1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thủ tục Thi hành án dân sự từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

83 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 576,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù cóthể bị kháng cáo, kháng nghị: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả cônglao động, trợ cấp thôi vi

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ MINH TUYẾT

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ MINH TUYẾT

THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN

HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp - Luật Hành chính

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TRẦN THỊ LÂM THI

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bản án, quyết định của Tòa án một khi đã được chấp hành nghiêm sẽ tácđộng trực tiếp đến sự hài lòng và tin tưởng của người dân đối với pháp luật Chính

vì thế, thi hành án là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để duy trì giữ vững

kỷ cương pháp luật, ổn định trật tự và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảmthực thi quyền tư pháp độc lập, nghiêm túc trên thực tế Để đảm bảo tính nghiêmminh của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngoài chức năng của

cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án thì cơ quan THADS giữ một vai trò đặcbiệt và là một mắt xích không thể thiếu của quá trình tố tụng Mọi phán quyết củaTòa án chỉ là những quyết định trên giấy và không thể phát huy hết hiệu quả trênthực tế nếu không được thi hành đúng và đầy đủ, nhất là trong lĩnh vực thi hành ándân sự Trong điều kiện kinh tế phát triển như hiện nay, khi nước ta đang xây dựngmột nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các quan hệ giao dịch phátsinh tranh chấp cũng nhiều hơn, vì vậy số lượng công việc mà các cơ quan Tư phápphải giải quyết cũng ngày càng tăng và tính chất cũng phức tạp hơn Điều đó đặt rayêu cầu cho các cơ quan Tư pháp nói chung và cơ quan THADS nói riêng phải hoạtđộng sao cho đạt hiệu quả cao nhất nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi, xâydựng pháp chế xã hội chủ nghĩa

Luật Thi hành án dân sự (THADS) được Quốc hội thông qua ngày14/11/2008 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2009 là cơ sở pháp lý quan trọng cho tổchức và hoạt động thi hành án dân sự Qua 05 năm thi hành luật, công tác thi hành

án dân sự đã từng bước đi vào nề nếp và có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên,quá trình thi hành luật cũng cho thấy nhiều nội dung, quy định của luật không cònphù hợp với thực tiễn, tạo ra trở lực cho quá trình thi hành án, chưa thực sự đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, dự thảo luật THADS ban hànhngày 21/2/2014 đã được lấy ý kiến sâu rộng từ nhân dân, và được Quốc hội biểuquyết thông qua vào ngày 25/11/2014 Luật thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ

4

Trang 5

sung năm 2014) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 có khá nhiều quy định đổimới về thủ tục THADS.

Trong thời gian qua, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động THADS cònnhiều khó khăn, tồn tại cần khắc phục, trong đó có nguyên nhân là do thủ tục THA

Vì vậy, Đổi mới hoạt động THA nói chung và nâng cao hiệu quả đối với THADSnói riêng là một nội dung quan trọng của công cuộc cải cách tư pháp được ghi nhậntrong nhiều văn bản như: Nghị quyết Trung Ương 8 khóa VII, Nghị quyết Trungương 3 Khóa VIII, báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng qua các kì họp, đặc biệt Nghịquyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ViệtNam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005,Nghị quyết 49 – NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020” Bên cạnh đó, cũng dựa trên kinh nghiệm thực tế làm việc tạicủa bản thân tại huyện Phú Ninh, tác giả hiểu rằng, việc nghiên cứu và hoàn thiệnpháp luật về thủ tục THADS là một yêu cầu khách quan và tất yếu

Với lý do cấp thiết nêu trên là cơ sở để tác giả lựa chọn đề tài “Thủ tục Thi hành án dân sự từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt

nghiệp Thạc sỹ ngành luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

THADS là lĩnh vực diễn ra khá phổ biến trong thực tiễn đời sống xã hội từrất nhiều năm nay, nên nó là chủ đề được nhiều giới nghiên cứu quan tâm Có thể kểđến: Trước năm 2008 có các công trình nghiên cứu như: Tác giả Nguyễn Thanh

Thủy, Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật học năm 2001; Đề tài khoa học cấp trường năm 2004, Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật THADS của Trường Đại học Luật Hà Nội; Tác giả Lê Anh Tuấn, Đổi mới thủ tục THADS ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật học năm 2004; Đề tài khoa học cấp bộ năm 2006 “Bình luận Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004” của Viện khoa học pháp lý (Bộ tư pháp)… cùng với nhiều công trình tài liệu

nghiên cứu khác

Từ khi Luật THADS năm 2008 có hiệu lực cho đến nay, có rất nhiều nghiên

Trang 6

cứu chú trọng về lĩnh vực THADS Tiêu biểu, có Đề tài khoa học cấp trường năm

2011 “Những điểm mới của Luật THADS năm 2008” do Tiến sỹ Bùi Thị Huyền chủ

nhiệm ở trường Đại học Luật Hà Nội Bên cạnh đó, có nhiều sách báo pháp lý, cácdiễn đàn pháp luật từ 2009 đến nay công bố rất nhiều bài viết nghiên cứu trao đổi về

lĩnh vực THADS, như: Sách tham khảo “Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật Thi hành án dân sự Việt Nam” do tác giả Tiến sỹ Lê Thu Hà (Học viện Tư Pháp) chủ

nhiệm, được xuất bản vào năm 2011; các bài viết đăng trên tạp chí Dân chủ và phápluật số chuyên đề về thi hành án dân sự ở các tháng 2, tháng 4, tháng 6, tháng 12năm 2012; tháng 12/2013 và tháng 03/2014…; cùng với khá nhiều bài viết liênquan lĩnh vực thủ tục THADS được đăng trên tạp chí Nghề Luật của Học viện Tưpháp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp và các sách, báo, tạp chí nghiên cứu khác…

Từ việc kế thừa các giá trị của nhiều nghiên cứu nêu trên, luận văn của tácgiả nghiên cứu sâu hơn về một số thủ tục THADS, với việc đưa ra khái niệm, đặcđiểm, vai trò, quá trình hình thành và phát triển qua các thời kì của thủ tục THADS;Thực tiễn thi hành thủ tục thi hành án trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh QuảngNam chỉ ra những bất cập, đề xuất những đóng góp cho quá trình sửa đổi, bổ sungLuật thi hành án dân sự hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Dựa trên cơ sở nghiên cứu trình bày có hệ thống để làm rõ một số vấn đề cơ

sở lý luận và phân tích đánh giá thực trạng thực hiện thủ tục THADS trên địa bànhuyện Phú Ninh, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả ápdụng thủ tục THADS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về thủ tục THADS

- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về thủ tục THADS

- Đánh giá thực tiễn thực hiện thủ tục THADS trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục THADS

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về thủ tục THADS,các quy định của pháp luật về thủ tục THADS và thực tiễn thực hiện thủ tụcTHADS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:Thủ tục THADS phạm vi rất rộng, trong khuôn khổ của mộtluận văn thạc sỹ, tác giả không đi sâu vào tìm hiểu hết tất cả các thủ tục trong quátrình THADS mà chỉ đi sâu vào một số thủ tục THADS nói chung Luận văn khôngnghiên cứu về thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế THADS

- Về địa bàn: Phạm vi khảo sát là địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

- Về thời gian: từ năm 2014 – 2018

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác-Lênnin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình hình thành vàphát triển về tổ chức và hoạt động cơ quan thi hành án dân sự qua các thời kỳ

Trang 8

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn đóng góp vào việc làm rõ một số vấn đề cơ

sở lý luận về thủ tục THADS

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ các quy định pháp luật về thủ tục THADS và

đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục hànhchính trong công tác THADS tại tỉnh Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung

Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho cấp ủy và chính quyền của tỉnhQuảng Nam trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thủ tục THADS

Luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo của Cục Thi hành án dân sự tỉnh

và các cơ quan thi hành án dân sự trong cả nước trong việc nghiên cứu và chỉ đạothực hiện thủ tục THADS

7 Cơ cấu của luận văn

Bên cạnh phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn cókết cấu nội dung gồm ba chương:

Chương 1 – Một số vấn đề lý luận về thủ tục thi hành án dân sự

Chương 2 – Các quy định pháp luật về thủ tục thi hành án dân sự

Chương 3 – Thực tiễn thực hiện thủ tục thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thiện thủ tục thi hành

án dân sự.

