1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN

47 346 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác động gia nhập WTO đối với xuất khẩu thủy sản
Trường học Trường Đại Học Thủy Sản
Chuyên ngành Thủy sản
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 92,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam không lệ thuộc hoàntoàn vào thị trường truyền thống Nhật Bản như những năm trước đây, giảm hẳn tỷ trọng các thị trường trung gian và bắt đầu giành đư

Trang 1

TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN

1 Thực trạng tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

1.1 Thực trạng sản xuất, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản

Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về NTTS với diện tích mặt nước nộiđịa khoảng 1 triệu ha, vùng triều khoảng 0,7 triệu ha và hệ thống đầm phá venbiển có thể phát triển NTTS Trong khi diện tích có khả năng NTTS của cảnước ước tính khoảng gần 2 triệu ha thì mới chỉ sử dụng 902.900 ha (năm2004)

Từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, NTTS của Việt Nam phát triển rất nhanh.Qua bảng dưới ta cũng có thể thấy tổng diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sảncủa nước ta trong mấy năm qua tăng rất nhanh, tăng từ 641,9 nghìn ha năm

A.Tổng số diện tích nuôi trồng (nghìn ha) 641,9 755,2 797,7 867,6 920,1 959,9

1.Diện tích nước mặn, lợ 397,1 502,2 556,1 612,8 642,3 677,2

Nuôi hỗn hợp và thuỷ sản khác 22,5 22,4 31,9 24,5 32,7 43,4

Trang 2

Ươm, nuôi giống thuỷ sản 0,5 0,2 0,3 0,3 0,4 0,4

cả năm (3 tỉ USD) và tăng 24,45% so với cùng kỳ

Quá trình tăng trưởng sản lượng thuỷ sản diễn ra đồng thời với quá trìnhtăng trưởng diện tích NTTS Tuy nhiên, tốc độ tăng sản lượng nhanh hơn donăng suất nuôi trồng tăng lên

Trang 3

Bảng 2 - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường năm 2005

Nguồn: Trung tâm Tin học - Bộ Thủy sản

Tuy vậy, trong quá trình phát triển và nuôi trồng thủy sản cũng đã thểhiện nhiều bất cập như: diện tích nuôi tôm và diện tích thâm canh ở nhiều địaphương tăng quá nhanh, chưa có hoặc không theo quy hoạch đang diễn ra ởnhiều nơi Việc quản lý chất lượng con giống và quản lý an toàn vệ sinh trongnuôi trồng thủy sản còn chưa đáp ứng yêu cầu, mặc dù đã đầu tư khá nhiều Cảnước chỉ có 7 phòng kiểm nghiệm lớn, nhiều địa phương thiếu cán bộ vàphương tiện kiểm tra Nhiều doanh nghiệp thực hiện HACCP theo kiểu đốiphó… Những bất cập trên đã tác động không nhỏ đến môi trường sinh thái và

Trang 4

hình thành nguy cơ cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.

1.2 Tình hình xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn trước khi gia nhập WTO

a Tình hình chung

Thuỷ sản không chỉ là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống dân

cư mà còn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhiều nước Trong số các nhà xuấtkhẩu thuỷ sản, Việt Nam được coi là nước có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuỷsản nhanh nhất Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam thời kỳ 1992 – 2003 có tốc

độ tăng trưởng trung bình đạt 9,97%/năm Năm 1992, giá trị xuất khẩu thuỷ sảncủa Việt Nam mới là 307,7 triệu USD, nhưng 10 năm sau giá trị này đã tăng gấp6,57 lần, đạt 2,023 tỷ USD (năm 2002) Từ năm 2001, Việt Nam đã có tên trongnhóm 10 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu trên thế giới Cụ thể như sau:

STT Quốc gia Sản lượng (tấn)

(Theo số liệu thống kê của FAO năm 2004)

Giá trị xuất khẩu thuỷ sản năm 2005 là 2,73 tỷ USD, đưa tổng giá trị kimngạch xuất khẩu của cả kỳ kế hoạch năm năm 2001 – 2005 lên 13,61 tỷ USD,

đã giúp ngành thủy sản vượt kế hoạch đặt ra và tăng 132,15% so với kỳ kếhoạch 1996 – 2000, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 13%/năm Trongnhiều năm liền, thuỷ sản duy trì được vị trí là một trong những mặt hàng đem lạinguồn ngoại tệ lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 8 – 11% tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu

Trang 5

Bảng 3 - Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản VN qua các thời kỳ

Trang 6

Biểu đồ 1 - Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 1997 – 2005

Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản

Ngành thuỷ sản đã đạt được nhiều tiến bộ mà thể hiện rõ nhất ở kết quảxuất khẩu, tuy nhiên công tác dự báo thị trường của ngành còn yếu, kinhnghiệm ngăn chặn và giải quyết các tranh chấp còn hạn chế Ngoài ra, vấn đề dưlượng kháng sinh và nhiễm khuẩn do tiêm chích tạp chất và ngâm hoá chất vẫn

là nỗi lo và tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với các doanh nghiệp Nếu không giải quyếttốt những hạn chế trên thì khó đảm bảo sự phát triển xuất khẩu thuỷ sản mộtcách bền vững

b Tình hình xuất khẩu thuỷ sản phân theo thị trường

Những kết quả đạt được trong xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam nhữngnăm qua không thể tách rời với công tác phát triển thị trường Các doanh nghiệp

