1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế việt nam

99 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn làm được điều đó, cần phải có những nghiên cứu định lượng về sự tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, làm nền tảng cơ sở khoa học cho các nhà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

HUỲNH NGỌC HOÀNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ CỦA

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

HUỲNH NGỌC HOÀNG

ẢNH HƯỞNG CỦA CÚ SỐC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ CỦA

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA

TP HỒ CHÍ MINH – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi theo sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa Các thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Huỳnh Ngọc Hoàng

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2

1.1 Vấn đề nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Phương pháp nghiên cứu 5

1.6 Ý nghĩa của đề tài 5

1.7 Kết cấu đề tài 6

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 8

2.1 Khuôn khổ New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ 8

2.2 Mô hình lý thuyết cơ sở Mundell Fleming trong phân tích nền kinh tế mở 12

2.2.1 Thị trường hàng hoá và đường IS 13

2.2.2 Thị trường tiền tệ và đường LM 16

2.2.3 Cán cân thanh toán và đường BP 20

2.2.4 Tác động của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở 22

2.3 Mô phỏng mô hình New Keynesian trong nền kinh tế nhỏ mở 25

2.3.1 Phương trình tổng cầu IS 25

2.3.2 Phương trình tổng cung AS 28

2.3.3 Phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa 29

2.3.4 Phương trình quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai 29

Trang 5

2.4 Tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ 30

2.4.1 Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ 30

2.4.2 Mối liên hệ giữa nguyên tắc chính sách tiền tệ với cơ chế truyền dẫn 34

2.5 Các nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ 35

2.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài 36

2.5.2 Các nghiên cứu cho trường hợp Việt Nam 41

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

3.1 Lý thuyết định lượng về giá trị kỳ vọng hợp lý 46

3.2 Định dạng SVAR liên kết với yếu tố kỳ vọng hợp lý 47

3.2.1 Mô hình New Keynesian cho một nền kinh tế đóng 47

3.2.2 Mô hình New Keynesian cho một nền kinh tế mở 49

3.3 Phương pháp hợp lý cực đại đầy đủ thông tin (FIML) 50

3.4 Lựa chọn biến và thu thập dữ liệu 51

3.5 Trật tự sắp xếp biến trong mô hình SVAR 53

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54

4.1 Kiểm tra tính dừng cho các chuỗi số liệu 54

4.2 Chọn độ trễ 55

4.3 Kết quả ước lượng dạng rút gọn VAR 57

4.4 Kiểm định phần dư của các phương trình trong mô hình VAR 58

4.4.1 Kiểm định tính tự tương quan 58

4.4.2 Kiểm định phân phối chuẩn 58

4.4.3 Kiểm định hiệu ứng ARCH 59

4.4.4 Kiểm định tính ổn định của mô hình VAR 60

4.5 Xác định các điều kiện giới hạn trong ước lượng SVAR 61

4.6 Các tham số ước lượng đồng thời 61

4.7 Hàm phản ứng xung (IRF) 64

4.7.1 Cú sốc chính sách tiền tệ 64

4.7.2 Cú sốc tỷ giá hối đoái 66

4.7.3 Cú sốc tổng cầu 67

Trang 6

4.7.4 Cú sốc tổng cung 68

4.8 Phân rã phương sai 69

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý 73

5.1 Kết luận chung 73

5.2 Hạn chế của đề tài và hàm ý chính sách 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADB Asian Development Bank

ARCH AutoRegressive Conditional Heteroskedasticity

BASVAR Bayesian Structural Vector Autoregressive model

CPI Consumer Price Index

CSTT Chính sách tiền tệ

DSGE Dynamic Stochastic General Equilibrium

FED Federal Reserve System

FIML Full information maximum likelihood

GARCH Generalized AutoRegressive Conditional Heteroskedasticity GDP Gross Domestic Product

GSO General Statistics Office Of Vietnam

IMF International Monetary Fund

IRF Impulse Response Function

NHTW Ngân hàng trung ương

RBC Real Business-Cycle Theory

SVAR Structural Vector Autoregressive model

TPP Trans-Pacific Partnership

VAR Vector Autoregressive model

VECM Vetor Error Correction model

WTO World Trade Organization

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Danh sách biến trong mô hình và nguồn thu thập dữ liệu 52

Bảng 3.2: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình 53

Bảng 4.1: Tổng hợp kết quả kiểm định nghiệm đơn vị cho các chuỗi số liệu 55

Bảng 4.2: Tổng hợp các tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ biến ngoại sinh 56

Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả các phép kiểm định phần dư 60

Bảng 4.4: Kết quả ước lượng tham số cấu trúc sâu trong mô hình SVAR 61

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả ước lượng tham số cấu trúc sâu trong các mô hình so sánh 62

Bảng 4.6: Kết quả phân rã phương sai của mô hình SVAR 71

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Đường IS phản ánh thị trường hàng hoá cân bằng 13

Hình 2.2: Sự hình thành và dịch chuyển đường IS 15

Hình 2.3: Đường LM phản ánh thị trường tiền tệ cân bằng 17

Hình 2.4: Sự hình thành và dịch chuyển đường LM 19

Hình 2.5: Đường BP phản ánh cán cân thanh toán cân bằng 20

Hình 2.6: Sự hình thành và dịch chuyển đường BP 22

Hình 2.7: Áp dụng CSTT mở rộng, đường LM dịch chuyển sang phải, lãi suất trong nước giảm 22

Hình 2.8: Khi vốn chuyển ra nước ngoài tăng, tỷ giá có xu hướng tăng lên 23

Hình 2.9: Trong cơ chế tỷ giá cố định, CSTT có tác dụng mạnh 23

Hình 2.10: Trong cơ chế tỷ giá cố định, CSTT không có tác dụng 24

Hình 2.11: Để duy trì tỷ giá cố định thấp hơn tỷ giá cân bằng, NHTW phải bán ngoại tệ ra 24

Hình 2.12: Mối liên hệ giữa nguyên tắc chính sách và cơ chế truyền dẫn 35

Hình 4.1: Kiểm định nghiệm đơn vị cho chuỗi tỷ giá hối đoái 54

Hình 4.2: Kiểm định nghiệm đơn vị cho chuỗi tỷ giá đã lấy sai phân bậc 1 54

Hình 4.3: Tổng hợp các tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ biến nội sinh trong mô hình 55

Hình 4.4: Kết quả kiểm định LM Test cho phần dư của phương trình AS 56

Hình 4.5: Kết quả kiểm định LM Test cho phần dư của phương trình IS 58

Hình 4.6: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn cho phần dư của phương trình IS 58

Hình 4.7: Kết quả kiểm định hiệu ứng ARCH cho phần dư của phương trình IS 59

Hình 4.8: Kết quả kiểm định tính ổn định của mô hình VAR 60

Hình 4.9: Sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước cú sốc chính sách tiền tệ 64

Hình 4.10: Sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước cú sốc tỷ giá 66

Hình 4.11: Sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước cú sốc tổng cầu 67

Hình 4.12: Sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước cú sốc tổng cung 68

Trang 10

TÓM TẮT

Ở mọi quốc gia, chính sách tiền tệ luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá như hiện nay, chính sách tiền tệ cần được sử dụng một cách linh hoạt, hiệu quả để nền kinh tế trong nước

có thể thích ứng kịp thời trước những biến động trên thế giới Muốn làm được điều

đó, cần phải có những nghiên cứu định lượng về sự tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, làm nền tảng cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định, điều hành chính sách trong việc đưa ra các quyết định Trong bài nghiên cứu này, tác giả áp dụng mô hình New Keynesian trong việc phân tích chính sách tiền

tệ ở nền kinh tế nhỏ mở Việt Nam, với sự hiện diện của yếu tố kỳ vọng Mô hình được áp dụng cho dữ liệu theo quý, từ quý 1 năm 1998 đến quý 4 năm 2015 Phát hiện chính của đề tài là tìm thấy bằng chứng cho thấy chính sách tiền tệ của Việt Nam hướng tới mục tiêu ổn định sản lượng với mức ý nghĩa thống kê cao, tuy nhiên chưa hướng tới lạm phát mục tiêu mà chỉ mới dừng ở việc ứng phó lạm phát Trước một

cú sốc thắt chặt tiền tệ, lỗ hổng sản lượng và lạm phát ngay lập tức giảm mạnh với mức ý nghĩa 5% Bên cạnh đó, đề tài cũng minh chứng cho vai trò của lạm phát kỳ vọng trong hành vi điều chỉnh giá cả của các doanh nghiệp thông qua hệ số ước lượng