Trang 9

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤCTHI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thủ tục thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm thủ tục thi hành án dân sự

- Khái niệm về thi hành án dân sự:

Thi hành án (theo khoa học pháp lý) có thể hiểu là việc đưa các bản án,quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành trên thực tế

Đối với thi hành án dân sự (THADS), đây là hoạt động thực thi Bản án,Quyết định về dân sự của Tòa án nhằm đưa các phán quyết của Tòa án đã có hiệu lựcpháp luật được thực thi trên thực tế Hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về THADS:

- Ý kiến thứ nhất xác định, THADS mang tính tư pháp, là một giai đoạn của

hoạt động tố tụng Bởi hoạt động xét xử là phải gắn liền với việc THA, nên việcTHA dựa trên cơ sở hoạt động của của công tác xét xử Xét xử và THA là sự thốngnhất hai mặt của một quá trình bảo đảm các lợi ích của đương sự Với lập trườngcủa ý kiến này, thực chất THA là hoạt động tố tụng của tòa án, của tổ chức, cơ quan

có thẩm quyền nhằm đảm bảo tính kịp thời cho các quyết định, bản án của tòa án đượcthi hành chính xác Mặt khác, việc THADS lại do cơ quan tư pháp có thẩm quyền

- Ý kiến thứ hai xác định, THADS là dạng hoạt động của cơ quan hành chính

nhà nước.Vì hoạt động THADS mang tính chất chấp hành và điều hành Hơn nữa,quá trình tố tụng là sự tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp và phảitrải qua nhiều công đoạn có liên quan gắn kết với nhau trong thể thống nhất, ở đóxét xử là công đoạn cuối của quá trình tố tụng, nên quyết định, bản án của toà án làkết quả duy nhất đánh dấu về sự kết thúc của quá trình tố tụng

- Ý kiến thứ ba, là hoạt động THADS mang tính hành chính - tư pháp Bởi

dựa vào căn cứ THA là để các quyết định, bản án của tòa án; và quá trình THA có

sự tham gia của các cơ quan tư pháp Hơn nữa, quá trình hoạt động THADS lại phảitiến hành theo tính hành chính như: việc ủy quyền THADS, trước bạ chuyển quyền

sở hữu nhà cho người được THA, chứng thực bản sao giấy tờ, v.v…

Trang 10

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ ba, THADS là hoạt động mang tínhhành chính – tư pháp vì:

Tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra, trên cơ sở đóđưa ra cách giải quyết vụ việc theo đúng các quy định của pháp luật (tức là quá trình

đi tìm sự thật để áp dụng pháp luật) Còn THADS là quá trình tiến hành các hoạtđộng nhằm thực thi các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật(tức là quá trình thực thi pháp luật) Quá trình này có thể do các chủ thể phải THA

tự giác thi hành hoặc do các cơ quan có thẩm quyền buộc các chủ thể đó phải thihành Ở quá trình THADS luôn yêu cầu những yếu tố của hành chính như: kếhoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm tra, xử lý… để tác động tới đối tượng phải THA để

họ tự giác hoặc buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các quyếtđịnh, bản án của tòa án

THADS cũng không thuần túy là hoạt động của các cơ quan hành chính.THA là giai đoạn kế tiếp theo của giai đoạn xét xử, kết nối giữa hoạt động hànhchính với hoạt động tư pháp Căn cứ để THADS là các bản án, quyết định của Tòa

án Trong quá trình THADS, cơ quan THA và các bên có liên quan áp dụng cả cácquy định của pháp luật tố tụng và pháp luật hành chính, trong đó phần lớn là cácquy định của pháp luật hành chính

Theo quy định tại Điều 2, Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm2014: “Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm: Bản án,quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật: Bản án, quyếtđịnh hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo,kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Bản án, quyết định dân sự củaTòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Namcông nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh củaHội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luậtđương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án; Phán quyết, quyếtđịnh của Trọng tài thương mại; Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản Những

Trang 11

bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù cóthể bị kháng cáo, kháng nghị: Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả cônglao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồithường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao độngtrở lại làm việc; Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.

Từ việc lập luận và phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về THADS

được xác định như sau: THADS là dạng hoạt động mang tính hành chính - tư pháp của Nhà nước do cơ quan THADS và Chấp hành viên tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định và được bảo đảm bằng quyền lực nhà nước để đưa bản

án, quyết định dân sự của Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại Quyết định xử lý vụviệc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, được thực hiện trên thực tế, nhằm bảo vệ trật tự pháp luật và bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức.

- Khái niệm thủ tục - theo Từ điển Tiếng Việt, đó là những việc cụ thể phảilàm theo một trình tự qui định để thực thi một công việc có tính chất bắt buộc

Theo nghĩa chung nhất, thủ tục hành chính được hiểu theo nghĩa đầy đủ: Đóvừa là một thể chế (thể lệ) thống nhất bao gồm gồm một chuổi các nhiệm vụ liênquan chặt chẽ với nhau nhằm đạt kết quả dự kiến; vừa là phương thức và cách thứcgiải quyết công việc theo một trình tự nhất định

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010, thủ tụchành chính là: “Trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơquan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thểliên quan đến cá nhân, tổ chức”

Từ những cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Thủ tục THADS là toàn bộ các công việc do cơ quan THADS, Chấp hành viên và tổ chức, cá nhân liên quan thực hiện theo trình tự nhất định do pháp luật quy định để thi hành hiệu lực bản án, quyết định dân sự của Tòa án; phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh nhằm, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ

Trang 12

chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội.

Thủ tục THADS là trình tự, cách thức thực hiện cũng như các yêu cầu, điềukiện do pháp luật quy định để thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án; phánquyết, quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh củaHội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật

Hiện nay THADS được điều chỉnh từ Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổsung năm 2014) Căn cứ Điều 1 của Luật THADS 2008 (sửa đổi, bổ sung năm2014) quy định: “nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự,hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vậtchứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phầntài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giảiquyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định củaTrọng tài thương mại (bản án, quyết định); hệ thống tổ chức THADS và Chấp hànhviên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhântrong hoạt động THADS”

Từ những quy định trên cho thấy đối tượng hướng đến của thủ tục THADS,

+ Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại Việt Nam;

+ Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

có liên quan đến tài sản;

+ Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài

Trang 13

nước ngoài được Việt Nam công nhận.

(Sau đây gọi chung là bản án, quyết định dân sự)

Mục đích của thủ tục THADS nhằm bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết địnhdân sự của Tòa án; quyết định của Trong tài kinh tế, Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh; bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân

Chủ thể của thủ tục THADS bao gồm: cơ quan THADS, chấp hành viên của

cơ quan THADS; người phải THADS, người được THADS; cá nhân, cơ quan, tổchức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụTHA của đương sự; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơquanTHADS trong việc THA

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục thi hành án dân sự

- Thứ nhất, thủ tục THADS mang tính pháp lý Thủ tục THADS được quy

định trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, chỉ có nhữngquy định về thủ tục THADS được quy định trong văn bản pháp luật mới được cógiá trị pháp lý trên thực tế Hiện nay, thủ tục THADS được quy định trong LuậtTHADS năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014) và các văn bản hướng dẫn thihành Luật này Ngoài ra, thủ tục THADS còn được quy định cả trong Bộ luật tốtụng dân sự (BLTTDS) và các văn bản pháp luật khác có liên quan

Thủ tục THADS được pháp luật quy định rõ và chặt chẽ từ bắt đầu đến khikết thúc, bảo đảm tính công bằng trong thực thi THA về quyền và nghĩa vụ của các bên

Thủ tục THADS có đặc trưngt về tính ràng buộc đối với tổ chức, cơ quan, cánhân có liên quan đến quyết định, bản án của Tòa án Việc không chấp hành hoặcchấp hành không nghiêm đối với quyết định, bản án của Tòa án dẫn đến các hậu quảpháp lý khó lường và có thể bị xử lý bằng chế tài

- Thứ hai, thủ tục THADS về cơ bản mang tính chất của thủ tục hành chính, tuy nhiên nó cũng mang đặc điểm “dân sự” Tính chất dân sự trong thủ tục THADS

thể hiện ở chỗ:Theo nguyên tắc tự nguyện, tự thỏa thuận, bình đẳng của các bêntrong quan hệ dân sự, pháp luật công nhận sự thỏa thuận, tự nguyện của người đượcTHA và người phải THA về việc chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, nếu sự

Trang 14

thỏa thuận đó không vi phạm lợi ích của Nhà nước, của xã hội Nghĩa là điều đó xảy

ra sau khi tranh chấp đã được phân xử, các bên vẫn có quyền tiếp tục thể hiện ý chícủa mình trong quá trình THA Đây là điểm khác nhau cơ bản của thủ tục THADS

so với THA hình sự và THA hành chính

Hơn nữa, thủ tục THADS được áp dụng trên thực tế phần lớn là để thi hànhcác quyết định về tài sản Theo quy định của pháp luật hiện hành, thủ tục THADSđược áp dụng để thi hành các bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình,kinh doanh thương mại và lao động và các quyết định về tài sản trong các bản án,quyết định hành chính, hình sự, quyết định của trọng tài thương mại v.v Mặc dùhoàn toàn khác biệt về tính chất của quan hệ pháp luật, nhưng nghĩa vụ THA trongtất cả các bản án, quyết định này đều có tính chất tương đồng đó là nghĩa vụ tài sảnhoặc các công việc phải thực hiện Đây là cơ sở để xác định tính chất "dân sự"nhằm phân biệt với THA hình sự, hành chính

- Thứ ba, căn cứ phát sinh thủ tục THADS là các quyết định, bản án của Tòa

án sau khi giải quyết các tranh chấp dân sự theo nghĩa rộng bao gồm: quyết định,

bản án về dân sự, lao động, kinh tế, hôn nhân và gia đình; quyết định về tài sảntrong quyết định ,bản án hình sự (tịch thu tài sản, phạt tiền, án phí); quyền tài sản vàquyết định về tài sản trong bản án, quyết định hành chính; quyết định, bản án dân sựcủa Tòa án ở nước ngoài, quyết định của trọng tài ở nước ngoài được Tòa án ViệtNam công nhận và cho thi hành ở Việt Nam Dẫu vậy, với trường hợp trong THAhành chính, THA hình sự, hoạt động THA hành chính, THA hình sự chỉ phát sinhdựa trên cơ sở quyết định, bản án đã có hiệu lực thì hoạt động THADS không chỉphát sinh trên cơ sở quyết định, bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật, màquantrong nữa là còn được phát sinh dựa vào các quyết định, bản án dân sự của Tòa

án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay, đó là quyết định, bản áncủa Tòa án cấp sơ thẩm về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trởlại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệthại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời

Trang 15

- Thứ tư, mục đích hướng đến của thủ tục THADS là nhằm thi hành các phán quyết của các cơ quan Tòa án, Trọng Tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh.