đã chuyển hẳn từ tiếp thị thụ động sang tiếp thị chủ động Nhờ đó đã hình thànhthế chủ động cân đối về thị trường tiêu thụ sản phẩm, bảo đảm duy trì tăngtrưởng bền vững Hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam không lệ thuộc hoàntoàn vào thị trường truyền thống Nhật Bản như những năm trước đây, giảm hẳn

tỷ trọng các thị trường trung gian và bắt đầu giành được vị trí quan trọng trên

Trang 7

các các thị trường lớn, có yêu cầu cao về chất lượng và an toàn vệ sinh như Mỹ,

EU, Canađa, Nhật Bản, Ôxtrâylia Các doanh nghiệp thuỷ sản đã có thể điềuchỉnh được cơ cấu thị trường, khi thị trường truyền thống có biến đổi bất lợi.Việc mở rộng và điều chỉnh thị trường xuất khẩu các sản phẩm cá tra, basa làmột minh chứng về sự thành công của Việt Nam cho khẳng định này Bên cạnh

đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam còn luôn chú trọng khai thác chiều sâu của cácthị trường chính, thực hiện “khai thác thị trường mới trên địa bàn cũ” như Mỹ,Nhật, EU Tỷ trọng giá trị xuất khẩu vào Mỹ, Nhật Bản và EU đã chiếm khoảng65% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Số liệu này khẳng định thêmtầm quan trọng của ba thị trường này đối với ngành thuỷ sản của Việt Nam

Cơ cấu thị trường xuất khẩu thuỷ sản đã có sự thay đổi rõ nét kể từ năm

2000 đến nay Trước tiên là việc Mỹ trở thành thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàngđầu của Việt Nam cùng với Nhật Bản Trước kia thị trường Nhật thường chiếm

tỷ trọng 50 – 60% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng trong gần 10 nămtrở lại đây chỉ còn trên dưới 30% Các thị trường tiêu thụ hàng thuỷ sản của ViệtNam ở châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc khá ổn định, chiếm tỷ trọng khoảng 3 –6% giá trị xuất khẩu, vị trí tiếp theo thuộc về các nước ASEAN Thị trường EUcũng là một mục tiêu quan trọng mà xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam hướng tới và

đã cố gắng khai thác từ những năm 1990 song không mấy thành công Nhưngđến vài năm trở lại đây, những cố gắng đó đã được đền đáp xứng đáng Năm

2006, EU đã chiếm khoảng 22% thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam,đứng vị trí thứ hai sau Nhật Bản Thành công này có liên quan mật thiết với sự

“bùng nổ” xuất khẩu cá tra, basa nói trên

Bảng 4 - Các thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam

Trang 8

Giá trị

(1000USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000USD)

Tỷ trọng (%)

Giá trị (1000USD)

Tỷ trọng (%)

Mỹ 489.035 27,51 654.977 32,38 777.656 35,35 602.969 25,12 649.630 23,81 Nhật Bản 465.901 26,21 537.459 26,57 582.838 26,50 772.195 32,16 824.907 30,24

EU 90.745 5,11 73.720 3,64 116.739 5,31 231.528 9,64 433.085 15,88

Bỉ 18.517 1,04 18.574 0,92 31.935 1,45 51.075 2,13 76.482 2,80 Đức 20.708 1,16 11.750 0,58 18.245 0,83 44.200 1,84 67.812 2,49 Italia 13.075 0,74 17.491 0,86 23.043 1,05 32.123 1,34 63.202 2,32

Hàn

Quốc 102.788 5,78 114.308 5,65 107.296 4,88 144.002 6,00 162.083 5,94 Đài Loan 93.519 5,26 116.261 5,75 70.723 3,22 106.072 4,42 118.965 4,36 Hồng

Kông 121.953 6,86 129.325 6,39 96.320 4,38 85.917 3,58 73.823 2,71 Trung

Quốc 194.766 10,96 172.612 8,53 50.785 2,31 46.827 1,95 60.843 2,23

Úc 23.870 1,34 29.672 1,47 44.398 2,02 82.973 3,46 98.802 3,62 Canađa 20.218 1,14 16.477 0,81 22.514 1,02 56.839 2,37 66.971 2,45

ASEAN 64.860 3,65 79.343 3,92 73.013 3,32 167.488 6,98 127.091 4,66

Singapo 24.980 1,41 35.747 1,77 27.527 1,25 79.407 3,31 42.644 1,56 Thái Lan 25.214 1,42 27.535 1,36 29.852 1,36 26.401 1,10 40.987 1,50

Các thị

trường

khác 109.830 6,18 98.667 4,88 257.295 11,70 103.971 4,33 111.823 4,10

Cộng 1.777.486 100,00 2.022.821 100,00 2.199.577 100,00 2.400.781 100,00 2.728.023 100,00

Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản

Mỹ: Từ năm 1994, Mỹ bỏ lệnh cấm vận thương mại với Việt Nam Thuỷ

sản Việt Nam đã bắt đầu được xuất khẩu sang thị trường này Kim ngạch xuất

khẩu của Việt Nam sang Mỹ tăng trưởng rất nhanh Năm 1998, kim ngạch xuất

khẩu thuỷ sản từ Việt Nam sang Mỹ đạt trên 80 triệu USD, tăng gấp đôi năm

1997 (40 triệu USD) Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ vượt ngưỡng

100 triệu USD, đạt 130 triệu USD, tăng 62,5% so với năm 1998

Năm 2000, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ tăng đột biến, đạt

gần 300 triệu USD, gấp 2,14 lần so với năm 1999 và là mức tăng nhanh nhất

trong số các quốc gia xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ Thị trường Mỹ đã trở thành

thị trường quan trọng chiếm vị trí dẫn đầu, với thị phần tăng nhanh Điều này có

thể là kết quả của những tác động ban đầu của việc đàm phán và ký kết thành

công Hiệp định Thương mại song phương Việt - Mỹ

Trang 9

Sau khi Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực tháng 12/2001, kimngạch buôn bán giữa Việt Nam và Mỹ đã phát triển nhảy vọt, đưa Mỹ trở thànhmột trong những thị trường nhập khẩu thuỷ sản hàng đầu của Việt Nam Năm

