1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai Trò Của Phụ Nữ Dân Tộc Tày Trong Phát Triển Kinh Tế Hộ Nông Nghiệp Xã Lam Sơn, Huyện Na Rì

90 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Đề tài tốt nghiệp “Vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”, chuyên nghành Phát triển nông thôn là côn

Trang 1

- -

HOÀNG THẢO NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Tên đề tài:

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC TÀY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG NGHIỆP XÃ LAM SƠN, HUYỆN NA RÌ,

TỈNH BẮC KẠN

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

- -

HOÀNG THẢO NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Tên đề tài:

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC TÀY TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ NÔNG NGHIỆP XÃ LAM SƠN, HUYỆN NA RÌ,

TỈNH BẮC KẠN

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Giảng viên hướng dẫn : ThS Dương Thị Thu Hoài

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài tốt nghiệp “Vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển

kinh tế hộ nông nghiệp xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”, chuyên

nghành Phát triển nông thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, đề tài đã

sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn được trích

rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa ra trong đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất kì một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Hoàng Thảo Nguyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã

Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn với đề tài: “Vai trò của phụ nữ dân tộc

Tày trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”

Khóa luận được hình thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Dương Thị Thu Hoài, giảng viên khoa Kinh tế và PTNT, người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện đề tài Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Lam Sơn, các ban ngành cùng nhân dân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Hoàng Thảo Nguyên

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Sự khác nhau về đặc trưng cơ bản giữa giới và giới tính 5

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất xã Lam Sơn giai đoạn 2016 - 2018 31

Bảng 4.2: Tình hình phát triển một số cây trồng trên địa bàn xã Lam Sơn 33

Bảng 4.3: Tình hình sản xuất chăn nuôi giai đoạn 2016 – 2018 34

Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động của xã Lam Sơngiai đoạn 2016 – 2018 35

Bảng 4.5: Cơ cấu dân số phân theo dân tộc và giới tính của xã Lam Sơn năm 2018 36

Bảng 4.6: Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp Đảng ủy, chính quyền và đoàn thể năm 2018 37

Bảng 4.7: Thông tin chung về các nhóm hộ điều tra 43

Bảng 4.8: Thông tin về phụ nữ ở các hộ điều tra 45

Bảng 4.9: Phân công lao động trong hoạt động trồng trọt ởcác hộ điều tra 47

Bảng 4.10: Phân công lao động trong hoạt động chăn nuôi của các hộ điều tra 49

Bảng 4.11: Phân công lao động trong hoạt động buôn bán, dịch vụ của các hộ điều tra 50

Bảng 4.12: Nguồn vay vốn của các hộ điều tra 52

Bảng 4.13: Tình hình quản lý vốn vay của các hộ điều tra 53

Bảng 4.14: Phụ nữ dân tộc Tày đối với hoạt động tái sản xuất 55

Bảng 4.15: Phụ nữ dân tộc Tày với vai trò cộng đồng 57

Bảng 4.16: Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình 59

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang Hình 4.1: Biểu đồ người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 53

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình 13

2.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ 15

2.1.3 Quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ 17

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18

2.2.1 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ ở một số nước trên thế giới 18

2.2.2 Vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam 20 2.2.3 Kinh nghiệm trong phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Tày ở Việt Nam 21

Trang 9

2.2.4 Những chính sách trong phát triển phụ nữ dân tộc ở Việt Nam 21

2.2.5 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày 22

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.4 Phương pháp nghiên cứu 25

3.4.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu 25

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 27

3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29

4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội xã Lam Sơn 32

4.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình tại xã Lam Sơn 42

4.2.1 Thông tin chung về các hộ điều tra 42

4.2.2 Phụ nữ dân tộc Tày đối với sản xuất 46

4.2.3 Phụ nữ dân tộc Tày đối với vai trò tái sản xuất 55

4.2.4 Phụ nữ dân tộc Tày đối với vai trò cộng đồng 56

4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình 58

4.3.1 Những yếu tố khách quan 59

4.3.2 Những yếu tố thuộc về bản thân phụ nữ 63

4.4 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình 64

4.4.1 Giải pháp đối với địa phương 64

4.4.2 Giải pháp đối với bản thân người phụ nữ 69

Trang 10

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1 Kết luận 70

5.2 Kiến nghị 71

5.2.1 Đối với Đảng và Nhà nước 71

5.2.2 Đối với các cấp chính quyền và đoàn thể địa phương 71

5.2.3 Đối với bản thân người phụ nữ dân tộc Tày 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 11

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ giữ một vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bằng sự lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn đóng vai trò chính trong công việc sinh sản và nuôi dưỡng con người để duy trì và phát triển xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng

có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta nói chung và nền kinh tế nông thôn nói riêng đã có những bước phát triển đáng kể Để đạt được những thành tựu đó, các thành phần kinh tế đã không ngừng vươn lên và có nhiều đóng góp to lớn Kinh tế hộ nông nghiệp là là một bộ phận không thể thiếu được trong các thành phần kinh tế đó Từ những trang sử xưa của dân tộc, phụ

nữ Việt Nam đã giữ vị trí và vai trò quan trọng trong việc dựng nước và giữ nước Những tấm gương, hình ảnh của Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Thị Minh Khai, các mẹ Việt Nam anh hùng,… đã trở thành biểu tượng cho lòng yêu nước và tinh thần bất khuất Ngày nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục kế thừa, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp ấy và ngày càng khẳng định được vai trò to lớn của mình trong xã hội Ở nông thôn nước ta, phụ nữ chiếm gần 50% dân số Người phụ nữ hết sức quan trọng trong xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ và hạnh phúc Tuy nhiên, phụ nữ nông thôn còn chịu nhiều thiệt thòi,

họ tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhưng vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận đúng đắn Phụ nữ có tác động trực tiếp đến

sự phát triển mọi mặt của địa phương Có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của gia đình và xã hội Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa vị của người phụ nữ dân tộc Tày là vấn đề bức xúc Do