THADS gắn liền với hoạt động xét xử (theo nghĩa rộng), xét xử chính là tiền đề củaTHADS Hoạt động THADS lệ thuộc và chịu sự chi phối của hoạt động xét xử, làgiai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quann hệ mật thiết, đan xen với cácgiai đoạn tố tụng trước đó Những thủ tục được thực hiện trong quá trình THADS lànhằm để thi hành các bản án, quyết định - kết quả cuả hoạt động xét xử, đảm bảoquyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp

- Thứ năm, đặc điểm về chủ thể của thủ tục THADS:

Thủ tục THADS gắn liền với sự có mặt ba chủ thể có địa vị pháp lý không giống nhau, đó là chấp hành viên, cơ quan THA với người phải THA, người được THA Việc bảo vệ lợi và quyền hợp pháp của công dân, gìn giữ kỷ cương, trật tự

trong THADS là trách nhiệm của chính quyền nhà nước, chứ không phải là nhiệm

vụ riêng có của công dân Chấp hành viên, cơ quan THA tham gia quan hệ phápluật về THADS không đơn giản chỉ vì lợi ích của chính mình, mà vấn đề quan trọng

và cốt lõi là nhân danh cơ quan nhà nước, thực hiện quyền lực nhà nước trên thực tế

về các phán quyết về dân sự của Tòa án, để đảm bảo lợi ích Nhà nước và lợi quyềnhợp pháp của các tổ chức, công dân, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN Là chủ thể bắtbuộc trong quan hệ THADS, chấp hành viên nhân danh Nhà nước, thực thi quyềnlực nhà nước thông qua hoạt động THA Để chấp hành viên có cơ sở pháp lý hoạtđộng, pháp luật qui định cho chấp hành viên những quyền hạn nhất định, như trongtrường hợp bản án, quyết định dân sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, hai bênđương sự tự nguyện bàn bạc và thỏa thuận với nhau việc thực hiện quyền và nghĩa

vụ theo nội dung và quyết định của bản án, thì chấp hành viên đóng vai trò là người

"xác nhận" việc tự nguyện và thỏa thuận đó và làm các thủ tục theo qui định củapháp luật THADS Ở trường hợp chủ thể của quan hệ pháp luật THADS, dù rằngchấp hành viên cơ quan THA đã giáo dục, giải thích, phân tích nhưng lại cố ýkhông tôn trọng bản án, quyết định của Tòa án, không tự nguyện thực thi nghĩa vụcủa mình với sự chây ỳ, coi thường pháp luật thì chấp hành viên phải áp dụng biện

Trang 16

pháp cưỡng chế, buộc người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ theo phán quyết Tòa

án đă tuyên Ở trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế THA không những thể hiệnquyền lực nhà nước, mà còn thể hiện bản chất dân chủ XHCN cũng như tráchnhiệm của Nhà nước về việc bảo vệ lợi quyền hợp pháp của tổ chức, công dân

Ngoài những chủ thể nói trên, trong quá trình thực hiện thủ tục THADS còn

có sự tham gia của một số chủ thể khác có liên quan như: cá nhân, cơ quan, tổ chức

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ THAcủa đương sự; cơ quan, tổ chức, công chức tư pháp – hộ tịch, địa chính – xây dựng

– đô thị và môi trường, cán bộ công chức cấp xã; Bảo hiểm xã hội, ngân hàng, tổchức tín dụng, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký giao dịchbảo đảm…có trách nhiệm thực hiện yêu cầu xác minh điều kiện THA của Chấphành viên v.v…

1.1.3 Vai trò của thủ tục thi hành án dân sự

- Thủ tục THADS là bảo đảm pháp lý cho việc thi hành các bản án, quyếtđịnh dân sự của Tòa án và cơ quan có thẩm quyền Các quy định về thủ tục THADS

là phương tiện để đưa các bản án, quyết định đó vào thực tế Thiếu đi các quy địnhthủ tục này thì việc thi hành các bản án, quyết định sẽ không thống nhất, dễ gây ranhững rối loạn trong quản lý xã hội Vì vậy, thủ tục THADS là cơ sở bảo đảm việcthực hiện quyền lực của Nhà nước, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệpháp luật và củng cố pháp chế XHCN

- Thủ tục THADS là công cụ hữu hiệu để bảo đảm lợi ích của Nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự khi bị xâm hại, góp phần bảo đảmtrật tự pháp luật XHCN, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thực hiện công bằng

xã hội

- Thủ tục THADS là tạo điều kiện cho hoạt động THADS được tiến hànhnhanh chóng và thực thi đúng quy định của pháp luật về THADS, tăng cường hiệulực và hiệu quả của bộ máy nhà nước

- Thủ tục THADS là cơ sở cho hoạt động THA của Chấp hành viên, cán bộ

cơ quan THADS được đúng đắn, hạn chế tình trạng lạm quyền, tham nhũng, tiêu

Trang 17

cực trong THADS; cũng như góp phần quan trọng trong việc khẳng định và nângcao vị thế của các cơ quan tư pháp.

- Thủ tục THADS góp phần thúc đẩy tích cực việc nâng cao ý thức tráchnhiệm của các chủ thể trong THADS (cả cơ quan THADS, người được THA vàngười phải THA), tạo ra và duy trì ý thức coi trọng pháp luật của cán bộ và nhândân trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước Vai trò này của thủ tục THADS có ýnghĩa quan trọng Bởi trong thực tiễn thường gặp, đối với các vụ việc có giá trị lớn,người phải THA hầu như không tự nguyện thi hành, buộc cơ quan THADS phải tổchức cưỡng chế theo luật định, nhưng nếu quá trình tổ chức thực thi các biện phápcưỡng chế THADS không đầy đủ hoặc không đúng sẽ phát sinh trong công tácTHADS các tình huống bất thường như: việc chậm thu hồi tài sản cho Nhà nước,các tổ chức sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp

1.2 Nội dung thủ tục thi hành án dân sự

Thủ tục THADS là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn, theo các trình tựsau: Cấp,chuyển giao bản án, quyết định xét xử; gửi yêu cầu THA; ra quyết địnhTHA; tổ chức thi hành Quyết định THA; kết thúc THA Như vậy, thủ tục THADSbao gồm những nhóm thủ tục sau:

- Thủ tục cấp, chuyển giao bản án, quyết định.

Xét từng loại bản án, quyết định, Toà án, cơ quan có thẩm quyền ra bản án,quyết định phải chuyển giao cho cơ quan THADS có thẩm quyền ngay sau khi raquyết định, bản án hoặc trong thời hạn xác định, kể từ ngày bản án, quyết định cóhiệu lực pháp luật; đồng thời bản án, quyết định đó cũng phải được cấp cho cácđương sự để thi hành

Việc cấp, chuyển giao bản án, quyết định phải được tiến hành trong thời hạnnhất định để tránh việc chậm trễ trong THA Cơ quan THADS có trách nhiệm nhậnquyết định, bản án để thi hành Việc tiếp nhận bản án, quyết định cũng phải đượcthực hiện theo những trình tự, thủ tục nhất định

- Thủ tục yêu cầu THA và tiếp nhận (từ chối) yêu cầu THADS.

Khi nhận được bản án, quyết định, các đương sự (người phải THA, người

Trang 18

được THA) phải gửi đơn đến cơ quan THADS để yêu cầu THA Việc gửi đơn yêucầu THA cũng phải được thực hiện theo những trình tự, thủ tục và yêu cầu, điềukiện nhất định về nội dung, hình thức đơn, về cách thức thực hiện quyền yêu cầuTHA của đương sự Việc gửi đơn yêu cầu THA của đương sự sẽ làm phát sinh thủtục tiếp nhận hoặc từ chối yêu cầu THA của cơ quan THADS Căn cứ vào nhữngtrường hợp cụ thể, cơ quan THADS sẽ tiếp nhận yêu cầu THA của đương sự khi đápứng các yêu cầu, điều kiện đặt ra; ngược lại, cơ quan THADS sẽ từ chối yêu cầuTHA của đương sự khi không đáp ứng các yêu cầu, điều kiện đặt ra.

- Thủ tục ra quyết định THADS.