2001, Mỹ đã thay thế Nhật trở thành thị trường nhập khẩu thuỷ sản đứng đầu,chiếm 27,51% so với 26,21% thị phần của Nhật Bản Mỹ tiếp tục duy trì vị trínày liên tục trong 3 năm liền (2001 – 2003) Việt Nam vươn lên vị trí 14 so với

vị trí thứ 26 vào những năm 1990 trong số các nước xuất khẩu thuỷ sản sang

Mỹ Năm 2004, sau tác động của vụ kiện bán phá giá cá tra, basa và vụ kiện bánphá giá tôm, thị phần xuất khẩu sang thị trường Mỹ của Việt Nam bị thu hẹp vàNhật Bản trở lại vị trí là nước nhập khẩu thuỷ sản lớn nhất của Việt Nam Khốilượng và giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ đều giảm, chỉ đạt 91.381 tấn tươngứng với 603 triệu USD, giảm 25,2% về khối lượng và 22,46% về giá trị so vớinăm 2003 Năm 2005, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ có tăng nhưngvẫn chưa bằng mức của năm 2002, chiếm 23,81% giá trị xuất khẩu thuỷ sản sovới 30,24% của Nhật

Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ ngày một đadạng Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam sang Mỹ chiếm tới74% tổng giá trị hàng thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam trở thành nước xuất khẩutôm sang Mỹ đứng thứ 4 về giá trị và đứng thứ 7 về khối lượng Tuy nhiên, tômViệt Nam vẫn chỉ chiếm một thị phần rất nhỏ (5,3%) trong tổng lượng tôm nhậpkhẩu vào Mỹ so với Thái Lan (44,2%) và Mêhicô (10,2%) Đến năm 2003, giátrị xuất khẩu tôm đông lạnh vẫn tiếp tục tăng, đạt 469 triệu USD, nhưng chỉ cònchiếm 64% trong tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ Ngoài tôm, Việt Namcòn xuất khẩu sang Mỹ các sản phẩm tươi sống như cá ngừ, cá thu và cua vớimức giá ổn định Mặt hàng cá tra, basa phi lê đông lạnh cũng là mặt hàng độcđáo của Việt Nam tại thị trường Mỹ và rất được người dân Mỹ ưa chuộng Tuynhiên, vụ kiện cá tra, basa và mức thuế trừng phạt áp dụng đối với sản phẩmnày vào năm 2003 khiến giá trị xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường Mỹ

Trang 10

giảm tới 56,3% so với năm 2002 Vụ kiện bán phá giá tôm cũng gây thiệt hạiđáng kể cho xuất khẩu tôm của Việt Nam, từ 513,8 triệu USD năm 2003 giảmxuống còn 397,7 triệu USD năm 2004 (-22,59%) Các khoản tiền ký quỹ, thuếchống bán phá giá khiến việc xuất khẩu sang thị trường này trở nên bấp bênh,gây tâm lý lo ngại cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản

Tuy vậy, trong tương lai tiêu thụ thuỷ sản của Mỹ vẫn tiếp tục tăng trongkhi lượng thuỷ sản trong nước chỉ cung cấp được từ 15 – 20%, nên nhập khẩucủa Mỹ sẽ tăng không chỉ đối với riêng Việt Nam Nhiều mặt hàng thuỷ sảnkhác nhau có thể sẽ được nhập khẩu vào thị trường này để đáp ứng cho nhu cầungày càng tăng của các tầng lớp dân cư Mỹ và một phần không nhỏ phục vụ chonhu cầu tái chế và tái xuất Tôm đông lạnh, tôm nguyên liệu, cá ngừ đóng hộp,

cá ngừ, cá rô phi sẽ là những mặt hàng có nhu cầu tiêu thụ lớn Mặc dù cácdoanh nghiệp sẽ còn gặp phải có nhiều sóng gió và biến động trên thị trườngnày, nhưng Hoa Kỳ vẫn là thị trường chứa đựng nhiều tiềm năng và cần tiếp tục

mở rộng do nhu cầu nhập khẩu hàng thuỷ sản hằng năm lớn (khoảng 10 tỷ

USD), giá thường cao hơn các thị trường khác

Nhật Bản: Trong giai đoạn thập kỷ 1960 – 1970, Nhật Bản là thị trường

gần như duy nhất ở những nước không phải XHCN đối thuỷ sản xuất khẩu củaViệt Nam, chiếm tới 70 – 75% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của ViệtNam Trong thập kỷ 1980 và 1990, Việt Nam đã từng bước mở rộng thị trườngxuất khẩu nên thị phần xuất khẩu sang Nhật bị thu hẹp dần xuống mức 50 –60% Cuối thập kỷ 1990, tỷ trọng này giảm còn 40 – 45% và đến nay cònkhoảng 25 – 30% Đây là một tỷ trọng tương đối hợp lý đối với cơ cấu thịtrường xuất khẩu của Thuỷ sản Việt Nam Nhìn chung, xuất khẩu thuỷ sản củaViệt Nam sang Nhật Bản trong 3 thập kỷ qua có xu hướng tăng, tuy nhiên vềkhối lượng có bị giảm nhẹ vào giai đoạn 1998 – 2000

Từ năm 2001 – 2003, thị trường Nhật Bản bị đẩy lùi xuống vị trí thứ 2sau Mỹ Mặc dù khối lượng và giá trị xuất khẩu sang Nhật Bản trong 3 năm này

