1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực Hiện Quy Trình Chăm Sóc, Nuôi Dưỡng Và Phòng Trị Bệnh Cho Đàn Lợn Nái Sinh Sản Tại Công Ty Cp Ktks Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh​

61 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ NINH THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CP KTKS THIÊN THUẬN TƯỜNG - QUẢNG NINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ

Trang 1

NGUYỄN THỊ NINH

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CP KTKS

THIÊN THUẬN TƯỜNG - QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên – năm 2019

Trang 2

NGUYỄN THỊ NINH

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI CÔNG TY CP KTKS

THIÊN THUẬN TƯỜNG - QUẢNG NINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn: TS Cù Thị Thúy Nga

Thái Nguyên – năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau những năm tháng học lý thuyết trên ghế nhà trường thì không thể thiếu những lần đi thực tế để củng cố thêm kiến thức đã được học Để không ngừng tích luỹ thêm kinh nghiệm thì không thể không kể đến những tháng thực tập tại các cơ sở thực tập mà khoa và nhà trường tổ chức liên kết

Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, cùng toàn thể các thầy,

cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo và giúp đỡ

em trong suốt thời gian học tập tại trường

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo TS Cù Thị Thúy Nga, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty, các cán bộ kỹ thuật, công nhân viên tại trại lợn của công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, dành nhiều thời gian, công sức để hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ cũng như động viên và đóng góp những ý kiến quý báu cho em thực hiện và hoàn thành khóa luận này

Và cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả bạn bè, người thân những người đã luôn bên em, giúp đỡ, động viên và khuyến khích

em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Ninh

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện 16

Bảng 3.1 Chế độ ăn của nái chửa 26

Bảng 3.2 Lịch sát trùng chuồng trại của trại lợn 31

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh qua 3 năm 2016 – 2018 37

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập 38

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của lợn nái nuôi tại trại 40

Bảng 4.4.Kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ tại trại 41

Bảng 4.5 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con tại trại 42

Bảng 4.6 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại 44

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 45

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại 46

Bảng 4.9 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con tại trại 47

Trang 5

Nxb: Nhà xuất bản STT: Số thứ tự TS: Tiến sĩ TT: Thể trọng

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện của trang trại 3

2.1.2 Thuận lợi, khó khăn 5

2.2 Cơ sở khoa học liên quan đến chuyên đề thực hiện 6

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6

2.2.2 Những hiểu biết về sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng 9

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 12

2.2.4 Những hiểu biết về một số bệnh sinh sản thường gặp tại cơ sở 15

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 22

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 22

2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 24

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 25

3.1 Đối tượng 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.3 Nội dung thực hiện 25

3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện 25

3.4.1 Các chỉ tiêu thực hiện 25

Trang 7

3.4.2 Phương pháp thực hiện 25

3.4.3.Công thức tính và phương pháp xử lý số liệu 36

Phần 4: KẾT QUẢVÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường -Quảng Ninh qua 3 năm từ 2016 – 2018 37

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản 38

4.3 Kết quả thực hiện quy trình đỡ đẻ cho lợn nái nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 39

4.4 Kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn con theo mẹ tại trại 41

4.5 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản, lợn con tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 42

4.6 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 43

4.6.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 44

4.6.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 45

4.7 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn con tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 46

4.7.1 Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 46

4.7.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn con nuôi tại trại lợn công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh 47

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 8

mở rộng theo hướng nuôi gia công cho doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tận dụng nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, áp dụng vào thực tiễn chăn nuôi tiến tới xây dựng một nền nông nghiệp sạch đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra thị trường thế giới