Sau khi tiếp nhận đơn yêu cầu THA của đương sự, cơ quan THA có tráchnhiệm ra quyết định THA Trong một số trường hợp đặc biệt, cơ quan THADS chủđộng ra quyết định THA mà không cần có đơn yêu cầu THA của đương sự để bảo

vệ lợi ích của Nhà nước, kịp thời bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân.Chẳng hạn như trong các trường hợp: để thi hành hình phạt tiền, truy thu tiền, tàisản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí cho Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự;tịch thu sung quỹ Nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản, các khoản thu kháccho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời… Quyết định THA phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung, hình thức vàthời hạn ra quyết định, giúp cho việc tổ chức THA được thuận lợi, nhanh chóng

- Thủ tục tổ chức thực hiện quyết định THADS.

Để tổ chức thi hành Quyết định THA, sau khi ra quyết định THA, cơ quanTHADS có trách nhiệm gửi quyết định và thông báo về việc THA cho đương sự biết

để thi hành Việc gửi và thông báo quyết định THA được thực hiện bằng nhiều hìnhthức khác nhau, tùy từng điều kiện cụ thể để tạo thuận lợi cho cơ quan THA cũngnhư đảm bảo thông tin đến được đương sự

Để tạo cơ sở cho việc đề ra biện pháp THA phù hợp đối với từng vụ việc, cầnthiết phải tiến hành xác minh điều kiện THA của người phải THA Vì vậy, trongTHADS, xác minh điều kiện THA là một thủ tục bắt buộc, bước tiền đề quan trọng

để nghĩa vụ THA được thực thi Thủ tục xác minh điều kiện THA sẽ xác định

Trang 19

rõ thẩm quyền xác minh, trình tự xác minh, nội dung xác minh, quyền, nghĩa vụ vàtrách nhiệm của đương sự, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan v.v Kết thúcgiai đoạn xác minh, căn cứ vào kết quả xác minh, cơ quan THADS kết luận về việc

có đủ điều kiện THA hay chưa

Khi người phải THA có điều kiện THA thì cơ quan THA tổ chức thi hànhquyết định THA Để tạo điều kiện cho người phải THA, pháp luật cần quy định mộtkhoảng thời hạn tự nguyện THA Hết thời hạn tự nguyện THA mà người phải THA

có điều kiện THA mà không tự nguyện THA thì sẽ bị cưỡng chế THA

Trong quá trình tổ chức thi hành quyết định THA, sẽ có thể xuất hiện nhữngtình huống, sự kiện làm trì hoãn hoặc không thể THA được nữa Do đó, pháp luậtcũng sẽ quy định những trường hợp phải hoãn THA, tạm đình chỉ THA hoặc đìnhchỉ THA

Khi quyết định THA được thực hiện trên thực tế, sẽ làm chấm dứt quá trìnhTHA và cơ quan có thẩm quyền sẽ xác nhận kết quả THA Xác nhận kết quả THA làtrách nhiệm của cơ quan THADS để làm căn cứ pháp lý cho việc xác nhận ngườiphải THA đã hoàn thành nghĩa vụ chấp hành án của mình

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của thủ tục thi hành án dân sự

1.3.1 Hệ thống pháp luật về thi hành án dân sự

Sự ảnh hưởng của việc xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật ảnh hưởngđến việc thi hành và áp dụng pháp luật trong THADS, trực tiếp là các thủ tụcTHADS, cụ thể thể hiện ở chất lượng xây dựng và ban hành pháp luật Việc hoạchđịnh chính sách pháp luật được thực hiện khoa học, hợp lý thì nhà nước sẽ có cungcấp bộ công cụ hữu ích để thực thi có hiệu lực Ngược lại, một khi chất lượng xâydựng chưa tốt thì sẽ vướng mắc/ bất cập về một hệ thống pháp luật trong việc ápdụng THADS Hệ thống văn bản pháp luật chính là công cụ đặc biệt quan trọng củathủ tục THADS Vì khi hệ thống pháp luật văn minh đáp ứng được đòi hỏi của thựctiễn thi hành thủ tục THADS và hợp với văn hóa tập quán quốc gia và thông lệ quốc

tế, thì việc tuyên truyền, giải thích cũng như việc áp dụng thực hiện sẽ thuận lợi hơn

Nói như thế để thấy rằng, chất lượng hệ thống pháp luật ảnh hưởng mạnh mẽ

Trang 20

tới việc quy định của pháp về thủ tục THADS Đồng thời, cũng từ đó nó góp phầnquyết định tới hiệu quả và hiệu lực pháp luật Từ lịch sử thực tiễn pháp luật ở ViệtNam, có khá nhiều văn bản pháp luật ban hành song chưa phù hợp với qui luật pháttriển thực tiễn khách quan, chưa thống nhất và đồng bộ Có khi nhiều văn bản phápluật vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, thậm chí phải được thay thế bằng vănbản khác, vì nếu để nguyên không những không thực hiện được trong thực tế màcòn gây thiệt hại cho đất nước.

1.3.2 Trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm của chấp hành viên trong thi hành án dân sự

Để bảo đảm thực hiện thủ tục THADS, bên cạnh yếu tố pháp luật về THADSthì yếu tố con người trong tổ chức THA hết sức quan trọng, được xác định là yếu tốthen chốt trong cơ quan THADS, là hệ thống bộ máy tổ chức, trong cơ chế vận hành

và những hạn chế, yếu kém về năng lực quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước,chuyên môn nghiệp vụ Những cản ngại này phần nhiều có nguồn gốc từ chínhsách, cơ chế chồng chéo, thiếu phù hợp và nhất là từ chính bản thân con người ởtrong hệ thống cơ quan THADS Quan hệ giữa thủ tục THADS và người dân làquan hệ tương hỗ, mà trong đó Chấp hành viên, cán bộ người làm công tác THA -những “công bộc của nhân dân” có trách nhiệm quản lý công việc của Nhà nước,giữ gìn bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu của nhân dân trên cơ sở nhữngquy định của pháp luật Vì vậy, vấn đề cốt lõi là phải nâng cao trách nhiệm công vụcủa đội ngũ Chấp hành viên, cán bộ người làm công tác THA Phải xây dựng độingũ Chấp hành viên, cán bộ người làm công tác THA có tính chuyên nghiệp cao, có

đủ trình độ, có kỹ năng để triển khai những quyết định THA và ý thức chuyênnghiệp trong thi hành thủ tục THADS

Thực tiễn cũng đã cho thấy: trong rất nhiều nguyên nhân chủ quan và kháchquan, chính sự yếu kém và cửa quyền hoặc vô trách nhiệm của một bộ phận Chấphành viên, cán bộ người làm công tác THA đã làm cho quá trình giải quyết THAchậm và án tồn đọng gia tăng ảnh hưởng đến quyền lợi của người THA Vì vậy cầntích cực xây dựng bộ máy hành chính và Chấp hành viên, cán bộ người làm công

Trang 21

tác THA trong hệ thống THADS trong sạch vững mạnh, đáp ứng lòng tin yêu của tổchức và người dân.

1.3.3 Ý thức pháp luật của người dân trong việc thực hiện thủ tục thi hành án dân sự

Trong quá trình tổ chức THA, thủ tục THADS là tác nghiệp mà chấp hànhviên và cán bộ làm công tác THA phải thực hiện nhằm đảm bào quyền, lợi ích hợppháp của các bên đương sự và những người có quyền, lợi ích liên quan đã trực tiếp

bị ảnh hưởng, nhất là đối với người phải THA Các quyền về nhân thân, quyền vềtài sản và tài sản của người phải THA lúc này đã trực tiếp bị tác động một khi họkhông tự nguyện thì Chấp hành viên buộc phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để họphải thực thi đúng nội dung quyết định, bản án của Tòa án và các cơ quan có thẩmquyền vì lợi ích của người được THA Nên giai đoạn này, người phải THA thườngtìm cách trốn tránh, trì hoãn, cản trở việc THA, dẫn đến việc THA trở nên phức tạp

và khó khăn Điều đó cho thấy, hiệu quả và chất lượng của công tác THADS phụthuộc phần lớn vào ý thức chấp hành pháp luật của đương sự các bên khi tham giavào quá trình THA

Bên cạnh đó, một trong những đặc trưng của hoạt động THADS là đề cao sựthỏa thuận của đương sự, người có nghĩa vụ THA THADS không hoàn toàn dùngcác biện pháp cưỡng chế của quyền lực nhà nước Pháp luật THADS công nhận sựthỏa thuận, tự nguyện của người được THA và của người phải THA về việc chấphành bản án, quyết định của Tòa án, nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm lợi ích củaNhà nước, của xã hội Việc hiểu biết sâu, rộng các quy định của pháp luật vềTHADS của nhân dân nói chung và từng đương sự trong vụ việc THA cụ thể nóiriêng là một trong những yếu tố giúp công tác THA đạt kết quả cao Thực tế chothấy không ít các trường hợp đương sự trong một vụ án không hiểu hoặc hiểu mộtcách mơ hồ về pháp luật THADS dẫn đến trong quá trình giải quyết vụ việc đương

sự có nhiều thắc mắc, khiếu nại làm ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả giải quyết áncủa cơ quan THADS Khi đương sự không biết quy định của pháp luật thì họ khôngthể biết được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quá trình THA cho nên