Trang 11

vẫn có sự tăng trưởng liên tục song tốc độ tăng trưởng giảm dần Tỷ trọng giátrị xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật giai đoạn này duy trì ổn định ở mức xấp xỉ26%, giá trị nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam vào Nhật năm 2003 đạt 582,8 triệuUSD so với 777,7 triệu USD vào Mỹ Nhưng sau năm 2003, Nhật Bản trở lại làthị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, khối lượng xuất khẩu thuỷ sảnnăm 2005 là 129.780 tấn, với giá trị là 824,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng trongtổng xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tương ứng là 20,56% và 30,24% Những

số liệu đó cho thấy Nhật Bản là thị trường đem lại hiệu quả cao cho xuất khẩuthủy sản của Việt Nam

Các sản phẩm tôm, nhuyễn thể chân đầu, cá và cá ngừ của Việt Nam đều

có doanh số tương đối lớn trên thị trường Nhật Bản Mặt hàng tôm Nobashi củaViệt Nam đang được ưa chuộng Năm 2002, Việt Nam là một trong ba nước xuấtkhẩu tôm sang Nhật lớn nhất với 32.800 tấn với giá trị 255 triệu USD, tăng 7,2%

về khối lượng và 2,8% về giá trị so với năm 2001, nhưng giá tôm Việt Nam tươngđối thấp Hầu hết các doanh nghiệp thuỷ sản lớn đều có chế biến sản phẩm nàyđem loại hiệu quả cao và có doanh số tương đối lớn trên thị trường Nhật

Với vị thế quan trọng như vậy, việc duy trì chỗ đứng trên thị trường NhậtBản là một yêu cầu thiết yếu đối với xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam Những pháthiện vào cuối năm 2006 của các nhà chức trách Nhật Bản sau khi nước này thựcthi các quy định vệ sinh an toàn thực phẩm mới, về chất lượng và vệ sinh antoàn đối sản phẩm mực và tôm của Việt Nam, từ đó đi đến quyết định kiểm tra100% các lô hàng mực và tôm xuất khẩu từ Việt Nam là một mối nguy lớn, đedoạ cả ngành thuỷ sản nói chung Đó cũng là dấu hiệu rõ ràng của sự thiếu đồng

bộ trong hệ thống bảo đảm an toàn chất lượng sản phẩm thuỷ sản của Việt Namhiện nay

EU

: là thị trường có nhu cầu lớn và ổn định về hàng thuỷ sản, nhưng lại

là thị trường được coi là có yêu cầu cao nhất đối với sản phẩm nhập khẩu, vớicác quy định khắt khe về chất lượng và an toàn vệ sinh Tuy nhiên do chủ động

Trang 12

thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh đáp ứng yêu cầu của thị trường này,nên trong thời gian qua xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU đã

có những bước phát triển đáng chú ý Trong giai đoạn từ năm 2000 – 2003, giátrị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường này còn rất nhỏ bé chỉchiếm khoảng 3 – 5% Đến năm 2004, khi thêm 10 nước gia nhập vào khối EUthì giá trị xuất khẩu thuỷ sản sang khối này đã có sự tăng trưởng mạnh tới98,33% so với năm 2003, chiếm 9,64% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.Nhưng sự tăng trưởng vào năm 2004, không chỉ do 10 nước mới gia nhập đónggóp mà còn do sự tăng trưởng xuất khẩu vào các nước EU cũ như Bỉ(+59,94%), Đức (+142,26%), Italia (+39,4%) Rõ ràng xuất khẩu thuỷ sảnsang thị trường EU đã có sự tăng trưởng liên tục và có những biến đổi về chất

kể từ năm 2004 đến nay Năm 2005, giá trị xuất khẩu thuỷ sản của Việt Namsang thị trường này đã đạt 433,08 triệu USD, gấp 1,87 lần so với năm 2004 vàchiếm tới 15,88% thị phần giá trị xuất khẩu thuỷ sản Đây là một tín hiệu đángmừng, đánh dấu kết quả của sự phấn đấu không ngừng của ngành thuỷ sản tronghoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hoá thị trường và sản phẩm, đảm bảochất lượng, an toàn thực phẩm, vượt qua những rào cản kỹ thuật về vệ sinh antoàn thực phẩm Đến đầu năm 2006 Uỷ ban Liên minh châu Âu đã công nhậnthêm 38 doanh nghiệp đủ điều kiện xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường EU, nângtổng số doanh nghiệp được công nhận lên 209 Ước tính kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản vào thị trường này năm 2006 có thể đạt 700 triệu USD chiếm khoảng22% tổng thị phần xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Mặc dù vậy còn nhiều engại đối với những rào cản về kiểm soát dư lượng kháng sinh do thị trường EUđặt ra, nhưng các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vẫn nhận định

EU là thị trường đối trọng mỗi khi có biến động trên thị trường Nhật và Mỹ.Đồng thời việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU sẽ góp phần nâng cao uytín của hàng thuỷ sản Việt Nam trên thị trường thế giới Trong thời gian tới, đểđứng vững và đảm bảo tăng trưởng bền vững trên thị trường EU, đòi hỏi cácdoanh nghiệp chế biến Việt Nam và các khâu hoạt động có liên quan phải

Trang 13

không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý.