Trang 12

vậy, việc giúp đỡ, tạo điều kiện để người phụ nữ phát huy vai trò của mình là trách nhiệm của các cấp, các ngành và địa phương

Lam Sơn là một xã thuộc địa bàn huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn, có cơ sở

hạ tầng còn kém phát triển Đây là khu vực sinh sống của 4 dân tộc anh em là: Tày, Dao, Kinh, Nùng Trong đó, dân tộc Tày chiếm đông nhất (49,59%) Trình độ dân trí chưa cao, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, một vấn đề hiện nay là bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình còn phổ biến, phụ nữ DTTS nhất là phụ nữ DTT trên địa bàn xã chưa được tham gia vào quá trình ra quyết định và các nguồn thông tin mới về kỹ thuật canh tác Trong khi họ lại là người trực tiếp tham gia sản xuất, do đó hiệu quả canh tác không cao, đời sống chưa được cải thiện

Xuất phát từ tính cấp thiết trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của người phụ nữ DTT, những khó khăn đang cản trở sự tiến bộ của họ, những người có vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và

phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Vai trò của phụ

nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp xã Lam Sơn, huyện

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Phân tích và đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp tại xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

Trang 13

- Phân tích được các yếu tố ảnh hường đến vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp tại xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ nông nghiệp tại xã Lam Sơn, huyện Na

- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin kỹ năng nghề nghiệp

- Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò của người phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế gia đình Từ đó, nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ dân tộc Tày và người dân về vai trò của phụ nữ, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế của chính gia đình họ, đóng góp vào sự phát triển của địa phương

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về giới và giới tính

* Khái niệm về giới

Khái niệm về “Giới” được xuất hiện ban đầu là ở các nước nói tiếng Anh, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX cho đến những thập kỷ 80 nó được xuất hiện tại Việt Nam Có nhiều khái niệm về giới, sau đây là khái niệm của một số tác giả khác nhau:

Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò của nam

và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này với nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và

có thể thay đổi theo thời gian (Feldstein H.S và Jinggins J 1994)

Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ Giới không phải là sự xác định sinh học - như kết quả của những đặc điểm về giới tính của nam hay nữ, mà giới là do xã hội xác lập nên Nó là một nguyên tắc

tổ chức xã hội có thể kiểm soát tiến trình sản xuất, tái sản xuất, tiêu thụ và phân phối (FAO, 1997)

Giới là sự khác biệt giữa nam và nữ về góc độ xã hội, các đặc điểm khác nhau do xã hội quyết định, các mối quan hệ giữa nam và nữ do xã hội lập nên Các vai trò của giới được xác định bởi các đặc tính xã hội, văn hóa và kinh tế, được nhận thức bởi các thành viên trong xã hội đó Do đó, vài trò của giới có sự biến động và thay đổi qua các thời gian và không gian (Trần Thị Quế,1999 và Nancy J Hafkin, 2002)

Trang 15

* Khái niệm về giới tính

Giới tính là một thuật ngữ được các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau

về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới Hay nói cách khác:

Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được

Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình tái sản xuất con người

và di truyền nòi giống Ví dụ như: sự khác nhau về hình dạng cơ thể bên ngoài (nam giới cao to hơn, nặng hơn, giọng nói trầm hơn, ), khác nhau về cấu tạo NST, hormone,… khác nhau về chức năng sinh học, tạo nên vai trò của giới tính (phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú; nam giới sản xuất ra tinh trùng để thụ thai ) Những đặc trưng mang tính sinh học này có ngay từ khi con người được sinh ra, chúng ổn định và hầu như không biến đổi ở cả nam và nữ

* Phân biệt giữa giới và giới tính

Bảng 2.1: Sự khác nhau về đặc trưng cơ bản giữa giới và giới tính

Đặc trưng xã hội

Do dạy và học mà có

Đa dạng

Biến đổi theo hoàn cảnh xã hội

Thay đổi theo không gian và thời gian

Đặc trưng sinh học Bẩm sinh

Đồng nhất Không biến đổi Không thay đổi

(Nguồn: Bài giảng Giới trong phát triển nông thôn) [6]

- Sự khác biệt về giới

Phụ nữ được xem là phái yếu vì một mặt thể lực họ yếu hơn nam giới,

họ sống thiên về tình cảm Vì vậy phân công lao động giữa hai giới cũng có

sự khác biệt Người phụ nữ có thiên chức là làm vợ, làm mẹ, chăm sóc con cái

Trang 16

và gia đình Còn nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ có thể lực tốt hơn phụ nữ, cứng rắn, nhanh nhẹn hơn trong công việc Đặc trưng này khiến nam giới ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình, họ tập trung hơn vào công việc tạo ra của cải vật chất và các công việc xã hội Chính điều này

đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Hơn nữa do các tác động của định kiến xã hội, hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới khác nhau nên phụ nữ thường ít có cơ hội tiếp cận cái mới, trong học tập và tìm kiếm việc làm Mặt khác, phụ nữ thường bị ràng buộc bởi gia đình và con cái, do đó họ ít có cơ hội tham gia các công việc xã hội và cơ hội thăng tiến trong công việc Sự khác biệt về giới tạo nên khoảng cách giữa hai giới trong xã hội

- Nguồn gốc giới

Trong gia đình, từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử và dạy dỗ khác nhau tùy theo nó là trai hay gái Đó là sự khác biệt về trang phục, hành vi, cách ứng xử mà cha mẹ, gia đình, nhà trường và xã hội trông chờ ở con trai và con gái Đồng thời họ cũng hướng dẫn, dạy dỗ trẻ trai và gái theo những quan điểm riêng và cụ thể Đứa trẻ phải học để trở thành con trai hay con gái và phải luôn điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới đã được quy định Sau khi đã hình thành các đặc điểm như vậy, nhà trường và các tập quán xã hội lại tiếp tục củng cố các khuôn mẫu cụ thể của mỗi giới (ví dụ: nam thì học thêm các môn kỹ thuật, xây dựng; nữ thì học thêm các môn nữ công, may thêu, ) Các thể chế xã hội như: chính sách, pháp luật, cũng có ý nghĩa làm tăng hoặc giảm sự khác biệt giữa hai giới (ví dụ: ưu tiên nữ trong các nghề

y tá, thư ký, nam trong nghề lái xe, cảnh sát, )