Trang 22

sẽ gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mình một cách hợp pháphoặc có hành vi chống đối, chây ỳ do thiếu hiểu biết Ngược lại, nếu đương sự hiểusâu, hiểu đúng các quy định pháp luật về THADS nói riêng, pháp luật nói chung sẽ

có có sự thay đổi tư duy, nhận thức, tự nguyện thi hành phần nghĩa vụ của mình

Chính vì vậy, trình độ, ý thức pháp luật của các đương sự trong THADS làmột trong những yếu tố tác động quan trọng đến chất lượng, hiệu quả công tác THA

1.3.4 Chất lượng của bản án, quyết định

Chất lượng và hiệu quả của THA phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng xét xửcủa toà án và các cơ quan có thẩm quyền Các vấn đề tranh chấp dân sự thường diễnbiến rất phức tạp qua nhiều giai đoạn, nhưng khi xét xử các cơ quan đó chưa xemxét hoặc chưa điều tra một cách kỹ lưỡng để đưa ra phán quyết phù hợp, đúng phápluật.Đến khi tổ chức THA, đương sự không đồng tình, phản đối, kiên quyết khôngthi hành Trong THADS, việc thỏa thuận THA rất quan trọng, giúp dung hòa mâuthuẫn, hài hòa lợi ích của hai bên tranh chấp để từ đó đi tới kết thúc hồ sơ THA Tuynhiên, trên thực tế rất khó khăn để hai bên (người được THA và người phải THA)thỏa thuận với nhau Nếu bản án, quyết định được giải quyết một cách công tâm,khách quan, đúng pháp luật thì tính tự nguyện thi hành của đương sự trong giaiđoạn THA rất cao Tuy nhiên, nếu việc giải quyết của Tòa án hoặc các cơ quan cóthẩm quyền khác thiếu tính thuyết phục, không khả thi trên thực tế, không được sựđồng tình của người dân thì dù bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì vẫnrất khó có thể tổ chức thi hành trên thực tế và thường xuyên vấp phải sự chống đối,không thể tiến hành thỏa thuận được cho hai bên đương sự Chính vì vậy, khi tiếnhành CCHC trong THADS thì cũng phải chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượngxét xử các tranh chấp dân sự

1.3.5 Việc minh bạch, thông tin tài sản trong quá trình tổ chức thi hành

án dân sự và cơ chế phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan,

tổ chức liên quan đến việc tổ chức thi hành án dân sự

Để giải quyết việc THA, cơ quan THADS phải tiến hành nhiều thủ tục như:tống đạt, xác minh, áp dụng các biện pháp đảm bảo, biện pháp cưỡng chế THA

Trang 23

v.v… Vì thế, cơ quan THADS không thể “đơn thân độc mã” thực hiện được cáccông việc trên, mà cần có sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan Ví dụ:Liên quan đến quyền sử dụng đất cơ quan THADS cần sự phối hợp của cơ quanquản lý tài nguyên và môi trường; liên quan đến tài khoản cần sự phối hợp của ngânhàng, tổ chức tín dụng; mỗi đương sự trong vụ việc THA đều có những ràng buộcvới một cơ quan, hay một tổ chức nhất định Để giải quyết một vụ việc THADS cầnnắm bắt rất nhiều thông tin của đương sự như: nơi cư trú, làm vịêc, nhân thân, điềukiện kinh tế, các mối quan hệ xã hội… Vì vậy, cần có sự phối kết hợp chặt chẽ vớicác cơ quan hữu quan để nắm bắt thông tin kịp thời và chính xác, giúp giải quyếtviệc THA được nhanh gọn và đạt kết quả cao v.v…

Việc phối hợp tốt với các cơ quan, tổ chức, ban ngành liên quan trongTHADS là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tácTHADS Thực tiễn cho thấy quá trình THADS nếu nhận được sự phối hợp, hỗ trợtốt từ các cơ quan, ban ngành liên quan thì công tác THA đạt kết quả cao Ngượclại, nếu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không thấy được hết trách nhiệmcủa mình hoặc có nhận biết trách nhiệm nhưng không thực hiện, thực hiện khôngđầy đủ, không kịp thời các yêu cầu của chấp hành viên, thủ trưởng, phó thủ trưởng

cơ quan THADS, dẫn đến một thực tế không thể phủ nhận được là lượng hồ sơTHADS tồn đọng nhiều

Từ những phân tích trên có thể thấy việc phối hợp với các cơ quan, tổ chứchữu quan trong THADS là điều không thể thiếu trong hoạt động THADS, trong đóđặc biệt quan trọng là mối quan hệ phối hợp với UBND các cấp, Ban chỉ đạoTHADS, các cơ quan chuyên môn ở địa phương (như: Cơ quan quản lý tài nguyên

và môi trường, cơ quan quản lý xây dựng đô thị, cơ quan tài chính, cơ quan thuế,ngân hàng, bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý doanh nghiệp, cơ quan công an, Việnkiểm sát… trong việc xác minh, áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡngchế THADS …) Vì vậy, đây cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng, tác độngtrực tiếp đến quá trình thực hiện các thủ tụctrong THADS

Trang 24

Tiểu kết chương 1

Thủ tục THADS là hoạt động mang tính hành chính - tư pháp do cơ quan Thihành án, Chấp hành viên tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định đểđưa bản án, quyết định dân sự của Tòa án; Phán quyết, quyết định của Trọng tàithương mại, Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnhtranh theo qui định của pháp luật có hiệu lực trên thực tế, nhằm bảo đảm lợi ích củaNhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự phápluật xã hội

Thủ tục THADS có những đặc điểm cơ bản đó là: mang tính pháp lý; mang

“đặc điểm dân sự”; cơ sở để phát sinh thủ tục THADS đó là các bản án, quyết địnhcủa Tòa án và cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi giải quyết các tranh chấpdân sự; mục đích của thủ tục THADS là để thi hành các phán quyết của các cơ quanTòa án, Trọng Tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh; đặc điểm về chủ thể của thủtục THADS

Nội dung thủ tục THADS bao gồm: Thủ tục cấp, chuyển giao bản án, quyếtđịnh cho đương sự và cơ quan THA;Thủ tục tiếp nhận/ từ chối yêu cầu THADS;Thủ tục ra quyết định THADS; Thủ tục tổ chức thực hiện THADS

Hiệu quả thực hiện thủ tục THADS chịu sự tác động của các yếu tố như:Chất lượng của quy định pháp luật về THADS; Trình độ,năng lực, ý thức tráchnhiệm và đạo đức của đội ngũ Chấp hành viên; Ý thức pháp luật của người dântrong thực hiện thủ tục THADS; Chất lượng của bản án, quyết định về dân sự; cơchế phối hợp giữa cơ quan trong tổ chức THADS

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát về sự phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục thi hành án dân sự

Nhận thức vai trò quan trọng của hoạt động THA trong thời kỳ đổi mới,Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về THADS, như: Nghị quyết số

08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

đã ban hành Pháp lệnh THADS năm 1989, Pháp lệnh THADS năm 1993, Pháp lệnhTHADS năm 2004 Sau hơn ba năm thực hiện Pháp lệnh THADS năm 2004, kếtquả cho thấy nhiều quy định pháp luật về thủ tục THADS đã thể hiện được chủtrương cải cách tư pháp, CCHC, phù hợp từng bước quá trình chuyển đổi từ cơ chếtập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, tháo gỡ kịp thời nhiều vướng mắc trongTHADS Song nếu so với nhiệm vụ và yêu cầu thực tiễn phát triển mới thì Pháplệnh THADS năm 2004 đã bộc lộ không ít hạn chế, đó là:(1) Bất cập ở sự quy định

về trình tự, thủ tục THADS và chưa rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp của các tổ chức

có liên quan trong THADS; (2) Mô hình tổ chức cơ quan THADS vàcơ chế quản lýchưa khai thác hết chức năng, nhiệm vụ và tính chất đặc thù công việc; (3) Quyềnhạn của cơ quan THADS và của Chấp hành viên vẫn chưa tương xứng với yêu cầunhiệm vụ; (4) Chưa có cơ chế liên thông phối hợp chặt chẽ giữa THADS với THAphạt tù, nhất là lnhững vụ án hình sự có bồi thường thiệt hại, v.v Những mặt hạnchế này là một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu làm cho tình trạng án dân sự còntồn đọng, ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu lực quản lý nhànước; quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân theo bản án,

Trang 26

quyết định của Tòa án chưa được bảo đảm.

Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vấn đề thực tiễn cấp bách này, ngày14/11/2008, Quốc hội đã ban hành Luật số 26/2008/QH12 về Thi hành án dân sự;Nghị quyết số 24/2008/QH12về việc thi hành Luật THADS Tiếp đó, Chính phủcùng các bộ ngành đã ban hành hàng chục văn bản quy phạm pháp luật quy định chitiết và hướng dẫn thi hành, một số văn bản quan trọng như: Nghị định 58/2009/NĐ-

CP hướng dẫn thi hành Luật THADS về thủ tục THADS; Nghị định số74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật THADS về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và công chứclàm công tác này Bên cạnh việc tạo chuyển biến tích cực, Luật THADS năm 2008

và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này vẫn còn bộc lộ một số hạn chế ở cácquy định chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, thiếu thống nhất với pháp luật cóliên quan [10; tr.13] Điều này khiến những vướng mắc đặt ra trong thực tiễn, làmảnh hưởng đáng kể đến kết quả và hiệu lực THA Để tiếp tục hoàn thiện thể chếcũng như thủ tục THADS, ngày 25 tháng 11 năm 2014 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội

khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực

thi hành kể từ ngày 01/7/2015; tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định số

62/2015/NĐ-CP ngày 20/7/2015 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi

bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự Những văn bản pháp luật này đã

giúp bảo đảm tạo lập hành lang pháp lý ngày càng vững chắc cho công tác THADSnói chung và thủ tục THADS nói riêng

Theo đó, một số điểm chính về thủ tục THADS được bổ sung, sửa đổi trongLuật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2014, đó là:

- Về quyền và nghĩa vụ của người được THA đã được mở rộng phù hợp với

chủ trương xã hội hóa hoạt động THADS Cụ thể các quyền được mở rộng thêm là:quyền được thông báo về THA; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ trongbản án, quyết định của mình; quy định về quyền được ủy quyền cho người khác xácminh, cung cấp thông tin về điều kiện THA của người phải THA; quyền chuyểngiao quyền được THA cho người khác; quyền được yêu cầu thay đổi Chấp hành

Trang 27

viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làmnhiệm vụ và các quyền khác đã tạo điều kiện thiết thực và đảm bảo tính khách quancho đương sự có nhiều cơ hội lựa chọn phương thức phù hợp để THA.

- Về thủ tục nhận bản án, quyết định được quy định cụ thể, rõ ràng và chặt

chẽ hơn

- Về thủ tục xác minh điều kiện THA được xác định thuộc về trách nhiệm của

Chấp hành viên khác với trước đây quy định đây là nghĩa vụ của người được THA;chi phí xác minh do ngân sách Nhà nước trả chứ không phải do người được THAchịu như quy định của Luật THADS năm 2008 Đồng thời, Luật cũng bổ sung quyđịnh yêu cầu Chấp hành viên phải xuất trình thẻ Chấp hành viên và tăng một sốquyền của Chấp hành viên trong quá trình xác minh điều kiện THA để khắc phụctình trạng lỏng lẻo của công tác xác minh và đảm bảo hiệu quả công tác phối hợptrong THADS

- Về thời hạn tự nguyện THA cũng được thay đổi theo hướng rút ngắn còn 10

ngày (trước đây là 15 ngày) Ngoài ra, Luật còn sửa đổi, bổ sung một số nội dungkhác về thủ tục THA như: thay đổi điều kiện xét miễn, giảm THADS; tạm giữ tàisản, giấy tờ của đương sự v.v…

2.2 Các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục thi hành án dân sự

Thủ tục THADS hiện nay được quy định trong Luật THADS năm 2008 đượcsửa đổi, bổ sung năm 2014; và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 quiđịnh chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS; Thông tư số01/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện thủ tục vềquản lý hành chính và biểu mẫu nghiệp vụ trong THADS; Thông tư số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 của Bộ Tư pháp về quy định quy trình giải quyết đơn khiếunại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong THADS; Quyết định số 273/QĐ-TCTHADS ngày 22/02/2017 của Tổng cục trưởng Tổng cục THADS về ban hànhQuy trình Tổ chức thi hành án trong nội bộ cơ quan THADSvà các văn bản hướngdẫn khác có liên quan Có thể khái quát các quy định pháp luật về thủ tục THADSthành các nhóm sau:

Trang 28

2.2.1 Quy định pháp luật về thủ tục cấp, chuyển giao bản án, quyết định của tòa án

Bản án, quyết định của tòa án là cơ sở pháp lý để các đương sự thực hiệnquyền yêu cầu THA và để cơ quan THA ra quyết định THA Cho nên, trách nhiệmcấp bản án, quyết định của tòa án cho đương sự và trách nhiệm chuyển giao bản án,quyết định của tòa án cho cơ quan THA thuộc về tòa án đã tuyên bản án, quyết định

đó Thời hạn cấp, chuyển giao các loại bản án, quyết định được quy định trong Bộluật tố tụng dân sự (BLTTDS), Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tố tụng hành chính

- Thủ tục cấp bản án, quyết định được quy định tại Điều 27 của Luật

THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), cụ thể: Tòa án, Hội đồng xử

lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy địnhtại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thihành”

- Thủ tục chuyển giao bản án, quyết định được quy định tại Điều 28 của Luật

THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), cụ thể:

Tòa án, cơ quan đã ra bản án, quyết định về dân sự phải chuyển giao bản án,quyết định đó cho cơ quan THADS có thẩm quyền trong thời hạn nhất định Thờihạn chuyển giao bản án, quyết định có thể là 30 ngày, 15 ngày kể từ ngày bản án,quyết định có hiệu lực pháp luật, hoặc thậm chí là ngay sau khi ra quyết định tùythuộc vào từng loại bản án, quyết định

Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thugiữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến việc THA thì khichuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan THADS, Tòa án phải gửi kèm theo bảnsao biên bản về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác cóliên quan

- Thủ tục nhận bản án, quyết định của cơ quan THADS được quy định tại

Điều 29 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), cụ thể:

Khi nhận bản án, quyết định do Tòa án, Trọng tài thương mại chuyển giao,

cơ quan THADS phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định

Trang 29

Sổ nhận bản án, quyết định phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản

án, quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định và tên Tòa án, Trọng tàithương mại đã ra bản án, quyết định; tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác cóliên quan

Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên;trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưuđiện thì cơ quan THADS phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án, Trọng tài thươngmại đã chuyển giao biết.”

Khi nhận Bản án, quyết định của Tòa án chuyển giao, Cơ quan THADS(người được giao trách nhiệm nhận Bản án, quyết định của Tòa án) phải thực hiệncác bước sau:

+ Bước 1: Kiểm tra nội dung Bản án, quyết định

+ Bước 2: Kiểm tra các tài liệu kèm theo (ví dụ: Biên bản giao nhận vậtchứng; các vật chứng, tài sản có trong Bản án v.v…)

+ Bước 3: Lập biên bản giao nhận vật chứng, tài sản (nếu có), có chữ ký củacác bên

+ Bước 4: Lập biên bản giao nhận Bản án, quyết định, có chữ ký của các bên(trong trường hợp giao nhận trực tiếp) hoặc thông báo bằng văn bản cho Tòa án đãchuyển giao (trong trường hợp Tòa án chuyển Bản án, quyết định bằng đường bưuđiện)

+ Bước 5: Vào sổ nhận bản án, quyết định (ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, nămnhận bản án, quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định và tên Tòa án

đã ra bản án, quyết định; họ tên, địa chỉ của đương sự và các tài liệu khác có liênquan)

Việc nhận bản án, quyết định có thể được thực hiện trực tiếp tại Cơ quanTHADS hoặc qua hệ thống bưu điện

Trong trường hợp có vật chứng, tài sản tạm giữ được chuyển giao cùng bản

án, quyết định thì thủ tục được tiến hành theo quy định tại Điều 122 và 123 củaLuật THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) như sau:

Vật chứng, tài sản tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục

Trang 30

vụ việc xét xử mà chưa được chuyển cho cơ quan THADS trong giai đoạn truy tố,xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quanTHADS tại thời điểm Tòa án chuyển giao bản án, quyết định Việc giao, nhận vậtchứng, tài sản tạm giữ được tiến hành tại kho của cơ quan THADS Đối với vậtchứng, tài sản tạm giữ không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơquan THADS thì địa điểm giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ là nơi đang gửi, giữhoặc nơi đang có tài sản Việc tiếp nhận tài sản phải có sự tham gia đầy đủ của Thủtrưởng cơ quan THADS hoặc người được Thủ trưởng cơ quan THADS ủy quyền,thủ kho, kế toán.

Thủ tục tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ được tiến hành như sau: Thủkho có trách nhiệm trực tiếp nhận, kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ vànhập kho THA (có biên bản được lập kèm theo có chữ ký của người đại diện và dấucủa cơ quan bên nhận, chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, nếucó; có so sánh với biên bản thu giữ ban đầu của cơ quan Công an hoặc Tòa án) Cơquan THADS chỉ tiếp nhận tài sản đủ và đúng với hiện trạng ghi trong biên bản thugiữ ban đầu Trường hợp vật chứng, tài sản tạm giữ giao, nhận đã bị thay đổi so vớibiên bản thu giữ ban đầu thì Thủ trưởng cơ quan bên giao, bên nhận có trách nhiệmkiểm tra, kết luận và cơ quan THADS chỉ nhận khi đã được các cơ quan có thẩmquyền làm rõ về những thay đổi đó Các trường hợp: vật chứng, tài sản tạm giữđược bàn giao dưới hình thức gói niêm phong; vật chứng, tài sản tạm giữ là các chất

ma túy; và trường hợp niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu khả nghi trên đó, thì cơquan THADS chỉ nhận khi có kết quả giám định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền

và có biên bản giao nhận có chữ của các bên

2.2.2 Quy định pháp luật về thủ tục tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành

án dân sự.

- Thủ tục tiếp nhận đơn yêu cầu THA: được quy định tại Điều 31 Luật

THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Điều 4 Nghị định

62/NĐ-CP ngày 18-7-2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS.