Trung Quốc và Hồng Kông: là những thị trường nhập khẩu thuỷ sản

trung bình trên thế giới, nhưng là láng giềng gần gũi có nhiều nét tương đồng vềtiêu dùng và văn hoá với Việt Nam Trung Quốc và Hồng Kông là thị trường cónhiều triển vọng cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam Nhập khẩu của TrungQuốc và Hồng Kông chủ yếu được dùng để tái chế biến phục vụ xuất khẩu Giátrị nhập khẩu thuỷ sản của Trung Quốc và Hồng Kông tăng rất nhanh trongnhững năm gần đây do sự phát triển ồ ạt công nghiệp chế biến và tái chế cácmặt hàng thuỷ sản cao cấp như cá philê, cá hộp và các mặt hàng chín ăn liềnphục vụ xuất khẩu Bên cạnh đó, do nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn địnhnhiều năm nên nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản trên thị trường này đang tăng nhanh

và chủng loại đa dạng, từ các sản phẩm có giá trị rất cao như các loại cá sốngđến các loại sản phẩm giá trị thấp, không đòi hỏi cao về chất lượng và an toàn

vệ sinh thực phẩm như hàng cá khô và mực nút nguyên con Tuy nhiên, xuấtkhẩu thuỷ sản của Việt Nam vào thị trường này chủ yếu vẫn là mua bán quabiên giới, quy mô của các đơn vị nhập khẩu rất nhỏ nên chỉ phù hợp với cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ Từ trước đến nay thị trường Trung Quốc và HồngKông vẫn là thị trường dễ tính về chất lượng, an toàn vệ sinh, nhưng sau khi trởthành thành viên WTO, Trung Quốc đã bắt đầu áp dụng các rào cản kỹ thuật, antoàn vệ sinh đối với hàng hoá nhập khẩu Từ ngày 30/6/2003 các lô hàng thuỷsản xuất khẩu vào Trung Quốc phải được kiểm tra và cấp chứng nhận chấtlượng an toàn vệ sinh theo các chỉ tiêu do Trung Quốc quy định, đồng thời phảiđăng ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Trung Quốc kèm theo mã số.Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến xuất khẩu thuỷ của ViệtNam vào thị trường này giảm mạnh từ năm 2003 đến nay

Trong giai đoạn thập kỷ 1980 – 1990, Trung Quốc chiếm 2% kim ngạchxuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam từ năm 2000 đã vươn lên đứng thứ 3 chiếm15% Tuy nhiên, đến năm 2003 do sự thay đổi về cơ chế nhập khẩu và ảnh

Trang 14

hưởng của dịch SARS mà kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vàoTrung Quốc đã sụt giảm mạnh Mặc dù vẫn đứng thứ 3, nhưng xuất khẩu vào thịtrường này vẫn giảm nhiều so với năm 2002, khối lượng giảm 46,8% về giá trịgiảm 51,28% chỉ còn chiếm tỷ trọng 6,69% trong tổng giá trị kim ngạch củaViệt Nam Xu hướng giảm này vẫn duy trì đến năm 2005, giá trị xuất khẩu sangthị trường này chỉ còn 134,7 triệu USD so với 316,7 triệu USD năm 2001 Cónhiều nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạng trên, song những kết quả ấycũng buộc chúng ta phải đặt ra câu hỏi, liệu công tác xúc tiến thương mại, duytrì thị trường truyền thống còn có chỗ nào lệch hướng, bất cập Đây là thị trườnglớn, có tiềm năng song cạnh tranh ngày càng phức tạp, giá sản phẩm có xuhướng giảm và khả năng tăng hiệu quả là khó khăn Trong tương lai, TrungQuốc sẽ là thị trường tiêu thụ thuỷ sản hàng đầu của khu vực châu Á, với đặcđiểm tiêu thụ của thị trường này là vừa tiêu thụ cho dân cư bản địa, vừa là thịtrường tái chế và tái xuất Tôm hùm, tôm sú, cá ngừ, mực… đang có xu hướng tiêuthụ ngày càng tăng trên thị trường này, do thu nhập của dân cư ở các đô thị củaTrung Quốc không ngừng được nâng lên Các rào cản về vệ sinh an toàn thựcphẩm của thị trường Trung Quốc và Hồng Kông chắc chắn sẽ ngày càng chặt chẽhơn Ngược lại, hàng thuỷ sản nguyên liệu nhập từ các nguồn này vào Việt Namngày càng tăng nhưng Việt Nam lại chưa có biện pháp cụ thể để kiểm soát.

Các thị trường khác

Các thị trường khác thuộc châu Á đã được Việt Nam quan tâm ngày mộtnhiều hơn, nhất là khi thuế nhập khẩu vào các thị trường khu vực giảm xuống 0– 5% và khi thị trường lớn có biến động Tỷ trọng xuất khẩu thuỷ sản của ViệtNam vào các thị trường này tăng lên đáng kể, từ 23,1% năm 1998 lên khoảng26% năm 2003, năm 2005 tăng 21,45% so với năm 2004 Trong đó phải kể đếnhai thị trường quan trọng là Hàn Quốc và Đài Loan Năm 2004 thị phần xuấtkhẩu vào Hàn quốc đạt 5,8% tăng 31,2% và xuất vào Đài Loan đạt 4,4% tăng49% Các thị trường này chủ yếu nhập khẩu cá biển, mực, bạch tuộc Do Hàn

Trang 15

Quốc có công nghiệp chế biến phát triển ở trình độ cao nên đây cũng là mộttrong những thị trường ở châu Á có yêu cầu khá cao về vệ sinh an toàn thựcphẩm Năm 2002 Hàn Quốc bắt đầu áp dụng quy định nước xuất khẩu phải đăng

ký danh sách doanh nghiệp xuất khẩu vào Hàn Quốc (điều kiện sản xuất an toàn

vệ sinh phải đạt tiêu chuẩn Hàn Quốc và nước sở tại) đồng thời buộc các lôhàng xuất khẩu phải kèm theo chứng thư theo mẫu Hàn Quốc quy định (trong

đó phải ghi rõ mã số của doanh nghiệp sản xuất hàng đã được phía Hàn Quốcchấp nhận) Việt Nam đã đáp ứng được các yêu cầu trên nên xuất khẩu sangHàn Quốc vẫn tăng trưởng liên tục Đây là thị trường xuất khẩu thuỷ sản lớn thứ