* Vai trò của giới

- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện

để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học,…

Trang 17

- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): như sinh con, nuôi dưỡng trẻ nhỏ, làm công việc nội trợ, chăm sóc người già, người ốm

“ai được cái gì” trong xã hội Các ý tưởng và thực tế trong việc lồng ghép phản ánh và củng cố lẫn nhau, qua đó đưa ra luận chứng cho bất kỳ sự phân

bố các nguồn lực và cơ hội nào của xã hội

- Lồng ghép giới được hiểu là:

Lồng ghép giới là một quá trình hay chiến lược hướng tới mục đích bình đẳng giới Đây là một quá trình diễn ra liên tục

Nó là một phương pháp để quản trị nhằm làm cho các mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình thiết kế, thực hiện kiểm tra và đánh giá các chính sách và chương trình trong tất cả các lĩnh vực của xã hội

Lồng ghép giới liên quan đến việc thay đổi các chính sách và thể chế nhằm thúc đẩy bình đẳng giới một cách tích cực hơn Đó là một quá trình chuyển đổi lâu dài nhằm xem xét lại các giá trị văn hóa – xã hội và các mục tiêu phát triển

- Đối tượng để thực hiện lồng ghép giới

Dòng chảy chủ đạo là một tập hợp mang tính chi phối, bao gồm các ý tưởng, giá trị, quan niệm, thái độ, mối quan hệ và cách thức tiến hành mọi việc trong xã hội Dòng chảy chủ dạo bao trùm các thể chế chính của xã hội

Trang 18

(gia đình, nhà trường, chính quyền, tổ chức xã hội,…) quyết định ai được coi trọng và cách thức phân bổ nguồn lực, quyết định ai được làm gì và ai nhận được gì trong xã hội, và cuối cùng quyết định chất lượng cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội

- Tại sao lồng ghép giới lại quan trọng?

Lồng ghép giới là một khía cạnh quan trọng trong quản trị hữu hiệu Nó đảm bảo rằng các thể chế, chính sách và chương trình đều đáp ứng các nhu cầu và mối quan tâm của phụ nữ cũng như nam giới và phân bố các lợi ích một cách công bằng giữa phụ nữ và nam giới Lồng ghép giới sẽ góp phần vào sự tiến bộ xã hội, kinh tế, văn hóa, mang lại sự công bằng hơn cho phụ nữ

và nam giới, qua đó nâng cao trách nhiệm của chính quyền nhằm mang lại thành tựu cho mọi công dân

* Nhu cầu, lợi ích, bình đẳng, giới và phát triển giới

- Nhu cầu giới thực tế

Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới cần được đáp ứng để thực hiện tốt các vai trò được xã hội công nhận Nhu cầu này nảy sinh trong đời sống hằng ngày, là những thứ nhìn thấy được, thiết thực, cụ thể Có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ gắn với các vai trò truyền thống Khác với nhu cầu giới chiến lược, nhu cầu giới thực tế được chính người phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Ví dụ: phụ nữ có nhiều nhu cầu giới gắn với vai trò nuôi dưỡng của mình như củi, nước, thực phẩm, thuốc men nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò của mình

- Lợi ích giới (nhu cầu giới chiến lược)

Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch

về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng Nhu cầu giới chiến lược được

Trang 19

xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị và văn hóa cụ thể

- Công bằng giới

Là sự đối xử công bằng với cả nam giới và phụ nữ Để bảo đảm có sự công bằng, luôn phải có nhiều biện pháp để điều chỉnh những khuyết thiếu của lịch sử và xã hội mà đã cản trở phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động xã hội dưới hình thức này hay hình thức khác Công bằng sẽ dẫn tới sự bình đẳng

- Bình đẳng giới

Là những nhu cầu của phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch

về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế

của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng

Nhu cầu giới chiến lược được xác định để khắc phục tình trạng thấp kém hơn của mỗi giới, chúng có thể thay đổi theo hoàn cảnh xã hội, chính trị

“Một trăm con gái không bằng cái con trai”, “Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng thì tan hoang cửa nhà” Trong hoàn cảnh như vậy thì người phụ nữ sẽ không đủ tự tin và điều kiện để vươn lên như nam giới và sự cam chịu của nhiều phụ nữ khác

Trang 20

- Giới và phát triển giới

Xã hội loài người tồn tại và phát triển nhờ sự chiến đấu, lao động và hợp tác hai giống người: nam và nữ Từ thế hệ này sang thế hệ khác, phụ nữ

đã sát cánh cùng với nam giới để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần xã hội Về mặt sinh học (giới tính) hai giống người này không giống nhau trên nhiều phương diện như hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản, còn về mặt xã hội, (giới) thật khó có thể so sánh ai hơn ai vì nam và nữ đều đóng vai trò quan trọng không thể thiếu được trong gia đình và xã hội Không thể nói rằng giới tính này là quan trọng giới tính kia là không quan trọng cũng không thể nói rằng giới tính này sinh ra để thống trị, giới tính kia là bị trị Tuy nhiên, lịch sử đã không công bằng khi ghi chép về nam giới như là người sáng tạo ra tất cả còn phụ nữ chỉ đóng vai trò phụ giúp không đáng kể Phụ nữ là người đảm nhiệm các vai trò sản xuất và đóng vai trò chính trong tái sản xuất: tái sản xuất sinh học, tái sản xuất ra sức lao động và tái sản xuất ra cơ cấu cộng đồng Trong gia đình, họ là người sinh đẻ, nuôi dạy con cái, giữ gìn gia đạo, gia phong còn đối với dân tộc, phụ nữ đã đóng góp phần bảo lưu truyền thống văn hóa và hình ảnh của người mẹ luôn là biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc Mặc dù ở vị thế thấp nhưng trong lịch sử thế giới và Việt Nam, thời kỳ nào cũng có phụ nữ kiệt xuất trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao, du hành vũ trụ