Trang 31

+ Người yêu cầu THA có thể trực tiếp tự mình hoặc ủy quyền cho ngườikhác nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày tại Cơ quan THADS Đơn yêu cầu THA phải

có các nội dung sau: Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu; Tên cơ quan THADS nơiyêu cầu; Họ, tên, địa chỉ của người được THA, người phải THA; Nội dung yêu cầuTHA; Thông tin về tài sản hoặc điều kiện THA của người phải THA; ngày thángnăm làm đơn và chữ ký của người làm đơn Đơn yêu cầu THA hiện nay được thựchiện theo Mẫu số D 04-THA (Ban hành theo Thông tư 01/2016/TT-BTP ngày 01-02-2016 của Bộ Tư pháp) Trường hợp người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lờinói thì cơ quan THADS phải lập biên bản có đầy đủ các nội dung của mẫu đơn trên.Biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu THADS;

+ Khi tiếp nhận yêu cầu THA, Cơ quan THADS (người được giao tráchnhiệm nhận đơn yêu cầu THA) phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèmtheo, vào sổ nhận yêu cầu THADS và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.Các bước thủ tục cụ thể như sau:

Bước 1: Kiểm tra thời hiệu yêu cầu THA;

Bước 2: Kiểm tra thẩm quyền giải quyết việc THA;

Bước 3: Kiểm tra người yêu cầu THA có quyền yêu cầu THA hay không;Bước 4: Kiểm tra nội dung đơn và các tài liệu kèm theo;

Bước 5: Vào sổ nhận đơn và cấp giấy biên nhận cho người nộp đơn

- Thủ tục từ chối yêu cầu THADS được quy định tại khoản 5 Điều 31 Luật

THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), cụ thể:

+ Cơ quan THADS từ chối yêu cầu THA và phải thông báo bằng văn bảncho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầuTHA trong các trường hợp sau:

Người yêu cầu không có quyền yêu cầu THA hoặc nội dung yêu cầu khôngliên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phátsinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

Cơ quan THADS được yêu cầu không có thẩm quyền THA;

+ Thẩm quyền THA được quy định tại Điều 35 Luật THADS năm 2008 (sửa

Trang 32

đổi, bổ sung năm 2014), cụ thể là:

Cơ quan THADS cấp huyện có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định:Bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp huyện nơi cơ quan THADS có trụ sở;Bản án, quyết định phúc thẩm của TAND cấp tỉnh đối với bản án, quyết định sơthẩm của TAND cấp huyện nơi cơ quan THADS cấp huyện có trụ sở; Quyết địnhgiám đốc thẩm, tái thẩm của TAND cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệulực pháp luật của TAND cấp huyện nơi cơ quan THADS có trụ sở; Bản án, quyếtđịnh do cơ quan THADS cấp huyện nơi khác, cơ quan THADS cấp tỉnh hoặc cơquan THA cấp quân khu ủy thác;

Cơ quan THADS cấp tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định:Bản án, quyết định sơ thẩm của TAND cấp tỉnh trên cùng địa bàn; Bản án, quyếtđịnh của TAND cấp cao; Quyết định của TAND tối cao chuyển giao cho cơ quanTHADS cấp tỉnh;Bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọngtài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; Phán quyết,quyết định của Trọng tài thương mại; Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hộiđồng xử lý vụ việc cạnh tranh; Bản án, quyết định do cơ quan THADS nơi kháchoặc cơ quan THA cấp quân khu ủy thác; Bản án, quyết định thuộc thẩm quyền thihành của cơ quan THADS cấp huyện quy định tại khoản 1 Điều này mà thấy cầnthiết lấy lên để thi hành; Bản án, quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà cóđương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp về THA;

Cơ quan THA cấp quân khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định:Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính,

xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình

sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn; Quyết định về hìnhphạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tàisản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân

sự khu vực trên địa bàn; Quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vậtchứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí và quyết định dân sựtrong bản án, quyết định hình sự của Tòa án quân sự trung ương chuyển giao cho cơ

Trang 33

quan THA cấp quân khu; Quyết định dân sự của TAND tối cao chuyển giao cho cơquan THA cấp quân khu; Bản án, quyết định do cơ quan THADS cấp tỉnh, cơ quanTHADS cấp huyện, cơ quan THA cấp quân khu khác ủy thác;

Hết thời hiệu THA;

+ Thời hiệu yêu cầu THA được quy định tại Điều 30 Luật THADS năm 2008(sửa đổi, bổ sung năm 2014), cụ thể là:

Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật,người được THA, người phải THA có quyền yêu cầu cơ quan THADS có thẩmquyền ra quyết định THA Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn địnhtrong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đếnhạn.Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được ápdụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn;

Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ THA theo quy định Luật này thìthời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu THA, trừ trường hợpngười được THA đồng ý cho người phải THA hoãn THA;

Trường hợp người yêu cầu THA chứng minh được do trở ngại khách quanhoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu THAđúng thời hạn thì thờigian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệuyêu cầu THA;

Khi đã hết thời hạn nói trên thì người được yêu cầu THA không còn quyềnyêu cầu THA nữa

2.2.3 Quy định pháp luật về thủ tục ra quyết định thi hành án

Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) qui định 02 trường hợp

ra quyết định THA, đó là: Chủ động ra quyết định THA và ra quyết định THA theođơn yêu cầu THA

- Trường hợp chủ động ra quyết định THA:

+ Thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định THA đối với phần

bản án, quyết định sau: (1) Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, ánphí; (2) Trả lại tiền, tài sản cho đương sự; (3) Tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu

Trang 34

tiêu huỷ vật chứng, tài sản; (4) Thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộcdiện sung quỹ nhà nước; (5) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; (6)Quyết định của Tòa án giải quyết việc phá sản;

+ Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định,Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra quyết định THA Đối với quyết định áp dụngbiện pháp khẩn cấp tạm thời, Thủ trưởng cơ quan THADS phải ra ngay quyết địnhTHA và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành;

+ Đối với quyết định của Tòa án giải quyết việc phá sản thì phải ra quyếtđịnh THA trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định

- Trường hợp ra quyết định theo đơn yêu cầu THA, Thủ trưởng cơ quan THADS chỉ ra quyết định THA khi có đơn yêu cầu THA.

+ Thời hạn ra quyết định THA theo đơn yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từngày nhận được đơn yêu cầu THA;

+ Quyết định THA bị thu hồi trong các trường hợp sau: (1) Quyết định vềTHA được ban hành không đúng thẩm quyền; (2) Quyết định về THA có sai sót làmthay đổi nội dung vụ việc; (3) Căn cứ ra quyết định về THA không còn; (4) Khi có

sự chuyển giao quyền và nghĩa vụ THA ( quy định tại khoản 3 Điều 54)

Người có thẩm quyền ra quyết định về THA, người có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại có quyền ra quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sungquyết định về THA trong trường hợp quyết định về THA có sai sót mà không làmthay đổi nội dung vụ việc THA;

Người có thẩm quyền ra quyết định về THA, người có thẩm quyền giải quyếtkhiếu nại có quyền ra quyết định hủy hoặc yêu cầu hủy quyết định về THA của Thủtrưởng cơ quan THADS cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếptrong các trường hợp sau: (1) Phát hiện các trường hợp phải thu hồi, sửa đổi, bổsung mà Thủ trưởng cơ quan THADS cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản

lý trực tiếp không tự khắc phục sau khi có yêu cầu; (2) Quyết định về THA có viphạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền;

Quyết định thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định về THA phải ghi rõ

Trang 35

căn cứ, nội dung và hậu quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ.

2.2.4 Quy định pháp luật về thủ tục tổ chức thực hiện quyết định thi hành

án dân sự

2.2.4.1 Thủ tục gửi quyết định và thông báo về thi hành án

Thủ tục này được quy định từ Điều 38, 39,40,41,42,43 Luật THADS năm

2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

- Quyết định THA sau khi được ban hành phải được gửi cho cơ quan cóthẩm quyền để thực hiện chức năng kiểm sát và phải được thông báo tới các đương

sự để thi hành Luật THADS quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Quyết địnhTHA phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp Trong tổ chức THA, thủtục thông báo THA có ý nghĩa quan trọng Thông qua việc thông báo, người đượcthông báo sẽ biết được quyền, nghĩa vụ THA của mình để thực hiện Thông báo vềTHA là việc người có thẩm quyến thực hiện việc chuyển tải giấy tờ chứa đựngthông tin về THA cho người được thông báo theo trình tự thủ tục nhất định Vì vậy,khi đã thụ lý THA thì cơ quan THADS phải tiến hành thông báo về THA;

- Thời hạn thông báo: phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản,trốn tránh việc THA

- Đối tượng được thông báo là các đương sự (người được THA, người phảiTHA) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Hình thức thực hiện việc thông báo, đó là: thông báo trực tiếp hoặc qua cơquan tổ chức, cá nhân khác; niêm yết công khai; thông báo trên các phương tiệnthông tin đại chúng;