4 của Việt Nam, năm 2005 Việt Nam đã xuất khẩu thuỷ sản sang Hàn Quốc vớitổng trị giá lên tới 162,1 triệu USD, chiếm 5,94% tổng giá trị

Ôxtrâylia, ngoài việc bắt buộc chứng nhận tôm nhập khẩu không mangmầm bệnh (đốm trắng, đầu vàng), thị trường này đã có những phản ánh về tìnhhình chất lượng và an toàn vệ sinh thuỷ sản (bạch tuộc vòng xanh, bảo quảnthuỷ sản khô bằng cacbon điôxit ) nhưng chưa mang tính hệ thống Mặc dù cácdoanh nghiệp Việt Nam còn chưa có hiểu biết đầy đủ về thị trường này, nhưngnhững năm qua xuất khẩu sang thị trường Ôxtrâylia vẫn có sự tăng trưởng tuynhịp độ không đều Năm 2005, giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trườngÔxtrâylia đạt 98,8 triệu USD, chiếm 3,62% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản, gấp

Nga đã có những bước tiến rất dài trong nhập khẩu thuỷ sản của Việt

Trang 16

Nam Trong 11 tháng năm 2006, Nga đã nhập khẩu từ Việt Nam 51,92 ngàn tấnsản phẩm thuỷ sản, giá trị 111,35 triệu USD, chiếm gần 3,5% tổng thị phần.

Tóm lại, trong thời gian qua, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã có sự

tăng trưởng ổn định Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản từ những bước đầuchập chững làm quen với những quy định trên thị trường thế giới, gặp không ít

va vấp nhưng đã có thêm nhiều kinh nghiệm để tiếp tục khẳng định vị trí củacủa mình trên thị trường thuỷ sản Các hoạt động phát triển thị trường vẫn đượccác doanh nghiệp triển khai mạnh mẽ và liên tục, nhiều doanh nghiệp đã mởrộng thị trường xuất khẩu sang các nước Đông Âu, Trung Đông, châu Phi gópphần giảm rủi ro khi có các tranh chấp xảy ra Trong tương lai, thuỷ sản sẽ tiếptục là sản phẩm đem lại nguồn thu nhập lớn cho Việt Nam Những rào cảnthương mại sẽ ngày càng trở nên khắt khe và cạnh tranh trên thị trường sẽ ngàymột gay gắt Các nhà cung cấp thuỷ sản vẫn sử dụng giá như vũ khí lợi hại đểchiếm lĩnh thị trường, nên xu hướng tăng giá trên thị trường thế giới cũng bị hạnchế Đặc biệt, tại các nước phát triển, an toàn vệ sinh thực phẩm mới là yếu tốquyết định sức cạnh tranh của sản phẩm

1.2.2 Tình hình xuất khẩu thuỷ sản 2 năm gia nhập WTO

a Năm 2007

Năm 2007 xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam nhanh chóng vượt mức kếhoạch Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan VN, năm 2007, xuất khẩuthủy sản của cả nước đã đạt khoảng 925 nghìn tấn trị giá 3,756 tỷ USD, tăng12,2% về khối lượng và 14% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái Tuy nhiên, trịgiá XK trên khi được bổ sung đầy đủ số liệu luỹ kế của cả năm, rất có thể đạtđến mức 3,8 tỷ USD Mặt hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên khắp 146nước và vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới nhờ những nỗ lực phát triển thịtrường và đa dạng hoá sản phẩm của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu.Theo Bộ Thủy sản, tính đến hết tháng 3/2007, tổng sản lượng của ngành thủy

Trang 17

sản ước đạt 806.400 tấn, đạt 21,22% kế hoạch năm và tăng 4,05% so với cùng

kỳ năm ngoái Trong đó, sản lượng khai thác tăng 2,23%, đạt 476.400 tấn; sảnlượng nuôi trồng đạt 330.000 tấn, tăng 6,8% Ước giá trị kim ngạch xuất khẩuthủy sản trong tháng 3 đạt 250 triệu USD, nâng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩuthủy sản trong quý I đạt 700 triệu USD, bằng 12,44% kế hoạch và tăng 35,27%

Nguồn Trung tâm tin học thuỷ sản

Các thị trường nhập khẩu chính của thủy sản Việt Nam không có nhiềubiến động lớn về nhu cầu và giá cả, nhưng các thị trường này đã có nhiều thay

Trang 18

đổi lớn về chính sách kiểm soát vệ sinh ATTP đối với thủy sản nhập khẩu, dovậy đã gây nhiều khó khăn lớn cho các doanh nghiệp của Việt Nam Tuy nhiên,với sự phối hợp chặt chẽ giữa Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản, cộngđồng các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và Cục Quản lý Chất lượng Nônglâm sản và Thủy sản (Nafiqaved) đã tháo gỡ kịp thời nhiều khó khăn về dưlượng kháng sinh trong tôm và mực xuất khẩu sang Nhật, đồng thời giải quyếtnhiều vướng mắc khác sang Nga, Ôxtrâylia… Tỷ trọng nhập khẩu thủy sản từViệt Nam của các thị trường lớn trên thế giới được phân bố khá đồng đều: khối