2.1.1.2 Khái niệm về dân tộc

Dân tộc là một cộng đồng người ổn định được hình thành trong đời sống xã hội có chung tiếng nói, lãnh thổ, đời sống kinh tế và tâm lý đoàn kết dân tộc Dân tộc thiểu số được hiểu là những người thiểu số sống trong một quốc gia [5]

2.1.1.3 Khái niệm hộ gia đình, kinh tế hộ gia đình

* Khái niệm về hộ

Trong một số từ điển ngôn ngữ học cũng như một số từ điển chuyên ngành kinh tế, người ta định nghĩa về “hộ” như sau: Hộ là tất cả những người

Trang 21

sống chung trong một ngôi nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc và người làm công, người cùng ăn chung

Thống kê Liên Hợp Quốc cũng có khái niệm về “hộ”: Gồm những người sống chung dưới một ngôi nhà, cùng ăn chung, làm chung và cùng có chung một ngân quỹ

Giáo sư Mc Gee (1989) – Đại học tổng hợp Colombia (Canada) cho rằng: “hộ” là một nhóm người có cùng chung huyết tộc hoặc không cùng chung huyết tộc ở trong một mái nhà và ăn chung một mâm cơm

Nhóm các học giả lý thuyết phát triển cho rằng: “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm về hộ không giống nhau Tuy nhiên, trong đó cũng có những nét chung để phân biệt về hộ, đó là:

+ Chung hay không cùng chung huyết tộc (huyết thống và quan hệ hôn nhân);

+ Cùng chung sống dưới một mái nhà;

+ Cùng chung một nguồn thu nhập (ngân quỹ);

* Khái niệm“hộ gia đình”

Hộ gia đình được dùng để biểu thị các thành viên của nó có chung huyết tộc, quan hệ hôn nhân và có chung một cơ sở kinh tế Các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt

Trang 22

động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định; là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó (Điều 107,

Dự thảo luật dân sự)

* Khái niệm kinh tế“hộ gia đình”

Theo Frank Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là “các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, chủ yếu sử dụng lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường hoạt động với một tốc độ không hoàn chỉnh”

Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội trong đó có các nguồn lực như: đất đai, lao động, tiền vốn, và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tùy thuộc vào chủ hộ được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển” [4]

2.1.2 Quan điểm về tăng trưởng và phát triển kinh tế

Tăng trưởng và phát triển kinh tế đôi khi được coi như nhau nhưng thực chất chúng có những nét khác nhau và có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn phát triển kinh tế phải có sự tăng trưởng kinh tế, nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới sự phát triển kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi nhất của vấn đề

lí luận kinh tế Các nhà khoa học đều thống nhất cho rằng: “Tăng trưởng kinh

tế là sự tăng thêm hay gia tăng về quy mô, sản lượng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định” [1]

Trong khi đó phát triển kinh tế được hiểu là “Một quá trình lớn lên hay

tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kì nhất định trong đó bao gồm cả tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế” Phát

triển kinh tế xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân bằng việc phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệ sản xuất, quan

hệ xã hội, nâng cao chất lượng lao động văn hoá [1]

Trang 23

Các nước trên thế giới trong quá trình phát triển kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp nói riêng đều phải quan tâm đến mục tiêu phát triển đó là:

+ Tăng khả năng sẵn có và mở rộng việc phân phối các loại hàng hóa thiết yếu cho cuộc sống như phương tiện, nhà ở, y tế và bảo vệ cho tất cả các thành viên trong xã hội

+ Tăng mức sống tức là ngoài mục tiêu tăng thu nhập ra còn phải tạo thêm việc làm, cải thiện công tác giáo dục và chú trọng hơn đến giá trị văn hoá, nhân văn

+ Mở rộng sự lựa chọn về y tế - xã hội cho các thành viên và các quốc gia bằng cách giúp họ thoát khỏi sự ràng buộc và lệ thuộc không chỉ đối với những người và những quốc gia khác nhau mà còn đối với những áp lực của

sự nghèo đói [2]

2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình

2.1.3.1 Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở nông thôn

Việt Nam là một nước thuộc khu vực Đông Nam Á nên còn lưu giữ rất nhiều những phong tục tập quán kể cả những phong tục cổ hủ lạc hậu Ở nông thôn, nơi mà sự tiếp cận của cơ chế thị trường rất chậm, văn minh thường đến sau cùng, nên những tư tưởng “trọng nam khinh nữ” có cơ hội cản trở phụ nữ nông thôn tham gia vào các hoạt động xã hội, người dân không dám mạnh bạo làm ăn, hạn chế tính năng động sáng tạo và đương nhiên cản trở vai trò của người phụ nữ Đặc biệt đối với các dân tộc thiểu số, nơi mà quan niệm về giới và vai trò của giới vẫn có xu hướng đề cao vai trò của nam giới hơn Họ cho rằng chỉ nam giới mới có khả năng đảm đương được các công việc được xem là quan trọng của gia đình, cộng đồng và xã hội [3]

2.1.3.2 Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của người phụ nữ

Ở nông thôn đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn cũng như báo chí đến với người nông dân rất hạn chế, do vậy việc phụ nữ tiếp cận