- Người thực hiện việc thông báo gồm: Chấp hành viên; công chức làm côngtác THA; bưu tá; người được Cơ quan THADS ủy quyền; tổ trưởng tổ dân phố;trưởng thôn, làng, ấp, bản; UBND, công an cấp xã; Thủ trưởng cơ quan, đơn vị;Giám thị trại giam, trại tạm giam; Đài Phát thanh truyền hình trung ương và địaphương, báo ngày (trong trường hợp thông báo trên phương tiện thông tin đạichúng);

Trang 36

- Trình tự, thủ tục thông báo được tiến hành theo các bước sau:

+ Thông báo trực tiếp cho cá nhân:

Bước 1: Giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ;

Bước 2: Trường hợp người được thông báo vắng mặt thì giao văn bản thôngbáo cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó.Việc giao phải lập thành biên bản, có chữ ký của các bên;

+ Trường hợp người được thông báo không có người thân thích có đủ nănglực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có nhưng người đó từ chối nhận hoặc ngườiđược thông báo vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thôngbáo lập biên bản về việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của ngườichứng kiến và thực hiện việc niêm yết công khai;

+ Trường hợp người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thôngbáo giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệmnhận văn bản, người đại diện tham gia việc THA của cơ quan, tổ chức đó và phảiđược những người này ký nhận;

- Trường hợp thông báo theo hình thức Niêm yết công khai

+ Trường hợp này được Thực hiện khi không rõ địa chỉ của người đượcthông báo hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợppháp luật có quy định khác Cơ quan THADS trực tiếp hoặc ủy quyền cho UBNDcấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo hoặc cá nhân,

tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thực hiện việc niêm yết;

+ Việc niêm yết được thực hiện theo thủ tục sau: Niêm yết văn bản thông báotại trụ sở cơ quan THADS, trụ sở UBND cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùngcủa người được thông báo Lập biên bản về việc niêm yết công khai, trong đó ghi rõngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo; có chữ

ký của người chứng kiến Thời gian niêm yết công khai là 10 ngày kể từ ngày niêmyết;

- Trường hợp thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng

+ Hình thức thông báo này được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc

Trang 37

đương sự có yêu cầu;

+ Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự

cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày hoặc trên đài phát thanh, đàitruyền hình cấp tỉnh của địa phương đó hai lần trong hai ngày liên tiếp.Trường hợpxác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thôngbáo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đàitruyền hình của trung ương hai lần trong hai ngày liên tiếp

2.2.4.2 Thủ tục xác minh điều kiện thi hành án

Thủ tục này được quy định tại Điều 44, Điều 44 a Luật THADS năm 2008sửa đổi, bổ sung năm 2014

- Để tổ chức việc THA được nhanh chóng và đúng đắn, ngoài việc nắm vữngnội dung quyết định của bản án, quyết định dân sự, nội dung yêu cầu THA củađương sự thì cơ quan THADS còn phải nắm vững được những vấn đề liên quan đếnviệc THA như: địa chỉ, tình hình, tài sản, thu nhập của người phải THA TrongTHADS thì người được THA có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin liên quan đếnTHA cho cơ quan THADS, nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp họ không cóđiều kiện cung cấp vì người phải THA giấu giếm thông tin về tài sản, thu nhập củamình nhằm trốn tránh việc THA hay khi các cơ quan, tổ chức hữu quan không cungcấp cho người được THA Bởi vậy, thủ tục xác minh điều kiện THA là phù hợp vàcần thiết;

- Xác minh điều kiện THA là công việc do Chấp hành viên thực hiện theoquy định pháp luật để làm rõ các vấn đề liên quan đến điều kiện THA của ngườiphải THA;

- Trường hợp tiến hành thủ tục xác minh điều kiện THA: Trong thời hạn 10ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện THA mà người phải THA không tự nguyệnchấp hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh Ở trường hợp áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay;

- Thẩm quyền xác minh điều kiện THA thuộc về Chấp hành viên của cơquan THADS có thẩm quyền Cơ quanTHADS có thể ủy quyền cho cơ quan

Trang 38

THADS nơi người phải THA có tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minhđiều kiện THA Người được THA có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khácxác minh điều kiện THA, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành

án của người phải THAcho cơ quan THADS;

Trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA thì ít nhất 06 tháng/lần,Chấp hành viên phải xác minh điều kiện THA; trường hợp người phải THA chưa cóđiều kiện THA là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hìnhphạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mớicủa người phải THA thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm/lần Sau hai lần xác minh

mà người phải THA vẫn chưa có điều kiện THA thì cơ quan THADS phải thông báobằng văn bản cho người được THA về kết quả xác minh Việc xác minh lại đượctiến hành khi có thông tin mới về điều kiện THA của người phải THA;

- Nội dung xác minh: Xác minh điều kiện kinh tế, hiện trạng tài sản, thunhập; các giấy tờ đăng ký quyền sở hữu, sử dụng, đăng ký giao dịch bảo đảm; hệthống sổ sách quản lý vốn, tài sản v.v…;

- Thời gian thực hiện: 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định THA đối với trườnghợp chủ động THA; 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu xác minh của ngườiđược THA đối với trường hợp THA theo đơn yêu cầu;

- Thủ tục xác minh điều kiện THA: Theo khoản 4 Điều 44 Luật THADS năm

2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014,Chấp hành viên có trách nhiệm: (1) Xuất trình thẻChấp hành viên; (2) Xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để THA;đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảmthì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó; (3)Trường hợp xác minh bằng văn bản thì văn bản yêu cầu xác minh phải nêu rõ nộidung xác minh và các thông tin cần thiết khác; (4) Trường hợp người phải THA là

cơ quan, tổ chức thì Chấp hành viên trực tiếp xem xét tài sản, sổ sách quản lý vốn,tài sản; xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang quản lý, bảo quản, lưugiữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải THA; (5) Yêu cầu cơ quan chuyênmôn hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường

Trang 39

hợp cần thiết; (6) Lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh có xác nhận củaUBND hoặc công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh;

- Kết thúc xác minh, căn cứ kết quả xác minh, nếu người phải THA chưa cóđiều kiện THA thì thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định về việc chưa có điềukiện THA;

- Những trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA được quy địnhtại khoản 1 Điều 44a Luật THADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, bao gồm:(1) Người phải THA không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tốithiểu cho người phải THA, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tàisản để THA hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡngchế THA hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý đểTHA; (2) Người phải THA phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vậtphải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờnhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sựkhông có thỏa thuận khác; (3) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của ngườiphải THA, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng

Trong những trường hợp người phải THA chưa có điều kiện THA nói trên, ítnhất 06 tháng/lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện THA; trường hợp ngườiphải THA chưa có điều kiện THA là người đang chấp hành hình phạt tù mà thờigian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địachỉ, nơi cư trú mới của người phải THA thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm mộtlần Sau hai lần xác minh mà người phải THA vẫn chưa có điều kiện THA thì cơquan THADS phải thông báo bằng văn bản cho người được THA về kết quả xácminh Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện THA củangười phải THA;

- Trường hợp xác minh lại được quy định tại khoản 5 Điều 44 Luật THADSnăm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014: Người được THA có quyền tự mình/ ủyquyền cho người khác xác minh điều kiện THA, cung cấp thông tin về tài sản, thunhập, điều kiện THA của người phải THA cho cơ quan THADS Trường hợp Chấp

Trang 40

hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người đượcTHA khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minhlại Việc xác minh lại được tiến hành trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đượckết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện kiểmsát nhân dân.

2.2.4.3 Thủ tục thi hành quyết định THADS và kết thúc thi hành án dân sự

- Thủ tục thi hành quyết định THADS.

+ Sau khi quyết định THADS được ban hành, pháp luật quy định mộtkhoảng thời hạn nhất định cho người phải THA để tự nguyện thi hành Thời hạn đó

là 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thôngbáo hợp lệ quyết định THA;

+ Hết thời hạn tự nguyện THA, nếu người phải THA có điều kiện THA màkhông tự nguyện THA thì sẽ bị cưỡng chế THA;

+ Thủ tục thanh toán tiền, trả tài sản THA: được quy định tại Điều 47 LuậtTHADS năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014

Số tiền THA, sau khi trừ các chi phí THA và khoản tiền quy định tại khoản 5Điều 115 thì được thanh toán theo thứ tự sau: (1) Tiền cấp dưỡng; tiền lương, tiềncông lao động, trợ cấp (thôi việc, mất việc làm, mất sức lao động); tiền bồi thườngthiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần; (2) Án phí, lệ phí Tòa án; (3)Các khoản phải THA khác theo bản án, quyết định;

Trường hợp có nhiều người được THA thì việc thanh toán tiền THA đượcthực hiện sau: (1) Việc thanh toán thực hiện theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điềunày; trường hợp trong cùng một hàng ưu tiên có nhiều người được THA, việc thanhtoán thực hiện theo tỷ lệ số tiền mà họ được THA; (2) Số tiền THA thu theo quyếtđịnh cưỡng chế THA được thanh toán cho những người được THA tính đến thờiđiểm có quyết định cưỡng chế đó; số tiền còn lại được thanh toán cho những ngườiđược THA theo các quyết định THA khác tính đến thời điểm thanh toán; (3) Saukhi thanh toán theo quy định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại đượctrả cho người phải THA;

Ngày đăng: 13/09/2020, 15:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w