EU chiếm 25,7% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tiếp đến là NhậtBản chiếm 21,1%, Mỹ chiếm 20,4% và các thị trường nhập khẩu đáng kể khácnhư Hàn Quốc, Trung Quốc - Hồng Kông, Ôxtrâylia, Đài Loan… đều tăng nhập

từ VN trong năm vừa qua Sự phát triển và điều hoà giữa các thị trường đã tạothế cân bằng, vững chắc hơn cho xuất khẩu thủy sản VN trong bối cảnh thịtrường quốc tế luôn nảy sinh nhiều cạnh tranh và rủi ro Hiện nay, hầu hết cácthị trường tiêu thụ thủy sản ở EU đều có nhiều thông tin cho thấy giá thực phẩmthủy sản đã tăng đáng kể bởi giá thành sản xuất tăng và nguồn đánh bắt bị hạnchế, nhu cầu đối với NK philê cá thịt trắng vẫn tiếp tục tăng, lệnh cấm nhậpkhẩu tôm từ Trung Quốc do Mỹ áp dụng đã khiến Trung Quốc giảm mạnh thịphần tại Mỹ Đây là những cơ hội tiềm tàng cho các nước xuất khẩu và là cơ hộicho tôm đông lạnh Việt Nam (Tôm chiếm 40% kim ngạch xuất khẩu thủy sảnViệt Nam năm 2007)

Bảng 6 - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch 8 tháng đầu năm 2007 phân theo

thị trường

Thị trường Số lượng (tấn) Giá trị (USD)

Trang 19

Nguồn Trung tâm tin học thuỷ sản

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu tôm đông lạnhcủa Việt Nam năm 2007 đạt 160,5 nghìn tấn, với kim ngạch xuất khẩu ước đạt1,5 tỷ USD, giảm 0,68% về lượng và tăng 2% về trị giá so với năm 2006, chiếm40% kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2007 Năm 2007, nhìn chungxuất khẩu tôm đông lạnh tương đối ổn định so với những năm trước Lượng tômđông lạnh xuất khẩu của Việt Nam thường tăng mạnh từ tháng 6 đến tháng 11

và giảm vào những tháng đầu năm Dự báo quý I/2008, xuất khẩu tôm đônglạnh của Việt Nam sẽ dao động quanh mức 8,7 nghìn tấn/tháng Năm 2007 côngtác kiểm soát chất lượng tôm nguyên liệu đã được thực hiện khá tốt, các biệnpháp phòng trừ và kiểm soát bệnh dịch của tôm đã được các cơ quan chức năngphổ biến rộng đến từng hội nuôi trồng tôm Giá xuất khẩu trung bình tôm đônglạnh của Việt Nam năm 2007 đạt 9,6 USD/kg Theo tính toán, giá xuất khẩutrung bình tôm đông lạnh của Việt Nam năm 2007 đạt 9,6 USD/kg, tăng 0,45

Trang 20

USD/kg so với năm 2006

Trong tháng 12/2007, giá xuất khẩu trung bình mặt hàng này đạt 8,93USD/kg, giảm tới 1,5 USD/kg so với cùng kỳ năm trước Mặc dù giá nguyênliệu đầu vào tăng cao (như xăng, dầu, điện và thức ăn chăn nuôi), nhưng giáxuất trung bình tôm đông lạnh vẫn giảm trong 3 tháng cuối năm Nguyên nhân

là do số lô hàng xuất khẩu tôm đông lạnh cỡ nhỏ và tôm thẻ tăng, thứ hai là docác doanh nghiệp đã đón đầu được xu hướng tiêu dùng tôm vào giai đoạn cuốinăm nên đã có sự chuẩn bị chu đáo từ trước đó; thứ ba là do nguồn cung tômnguyên liệu trong nước luôn ở mức cao và ổn định, thứ tư là do nguồn cung tômcủa thế giới cũng tăng khá cao, trong khi nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này tại một

số thị trường lớn lại giảm Năm 2007, tôm đông lạnh xuất khẩu tới 146 quốc gia

và khu vực thị trường (khu vực EU, ASEAN) Đứng đầu là thị trường Nhật Bảnchiếm 34,8% về lượng và 32,31% về kim ngạch; Hoa Kỳ chiếm 24,35% vềlượng và 31,14% về kim ngạch; Hàn Quốc chiếm 6,34% về lượng và 5,54% vềkim ngạch; Canađa chiếm 3,61% về lượng và 4,45% về kim ngạch Tiếp theo làĐài Loan, Ôxtraylia, ASEAN, Hồng Kông (Nguồn:TTTM,17/1)

Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có nhiều loại rào cản phi thuế quan đượcdựng lên, trong đó các tiêu chuẩn vệ sinh ATTP được tăng cường mạnh mẽnhất Năm 2007, các DN chế biến và xuất khẩu thủy sản đã tăng cường kiểmsoát chất lượng nguyên liệu đầu vào, chống thu mua nguyên liệu chứa tạp chất

và kháng sinh cấm Mô hình liên kết ngang giữa các thành phần trong toàn bộchuỗi sản xuất thủy sản đang được nhân rộng ở nhiều địa phương nuôi cá, tômtập trung, trong đó doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu là nhân tố chủ đạo.Trong liên kết này, nguyên liệu sẽ được kiểm soát liên hoàn từ con giống, thức

ăn, thuốc trị bệnh đến thành phẩm cuối cùng Nhiều vùng nuôi khác đang ápdụng các qui trình như SQF 1000, BAP, CoC…

Trang 21

Bảng 7 - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch 8 tháng đầu năm 2007 phân theo

Trang 22

chậm, tỷ giá đồng USD bấp bênh, chi phí đầu vào tăng vọt, lãi suất ngân hàngcao ngất ngưởng… Trong hoàn cảnh này, người ta thấy rõ nhất sự chuyểnhướng các nhà XK thủy sản Việt Nam Họ chuyển từ “trọng tâm” của các cuộckhủng hoảng là: EU, Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc… để “khai phá” những mảnhđất mới: Nga, Ucraina, Ai Cập…