Trên thực tế ngành chăn nuôi lợn còn gặp nhiều khó khăn như quy mô nhỏ lẻ, khâu chọn giống còn nhiều bất cập… Ngoài ra, sự diễn biến phức tạp của nhiều loại dịch bệnh cùng với sự ảnh hưởng trầm trọng của ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi đã làm cho cả ngành chăn nuôi lợn bị thiệt hại đáng

kể.Trong số đó, các bệnh ở lợn nái và lợn con thường xuyên xảy ra ở các quy

mô chăn nuôi và ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng đàn lợn Chính vì vậy, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải có những nghiên cứu áp dụng các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái, lợn con ở các trang trại để giảm thiệt hại do dịch bệnh gây ra, nâng cao đàn lợn cả về lượng và chất

Xuất phát từ những đòi hỏi trên, em tiến hành đề tài: “Thực hiện quy trình

chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại công ty

CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Nắm được tình hình chăn nuôi tại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh

Trang 9

- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường

- Quảng Ninh

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện của trang trại

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trại giống hạt nhân của công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường nằm trên địa phận tổ 2, khu 1, phường Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Trại hoạt động từ giữa năm 2012, là trại lợn tư nhân do ông Trần Hòa làm chủ trại kiêm tổng giám đốc công ty

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu

Cẩm Phả là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Do đó, trại lợn của Công ty CP KTKS Thiên Thuận Tường - Quảng Ninh cũng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng

- Nhiệt độ trung bình năm là 230C, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 120C

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm là 2.567,8 mm/ năm Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, chế độ mưa chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tổng lượng mưa cả năm gần như tập trung vào mùa mưa, chiếm 80 - 90% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô thì lượng mưa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 - 20% tổng lượng mưa cả năm

- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trong khu vực khá cao, trung bình tháng thấp nhất đạt 78% (tháng 10) và độ ẩm tương đối trung bình tháng cao nhất đạt 88% (tháng 3)

- Bão, giông: Mỗi năm Quảng Ninh (trong đó có Cẩm Phả) chịu ảnh hưởng trung bình của 5 - 6 cơn bão, năm nhiều có tới 9 - 10 cơn Bão thường tới cấp 8 - 9, cá biệt đã có những cơn bão cấp 12 Tháng 7, tháng 8 là những

Trang 11

tháng bão hay đổ bộ vào Quảng Ninh Các cơn giông thường xảy ra trong mùa

hè, trung bình mỗi tháng có 5 ngày Giông thường xảy ra vào buổi trưa, chiều

- Chế độ gió mùa: Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau thường chịu ảnh hưởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 - 4 đợt Mùa

hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam Tốc độ gió trung bình năm là 3 - 3,4 m/s

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trang trại được tổ chức như sau:

- 01 Chủ trại là tổng giám đốc công ty

- 02 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như: tổ chuồng đực, tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng thương phẩm, tổ chuồng cai sữa Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trang trại

- Trang trại có tổng diện tích 69 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà

ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 6,5 ha Diện tích còn lại là đồi núi

- Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm: chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà Trong đó khu chăn nuôi lợn được bố trí xây dựng chuồng trại cho gần 500 nái với các giống sản xuất chính như: Landrace, Yorkshire, Pietrain, Duroc được nhập từ nước ngoài về Về chăn nuôi gà thì chủ yếu nuôi các giống gà đẻ trứng như: gà Ai Cập, gà Lương Phượng

Trang 12

- Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân Khu sản xuất gồm: 2 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 2 chuồng hậu bị và 1 chuồng cai sữa Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng

- Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín và hoàn toàn tự động Trang thiết bị trong chuồng hiện đại được nhập từ Đan Mạch về Đầu mỗi chuồng là

hệ thống giàn mát, cuối chuồng là hệ thống quạt thông gió Riêng chuồng đẻ thì cuối chuồng còn có hệ thống xử lý mùi và trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ Hệ thống chăn nuôi có silo cám tự động từ chuồng bầu, chuồng

đẻ, chuồng cai sữa đến chuồng hậu bị nên tiết kiệm được nhân lực và mang lại hiệu quả sản xuất cao

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho chăn nuôi như: kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác

- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ bê tông và có hố sát trùng Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Mọi công nhân trong trại cho đến khách đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng

- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm

- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng

2.1.2 Thuận lợi, khó khăn

Trang 13

- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,

do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

2.1.2.2 Khó khăn

- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao

- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại

- Lợn giống nhập ngoại nên khả năng thích nghi với khí hậu Việt Nam kém, đòi hỏi chế độ chăm sóc đặc biệt

2.2 Cơ sở khoa học liên quan đến chuyên đề thực hiện

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về tính dục Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra tế bào trứng Thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và

có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng,

tử cung, âm đạo, đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [7], sự thành thục về tính dục ngoài sự phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái

Trang 14

2.2.1.2 Chu kỳ động dục và thời điểm phối giống thích hợp

* Chu kỳ động dục

Lợn nái sau khi thành thục về tính thì cứ mỗi khoảng thời gian nhất định,

cơ quan sinh dục của nó có những biến đổi đặc biệt kèm theo sự rụng trứng và động dục Hiện tượng này lặp đi lặp lại một cách có chu kỳ gọi là chu kỳ động dục hay chu kỳ tính

Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (1995) [19], chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày, thời gian động dục tùy thuộc vào các giống lợn Lợn nái nuôi con sau đẻ 3 - 4 ngày thường có hiện tượng động dục trở lại nhưng không cho phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều Sau cai sữa 3 - 5 ngày lợn nái động dục trở lại, cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao

*Thời điểm phối giống thích hợp

Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn nái 30 - 48 giờ Như vậy, phải cho lợn nái phối giống 10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng tức

là 20 - 30 giờ sau khi bắt đầu chịu đực

* Cơ chế động dục

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [7], hoạt động sinh dục ở gia súc cái chịu sự điều tiết của thần kinh và thể dịch Giữa hai yếu tố này có mối quan hệ vừa chi phối vừa phối hợp với nhau theo một hệ thống kế tiếp, thống nhất trong cơ chế tác động nhiều chiều

* Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái

+ Tuổi động dục lần đầu

Là tuổi khi lợn nái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau phụ thuộc vào giống lợn Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội

Trang 15

Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống

Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởngcủa ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa Đối với lợn nái hậu bị và lợn nái sau cai sữa chậm động dục, tiêm huyết thanh ngựa chửa

có thể gây động dục

+ Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn nái vì thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít Người ta thường tiến hành phối giống cho lợn nái vào chu

kỳ thứ 2 hoặc thứ 3

+ Tuổi đẻ lứa đầu

Sau khi thụ thai, lợn chửa trung bình là 114 ngày Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Lợn cái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất tuổi đẻ lứa đầu thường 11 - 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc

12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003) [3]

2.2.1.3 Những hiểu biết về sinh lý đẻ

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của cơ chế thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn

để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài

Trước khi đẻ, cơ thể mẹ có nhiều thay đổi quan trọng có liên quan tới việc đẩy thai ra ngoài như: dây chằng xương chậu giãn, gia tăng chiều dài từ

25 - 30 % so với bình thường (người ta gọi là hiện tượng sụt lưng), nút cổ tử cung loãng Trước khi đẻ từ 12 - 48 giờ thân nhiệt hơi hạ xuống Cổ tử cung

mở, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:

Trang 16

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu

2.2.2 Những hiểu biết về sinh lý tiết sữa của lợn nái và các yếu tố ảnh hưởng

* Sinh lý tiết sữa của lợn nái

Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao,

dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người

Theo Nguyễn Thiện và cs (2004) [25], ở lợn không có bể sữa nên ở lợn nái không có dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được

và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ

Sản lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng không giống nhau: các vú trước ngực sản lượng sữa cao, phẩm chất tốt, các

vú phía sau nhìn chung kém (Nguyễn Khánh Quắc và cs 1995) [19] Theo Trương Lăng (1996) [10], vú nằm ở trước ngực sản lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời kỳ tiết sữa lợn con bú ở vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36-45 kg sữa vì oxytocin theo máu đến vú trước sớm hơn Vì vậy để đảm bảo tính đồng đều của toàn ổ lợn ta nên cố định những con nhỏ hơn bú vú trước