có ý nghĩa thống kê trong phương trình Phillips của mô hình New Keynesian Như vậy, yếu tố kỳ vọng thật sự có ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam và việc đưa yếu

tố kỳ vọng vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm là cần thiết

Từ khoá: chính sách tiền tệ, mô hình New Keynesian, lỗ hổng sản lượng, lạm phát,

tỷ giá hối đoái, lãi suất, kỳ vọng hợp lý

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Vấn đề nghiên cứu

Với đặc tính linh hoạt và khả năng ảnh hưởng sâu rộng đến tổng thể nền kinh

tế, chính sách tiền tệ được xem là một công cụ có vai trò quan trọng hàng đầu trong

hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô Trong khi chính sách tài khóa bộc lộ những hạn chế trong việc ổn định nền kinh tế bởi tính không kịp thời trong việc thực thi chính sách và vấn đề thâm hụt ngân sách, thì chính sách tiền tệ đã khẳng định được vị trí của mình trong việc điều tiết vĩ mô, đưa nền kinh tế vượt qua những cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu, thúc đẩy tăng trưởng bền vững với mức lạm phát vừa phải Bởi lẽ

đó, mà việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ luôn tạo sức hấp dẫn đặc biệt cho các nhà nghiên cứu học thuật trên toàn thế giới

Năm 1995, Việt Nam tham gia vào cộng đồng Asean; năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và mới đây nhất trong những ngày cuối năm 2015, Việt Nam gia nhập Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương – TPP Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và khó lường, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và gặp nhiều trở ngại, công tác điều hành chính sách tiền tệ trong những năm tới chắc chắn sẽ tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức Để điều tiết thành công nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ, các nhà hoạch định chính sách cần phải nhận biết được cách thức mà chính sách tiền tệ tác động tới nền kinh tế; hay ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố kinh tế vĩ mô

Xuất phát từ sự cần thiết kể trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước các cú sốc chính sách tiền tệ, thông qua việc mô hình hóa chính sách tiền tệ tại Việt Nam theo hướng tiếp cận SVAR, dựa vào mô hình nền kinh

tế nhỏ mở của trường phái New Keynes Từ đây tạo được nền tảng khoa học cho một

số vấn đề chính trong điều hành chính sách tiền tệ như: Đâu là ảnh hưởng thực sự của chính sách tiền tệ? Cơ chế truyền dẫn từ những mục tiêu chính sách đến các biến số thực của nền kinh tế là gì? Bên cạnh đó, đề tài cũng xem xét sự phản ứng của các yếu

tố vĩ mô trước các cú sốc khác, đó là cú sốc trong tổng cầu, tổng cung và tỷ giá; để

Trang 12

xác định xem cú sốc nào có tác động mạnh đến các yếu tố vĩ mô Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần nâng cao tính hiệu quả cho các quyết định chính sách được đưa ra

Trong khi hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, thường chỉ phân tích chính sách tiền tệ trong mối quan hệ tương tác giữa các biến số vĩ mô

mà không xem xét tới vai trò của nền tảng vi mô; đề tài đặt chính sách tiền tệ trong một mô hình thu nhỏ của nền kinh tế, nơi các chủ thể có khả năng tác động đến tình hình nền kinh tế thông qua sự kỳ vọng hợp lý của mình; từ đó tác giả tìm ra cơ chế truyền dẫn, cũng như mức độ ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô trong mối quan hệ tổng thể Điều này khá hợp lý cho trường hợp ở Việt Nam, khi mà yếu tố kỳ vọng đóng một vai trò không nhỏ trong việc chuyển hướng các mục tiêu chính sách ban đầu Cách thức nghiên cứu này nhằm hướng tới ước lượng các tham

số cấu trúc sâu, các tham số không đổi trước sự biến đổi trong chính sách, mang lại những phân tích hiệu quả trong môi trường chính sách mới

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài hướng tới các mục tiêu:

 Tìm hiểu về cách phản ứng, mức độ phản ứng và thời gian phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước các cú sốc trong chính sách tiền tệ, cùng với các cú sốc khác trong nền kinh tế

 Lượng hóa mức độ ảnh hưởng, tầm quan trọng theo thời gian của mỗi cú sốc đối với sự biến động trong các yếu tố vĩ mô; cụ thể theo thời gian sản lượng, lạm phát, tỷ giá và lãi suất chịu ảnh hưởng bởi cú sốc nào là chủ yếu

 Tìm hiểu xem có hay không sự ảnh hưởng của yếu tố kỳ vọng lên hành vi của các chủ thể kinh tế, đồng thời kiểm định về hiệu lực điều tiết vĩ mô của công

cụ chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam

Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài xây dựng một mô hình nền kinh tế nhỏ

mở của trường phái New Keynes theo cách tiếp cận SVAR, mô hình thể hiện sự tương tác giữa các cú sốc cấu trúc cùng với hành vi kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh

tế Căn cứ vào mô hình SVAR ước lượng được, đề tài trả lời các câu hỏi:

Trang 13

 Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong chính sách tiền tệ ?

 Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong tỷ giá ?

 Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong tổng cầu ?

 Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong tổng cung ?

 Trong các cú sốc: chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, tổng cầu và tổng cung, cú sốc nào giữ vai trò chủ đạo trong việc giải thích cho sự biến động trong các yếu

tố vĩ mô (bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất) ?

 Hệ số ước lượng của yếu tố kỳ vọng trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa thống

kê hay không?

Câu trả lời cho những câu hỏi kể trên sẽ là cơ sở cho tác giả đưa ra các hàm ý chính sách

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô, bên cạnh các cú sốc khác trong tổng cầu, tổng cung và tỷ giá, trên nền tảng các chủ thể trong nền kinh tế có kỳ vọng hợp lý và hướng về tương lai

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài thực hiện nghiên cứu cho trường hợp nền kinh tế Việt Nam, giai đoạn

từ 1998Q1 đến 2015Q4 Các chuỗi số liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm: lỗ hổng sản lượng (Sản lượng tiềm năng được tính bằng phương pháp lọc HP), tỷ giá hối đoái VND/USD, CPI của Việt Nam, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng của Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ, lãi suất quỹ liên bang Mỹ Dữ liệu được thu thập

từ các nguồn: Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF-IFS), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB), Tổng Cục Thống Kê (GSO), Hội Đồng Thống Đốc Cục Dự Trữ Liên Bang

Mỹ (FED)

Trang 14

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài chọn mô hình nền kinh tế mở của trường phái New Keynes với hướng tiếp cận SVAR, đây là một mô hình nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật trong thời gian gần đây, bởi nó nhấn mạnh tới hành vi tối ưu hóa của các chủ thể kinh tế, cùng với đó là sự kết hợp của hiện tượng giá cả cứng nhắc Các mối quan hệ tổng hợp được sử dụng trong kết cấu của mô hình SVAR phát sinh từ

mô hình cân bằng tổng thể động, nơi mà ngân hàng trung ương và các chủ thể kinh

tế tư nhân được giả định là thực hiện hành vi hợp lý và có kỳ vọng hướng về tương lai Mô hình cấu trúc bao gồm: một phương trình tổng cầu (IS) dựa trên hành vi tối

ưu hóa hữu dụng của các chủ thể, một phương trình tổng cung (AS) hay đường cong Phillips theo trường phái New Keynes dựa trên mô hình giá cả của Calvo (1983), một phương trình thể hiện sự cân bằng lãi suất không phòng ngừa và một phương trình thể hiện chính sách tiền tệ thực hiện theo nguyên tắc hướng về tương lai

Tác giả thiết lập một mô hình SVAR bằng cách gắn kết cấu trúc đồng thời theo

mô hình của trường phái New Keynes với tính động ngắn hạn không bị giới hạn Ngân hàng trung ương và các chủ thể tư nhân được giả định là có nguồn thông tin như nhau trong khuôn mẫu hình thành nên kỳ vọng tương lai Để xác định mô hình SVAR dưới điều kiện kỳ vọng hợp lý, tác giả ước lượng tham số cấu trúc sâu theo phương pháp mà Keating (1990) đề xuất

Dựa vào kết quả ước lượng tham số cấu trúc đạt được, nhằm đo lường mức độ

và thời gian phản ứng của các biến số trước các cú sốc thay đổi chính sách tiền tệ cũng như tầm quan trọng của từng cú sốc đến biến động của một biến trong mô hình, tác giả sử dụng 2 hàm chức năng chính, là hàm phản ứng đẩy và chức năng phân rã phương sai trong việc phân tích

1.6 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ đến nền kinh tế - một chủ đề không mới nhưng luôn được quan tâm và không ngừng được khai thác, theo một phương pháp chưa phổ biến đối với trường hợp Việt Nam Bằng việc mô hình

Trang 15

hóa nền kinh tế nhỏ mở dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học rõ ràng, đề tài có những phân tích kỹ lưỡng về cách thức tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh

tế trong mối tương quan giữa các yếu tố vĩ mô bên cạnh hành vi kỳ vọng của các chủ thể kinh tế Đề tài góp phần làm đa dạng thêm các nghiên cứu về chính sách tiền tệ cho nền kinh tế Việt Nam; qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở cho việc lựa chọn chính sách tiền tệ phù hợp trong từng giai đoạn; giúp các nhà đầu

tư có những quyết định đúng đắn trước những thay đổi trong chính sách

Mục tiêu của chính sách tiền tệ là điều tiết các yếu tố vĩ mô như việc làm, lạm phát và sản lượng của nền kinh tế Trong khi các công cụ chính sách tiền tệ chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến các yếu tố vĩ mô, thì chúng lại có tác động trực tiếp và ngay lập tức tới thị trường tài chính Từ góc nhìn của nhà hoạch định chính sách, kết quả nghiên cứu của đề tài mang đến sự hiểu biết về mối quan hệ năng động giữa chính sách tiền tệ và thị trường tài chính, mà dựa vào đó các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những chính sách tiền tệ làm ảnh hưởng lên thị trường tài chính để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mình Ngoài ra, từ góc nhìn của nhà đầu tư, kết quả định lượng của đề tài là cơ sở khoa học, giúp cho các nhà đầu tư gia tăng khả năng dự đoán thành công các hệ quả mà chính sách tiền tệ sẽ tác động đến nền kinh

tế, qua đó giúp họ thực hiện được các giao dịch có lợi nhuận cao

1.7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần danh mục các hình và bảng biểu, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 5 chương:

 Chương 1: Giới thiệu đề tài

Vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu đề tài

 Chương 2: Tổng quan khuôn khổ lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trình bày nội dung chính của các mô hình lý thuyết kinh tế học chuẩn tắc liên quan tới chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở, cùng với giới thiệu tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ Bên cạnh đó, tóm lượt các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước cho chủ để chính sách tiền tệ

Trang 16

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu

Trình bày phương pháp định lượng và dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu

 Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày kết quả tham số ước lượng cho mô hình nghiên cứu, kết quả hàm phản ứng xung cho từng cú sốc và phân rã phương sai

 Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

Từ kết quả đã trình bày ở chương 4, chương 5 đưa ra kết luận và những nhận xét về các kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách, đồng thời nêu lên hạn chế của đề tài

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ CÁC

NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khuôn khổ New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ

Cách tiếp cận New Keyensian trong phân tích chính sách tiền tệ nổi lên trong những năm gần đây như một công cụ kinh tế lượng có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất

Nó cung cấp cho nhà nghiên cứu một khuôn khổ kết hợp giữa lý thuyết chu kỳ kinh

tế (RBC) với các thành phần của trường phái Keynes như thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và tính cứng nhắc trong giá cả danh nghĩa Khuôn khổ này cũng trở thành một nền tảng cho các phát triển mới trong việc mô hình hóa nền kinh tế tại các ngân hàng trung ương, và được sử dụng ngày càng nhiều cho mục đích ước lượng, cũng như dự báo

Trong các mô hình của trường phái New Keynes, những nội dung về thất bại thị trường và tính không linh hoạt của giá cả thuộc về trường phái Keynes, cùng với giả thuyết tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cũng như tính đề cao chính sách tiền tệ thuộc trường phái trọng tiền, khái niệm kỳ vọng hợp lý, tất cả được kết hợp lại tạo nên một khuôn khổ lý thuyết có nền tảng vi mô từ các mô hình chu kỳ kinh tế (RBC) Các nhà nghiên cứu sử dụng các mô hình New Keynesian trong việc việc phát triển các mô hình tiên tiến và đa dạng hơn, mà trong đó sự thất bại của thị trường được phát sinh bởi các cá nhân khi họ tìm cách tối đa hóa hữu dụng của mình (Chứ không đơn thuần

là giả thuyết liên quan tới hành vi) với mục tiêu là đạt được những hiểu biết cần thiết

để cải thiện sự bất hoàn hảo của thị trường và một phần thất bại thị trường trong chu

kỳ kinh doanh

Một cách khái quát, các mô hình New Keynesian hướng tới xác định sâu rộng nền tảng kinh tế vi mô, thay vì chấp nhận chúng và chỉ xem xét các vấn đề vĩ mô như các mô hình Keynesian trước đó Theo Rotheim (1998), mô hình của trường phái New Keynes tập trung vào sự phản ứng của các chủ thể kinh tế trước những thay đổi trong các biến số danh nghĩa quan sát được từ sản lượng, thị trường vốn và thị trường lao động, chẳng hạn như sự dao động nguồn lực trong sản lượng và việc làm Một khía cạnh quan trọng trong các mô hình New Keynesian là khái niệm tính cứng nhắc

Trang 18

của giá cả và tiền lương, theo Roberts (1995), “Giá cả cứng nhắc là một phần quan trọng của các mô hình tiền tệ theo chu kỳ kinh doanh Những năm gần đây, một sự đồng thuận trong giới nghiên cứu được hình thành xung quanh nền tảng vi mô của các mô hình về giá cả cứng nhắc, và sự đồng thuận này là một phần quan trọng trong nền kinh tế theo trường phái New Keynes” Để lý giải cho vấn đề giá cả cứng nhắc, trường phái New Keynes đã ứng dụng những thành tựu mới nhất trong kinh tế vĩ mô như lý thuyết về thị trường không hoàn hảo, thông tin không hoàn hảo hoặc những đặc điểm thể chế trên thị trường lao động như ảnh hưởng của nghiệp đoàn Trường phái New Keynes hiện nay đưa ra ba lý luận chính bao gồm: hợp đồng dài hạn, tiền công hiệu suất và chi phí thực đơn

 Lý luận về hợp đồng lao động dài hạn: Giả thuyết này cho rằng để giữ lao động làm việc cho mình lâu dài, giới chủ thường ký những hợp đồng làm việc dài hạn Chính vì vậy mà lương theo hợp đồng không thể có sự điều chỉnh đột ngột Trong trường hợp có thay đổi hợp đồng, vì không thể tất cả các doanh nghiệp và các ngành trong nền kinh tế cùng thay đổi hợp đồng vào cùng một thời điểm, nên chỉ có một bộ phận lao động là được thay đổi tiền công Xét bình quân toàn nền kinh tế, thì tiền công vẫn không đổi

 Lý luận về tiền công hiệu suất: Để khuyến khích lao động nhiệt tình và giữ lao động lành nghề, ngay cả trong thời điểm thất nghiệp phát sinh, giới chủ vẫn

có thể không cắt giảm tiền công Khi mà tiền công không bị cắt giảm (cũng có nghĩa là giá cả lao động không hạ xuống), thì thất nghiệp (dư cung lao động) vẫn không được giải quyết, thị trường lao động vẫn mất cân bằng

 Lý luận về chi phí thực đơn: Vì thị trường có tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, nên dù thị trường có biến động thì xí nghiệp chưa chắc đã thay đổi giá bán của mình Lý do là chi phí để điều chỉnh thông báo về giá bán (giống như chi phí in lại thực đơn) có thể cao hơn lợi ích mà xí nghiệp thu được do điều chỉnh giá

Hiện nay, các mô hình New Keynesian ngày càng đa dạng để phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau, và trong đề tài “Ảnh hưởng của cú sốc chính

Trang 19

sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam”, tác giả sẽ sử dụng một

mô hình New Keynesian đơn giản Mô hình này giả định nền kinh tế gồm có 3 thành phần: hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ (ngân hàng trung ương) Các thành phần kinh tế luôn tối đa hóa hàm mục tiêu của họ đi kèm với một số ràng buộc Mô hình cũng giả định hàng hóa khác biệt và cạnh tranh độc quyền, cho phép các doanh nghiệp định giá Một giả định xa hơn là việc điều chỉnh tính cứng nhắc của giá cả - chỉ có một tỷ lệ công ty nhất định có thể điều chỉnh giá theo từng thời kỳ, điều này làm cho chính sách tiền tệ sẽ không còn mang tính trung lập nữa Mô hình bao gồm

ba phương trình cho trường hợp nền kinh tế đóng, gồm đường cong IS xác định sản lượng; đường cong Phillips xác định lạm phát; và quy tắc lãi suất xác định hành vi của chính sách tiền tệ Trong trường hợp nền kinh tế mở, mô hình có thêm phương trình thể hiện tỷ giá đồng nội tệ theo quy tắc cân bằng lãi suất không phòng ngừa

Mô hình New Keynesian nói chung có lý thuyết dễ dàng ứng dụng trong công việc nghiên cứu, tương ứng cấu trúc trong mô hình truyền thống IS/LM nhưng được bắt đầu xác định từ kinh tế vi mô với các yếu tố đại diện được tối ưu hóa Để tránh được những phê bình của Lucas – sự kỳ vọng là hợp lý và thay đổi theo những thay đổi trong chính sách Hơn nữa, mô hình này tập trung trên chính sách lãi suất, điều này thì ngược với truyền thống thường tập trung vào những thay đổi trong tiền tệ cơ

sở Điều này phù hợp với thực tế hiện nay, bởi vì những nhà làm chính sách của ngân hàng trung ương tập trung chủ yếu vào sự thay đổi của lãi suất danh nghĩa mục tiêu liên ngân hàng qua đêm, và từ bỏ việc vận dụng tiền cơ sở tác động đến các chuyên gia giao dịch để đạt được những mục tiêu đó Chính sách tiền tệ trong mô hình này tác động đến sản lượng trực tiếp thông qua lãi suất thực và tác động gián tiếp đến lạm phát thông quan sản lượng

Được xây dựng dựa trên một nền tảng lý thuyết rõ ràng, không chỉ kế thừa lý luận truyền thống mà còn xem xét cả những hiện tượng thực tế trên thị trường, mô hình New Keynesian đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phân tích chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Có thể kể đến những nghiên cứu tiêu biểu như:

Trang 20

Gali và Monacelli (2005) thiết lập một mô hình tối ưu cho nền kinh tế nhỏ mở

với giá cả có tính cứng nhắc (theo Calvo), và thể hiện cách thức để các quan hệ tổng thể động có thể được đơn giản hóa trong việc biểu diễn lạm phát nội địa, cũng như lỗ hổng sản lượng Các nhà nghiên cứu lần lượt sử dụng mô hình thiết lập được vào phân tích các tác động vĩ mô trong ba chế độ chính sách cho nền kinh tế nhỏ mở: chế

độ thứ nhất có lạm phát nội địa dựa trên quy tắc Taylor, chế độ thứ hai có CPI dựa trên quy tắc Taylor và chế độ thứ ba có tỷ giá thả nổi có kiểm soát Nghiên cứu cho thấy điểm khác biệt chính giữa ba chế độ này nằm ở mức độ biến động tỷ giá hối đoái

mà chúng đòi hỏi Nghiên cứu cũng thảo luận về một trường hợp đặc biệt, trong đó lạm phát mục tiêu hình thành nên chính sách tối ưu, nơi mà việc ước lượng xấp xỉ mức hữu dụng của người tiêu dùng có thể thực hiện và được sử dụng trong đo lường tổn thất phúc lợi liên quan tới các quy tắc tối ưu hóa

Soderstrom và các đồng sự (2005) cho rằng các nhà nghiên cứu thường sử

dụng mô hình hiệu chỉnh bởi vì các giải pháp phân tích thường không có sẵn mô hình, nên cho dù số liệu là phù hợp thì cũng chưa chắc mô hình đó phù hợp để phân tích chính sách Do đó, mục đích của bài viết là kiểm tra xem mô hình New Keynesian có thể được hiệu chỉnh để phù hợp với các đặc thù của dữ liệu Mỹ Nhà nghiên cứu xem xét các quyết định của ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến các đặc tính thời gian của lạm phát và lỗ hổng sản lượng như thế nào và cũng hiệu chỉnh mô hình để phù hợp với một số sự kiện biến động lớn trong nền kinh tế Mỹ Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng quy tắc Taylor thật sự có một số lỗi trong ước tính và mô hình hiệu chỉnh theo Keynes cho ra kết quả hợp lý hơn với hành vi vi mô của các công ty thật sự có tác động đến chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu tương lai

Blanchard và Gali (2010) xây dựng một mô hình hữu ích dựa trên biến động

giá danh nghĩa và thất nghiệp với những rào cản thị trường lao động, tiền lương thực

tế cứng nhắc để giải thích biến động tỷ lệ thất nghiệp, những tác động của các cú sốc năng suất đến nền kinh tế, và vai trò của chính sách tiền tệ trong việc hình thành những hiệu ứng Kết quả cho thấy rằng, khi có sự hiện diên của giá cả cứng nhắc được thiết lập bởi các doanh nghiệp, ngân hàng trung ương phải đối mặt với việc cân

Trang 21

bằng giữa lạm phát và ổn định tình trạng thất nghiệp Lạm phát và thất nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của thị trường lao động Điều này cho ngụ ý, tùy theo đặc điểm thị trường, ổn định lạm phát có thể không phải là chính sách tiền tệ tốt nhất Ổn định lạm phát nghiêm ngặt có thể dẫn đến biến động không thuận lợi và liên tục của tỷ lệ thất nghiệp trong phản ứng với những cú sốc năng suất

Hossein và Yazdan (2012) cho rằng thói quen tiêu dùng đã được sử dụng trong

việc hình thành nên hình dạng cái bướu của đường sản lượng phản ứng trước các cú sốc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế có giá cả cứng nhắc của trường phái New Keynes, thế nhưng lại có rất ít phân tích về sự tác động của thói quen (được xem xét như một yếu tố độc lập) lên chính sách tối ưu Vậy nên trong nghiên cứu của mình, Hossein và Yazdan cân nhắc tới sự ảnh hưởng của thói quen bên ngoài lên chính sách tiền tệ tối ưu, khi mà các thói quen này tồn tại ở mức độ giỏ hàng hóa tổng thể hoặc

ở mức độ các hàng hóa đơn lẻ Nghiên cứu cho thấy những thói quen bên ngoài làm gia tăng thêm sự méo mó trong nền kinh tế, điều này ngụ ý sự cân bằng giá cả linh hoạt sẽ không còn hiệu quả nữa và chính sách đó phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa các yếu tố trong nền kinh tế, cũng như những lệch lạc tiềm năng Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi tăng giá nội sinh, nổi bật khi yếu tố thói quen tồn tại sâu rộng trong tiêu dùng, cũng ảnh hưởng có ý nghĩa đến phản ứng của chính sách tối ưu trước những cú sốc, cũng như ảnh hướng đáng kể tới tính ổn định của các quy tắc đơn giản chuẩn Các nhà nghiên cứu đã thảo luận hàng loạt các bài học liên quan tới việc thiết kế và thực hiện chính sách tiền tệ mà chúng đã xuất hiện công trình nghiên cứu của trường phái New Keynes Những bài học này bao gồm lợi ích của giá

cả ổn định, lợi ích về cam kết chính sách trong tương lai, tầm quan trọng của các biến

tự nhiên như các tiêu chuẩn cho chính sách, và lợi ích của việc thiết lập một trường phái chống lạm phát đáng tin cậy

2.2 Mô hình lý thuyết cơ sở Mundell Fleming trong phân tích nền kinh tế mở

Mô hình lý thuyết cơ sở tiêu biểu trong phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tổng thể nền kinh tế là mô hình Mundell Fleming, do 2 nhà kinh tế học là Robert Mundell và John Marcus Fleming thiết lập, dựa trên các lý luận của trường

Trang 22

phái Keynes truyền thống Mô hình kinh tế vĩ mô này sử dụng 3 đường IS, LM và BP

để phân tích tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện trong một nền kinh tế mở cửa Dù rằng mô hình lý thuyết Mundell Fleming ra đời cách nay đã nhiều năm, và có không ít lý thuyết mới ra đời sau đó, nhưng mô hình này vẫn giữ được vai trò quan trọng trong nghiên cứu chính sách Dựa trên mô hình Mundell Fleming, nhiều mô hình định lượng đã được xây dựng để đo lường mức độ tác động của chính sách, cũng như kiểm chứng chiều hướng tác động của chính sách trong thực tế so với

lý thuyết Vì vậy, trước khi đi vào mô hình New Keynesian được sử dụng trong đề tài, tác giả sẽ trình bày những nội dung chính của mô hình Mundell Fleming về sự tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế mở, làm nền tảng lý thuyết cho các phân tích định lượng của đề tài

2.2.1 Thị trường hàng hoá và đường IS

Trang 23

Với y là tổng thu nhập quốc gia, C là chi tiêu hộ gia đình, I là đầu tư, G là chi tiêu chính phủ ròng và B là xuất khẩu ròng trong tài khoản vãng lai của cán cân thương mại (B = Xuất khấu – Nhập khẩu)

Thị trường hàng hoá chỉ cân bằng khi sản lượng cung ứng (AS) đúng bằng tổng cầu dự kiến (AD) của nền kinh tế:

AS = AD

⇔ y = C + I + G + B

⇔ Tiết kiệm − I − B = G (2.1) Biểu thức trên được viết lại dưới dạng:

b y + z r − h Q = G0 (2.2) Với y là sản lượng, r là lãi suất, Q là tỷ giá hối đoái thực, G0 là chi tiêu chính phủ b,

z, h là các tham số hành vi, hệ số ước lượng chưa biết trong phương trình, tất cả có giá trị dương Thứ nhất, vế trái của phương trình (2.2) thể hiện sự phụ thuộc của yếu

tố tiết kiệm và yếu tố nhập khẩu vào mức độ hoạt động của nền kinh tế; thứ hai, đó

là mối quan hệ thuận chiều giữa lãi suất và giá trị ròng giữa tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư nhân; và thứ ba, vế trái phương trình (2.2) cho thấy tài khoản vãng lai là một hàm của tỷ giá hối đoái thực Còn vế phải của phương trình là một biến ngoại sinh đại diện cho chính sách, biến G được cố định ở mức G0

Phương trình (2.2) biểu diễn trạng thái cân bằng trong thị trường hàng hoá Nói cách khác, nó thể hiện mối quan hệ cần được duy trì giữa ba biến, y, r và Q, để không có tình trạng cầu hàng hoá, dịch vụ vượt quá mức

Để việc phân tích được đơn giản, biến Q được gắn một giá trị cố định Q0, tức một mức tỷ giá cho trước; phương trình (2.2) được viết lại như sau:

b y + z r = G0+ h Q0 (2.3)

Dễ dàng nhận thấy có rất nhiều sự kết hợp khả thi giữa y và r thoả mãn phương trình (2.3) Sau đây, một đồ thị có trục hoành là y, trục tung là r sẽ biểu diễn các kết hợp giữa y và r thoả mãn phương trình (2.3)

Với mức lãi suất là r0, để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y0 Hay hai giá trị y0 và r0 thoả phương trình:

Trang 24

b y0+ z r0 = G0+ h Q0 (2.4)

Sự kết hợp (y0, r0) xác định điểm A trên đồ thị Tương tự, với mức lãi suất là r1, để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y1 Hay hai giá trị y1 và r1 thoả phương trình:

b y1+ z r1 = G0+ h Q0 (2.5)

Sự kết hợp (y1, r1) xác định điểm B trên đồ thị Giả sử đường IS có dạng hàm tuyến tính, nối 2 điểm A, B, đường IS được thiết lập tại mức chi tiêu chính phủ G0 và tỷ giá hối đoái Q0

Tại mọi điểm nằm trên đường IS, thị trường hàng hoá cân bằng, AD = AS Những điểm nằm ngoài đường IS thể hiện thị trường hàng hoá không cân bằng, nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh cho đến khi đạt trạng thái cân bằng Ví dụ, xét điểm C(y0, r1) nằm bên trái và bên dưới đường IS Tại điểm B: với mức lãi suất r1 thì sản lượng cân bằng là y1 Nhưng tại điểm C, với lãi suất r1 mà sản lượng y0 thấp hơn sản lượng cân bằng y1 thể hiện tổng cung nhỏ hơn tổng cầu, hàng hoá thiếu hụt Các doanh nghiệp phải tăng sản lượng cho tới khi bằng y1 Như vậy nền kinh tế sẽ di chuyển từ điểm

C đến điểm B ∈ IS

Đường IS thường dốc xuống về phía bên phải, điều này thể hiện mối quan hệ nghịch biến giữa lãi suất và sản lượng cân bằng; nghĩa là khi lãi suất giảm xuống, để cho thị trường hàng hoá tiếp tục cân bằng thì sản lượng phải tăng lên và ngược lại

Trang 25

2.2.1.3 Sự dịch chuyển đường IS

Ở mục 2.2.1.2, tác giả đã trình bày cách thức hình thành đường IS với giá trị bên vế phải của phương trình (2.3) là G0+ h Q0 Câu hỏi đặt ra là, nếu vế phải của phương trình (2.3) thay đổi, đường cong IS sẽ thay đổi như thế nào? Có thể nhận thấy rằng, một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ ròng sẽ làm vế phải của phương trình (2.3) lớn hơn Tương tự một sự gia tăng tỷ giá hối đoái Q, với tham số h có giá trị dương, sẽ mở rộng thặng dư tài khoản vãng lai, vì hàng hoá trong nước trở nên rẻ tương đối, tức có tính cạnh tranh cao hơn hàng hoá nước ngoài, do đó làm vế phải của phương trình (2.3) tăng lên Một sự sụt giảm tỷ giá hối đoái sẽ làm giảm vế phải của phương trình (2.3) bằng cách làm hàng hoá trong nước ít tính cạnh tranh hơn Khi vế phải của phương trình (2.3) tăng, để duy trì sự cân bằng, vế trái của phương trình (2.3) cũng phải tăng Ví dụ, giả sử chi tiêu chính phủ tăng từ G0 lên G1, hoặc tỷ giá hối đoái tăng từ Q0 lên Q1, với mức lãi suất r0, để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y3 (lớn hơn y0), tức 2 giá trị r0 và y3 thoả phương trình:

b y3+ z r0 = G1+ h Q0 hoặc b y3+ z r0 = G0+ h Q1 (2.6)

Sự kết hợp (y3, r0) xác định điểm A′ trên đồ thị Tương tự, với mức lãi suất r1, để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y4 (lớn hơn y1), tức 2 giá trị r1 và y4thoả phương trình:

b y4+ z r1 = G1+ h Q0 hoặc b y4+ z r1 = G0+ h Q1 (2.7)

Sự kết hợp (y4, r1) xác định điểm B′ trên đồ thị Nối 2 điểm A′ và B′, đường IS mới được thiết lập Có thể kết luận rằng đường IS sẽ tịnh tiến sang phải khi có sự thay đổi theo chiều tăng trong chi tiêu chính phủ và trong tỷ giá hối đoái Một cách khái quát hơn, khi các thành phần trong tổng cầu tăng (ngoại trừ yếu tố nhập khẩu) thì đường

IS sẽ tịnh tiến sang phải

2.2.2 Thị trường tiền tệ và đường LM

2.2.2.1 Khái niệm

Đường LM là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà tại đó thị trường tiền tệ cân bằng, tương ứng với mức cung tiền tệ thực không đổi

Trang 26

2.2.2.2 Sự hình thành đường LM

Hàm tổng cung tiền tệ có dạng : SM =MS

P (2.8) Hàm tổng cầu tiền tệ có dạng : LM =Md

P = k y − l r k, l > 0 (2.9) Trong đó, Md là cầu tiền danh nghĩa, Ms là cung tiền danh nghĩa, P là chỉ số giá tại một thời điểm, M

d

P là cầu tiền thực; y là tổng thu nhập quốc gia thực, r là lãi suất; k và

l là hai tham số dương

Biểu thức (2.9) thể hiện tổng cầu tiền tệ của nền kinh tế phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu là thu nhập quốc gia và lãi suất Về thu nhập quốc gia (y), khi sản lượng hay thu nhập quốc gia càng lớn, thì nhu cầu về tiền càng nhiều để đáp ứng cho những chi tiêu thông thường (giao dịch) và đặc biệt (dự phòng) cao hơn Tức cầu tiền cho quan

hệ thuận chiều với thu nhập quốc gia Về lãi suất (r), khi giữ tiền, người nắm tiền phải chịu chi phí cơ hội của việc giữ tiền – đó là lãi suất bị mất đi khi giữ tài sản ở dạng tiền chứ không phải ở dạng tài sản sinh lời khác Bù lại, lợi ích của việc giữ tiền là rất thuận lợi, sẵn sàng thực hiện mọi giao dịch ở mọi lúc mọi nơi ta muốn, mà các tài sản khác không thể thực hiện được Khi lãi suất tăng, chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng, do đó làm giảm cầu tiền Hay cầu tiền có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất Thị trường tiền tệ cân bằng chỉ khi tổng cung tiền tệ bằng tổng cầu tiền tệ:

Trang 27

SM = LM

⇔ MS

P = k y − l r k, l > 0 (2.10) Xét tại một thời điểm, biến cung tiền MS có giá trị cố định là M0s, biến chỉ số giá P

có giá trị cố định là P0 Khi ấy, phương trình (2.10) có dạng sau:

Trang 28

Tại mọi điểm nằm trên đường LM, thị trường tiền tệ cân bằng Các điểm nằm ngoài đường LM, thể hiện thị trường tiền tệ không cần bằng : SM ≠ LM Nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh cho đến khi đạt trạng thái cân bằng

Đường LM thường dốc lên về bên phải, điều này thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa sản lượng hay thu nhập quốc gia với lãi suất cân bằng trong điều kiện cung tiền không đổi; nghĩa là khi y tăng thì r cũng tăng và ngược lại

P 0

lên M1

s

P 0 Xét tại mức lãi suất r0, sản lượng cân bằng không còn là y0, mà là y0, vì r0

và y2 mới thoả mãn sự cân bằng trong phương trình SM = LM:

Trang 29

Sự kết hợp (y2, r0) xác định điểm A′ trên đồ thị Tương tự, xét tại mức lãi suất r1, sản lượng cân bằng không còn là y1, mà là y3 vì r1 và y3 mới thoả mãn sự cân bằng trong phương trình SM = LM:

k y3 − l r1 =M1s

P 0 (2.15)

Sự kết hợp (y3, r1) xác định điểm B′ trên đồ thị Nối 2 điểm A′ và B′, đường LM mới được thiết lập Có thể kết luận rằng khi có sự gia tăng trong cung tiền danh nghĩa, hoặc sự giảm sút trong chỉ số giá, dẫn tới cung tiền thực (Ms⁄ ) tăng , đường LM sẽ Ptịnh tiến sang bên phải Ngược lại, khi có sự sụt giảm trong cung tiền danh nghĩa, hoặc sự gia tăng trong chỉ số giá, dẫn tới cung tiền thực giảm, đường LM sẽ tịnh tiến sang trái

2.2.3 Cán cân thanh toán và đường BP

Trang 30

Trong đó, B(y, S) thể hiện thành phần tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán, một hàm số biểu diễn mối quan hệ thuận chiều giữa thu nhập quốc giá y với tài khoản vãng lai B, mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa S với tài khoản vãng lai B K(r) thể hiện thành phần tài khoản vốn trong cán cân thanh toán, một hàm

số biểu diễn mối quan hệ thuận chiều giữa lãi suất r với tài khoản vốn K

Nếu phương trình (2.16) không thoả, với B(y, S) + K(r) > 0 thì cán cân thanh toán thặng dư, với B(y, S) + K(r) < 0 thì cán cân thanh toán thâm hụt

Với biến tỷ giá hối đoái danh nghĩa S được gắn một giá trị cố định S0, ở mọi

sự kết hợp (y,r) thoả phương trình (2.16), hay ở mọi điểm nằm trên đường BP, cán cân thanh toán luôn cân bằng Những điểm không nằm trên đường BP thể hiện cán cân thanh toán không cân bằng, những điểm nằm phía trên đường BP thể hiện cán cân thanh toán thặng dư, những điểm nằm phía dưới đường BP thể hiện cán cân thanh toán bị thâm hụt, lúc ấy nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh

Đường BP thường dốc lên về phía bên phải, thể hiện mối quan hệ đồng biến giữa lãi suất và thu nhập quốc gia cân bằng khi tỷ giá hối đoái được cố định

2.2.3.3 Sự dịch chuyển đường BP

Nguyên tắc dịch chuyển: nếu lượng ngoại tệ đi vào tăng lên, lượng ngoại tệ đi

ra giảm xuống thì đường BP dịch chuyển sang phải; ngược lại, nếu lượng ngoại tệ đi vào giảm xuống, lượng ngoại tệ đi ra tăng lên thì đường BP dịch chuyển sang trái

Khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa tăng từ S0 lên S1, tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán tăng lên ở mọi mức sản lượng, vì tỷ giá hối đoái tăng làm hàng hoá trong nước rẻ hơn tương đối so với hàng hoá nước ngoài, khuyến khích xuất khẩu Lúc này, lượng ngoại tệ đi vào tăng lên Khi đó, để duy trì trạng thái cân bằng trong cán cân thanh toán, tài khoản vốn phải giảm, vì thế lãi suất giảm xuống ở mọi mức sản lượng để giảm dòng vốn chảy vào, làm đường BP tịnh tiến sang phải (hay tịnh tiến xuống dưới)

Trang 31

2.2.4 Tác động của chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở

Khi nền kinh tế cân bằng dưới mức toàn dụng (y < y̅ , với y là sản lượng thực

và y̅ là sản lượng tiềm năng), cần thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng Khi nền kinh

tế có lạm phát cao (y > y̅), nên thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt

Giả sử ban đầu nền kinh tế cân bằng tại E(y0, r0), với tỷ giá cân bằng e0 Tại E(y0, r0), sản lượng cân bằng thấp hơn sản lượng tiềm năng, vì thế cần thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng bằng cách tăng cung tiền, đường LM dịch chuyển sang phải đến LM1, cắt IS tại E′(y′, r′), nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng bên trong: sản lượng tăng từ y0 lên y′, đồng thời lãi suất trong nước giảm từ r0 lên r′ Kết quả lượng vốn chảy ra nước ngoài tăng, nên cán cân thanh toán bị thâm hụt, do đó tỷ giá (e) có

xu hướng tăng lên e′

Trang 32

2.2.4.1 Trong cơ chế tỷ giá thả nổi

Khi tỷ giá tăng, nghĩa là đồng nội tệ bị giảm giá sẽ làm sức cạnh tranh tăng: X tăng, M giảm, xuất khẩu ròng tăng, do đó lượng ngoại tệ đi vào tăng, lượng ngoại tệ

đi ra giảm, nên đường IS và BP sẽ dịch chuyển sang phải là IS1 và BP1 Kết quả điểm cân bằng mới là E1(y1, r1) - giao điểm của các đường IS1, LM1, BP1 Sản lượng tăng

từ y′ lên y1

Kết luận: Chính sách tiền tệ có tác dụng mạnh trong cơ chế tỷ giá thả nổi Chính sách

tiền tệ mở rộng sẽ làm tăng sản lượng; ngược lại, chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ làm giảm sản lượng

Trang 33

2.2.4.2 Trong cơ chế tỷ giá cố định

Muốn duy trì tỷ giá lúc ban đầu, ngân hàng trung ương phải bán ngoại tệ ra để đổi lấy nội tệ, do đó lượng dự trữ ngoại tệ giảm và lượng cung tiền trong nước cũng giảm xuống Kết quả đường LM dịch chuyển sang trái trở lại vị trí ban đầu và sản lượng sẽ quay về mức ban đầu 𝑦0

Kết luận: Chính sách tiền tệ không có tác dụng trong một nền kinh tế tự do luân

chuyển vốn theo cơ chế tỷ giá cố định Đây là một nội dung nằm trong lý thuyết “Bộ

ba bất khả thi” của Mullden và Fleming Để chính sách tiền tệ có tác dụng và duy trì được cơ chế tỷ giá cố định, nền kinh tế này phải thực hiện việc kiểm soát vốn

Trang 34

2.3 Mô phỏng mô hình New Keynesian trong nền kinh tế nhỏ mở

Tác giả mô tả một nền kinh tế nhỏ mở theo mô hình của trường phái New Keynes, mô hình này phù hợp với hành vi tối ưu hóa liên thời gian của các chủ thể trong nền kinh tế Những mối quan hệ tổng thể được sử dụng cho việc phân tích nền kinh tế Việt Nam xuất phát từ khung lý thuyết cân bằng tổng thể động, nơi mà các chủ thể được giả định là có kỳ vọng hợp lý và hướng về tương lai Các mối liên hệ vĩ

mô của nền kinh tế được mô tả bởi hệ phương trình gồm: Một phương trình tổng cầu

IS, một phương trình tổng cung AS (Hay một đường cong Phillips), một phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa, và một phương trình thể hiện chính sách tiền tệ hướng về tương lai

2.3.1 Phương trình tổng cầu IS

Phương trình IS cho nền kinh tế mở được hình thành dựa trên cơ sở đặc điểm

kĩ thuật của đường tổng cầu do McCallum và Nelson (1999, 2000) mô tả Một nền kinh tế nhỏ mở được hình thành bởi các hộ gia đình Trong đó, các hộ gia đình tối đa hóa giá trị hữu dụng kỳ vọng liên quan tới tiêu dùng và số dư tiền thực

Với σ > 0, γ > 0, σ ≠ 1, γ ≠ 1, và β ∈ (0,1) Biến tiêu dùng tổng hợp xuất hiện

ở biểu thức (2.17) là một chỉ số được thiết lập bởi Dixit và Stiglitz (1977) :

Ct = [∫ C01 ztθ−1 θ⁄ dz]θ θ−1⁄ (2.18) Với Czt là mức tiêu thụ hàng hóa z trong thời kỳ t của hộ gia đình và θ > 1 là độ co giãn theo giá của cầu đối với mỗi hàng hóa khác nhau Chỉ số giá là:

Pt = [∫ P01 zt1−θdz]1 1−θ⁄ (2.19) Với Pzt là giá của hàng hóa z Mt⁄ là lượng tiền thực được nắm giữ vào cuối kỳ, và Pt

Et biểu diễn sự kỳ vọng được xác định dựa trên cơ sở các thông tin có sẵn trong thời

kỳ t

Trang 35

Hàm sản xuất của hộ gia đình tuân theo đường cong chuyển đổi công nghệ (CES) cố định (liên quan tới lao động và các hàng hóa trung gian được nhập khẩu)

và được biểu diễn như sau:

Yt = [α(AtNt) + (1 − α)(IMt)v]1⁄v (2.20) Với α ∈ (0,1] và v ∈ (−∞, ∞) Trong biểu thức (2.20), Yt là tổng sản lượng hiện hành, At là cú sốc công nghệ ngoại sinh được đưa vào hàm sản xuất của hộ gia đình,

Nt là số lượng nhân công được thuê bởi hộ gia đình, và IMt là số lượng hàng hóa do nước ngoài sản xuất được mua bởi hộ gia đình mà chúng được sử dụng như một yếu

tố đầu vào của quy trình sản xuất Mỗi hộ gia đình là một nhà sản xuất độc quyền, họ định ra mức giá bán hàng hóa do họ sản xuất Pzt, trong khi đó mức giá tổng thể Pt, tỷ giá hối đoái danh nghĩa St, và mức giá nước ngoài Pt∗ được cho trước St được biểu diễn là số đơn vị nội tệ trên mỗi đơn vị ngoại tệ và Pt∗ được xem là mức giá tính bằng ngoại tệ cho mỗi đơn vị hàng hóa nước ngoài Hộ gia đình đối mặt với cầu hàng hóa nội địa và cầu hàng hóa từ phần còn lại của thế giới (tức xuất khẩu ra nước ngoài) lần lượt được biểu diễn bởi Dt và EXt Khi mà hộ gia đình không thể phân biệt giá giữa người mua nội địa và người mua nước ngoài, giá mà họ bán hàng hóa ra nước ngoài là Pzt⁄ Tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của nền kinh tế nội địa được giả định St

là không mấy đáng kể đối với mức tiêu dùng của người nước ngoài, và vì thế nên không có tác động đến chỉ số tiêu dùng của nền kinh tế quốc tế Đây là một cách mô

tả nền kinh tế nhỏ mở trong nước

Nguồn lao động được cho là cố định giữa các quốc gia, và mỗi hộ gia đình trong mỗi thời kỳ thì có một đơn vị thời gian làm việc tiềm năng, điều đó có nghĩa là thị trường lao động nội địa không co giãn Các hộ gia đình trong mỗi quốc gia có quyền tham gia vào thị trường chứng khoán riêng, nơi các trái phiếu được định danh bởi các đơn vị sản lượng của chính quốc gia đó Các hộ gia đình nội địa có thể bán hoặc mua một trái phiếu nội địa, được biểu thị bởi Bt, với giá (1 + rt)−1 đơn vị sản lượng ở thời điểm t, và mua lại hoặc bán ra với giá 1 đơn vị sản lượng ở thời điểm t + 1, với rt đại diện cho lãi suất thực trong nước Người nước ngoài chỉ bán và mua một trái phiếu được định danh bằng đơn vị sản lượng của nước họ, được biểu thị bởi

Trang 36

Bt+1∗ , họ có thể mua với giá (1 + rt∗)−1 đơn vị sản lượng nước ngoài và bán lại với giá một đơn vị sản lượng nước ngoài sau một thời kỳ; các hộ gia đình nội địa cũng

có thể mua trái phiếu nước ngoài Mức giá mà hộ gia đình cần trả để mua trái phiếu nước ngoài (Được biểu diễn bằng số đơn vị sản lượng nước ngoài) là (1 + Kt)−1(1 + rt∗)−1; với rt∗ là lãi suất thực nước ngoài và Kt đại diện cho phần bù rủi ro ngẫu nhiên

Trong khi thực hiện tối đa hoá hữu dụng, các hộ gia đình phải tuân theo sự ràng buộc ngân sách được thể hiện qua biểu thức:

Qua các biến đổi toán học cơ bản, tác giả có được phương trình tổng cầu IS, được xây dựng dựa trên hành vi tối đa hoá giá trị hữu dùng kỳ vọng của các hộ gia đình (được biểu diễn bởi biểu thức (2.17)), tuân theo những ràng buộc về hàm sản xuất cũng như giới hạn trong ngân sách (được biểu diễn bởi biểu thức (2.20) và (2.21)):

1 Chi chuyển giao là khoản tiền mà chính phủ chi cho một đối tượng nào đó mà không cần có hàng hoá và dịch

vụ đối ứng, gồm chi trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp học bổng,…Đây là cách thức mà chính phủ thực hiện phân phối lại thu nhập, giúp cân bằng xã hội.

Trang 37

đến nền kinh tế Điểm khác biệt chính của phương trình (2.22) so với đường cong IS truyền thống là sự phụ thuộc của mức sản lượng hiện tại vào mức sản lượng tương lai được kỳ vọng Giá trị Etxt+1 được thêm vào, làm gia tăng mức sản lượng của kỳ hiện tại khi giá trị kỳ vọng của mức sản lượng tương lai cao hơn, bởi vì người tiêu dùng muốn đạt được danh mục tiêu dùng cân bằng Người tiêu dùng dự đoán trước một mức tiêu dùng cao hơn trong kỳ kế tiếp bởi vì sản lượng kỳ vọng cao hơn, điều này khiến cho người tiêu dùng tiêu dùng nhiều hơn trong hôm nay để làm bằng phẳng đường tiêu dùng liên thời gian Lãi suất thực tác động lên sản lượng hiện tại theo chiều âm, phản ánh sự thay thế tiêu dùng liên thời gian Một sự gia tăng trong giá trị

tỷ giá hối đoái được kỳ vọng là làm tăng sản lượng hiện tại thông qua hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu

2.3.2 Phương trình tổng cung AS

Chủ đề chính của khung lý thuyết New Keynesian liên quan tới việc điều chỉnh giá cả là để kết hợp tính cứng nhắc danh nghĩa và hành vi tối ưu hóa của các doanh nghiệp, từ đó sinh ra lạm phát động hướng về tương lai Đường cong Phillips theo trường phái New Keynes xuất phát từ mô hình thiết lập giá danh nghĩa của Calvo (1983) được biểu diễn như sau:

πt = β0+ β1Etπt+1+ β2xt + εtπ (2.23) Trong mỗi thời kỳ, một phần nhỏ các công ty cạnh tranh độc quyền được phép điều chỉnh giá của họ theo một xác suất nhất định (1 − 𝜔); khoảng thời gian giữa các lần điều chỉnh giá là 1 (1 − 𝜔)⁄ Vì thế 𝜔 đo lường mức độ cứng nhắc trong giá cả trong nền kinh tế Mỗi doanh nghiệp thiết lập mức giá một cách tối ưu bằng cách tối thiểu hàm số bình phương lỗ, hàm số này phụ thuộc vào sự khác biệt giữa mức giá thực của doanh nghiệp trong thời kỳ t với mức giá tối ưu của doanh nghiệp εtπ là một phần nhiễu ngẫu nhiên, nó mô tả những thành phần của mức giá tối ưu khác với tổng sản lượng và mức giá εtπ cao hơn ngụ ý các doanh nghiệp điều chỉnh hướng lên mức giá thực để tối thiểu chi phí điều chỉnh, vì thế εtπ được xem như một cú sốc lạm phát Một điểm khác biệt chính của phương trình (2.23) so với đường cong Phillips chuẩn là

Trang 38

lạm phát tương lai kỳ vọng, Etπt+1, được thêm vào để thay thế cho lạm phát hiện tại

kỳ vọng, Et−1πt

2.3.3 Phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa

Một đặc tính chuẩn trong hầu hết các mô hình nền kinh tế mở là có đưa vào sự cân bằng lãi suất không phòng ngừa Định nghĩa lãi suất nước ngoài thực như sau:

πt∗= it∗− Etπt+1∗ , với it∗ là lãi suất nước ngoài danh nghĩa và πt+1∗ = pt+1∗ − pt∗ là mức lạm phát nước ngoài Phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa có dạng như sau:

st = Etst+1− (it− it∗) + εts (2.24) Phần bù rủi ro liên thời gian εts = Kt phản ánh điểm đến tạm thời từ cân bằng lãi suất không phòng ngừa

2.3.4 Phương trình quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai

Mô hình dùng trong bài nghiên cứu này được tác giả hoàn thành với việc đưa vào quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai như sau:

it = γ0+ πt+ γ1(Etπt+1− πT) + γ2xt + εti (2.25) Với πT là mức lạm phát mục tiêu và εti biểu thị cú sốc chính sách tiền tệ Taylor (1993) đề xuất nguyên tắc thiết lập lãi suất đơn giản, theo nguyên tắc này nhà điều hành chính sách tiền tệ được giả định là phản ứng với tình hình lạm phát và biến động sản lượng quan sát được trong nền kinh tế Do độ trễ chính sách dài và biến đổi, nên chính sách tiền tệ vốn dĩ có tính hướng về tương lai, tức những dự báo về điều kiện kinh tế tương lai được sử dụng để đưa ra các hành động chính sách ở hiện tại Vì thế nguyên tắc thực thi chính sách tiền tệ mà tác giả sử dụng trong đề tài này tuân theo nguyên tắc hướng về tương lai được mô tả bởi Clarida và đồng sự (Năm 1998, 1999, 2000) Nhà điều hành chính sách tiền tệ được xem là phản ứng với sai lệch lạm phát tương lai kỳ vọng so giá trị mục tiêu của nó và sai lệch sản lượng đồng thời so với giá trị khuyên hướng của nó Khi có một sự sai lệch dương trong lạm phát hoặc trong sản lượng so với giá trị mục tiêu của chúng, phương trình (2.25) cho thấy nhà điều

Trang 39

hành chính sách sẽ điều chỉnh lãi suất danh nghĩa nhiều hơn tỷ lệ 1:1 để lãi suất thực (it − πt) tăng lên đủ lớn và khép lại lỗ hổng dương Vì thế tác giả kỳ vọng γ1, γ2 >

0 nếu nhà điều hành chính sách tiền tệ theo đuổi một chính sách bình ổn sự biến động trong lạm phát và sản lượng Mặt khác, γ1, γ2 < 0 cho thấy nhà điều hành chính sách hướng tới việc thích ứng với bất kỳ sự biến động nào trong lạm phát và sản lượng

2.4 Tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ

Chính sách tiền tệ được xem là hệ thống các quy tắc và hành động của ngân hàng trung ương nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế nhất định Thông qua các công cụ chính sách truyền dẫn qua các kênh và tác động đến sản lượng, giá cả trong nền kinh tế Ở hầu hết các nước công nghiệp có thị trường tài chính phát triển, đặc biệt là những nước đang theo đuổi khuôn khổ lạm phát mục tiêu, công cụ phổ biến nhất của chính sách tiền tệ là lãi suất Việc thay đổi lãi suất điều hành của ngân hàng trung ương sẽ tác động đến sản lượng và giá cả theo bốn kênh chủ yếu: kênh lãi suất thị trường, kênh tỷ giá, kênh tín dụng và kênh thị trường tài sản

2.4.1 Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ

2.4.1.1 Kênh lãi suất

Theo Mishkin (2006), chính sách tiền tệ mở rộng (M tăng) làm cho lãi suất thực giảm (ir giảm), có nghĩa là chi phí vốn được hạ xuống Sự sụt giảm trong lãi suất thực làm cho các doanh nghiệp tăng chi tiêu về đầu tư (I tăng) và người tiêu dùng cũng tăng chi tiêu về nhà ở và các khoản chi phí lâu dài, đó cũng được xem như chi tiêu đầu tư Sự gia tăng chi tiêu đầu tư lần lượt dẫn đến sự gia tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y tăng) Các nhà kinh tế đã nhấn mạnh vai trò của lãi suất trong việc phản ứng trước những thay đổi của chính sách tiền tệ cũng như trong việc tác động tới các hoạt động kinh tế thực Ngoài ra Taylor (1995) nghiên cứu cho thấy có bằng chứng tin cậy lãi suất tác động lên chi tiêu đầu tư và tiêu dùng

Những nghiên cứu cho thấy lãi suất thực tác động lên chi tiêu chứ không phải

là lãi suất danh nghĩa đã tạo nên một cơ chế quan trọng về việc chính sách tiền tệ có thể kích thích nền kinh tế, ngay cả khi lãi suất danh nghĩa về mức bằng 0 trong giai

Trang 40

đoạn giảm phát Với lãi suất danh nghĩa bằng 0, sự mở rộng trong cung tiền có thể làm tăng mức giá kỳ vọng (Pe tăng) làm cho lạm phát tăng (πe tăng), do đó lãi suất thực giảm (ir giảm) ngay cả khi lãi suất danh nghĩa giữ ở mức bằng 0 Cơ chế được thể hiện như sau:

M ↑ → Pe ↑ → πe ↑ → ir ↓ → I ↑ → Y ↑

Cơ chế này lý giải tại sao chính sách tiền tệ vẫn có hiệu lực thậm chí khi lãi suất danh nghĩa bằng 0 Những bằng chứng thực tế cho thấy, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Mỹ duy trì lãi suất danh nghĩa rất thấp gần bằng 0 một thời gian dài, và tăng cung tiền nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng và đã đạt kết quả tích cực

2.4.1.2 Kênh tỷ giá

Theo Mishkin (2006), chính sách tiền tệ mở rộng làm lãi suất thực trong nước giảm Do đó, tài sản được tính bằng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với các tài sản bằng ngoại tệ, dẫn đến sự mất giá của đồng nội tệ Sự mất giá của đồng nội tệ làm cho hàng hóa trong nước tương đối rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, do đó làm cho xuất khẩu ròng tăng (NX tăng) và dẫn đến sản lượng tăng

Ngoài ra biến động tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng đến giá trị tài sản được xác định bằng ngoại tệ trên bảng cân đối kế toán của các chủ thể kinh tế như các ngân hàng, chính phủ, cá nhân, doanh nghiệp,…Do đó các chủ thể này sẽ dựa vào xu hướng biến động tỷ giá để ra quyết đinh chi tiêu Ở những quốc gia theo chế độ tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ có thể tác động lên tỷ giá thực thông qua biến động giá cả trong nước từ đó sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng và sản lượng Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng và thời gian tác động tương đối thấp và chậm Với những nền kinh tế nhỏ

và mở kèm theo một chế độ tỷ giá linh hoạt, với hiệu quả truyền dẫn tương đối cao, kênh tỷ giá được đánh giá là kênh truyền dẫn đặc biệt quan trọng, nó không chỉ tác động đến tổng cầu mà còn tác động tới tổng cung Hơn nữa, nếu các tài sản trong nước và nước ngoài không hoàn toàn thay thế cho nhau, thì vẫn có sự chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế Vì vậy, nếu tỷ giá danh nghĩa cố định thì chính sách tiền

tệ vẫn có thể tác động đến tỷ giá thực thông qua mức giá

Ngày đăng: 14/09/2020, 16:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w