Năm 2008, Việt Nam XK thủy sản sang 160 thị trường với gần 70 loạisản phẩm khác nhau Vượt qua khó khăn, XK thủy sản sang các thị trườngchính, và các mặt hàng chính (trừ hàng khô) đều tăng, riêng tháng 12, XKchững lại hoặc giảm mạnh…

Thị trường EU và Hàn Quốc khá ổn định

Các nhà kinh tế cho rằng, năm qua, EU vừa là nơi bắt nguồn lạm phát vừa

là trung tâm của cuộc suy thoái nhưng đây vẫn là thị trường NK ổn định củathủy sản Việt Nam Năm 2008, EU nhập khẩu 349 nghìn tấn thủy sản Việt Namvới trị giá 1,14 tỷ USD, tăng 26% về GT, chiếm 25,4% cơ cấu thị phần củangành thủy sản, tiếp tục giữ vị trí nhà NKTS lớn nhất Theo báo cáo của Tổngcục Hải quan Việt Nam, cũng trong năm này, Việt Nam xuất sang 26/27 quốcgia thuộc khối liên minh Nổi bật nhất là 5 thị trường NK đơn lẻ: Đức, Italia,Tây Ban Nha, Hà Lan và Bỉ 61 sản phẩm thủy sản Việt Nam được NK vào EUtrong năm này, trong đó, cá tra, basa tăng 23,8%, tôm tăng 47,6%, mực bạchtuộc đông lạnh tăng 26,6%, cá ngừ tăng 21,6% so với năm 2007…Hiện nay,cuộc khủng hoảng tài chính đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của

EU Tuy nhiên, trong thời gian tới, đây vẫn là thị trường NK thủy sản ổn định

và tiếp tục tăng trưởng Ước tính 3 tháng đầu năm 2008, xuất khẩu thủy sản củaViệt Nam tới EU đạt 66,7 nghìn tấn, với kim ngạch đạt 210,3 triệu USD, tăng23,3% về lượng và 20,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2007, chiếmkhoảng 26% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam Như vậy, xuất khẩuthủy sản của Việt Nam tới thị trường EU đang giữ được tốc độ tăng trưởng khá

ổn định EU đang là khu vực thị trường xuất khẩu mạnh nhất và tìêm năng nhất

Trang 23

của Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả cao hơn, các doanhnghiệp cũng nên chú ý tới việc thuyết phục khách hàng EU thanh toán bằngđồng EURO Theo số liệu thống kê, nhóm hàng cá đông lạnh là mặt hàng thủysản xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam tới khu vực EU chiếm ¾ tổng khối lượngthủy sản xuất khẩu tới EU và chiếm 62,8% về kim ngạch Cá tra, cá ngừ, cábasa, cá cờ, cá lưỡi trâu, cá đen…là những loại cá được xuất khẩu chủ yếu tớikhu vực EU Đức là thị trường nhập khẩu mặt hàng cá đông lạnh của Việt Namlớn nhất trong 2 tháng đầu năm 2008, chiếm 20,25% về lượng và 19,5% về kimngạch Tiếp theo là Tây Ban Nha chiếm 19,4% về lượng và 18,67% về kimngạch Tiếp sau đó lần lượt là Hà Lan, Ba Lan, Italia.

Tôm đông lạnh: xuất khẩu của Việt Nam tới EU chiếm 7,9% về lượng và 18,5%

về kim ngạch, tăng tới 80% về lượng và 77,85% về kim ngạch so với cùng kỳnăm 2007 Đức, Anh, Hà Lan, Pháp, Bỉ, Italia, Đan Mạch là những nhà nhậpkhẩu chính mặt hàng này

Mực đông lạnh: chiếm 6,61% về lượng và 7,6% về kim ngạch, với tổng lượng

xuất khẩu đạt 2,74 nghìn tấn, với kim ngạch đạt 9,97 triệu USD, tăng 37,5% vềlượng và 43,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2007 Italia, Tây Ban Nha vàĐức là những nhà nhập khẩu chính mực đông lạnh của Việt Nam

Chả cá: Mặt hàng xuất khẩu có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong 2 tháng đầu

năm 2008, tăng 124,1% về lượng và 120,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm

2007, chiếm 2,37% về lượng và 1,4% về kim ngạch 2 tháng đầu năm 2008,xuất khẩu chả cá của Việt Nam tới 5 thị trường lần lượt đứng đầu là Pháp, TâyBan Nha, Italia, Anh…

Ghẹ đông lạnh: tăng tới 378,62% về lượng và 336,62% về kim ngạch so với

cùng kỳ năm 2007, đạt 324 tấn với kim ngạch 1,66 triệu USD Pháp, Anh, HàLan đang là ba nhà nhập khẩu mặt hàng này của Việt Nam

Ngày đăng: 18/10/2013, 14:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  - Diện tích mặt nước nuôi trồng và sản lượng thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2006 - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Diện tích mặt nước nuôi trồng và sản lượng thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2006 (Trang 1)
Bảng  - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường năm 2005 - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch sang các thị trường năm 2005 (Trang 2)
Bảng  - Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản VN qua các thời kỳ - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản VN qua các thời kỳ (Trang 4)
Bảng  - Các thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Các thị trường xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam (Trang 7)
Bảng  - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch 8 tháng đầu năm 2007 phân theo  thị trường - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Xuất khẩu thuỷ sản chính ngạch 8 tháng đầu năm 2007 phân theo thị trường (Trang 18)
Bảng  - Đầu tư nước ngoài trong một số ngành cơ bản - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Đầu tư nước ngoài trong một số ngành cơ bản (Trang 31)
Bảng  - Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam qua các năm 2000 – 2008 - TÁC ĐỘNG GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI XUẤT KHẨU THUỶ SẢN
ng - Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam qua các năm 2000 – 2008 (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w