* Sữa lợn mẹ

Sữa lợn mẹ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tỷ lệ nuôi sống của lợn con Việc cai sữa cho lợn con có thể thực hiện được ngay từ khi đẻ ra, tuy nhiên sữa lợn mẹ luôn được coi là nguồn thức ăn lý tưởng cho lợn con Nguyên liệu để tạo nên sữa đều được lấy từ máu, phải có một lượng máu rất lớn chảy qua bầu vú mới đảm bảo cho nhu cầu tạo sữa: khoảng 540 lít máu chảy qua bầu vú mới tạo được thành 1 lít sữa lợn mẹ Sữa lợn mẹ tiết ra trong vòng 2 - 3 ngày đầu sau khi đẻ gọi là sữa đầu Sữa đầu có đặc điểm là màu vàng đặc và hơi mặn, khi

Trang 17

đun dễ ngưng kết Thành phần dinh dưỡng của sữa đầu khác hẳn so với sữa thường, trong sữa đầu các thành phần như protein, vitamin… đều cao hơn so với sữa thường Trong sữa đầu lượng vật chất khô đạt 22,3%, cao hơn sữa thường chỉ

có 19,6% Hàm lượng protein cũng cao hơn là 11,5% so với 6,8% của sữa thường, tuy nhiên hàm lượng khoáng, chất béo và đường lactose lại thấp hơn

Đặc biệt trong sữa đầu có chứa nhiều kháng thể  globulin (gama globulin)

và các chất khác bảo vệ lợn con mới đẻ chống lại sự tấn công của các virút, vi trùng gây bệnh Lượng  globulin chiếm khoảng 50 % tổng số protein của sữa đầu, sau đó giảm dần Khả năng hấp thụ  globulin của lợn con chỉ xảy ra trong những giờ đầu sau khi sinh (trong vòng 24 giờ đầu tiên) Do vậy sữa đầu đóng vai trò quan trọng đối với lợn con theo mẹ

* Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái

Theo Trương Lăng (1996) [10], khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng thức ăn, giống lợn và số lượng lợn con

Trang 18

+ Tuổi và lứa đẻ

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [3], lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 - 7 Tuổi sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang năm đẻ thứ 5 lợn có thể đẻ tốt nhưng con đẻ ra bị còi cọc, chậm lớn, nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con

Sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần từ lứa thứ 1 - 3, ổn định từ lứa 3 - 8, sau

đó giảm dần theo sự tăng lên của tuổi Đó là do lợn nái đẻ lứa đầu, các tuyến bào chưa phát dục hoàn chỉnh, chưa có thói quen cho lợn con bú Còn ở lứa đẻ tiếp theo sản lượng sữa bắt đầu tăng

Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần đến tuần thứ 8

số con sơ sinh còn sống/ổ: 10; thời gian từ cai sữa đến phối giống: 5,6; tỷ lệ

đẻ là 82,8%; tuổi đẻ lứa đầu là 335,6 ngày

+ Nuôi dưỡng và chăm sóc

Là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sản lượng sữa của lợn nái Nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sữa vì những chất dinh dưỡng cần thiết để tạo thành sữa đều lấy từ thức ăn Tỷ lệ nuôi sống ở lợn con được tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo ở giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kỳ tiết sữa đầu Cơ sở của vấn đề này là khi cho lợn mẹ ăn nhiều chất béo sẽ làm tăng tỷ lệ mỡ sữa, do vậy cung cấp cho lợn con nhiều năng lượng hơn

Trang 19

Kỹ thuật chăm sóc, quản lý cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết sữa của lợn nái, các động tác không thích hợp như đánh đuổi lợn, gây tiếng động mạnh trong khu vực chuồng nuôi lợn nái nuôi con… đều gây ức chế quá trình tiết sữa của lợn nái

2.2.3 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con

2.2.3.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

* Quy trình nuôi dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [18], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt

Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho

ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa

Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi

đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn

Trang 20

* Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Chuồng trại phải được vệ sinh sạch sẽ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có

vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị ô úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Theo Từ Quang Hiển và cs (2013) [8], tập ăn sớm cho lợn con là hình thức huấn luyện cho bộ máy tiêu hóa của lợn con làm quen với thức ăn sau khi cai sữa, đồng thời bù đắp sự thiếu hụt dinh dưỡng của lợn con do lượng sữa của lợn mẹ giảm dần theo thời gian

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sót nhau, sốt sữa hoặc nhiễm trùng để có biện pháp xử lý kịp thời

Trang 21

2.2.3.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

* Quy trình nuôi dưỡng

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn bổ sung đạm động vật, đạm thực vật, các loại khoáng, vitamin Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, canxi từ 0,9 - 1,0 %, photpho 0,7 %

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

- Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ

1 – 2 – 3kg tương ứng

- Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn từ 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

- Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/ nái/ ngày = 2kg + (số con x 0,35 kg/con)

- Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

- Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ ngày

- Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%

- Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Trang 22

* Quy trình chăm sóc

Vận động, tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3 -7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt Do vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp

* Nguyên nhân

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) [23], có nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc và quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nhưng nguyên nhân chính luôn

có trong các trường hợp là do vi sinh vật, nguyên nhân khác sẽ làm giảm sức

đề kháng của cơ thể hoặc tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phát triển

để gây nên các triệu chứng

Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [4], nguyên nhân gây ra bệnh

viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên

Trang 23

cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,

Klebriella, dung huyết E.coli…

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị sây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung,

âm đạo

Bảng 2.1 Ý nghĩa của dịch chảy ra từ âm đạo qua thời gian xuất hiện

* Triệu chứng

Theo Lê Minh và cs (2017) [13], tùy theo mức độ tổn thương, loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà tử cung có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [21], khi lợn nái bị viêm, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C

Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn

Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mảnh tổ chức mùi hôi tanh,

có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn Tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

Trang 24

* Hậu quả

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6] và Trần Thị Dân (2004) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sẩy thai

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung

tiết nhiều Prostaglandin F 2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến

thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng

Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung

tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau

là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ

đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

* Biện pháp phòng trị

- Phòng bệnh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [15], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

và bầu vú

Theo Lê Văn Năm (2009) [14], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vazơlin hoặc dầu lạc

Trang 25

Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng

vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai

- Điều trị

+ Điều trị cục bộ

Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt kháng sinh như: penicilin 2 - 3 triệu UI; tetramycine hay sulfanilamid 2 - 5g hoặc clorazol 4 - 6 viên vào tử cung để chống viêm

+ Điều trị toàn thân

Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 - 3 ống/ngày

Tiêm kháng sinh: tiêm tetramycin tiêm bắp liều 10 - 15 mg/kg thể trọng, liên tục 3 - 4 ngày Kết hợp tiêm septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/10 -

15 kg thể trọng/ngày Liên tục 3 - 4 ngày

Tiêm thuốc giảm viêm: hydrocortizone, dectancyl, prednizolone…

Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, C, B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh penicilin, sufamid và vitamin B12…

Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường

Trang 26

2.2.4.2 Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân

Theo Christensen R.V và cs (2007) [27], khi nghiên cứu về mô học và

vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus aureus và Arcanobacterium pyogenes Ngoài ra còn các nguyên nhân gây viêm như số con quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng hoặc do kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm Do vệ sinh không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh Do lợn mẹ sát nhau, lợn con khi sinh ra không được bấm răng nanh ngay Lợn mẹ ăn quá nhiều thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm sữa tiết ra quá nhiều ứ đọng lại trong vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng và độc lực

* Triệu chứng

Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016) [16], đo thân nhiệt là một biện pháp không thể thiếu được trong chẩn đoán bệnh Thân nhiệt cao hay thấp hơn bình thường được coi là triệu chứng bệnh quan trọng

Theo Lê Minh và cs (2017) [13], tuyến vú bị sung huyết, dịch viêm bị tiết ra nhiều Có thể xuất hiện ở một lá vú, có khi cả bầu vú.Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau

Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [12]

Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

Trang 27

Nếu điều trị hợp lý lợn sẽ khỏi trong vòng 3 - 5 ngày

Các loại kháng sinh thường dùng: dufamox 15%, ampicilline, cephalexine, gentamycine, norfloxacine và có thể dùng corticoide để giảm viêm kết hợp với vitamin Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặng chúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú trong lúc đẻ

2.2.4.3 Lợn nái mất sữa sau khi đẻ

* Nguyên nhân

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [11], bệnh viêm tử cung và viêm vú

là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [1], mất sữa sau khi đẻ là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Do khi bị viêm cơ thể thường sốt cao liên tục

2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa

bị giảm dần dẫn đến mất sữa, khả năng phục hồi chức năng tiết sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo

* Triệu chứng

Khi vắt các vú không thấy sữa chảy ra, vú bị teo lại, nếu viêm thì sưng cứng Lợn con kêu nhiều, gầy yếu

Trang 28

* Biện pháp phòng trị

- Phòng bệnh

Khẩu phần ăn phải đầy đủ dinh dưỡng Sau khi đẻ nên cho ăn thức ăn nhiều nước như rau lang, rau muống, bí đao để tăng khả năng sản xuất sữa Sau khi đẻ phải thụt rửa tử cung bằng thuốc tím 0,1 %, nước muối 0,9 % Nếu bị viêm tử cung hoặc viêm vú phải điều trị triệt để

* Điều trị

Nếu do kế phát từ các bệnh thì điều trị bằng kháng sinh như: dufamox 15%, oxytetramycine, amoxilline, ceftifuor…đồng thời tiến hành xoa bóp chườm ấm bầu vú Nếu mất sữa mà bầu vú bị teo lại, cần nhanh chóng ghép con, tiến hành xoa bóp, chườm ấm bầu vú, tuy nhiêntrường hợp này hiệu quả điều trị không cao

2.2.4.4 Bệnh sót nhau

* Nguyên nhân

Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [24], sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung

Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

* Triệu chứng

Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 410C trong vòng 1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục, lẫn máu

Trang 29

* Điều trị

Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin để kích thích co bóp tử cung để nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và cs 2010) [24]

2.2.4.5 Bệnh viêm khớp

* Nguyên nhân:

Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm

khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con

1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, rốn, vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng

*Triệu chứng:

Lợn đi khập khiễng, khớp chân sưng lên Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau

* Điều trị:

+ Shotapen, tiêm bắp 1ml/ 10kg TT

+ Tiêm analgin: 1ml/ 10kg TT/ lần/ ngày

Điều trị liên tục trong 3 ngày

Ngoài ra ta hạn chế cho lợn di chuyển đi lại, những tấm đan bị hỏng, kém chất lượng cần phải thay thế

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về bệnh sinh sản trên lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Trang 30

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [22], bệnh viêm tử cung ở đại gia súc nói chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng rối loạn sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái sinh sản

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [9], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ

do đẻ khó, sát nhau, sẩy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây sây sát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá hủy các tế bào, tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái.Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc

bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sẩy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác

làm cơ thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs 2004) [11]

Đồng thời cũng có nhiều tác giả đã có những tổng kết về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn:

Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [11], lợn nái sau khi sinh có chứng viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm 25,48%; trên nhóm lai chiếm 50,48% Viêm tử cung xảy ra cao nhất là lứa 1

và lứa 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao nhiều hơn so với nhóm lợn không bị viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó cơ quan ngoài chiếm 20%, còn lại 80%

là viêm tử cung Tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái ngoại cũng cao từ 1,82 - 23,33%

Ngày đăng: 12/09/2020, 23:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w