Trang 24

và nắm bắt các thông tin khoa học liên quan đến kiến thức phát triển sản xuất

và chăn nuôi gặp nhiều khó khăn

Tuy phụ nữ đã được bình đẳng với nam giới về tất cả các quyền và được quy định rõ trong hiến pháp, bộ luật dân sự và luật hôn nhân gia đình nhưng hầu hết phụ nữ nông thôn không hiểu biết về những văn bản trên và phải tuân theo các tập quán truyền thống Phụ nữ bị hạn chế về trình độ chuyên môn kỹ thuật, sự hiểu biết nên gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về chính trị, pháp luật và gặp nhiều khó khăn trong áp dụng các tiến

bộ KHKT mới hay các phương tiện hiện đại vào sản xuất, vào đời sống do vậy hiệu quả công việc và năng suất lao động thấp [3]

2.1.3.3 Yếu tố vốn đầu tư

Trong phát triển kinh tế, yếu tố vốn là rất quan trọng nhưng trong phát triển kinh tế hộ gia đình thì hầu hết là gặp khó khăn về vốn Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thống do trình độ học vấn thấp, các hàng rào về xã hội và văn hoá, bản chất công việc kinh doanh và những yêu cầu thế chấp ví dụ như việc ghi tên trên giấy chứng nhận sở hữu đất mà người phụ nữ không thể ghi tên mình vào Hơn nữa thị trường ở nước ta nhất

là thị trường vốn ở các vùng xa xôi hẻo lánh hoạt động rất kém, cơ chế vay vốn gặp nhiều khó khăn Một điều là vay nợ ở khu vực nông thôn chủ yếu được thực hiện thông qua khu vực phi chính thống với lãi suất rất cao Do đó

mà phụ nữ nông thôn đặc biệt là phụ nữ nghèo không có điều kiện mở rộng sản xuất phát triển kinh tế [3]

2.1.3.4 Khả năng tiếp cận thông tin của phụ nữ

Phụ nữ phải đối mặt với nhiều ràng buộc về thời gian lớn hơn nam giới

Họ có thể dành ít thời gian hơn cho công việc đồng ruộng nhưng lại phải làm việc nhà nhiều hơn do sự phân công lao động mang tính chất giới về việc chăm sóc con cái và trách nhiệm chăm lo việc nhà Do vậy mà phụ nữ ít có điều kiện tiếp xúc với các nguồn sách báo, thông tin Điều này đã ảnh hưởng

Trang 25

rất lớn đến khả năng nhận thức và hiểu biết xã hội ở nhiều vùng xa xôi hẻo lánh, người dân ít có cơ hội tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác Do vậy mà cơ hội để phụ nữ giao tiếp rộng, tham gia hội họp

để nắm bắt thông tin cũng rất hiếm [3]

2.1.3.5 Yếu tố chủ quan

Một yếu tố không thể không nhắc đến ảnh hưởng đến vai trò của phụ

nữ đó là nguyên nhân chủ quan do chính họ gây ra Chính họ cũng cho rằng những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái,… là công việc của người phụ nữ, như vậy vô hình chung họ công nhận cái định kiến của xã hội, tự trói buộc mình để rồi công việc gia đình đè lên đôi vai của họ, họ không còn thời gian cho việc tham gia các hoạt động xã hội Họ tự đánh mất vai trò và vị trí của mình trong gia đình và xã hội [3]

2.1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về giải phóng phụ nữ

* Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về giải phóng phụ nữ

Phụ nữ là phân nửa dân số không thể thiếu được trong đời sống xã hội Phụ nữ là một bộ phận cấu thành quan trọng có ý nghĩa quyết định việc tái sản xuất lực lượng sản xuất, góp phần quan trọng vào sự phát triển xã hội bền vững

Theo ông: “Trong lich sử nhân loại, không có một phong trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia, phụ

nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức”, chính vì vậy mà họ chưa bao giờ và không bao giờ đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng V.I Lênin nhìn rõ thực trạng bất bình đẳng mà phụ nữ phải gánh chịu đó còn là sự bất bình đẳng trong cuộc sống gia đình, thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc, vì toàn bộ công việc gia đình đều trút lên vai phụ nữ

Để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội, nhưng trước hết và quyết định nhất là sự nỗ lực của

Trang 26

chính phụ nữ “Việc giải phóng phụ nữ lao động phải là việc của bản thân phụ

nữ lao động”

Trong lĩnh vực chính trị, V.I Lênin quan tâm trước hết đến việc “làm cho phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa vào công cuộc bầu cử vì đó là cơ hội tốt nhất để họ lựa chọn những người đại diện cho quyền lợi của họ, nhất là những người đại diện cho quyền lợi của họ, nhất là những người đại diện là phụ nữ Tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực công tác xã hội Trong lĩnh vực công tác Đảng, công tác Nhà nước cũng cần có sự tham gia của phụ

nữ, hơn nữa trong công tác đó, phụ nữ phải giữ một vai trò chủ yếu và chắc chắn là phụ nữ giữ vai trò ấy [21]

* Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

Kế thừa và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người đầu tiên tìm hiểu và đặc biệt quan tâm đến tiềm năng, vai trò, vị thế của người phụ nữ trong phong trào cách mạng thế giới nói chung và sự nghiệp cách mạng của Việt Nam nói riêng Có thể khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ ở những luận điểm sau:

Thứ nhất: Giải phóng phụ nữ là một mục tiêu tất yếu của cách mạng vô

sản Trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh khẳng định, quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng chính là quá trình thực sự giải phóng phụ nữ [13]

Thứ hai: Giải phóng phụ nữ – bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng

Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xã hội, nhưng dưới chế độ thực dân phong kiến phụ nữ là đối tượng bị bóc lột, đè nén nặng nề nhất Vì vậy, theo Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ – bản thân nó cũng là một cuộc cách mạng [13]

Thứ ba: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của

toàn thể xã hội Theo Hồ Chí Minh giải phóng phụ nữ không chỉ là trách nhiệm của Đảng và chính quyền mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội [13]

Trang 27

Thứ tư: Giải phóng phụ nữ là trách nhiệm của bản thân người phụ nữ Sự

tự thân vận động, sự nỗ lực vươn lên trong học tập và công tác của chính chi ̣em mới có thể đưa đến sự thành công của công cuộc giải phóng phụ nữ [13]

Thứ năm: Xây dựng hội phụ nữ ngày càng vững mạnh Ngay từ những

năm hai mươi của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã xác định các Đảng Cộng Sản cần phải xây dựng tổ chức riêng của phụ nữ và thường xuyên chăm lo xây dựng tổ chức đó cho vững mạnh để tập hợp, vận dụng phụ nữ hoạt động cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ và đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ [13]

* Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới

Ngay từ năm 1930, Chánh cương vắn tắt của Đảng ta đã nêu rõ: về phương diện xã hội thì thực hiện “nam, nữ bình quyền” Luận cương chính trị của Đảng cũng ghi: một trong mười nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là “nam, nữ bình quyền” Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết lãnh đạo công tác phụ nữ, thúc đẩy bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Chỉ thị số 37- CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư về một số vấn

đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày 27/04/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng ta đã đưa ra các Chỉ thị, Nghị quyết nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực, và giải quyết vấn

đề bất bình đẳng giới

2.1.3 Quan điểm về nâng cao vai trò của phụ nữ

* Quan điểm“Phụ nữ trong phát triển”(WID)

Quan điểm này ra đời vào những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ 20 tại Ủy ban phụ nữ thuộc tiểu ban xã hội Washington Quan điểm này đặt trọng tâm vào phụ nữ, trên cơ sở giải quyết các vấn đề của phụ nữ nảy sinh trong

Trang 28

quá trình phát triển Cách tiếp cận WID đòi hỏi công bằng xã hội và quyền lợi cho phụ nữ Quan điểm WID đã chú trọng đến vai trò sản xuất của phụ nữ, chủ trương đưa phụ nữ vào hòa nhập nền kinh tế đất nước, coi việc tiếp cận với cơ hội có việc làm trong sản xuất và tham gia công tác xã hội là biện pháp nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ [12]

* Quan điểm“Phụ nữ và phát triển”(WAD)

WAD ra đời vào nửa sau những năm 1970, với mục đích khắc phục những nhược điểm của WID Quan điểm này đã thừa nhận phụ nữ là chủ thể quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, vì thế phụ nữ đương nhiên là một bộ phận cốt yếu của quá trình phát triển Mục tiêu chính của WAD là giải quyết mối quan hệ giữa phụ nữ và phát triển [12]

* Quan điểm“Giới và phát triển”(GAD)

Quan điểm này ra đời vào những năm 1980 Khắc phục nhược điểm của 2 quan điểm trên, GAD tập trung vào mối quan hệ giới chứ không chỉ riêng phụ nữ, quan tâm đến sự phát triển bền vững, tập trung vào cân bằng giới và các chương trình phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của cả nam và nữ Quan điểm GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai trò của phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triển cộng đồng xã hội trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau [12]

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ ở một số nước trên thế giới

Tại Châu Phi, Châu Á, Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới 12 – 13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi nơi trên thế giới phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50% - 90% thu nhập của nam giới [10]

* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao

Trang 29

- Tại Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30 – 49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25 – 29, 50 – 54 Đáng chú ý rằng gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60 – 64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động [14]

- Tại Trung Quốc: Nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20 – 29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30 – 39 tuổi và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60 – 64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [14]

* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: Nhìn chung, trình độ kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học phổ thông và 0,4% mới chỉ tốt nghiệp cấp hai, vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được đều là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ những người thân của mình Một hạn chế lớn là những kinh nghiệm được truyền đạt theo phương thức này, ít khi làm thay đổi được

mô hình, cách thức sản xuất của họ [14]

* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Điều đó bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng [14]

Trang 30

2.2.2 Vai trò của phụ nữ dân tộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, cùng với dân tộc Kinh còn có 53 dân tộc thiểu số Tuy chỉ chiếm 14% dân số cả nước nhưng địa bàn cư trú của các dân tộc là ¾ diện tích đất nước Phụ nữ chiếm hơn ½ dân số, là nguồn lực

có vai trò, vị trí đặc biệt, tác động rất lớn tới phát triển kinh tế – xã hội bền

vững ở từng địa phương

Phụ nữ nước ta là những chủ nhân của đất nước, có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hương họ Người phụ nữ không chỉ cùng chồng tham gia sản xuất kinh doanh tạo thu nhập mà còn bận rộn với các công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái… Do đó mà thời gian nghỉ ngơi của họ là rất ít Ở những vùng DT sinh sống hầu như còn sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, người phụ nữ tham gia vào hầu hết các khâu trong quá trình trồng trọt như gieo hạt, bón phân, làm cỏ, thu hoạch, bảo quản, phòng trừ sâu bệnh… Còn chăn nuôi thì họ chủ yếu là chăm sóc, cho ăn, vệ sinh chuồng trại Người phụ nữ có đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế

hộ gia đình Đặc biệt, những năm gần đây, phụ nữ đã được quan tâm nhiều hơn, họ được tiếp cận với các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh, nâng cao trình độ… Vì thế mà vị thế của họ ngày càng được cải thiện hơn, đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao

Trong việc gieo trồng các nông sản thì nam giới là người làm đất còn phụ nữ là người gieo cấy, thu hoạch bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Phụ nữ là người làm ra đa số các loại lương thực, thực phẩm trong gia đình

Do đó có thể thấy được vai trò của phụ nữ trong gia đình nông thôn là rất quan trọng Ngoài tham gia trồng trọt phụ nữ còn phải phòng trừ dịch bệnh cho vật nuôi, chăm sóc con cái Phụ nữ tham gia vào hầu hết các hoạt động sản xuất nông nghiệp

Trang 31

2.2.3 Kinh nghiệm trong phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Tày ở Việt Nam

Nước ta đã có nhiều chính sách nhằm phát huy vai trò của phụ nữ DT Thông qua đó mà đã có nhiều chi ̣em phụ nữ DTT được nâng cao trình độ, được tiếp cận và quản lý những nguồn lực, do đó mà họ vươn lên và có nhiều đóng góp cho kinh tế gia đình cũng như xã hội Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng như hội Liên hiệp Phụ nữ ở các tỉnh thành cũng đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi để chị em phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Hội triển khai đồng thời nhiều hoạt động hỗ trợ tích cực như: cho vay vốn ưu đãi để phụ nữ phát triển kinh tế gia đình, làm chủ cuộc sống, tặng nhà tình thương cho phụ nữ neo đơn khó khăn về chỗ ở, hỗ trợ cho học sinh

nữ để các em tiếp tục được đến trường… Những hoạt động này đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động khá rõ nét và cụ thể Bên cạnh Hội Liên hiệp phụ nữ còn có nhiều tổ chức quốc tế đã có những chương trình thiết thực giúp cho phụ nữ DTTS được nâng cao trình độ về mọi mặt, nâng cao

vi ̣thế xã hội

2.2.4 Những chính sách trong phát triển phụ nữ dân tộc ở Việt Nam

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên tháng 10/1930 đã khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ và

sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một trong mười nhiệm vụ quan trọng của Đảng” Phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều mặt, phụ nữ không chỉ là người được hưởng lợi từ nhiều thành quả của đất nước mà còn là nhân tố quan trọng tham gia vào hoạt động sản xuất, công tác quản lý xã hội

Và một số hiến pháp, chỉ thị, nghị quyết như:

+ Hiến pháp năm 1954, Điều 24

+ Hiến pháp được bổ sung và sửa đổi năm 1959, 1980 và 1992 đều thể hiện quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

+ Năm 1993, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập

Trang 32

+ Nghị quyết 04/NQ – TW ban hành ngày 12/07/1993 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII Tháng 6/1994

+ Bộ luật lao động Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIX thông qua

+ Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg ngày 21/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược Quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010

+ Nghị quyết 11/NQ-TW ngày 24/07/2007 của Bộ Chính trị

+ Quyết định số 2531/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 phê duyệt chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011- 2020

Đó là những hiến pháp, chỉ thị, nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta về phụ nữ nói chung, giúp phụ nữ phát huy được vai trò của mình, chính sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò to lớn của phụ nữ trong xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thể hiện trong các văn bản trên đã tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy được tiềm năng to lớn của mình, đóng góp cho sự phát triển của đất nước

2.2.5 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày

Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên

kỷ thứ nhất trước công nguyên, có dân số đông nhất trong các DTTS ở nước

ta với 1.626.392 người (2009) Người tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái

* Đặc điểm kinh tế

Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai… Và rau quả mùa nào thức đó Người Tày có truyền thống làm lúa nước Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng ngô, hoa màu, cây ăn quả… Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả dông vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú ý nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng

Trang 33

* Tổ chức cộng đồng

Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối, tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6, hoặc 7 hàng cột, họ thường chọn những loại gỗ quý để dựng nhà, nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hoặc lá cọ Xung quanh nhà thưng bằng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi chọn ngày tốt

* Hôn nhân và gia đình Gia đình

Người Tày thường quý con trai hơn và có quy định rõ ràng trong quan

hệ giữa các thành viên trong nhà Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly hôn Đã từ lâu không còn tục ở rể Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tùy thuộc vào bố mẹ hai bên và “số mệnh” của họ có hợp nhau hay không Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình Hôn lễ truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu,…, thể hiện bản sắc văn hóa của một dân tộc Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng

* Văn hóa

Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ, ca, múa, nhạc,… Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, hát ru con Đàn tính là một loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hóa tinh thần của đồng bào Tày Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc dân tộc Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện Họ rất coi trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình

* Ăn uống

Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày tết, ngày lễ, người Tày

Trang 34

thường làm nhiều loại bánh như: bánh chưng, bánh dày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo

* Trang phục

Có đặc trưng riêng về phong cách thẩm mỹ Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn trang trí Trước kia, phụ nữ Tày nhiều vùng cũng mặc váy, gần đây chuyển sang mặc quần dài chấm gót, quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa Đồ trang sức có vòng cổ, vòng tay, vòng chân và dây xà tích bằng bạc Trang phục của nam giới có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa,

áo ngắn cũng may nam thân, cổ đứng Nam cũng có áo dài như áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối

* Thờ cúng

Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ

Trang 35

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ dân tộc Tày trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Lam Sơn - huyện Na Rì - Tỉnh Bắc Kạn

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: xã Lam Sơn - huyện Na Rì - Tỉnh Bắc Kạn

- Thời gian nghiên cứu: Được triển khai từ 13/08/2018 đến 23/12/2018

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội xã Lam Sơn - huyện Na Rì - Tỉnh Bắc Kạn

- Thực trạng vai trò phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã Lam Sơn

- Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong quá trình phát triển kinh tế nông hộ trên địa bàn xã Lam Sơn

- Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu

* Chọn điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu phải đại diện về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa, môi trường, chủ yếu là người dân tộc Tày,… để làm rõ được vai trò của phụ nữ dân tộc Tày trong phát triển kinh tế hộ gia đình Trong tổng số 10

Trang 36

thôn của xã Lam Sơn, tôi chọn ra 4 thôn đại diện để nghiên cứu: Xưởng Cưa, Pan Khe, Thanh Sơn, Pò Chẹt

- Xưởng Cưa: Là thôn thuộc trung tâm xã Có nhiều điều kiện thuận lợi giao lưu văn hóa, kinh tế với các thôn lân cận tốt hơn Phát triển các ngành dịch vụ tốt hơn

- Thanh Sơn: Là thôn đặc biệt khó khăn của xã Địa bàn cách xa trung tâm xã nên việc tiếp cận nguồn thông tin còn hạn chế

- Pan Khe: Là thôn khó khăn của xã Địa hình đồi núi bát úp, chủ yếu phát triển rừng và chăn nuôi gia súc

- Pò Chẹt: Là thôn nằm ở phía Nam của xã Lam Sơn Được thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ, có hệ thống thủy lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

* Chọn mẫu nghiên cứu

Số lượng mẫu lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức của Slowin (1960), độ tin cậy 90%, sai số 10%:

n = N

(1+N.e2) Trong đó: n là cỡ mẫu

e là sai số cho phép

N là tổng số hộ trong khu vực nghiên cứu

Trên địa bàn xã có 486 hộ, do đó số mẫu tiến hành điều tra là 84 hộ Tại 4 thôn đã chọn, tôi lựa chọn số mẫu tại mỗi thôn cụ thể như sau:

+ Thôn Xưởng Cưa: 21/84 hộ

+ Thôn Thanh Sơn: 21/84 hộ

+ Thôn Pan Khe: 21/84 hộ

+ Thôn Pò Chẹt: 21/84 hộ

Dựa theo danh sách các hộ có phụ nữ dân tộc Tày, tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 84 hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: khá, trung bình, nghèo Kết quả chọn mẫu:

Trang 37

Bảng 3.1: Kết quả chọn mẫu điều tra

(ĐVT: Hộ)

STT Tên thôn Tổng số hộ

điều tra

Phân theo mức sống Khá Trung bình Nghèo

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2018)

Điều tra trình độ nhận thức của người dân trên địa bàn xã Lam Sơn về vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế, mẫu nghiên cứu là 84 người,

sử dụng phương pháp phân tầng theo các tiêu chí:

+ Là người dân tộc Tày, có hộ khẩu trên địa bàn xã Lam Sơn

+ Nữ giới thuộc nhóm tuổi từ 18 đến dưới 50 tuổi và trên 50 tuổi

3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu

* Thu thập số liệu thứ cấp

Các thông tin thứ cấp được thu thập từ internet, sách báo, công trình nghiên cứu có liên quan, các báo cáo tổng kết của UBND, báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên Hiệp phụ nữ xã Lam Sơn

* Thu thập số liệu sơ cấp

Phỏng vấn phụ nữ trong hộ qua bảng hỏi: Sử dụng phương pháp phỏng vấn phụ nữ trong hộ, tôi tìm hiểu về công việc của người phụ nữ DTT trong gia đình, quyền quyết định những công việc quan trọng trong gia đình do ai đảm nhiệm, những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của họ và họ có những ý kiến

đề xuất gì để nâng cao vai trò của mình trong phát triển kinh tế hộ gia đình

Trang 38

3.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: số liệu được tổng hợp và phân tích trên bảng tính Excel, sau đó được thống kê và phân tích theo phương pháp so sánh

- Phương pháp so sánh: các số liệu được so sánh qua các năm, các nhóm hộ giàu - khá, trung bình, nghèo để thấy được sự khác nhau về thực trạng vai trò của người phụ nữ qua các năm cũng như trong từng nhóm hộ Từ

đó có thể đưa ra những nhận xét

Trang 39

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Phía Bắc giáp xã Lương Hạ, thị trấn Yến Lạc huyện Na Rì

Phía Nam giáp xã Cư Lễ huyện Na Rì

Phía Đông giáp xã Kim Lư, huyện Na Rì, tình Bắc Kạn

Phía Tây giáp xã Lương Thành, Văn Minh huyện Na Rì

* Địa hình

Xã Lam Sơn có địa hình đồi núi cao, giữa là những cánh đồng nhỏ hẹp chạy dọc theo quốc lộ 3B và các khe núi Độ cao trung bình từ 300m đến 700m Độ dốc trung bình từ 15 - 350

4.1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn

* Khí hậu, thời tiết

Xã Lam Sơn mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi vùng cao phía Bắc, nhiệt đới gió mùa, chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 21,50C, nhiệt độ cao nhất lên đến 370C, nhiệt độ thấp nhất xuống tới 50C

- Lượng mưa trung bình năm 1.084 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 5,6,7; trung bình khoảng từ 186,2 mm/tháng, lượng mưa thấp nhất vào tháng 11-12

- Tổng số giờ nắng trung bình năm là 1.483,0 giờ, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 5,6,7; trung bình khoảng 185 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất là tháng 11,12; trung bình khoảng 61,0 giờ

Trang 40

- Độ ẩm không khí trung bình khoảng 82%, thấp nhất là 78% vào tháng 2,3; cao nhất 87% vào tháng 8, tháng 9

- Lượng bốc hơi trung bình hằng năm 840 mm, thấp nhất là 65,4 mm vào tháng 2, cao nhất 77 mm vào tháng 4

- Gió, bão: Là xã miền núi được bao bọc bởi những dãy núi cao trên xã không có hướng gió nhất định Trên địa bàn xã chịu ảnh hưởng của khí hậu Đông - Bắc Bộ nên có gió mùa Đông - Bắc và gió Tây - Nam

Nhìn chung khí hậu thời tiết của xã tương đối thuận lợi cho cuộc sống sinh hoạt và sản xuất nông - lâm nghiệp.Tuy nhiên, là xã vùng cao, ảnh hưởng của núi đá nên vào mùa đông có sương mù, mưa phùn.Thời tiết hanh khô có khi phải chịu hạn hán vào mùa mưa do địa hình cao, độ dốc lớn, có mưa nhiều

dễ gây ra lũ cuốn, lũ quét làm xói mòn, lở đất của các dãy đồi, núi

* Thủy văn

Toàn xã có 34,88 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng Đây là nguồn nước tự nhiên phục vụ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Đến nay trên địa bàn xã chưa có nghiên cứu cụ thể nào về nguồn nước ngầm

4.1.1.3 Đặc điểm đất đai và tình hình sử dụng đất đai

Lam Sơn là xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu với tổng diện tích tự nhiên là 2.267,26 ha Trong đó đất nông nghiệp là 231,33 (năm 2018) chiếm 11,05% diện tích đất tự nhiên Cụ thể tình hình sử dụng đất qua các năm như sau:

Ngày đăng: 13/09/2020, 00:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm