên cứu lấy 5 NHTMCP

có tổng tài sản lớn nhất ở thời điểm cuối năm 2011 từ mỗi quốc gia trong 6 nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam Nghiên cứu cho thấy cấu trúc tài sản tác động cùng chiều, chất lượng quản trị chi phí, mức độ an toàn vốn, tỷ lệ dư nợ cho vay,

Trang 34

lãi suất thị trường có tác động ngược chiều với khả năng sinh lợi của NHTMCP Trong khi đó quy mô hoạt động lại chưa tìm thấy sự ảnh hưởng có ý nghĩa thống

Theo nghiên cứu của Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2016) về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của 28 NHTMCP tại Việt Nam từ năm 2002-2013, kết quả mô hình hồi quy cho thấy: Quy mô ngân hàng có tác động tích cực đến cả ROA và ROE Vốn ngân hàng, chi phí hoạt động

có tác động tích cực đến ROA, nhưng tiêu cực đến ROE Không có mối tương quan

rõ ràng giữa quy mô cho vay và khả năng sinh lợi của ngân hàng

Nhìn chung, các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu còn đang chú trọng vào các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của NHTMCP mà chưa thật sự tìm hiểu mối quan hệ của sự thay đổi của lãi suất chiết khấu , lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng Trong khi đó, đây thực

sự là vấn đề cần thiết để cả NHTW và các NHTMCP cần nghiên cứu để tối ưu hóa việc điều hành nền kinh tế thông qua CSTT Đề tài sẽ dựa vào các nghiên cứu thực nghiệm ở nước ngoài và tại Việt Nam để xem xét chọn lọc các biến thích hợp trong

bộ dữ liệu của đề tài Các nghiên cứu trước có liên quan được thống kê theo Bảng 2.1

Bảng 2.1: Thống kê các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến

khả năng sinh lợi của NHTMCP

Trang 35

Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà

Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà

ROA, ROE

Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành

Nguồn: Đề tài tự tổng hợp

Trang 36

2.2.3 Giả thuyết nghiên cứu

lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam Các lý thuyết đã được luận văn trình bày như lý thuyết Keynes về việc làm, lãi suất và tiền tệ (Keynes, 1936) và các nhà nghiên cứu

lý thuyết theo trường phái của ông như Bernanke (1986) hay Taylor (1995); Mô hình IS-LM của Mishkin (1996); Mô hình định giá lãi suất bán lẻ của Rousseas (1985); Mô hình định giá lãi cận biên của Ho và Saunders (1981) tất cả điều cho rằng quá trình truyền dẫn CSTT trong đó có lãi suất chính sách tác động đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Bên cạnh đó thì theo kết quả các nghiên cứu thực nghiệm ngoài nước như của Amaliawiati và Winarso (2013), Altavilla và công sự (2017), Maigua và Mouni (2016), Udeh (2015), Zaman và cộng sự (2014), Punita

và cộng sự (2006), Akomolafe và cộng sự (2015) thì lãi suất do NHTW ban hành

có những nghiên cứu cho kết quả tương quan ngược chiều có những nghiên cứu cho kết quả tương quan cùng chiều giữa lãi suất chính sách do NHTW ban hành đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Tuy nhiên theo các nghiên cứu trong nước như của Nguyễn Thành Nhân và cộng sự (2017), Phạm Chí Quang và Nguyễn Hữu Tú (2018) thì cho kết quả tương quan thuận giữa lãi suất chính sách

do NHTW ban hành đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam Do vậy dựa vào các lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước, đặc biệt là luận văn dựa vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam như của Nguyễn Thành Nhân và cộng

sự (2017), Phạm Chí Quang và Nguyễn Hữu Tú (2018) cho đúng với hoàn cảnh thực tế, luận văn đưa ra các giả thuyết nghiên cứu như sau:

• Giả thuyết H1: Có sự tác động cùng chiều của lãi suất chiết khấu đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

• Giả thuyết H2: Có sự tác động cùng chiều của lãi suất tái cấp vốn đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

• Giả thuyết H3: Có sự tác động cùng chiều của lãi suất cho vay qua đêm đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Việt Nam

Trang 37

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

3.1.1 Mô hình nghiên cứu

Kế thừa mô hình nghiên cứu thực nghiệm của Maigua và Mouni (2016)

về sự tác động của lãi suất chính sách do NHTW ban hành đến khả năng sinh lợi của NHTMCP Luận văn điều chỉnh các biến cho phù hợp với những đặt thù của NHTMCP của Việt Nam, mô hình nghiên cứu đề xuất như sau:

- Biến phụ thuộc ROAit là các biến đo lường khả năng sinh lợi của NHTM

i tại thời điểm t

- Các biến độc lập:

DIRt: Lãi suất chiết khấu của NHTW tại thời điểm năm t

CIRt: Lãi suất tái cấp vốn của NHTW tại thời điểm năm t

OVRt: Lãi suất cho vay qua đêm của NHTW tại thời điểm năm t

BANKSIZEit: Quy mô của NHTMCP i tại thời điểm năm t

LDit: Tỷ lệ dự nợ cho vay của NHTMCP i tại thời điểm năm t

CTIit: Hiệu quả quản lý của NHTMCP i tại thời điểm năm t

LOANit: Cấu trúc tài sản của NHTMCP i tại thời điểm năm t

Uit: sai số & các biến chưa nghiên cứu

Sai số ngẫu nhiên Uit đại diện cho tất cả những yếu tố không phải là biến giải thích nhưng cũng tác động đến biến phụ thuộc bao gồm:

Trang 38

Những yếu tố chưa biết, những yếu tố không có số liệu, những yếu tố không ảnh hưởng nhiều đến biến phụ thuộc, sai số của số liệu thống kê, sai lệch do chọn dạng hàm số, những yếu tố mà tác động của nó không mang tính hệ thống

Uit còn đại diện cho ảnh hưởng của các yếu tố độc lập khác, thực tế có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc nhưng ta không đưa vào mô hình ví dụ: cung tiền, …

3.1.2 Mô tả và đo lường các biến

• Biến lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA)

ROA là biến phụ thuộc, được đo lường bằng lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

Số liệu được lấy trên báo cáo tài chính của các NHTMCP Chỉ số này phản ảnh khả năng sinh lợi của NHTMCP Nhìn vào chỉ số ROA ta có thể biết được 1 đồng tài sản của NHTMCP sinh ra được bao nhiêu đồng lãi Chỉ số này càng cao cho biết đơn vị đang sử dụng tài sản của mình càng hiệu quả ROA được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi của NHTMCP như : Maigua và Mouni (2016), Zaman và cộng sự (2014), Amaliawiati và Winarso (2013), Mahmud và cộng sự (2016), Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2016)…

• Biến lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cho vay qua đêm

(DIR, CIR, OVR)

Các biến DIR, CIR, OVR là các biến độc lập chính , chúng do NHTW ban hành bằng các văn bản qua các thời kỳ Một khi NHTW có quyết định về mức lãi suất mới thì sẽ ban hành một văn bản mới thay thế cho văn bản cũ để áp dụng mức lãi suất mới theo chủ trương điều tiết nền kinh tế của Chính Phủ trong từng giai đoạn Do vậy trong một năm sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều văn bản được ban hành với các mức lãi suất khác nhau tương ứng với nhiều giai đoạn khác nhau trong năm Do đó để có mức lãi suất theo năm cho thống nhất với bộ dữ liệu nghiên cứu thì đề tài đã lấy số liệu theo lãi suất bình quân của năm đó

Trang 39

Mức lãi suất bình quân năm được tính như sau :

Mức lãi suất bình quân năm bằng {[(số ngày hiệu lực mức lãi suất giai đoạn 1) chia cho 365 ngày] nhân với mức lãi suất giai đoạn 1} cộng với {[(số ngày hiệu lực mức lãi suất giai đoạn 2) chia cho 365 ngày] nhân với mức lãi suất giai đoạn 2} cộng với… cộng với {[(số ngày hiệu lực mức lãi suất giai đoạn n) chia cho 365 ngày] nhân với mức lãi suất giai đoạn n}

Chẳng hạn mức lãi suất được tính trong năm 2017 có 2 giai đoạn:

- Mức lãi suất chiết khấu có hiệu lực giai đoạn 1 từ ngày 01/01/2017 đến 09/07/2017( theo Quyết định Số 496/QĐ-NHNN) là: 4.500%

- Mức lãi suất chiết khấu có hiệu lực giai đoạn 2 từ ngày 10/07/2017 đến

➢ Biến CIR được Phạm Chí Quang và Nguyễn Hữu Tú (2018) sử dụng làm biến độc lập khi nghiên cứu về khả năng sinh lợi của NHTMCP

➢ Biến CIR được hai nghiên là Amaliawiati và Winarso (2013), Altavilla và cộng sự (2017) sử dụng làm biến độc lập khi nghiên cứu về khả năng sinh lợi của NHTMCP

• Biến quy mô ngân hàng (BANKSIZE)

Biến BANKSIZE dùng để phản ánh tính lợi hoặc bất lợi thế theo quy mô ngân hàng trong nền kinh tế

Quy mô ngân hàng được đánh giá và đo lường bằng nhiều chỉ tiêu, tuy nhiên

đề tài này lấy chỉ tiêu là tổng tài sản trên báo cáo tài chính của các NHTMCP

Biến BANKSIZE được xác định bằng Logarit tự nhiên của tổng tài sản, lý

do là bởi vì đặc thù của NHTMCP có giá trị tài sản rất lớn nên đề tài lấy Logarit tự

Trang 40

nhiên của tổng tài sản để san bằng sự cách biệt về độ lớn so với các biến còn lại trước khi hồi quy dữ liệu

Biến này cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng làm biến độc lập khi nghiên cứu về khả năng sinh lợi của NHTMCP như : San và Heng (2012), Dawood (2014), Zaman và cộng sự (2014), Nguyễn Phạm Nhã Trúc và Nguyễn Phạm Thiên Thanh (2016)… Bên cạnh đó là các NHTMCP Việt Nam được đặt trong điều kiện có quy mô về tài sản khác nhau thậm chí là khoảng cách về giá trị rất lớn Do vậy việc thêm biến BANKSIZE vào nghiên cứu giúp mô hình có ý nghĩa hơn

Thông thường thì một chủ thể kinh doanh nói chung và NHTMCP nói riêng

có quy mô càng lớn thì càng có lợi thế trong việc kinh doanh, người ta gọi là lợi thế theo quy mô (economies of scale)

Do vậy luận văn dự kiến biến BANKSIZE sẽ có tương quan cùng chiều với biến ROA

• Biến tỷ lệ dư nợ cho vay (LD)

Biến LD phản ảnh tình hình sử dụng vốn huy động của ngân hàng trong việc cho vay như thế nào và từ đó có thể hình dung ra được khả năng sinh lợi của NHTMCP, suy ra cho cùng thì hoạt động chính của NHTMCP đó là huy động và sau đó cho vay Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn huy động tốt trong việc cho vay, do vậy có thể tạo ra thu nhập từ lãi

Biến LD được đo lường bằng dư nợ cho vay trên tiền gửi của khách hàng Biến này đã được nhiều nhà nghiên cứu như : Nguyễn Công Tâm và Nguyễn Minh Hà (2012), Amaliawiati và Winarso (2013) , Dawood (2014) sử dụng làm biến độc lập khi nghiên cứu về khả năng sinh lợi của NHTMCP Bên cạnh đó thực trạng hiện nay là khả năng huy động và cho vay giữa các NHTMCP là khác nhau

Do đó luận văn thêm biến LD vào để tăng mức độ giải thích của mô hình

Hoạt động kinh doanh chính của NHTMCP là huy động và cho vay, như vậy việc cho vay càng nhiều thì càng đem đến cho NHTMCP thu nhập từ hoạt động cho vay càng cao từ đó sẽ cải thiện được kết quả kinh doanh của NHTMCP

Ngày đăng: 14/09/2020, 16:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm