1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đảm bảo quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam

20 127 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 231,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, việc đảm bảo QCN trong tư pháp hình sự đã được Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ những ngày đầu giành được nền độc lập dân tộc và luôn được xác định như một yêu cầu có tính nguyên tắc của nền tư pháp kiểu mới nền tư pháp của dân, do dân và vì dân. Cùng với các giai đoạn cách cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vấn đề đảm bảo QCN nói chung và đảm bảo QCN trong tư pháp hình sự ở nước ta đã và đang từng bước được củng cố về mặt lý luận và tôn trọng trong hoạt động thực tiễn, nên đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá về sự công bằng, dân chủ và bình đẳng trong xã hội. Tuy vậy, trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, vấn đề đảm bảo QCN trong hoạt động tư pháp vẫn còn bộc lộ những bất cập cả về lý luận cũng như hoạt động thực tiễn. Những bất cập này đã ít nhiều gây thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; vi phạm đến các vấn đề về dân chủ, công bằng, bình đẳng trong xã hội; làm ảnh hưởng đến bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa; làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa... Đó là nguyên cớ để các thế lực thù địch tìm cách chống phá lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.Vấn đề đảm bảo QCN trong tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta vẫn đang còn là nội dung khá mới mẻ trong nhận thức của công dân, trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý, cũng như trong việc tổ chức và thực hiện trên thực tế. Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn để góp phần thiết thực vào việc đảm bảo QCN nói chung và QCN trong HĐTP nói riêng, làm cơ sở cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Trang 1

A LỜI NÓI ĐẦU

Ở Việt Nam, việc đảm bảo QCN trong tư pháp hình sự đã được Đảng và Nhà nước ta đặt ra từ những ngày đầu giành được nền độc lập dân tộc và luôn được xác định như một yêu cầu có tính nguyên tắc của nền tư pháp kiểu mới - nền tư pháp của dân, do dân và vì dân Cùng với các giai đoạn cách cách mạng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vấn đề đảm bảo QCN nói chung và đảm bảo QCN trong tư pháp hình sự ở nước ta đã và đang từng bước được củng cố về mặt lý luận

và tôn trọng trong hoạt động thực tiễn, nên đã trở thành một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá về sự công bằng, dân chủ và bình đẳng trong xã hội

Tuy vậy, trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, vấn đề đảm bảo QCN trong hoạt động tư pháp vẫn còn bộc lộ những bất cập cả về lý luận cũng như hoạt động thực tiễn Những bất cập này đã ít nhiều gây thiệt hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; vi phạm đến các vấn đề về dân chủ, công bằng, bình đẳng trong xã hội; làm ảnh hưởng đến bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa; làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là nguyên cớ để các thế lực thù địch tìm cách chống phá lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta

Vấn đề đảm bảo QCN trong tư pháp hình sự hiện nay ở nước ta vẫn đang còn

là nội dung khá mới mẻ trong nhận thức của công dân, trong hoạt động nghiên cứu khoa học pháp lý, cũng như trong việc tổ chức và thực hiện trên thực tế Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn để góp phần thiết thực vào việc đảm bảo QCN nói chung và QCN trong HĐTP nói riêng, làm cơ sở cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

Trang 2

B NỘI DUNG

I Khái quát quyền con người trong tư pháp hình sự

1 Quan niệm về quyền con người

- Quan niệm về quyền con người

Con người là vấn đề cơ bản nhất của mọi thời đại, cho nên QCN luôn luôn trở thành nội dung quan trọng thu hút được sự quan tâm cả về phương diện lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn của mỗi quốc gia, của từng khu vực và mang tính toàn cầu

Quan niệm về QCN đã được các nhà tư tưởng bàn đến từ thời cổ đại và không ngừng được phát triển, bổ sung cùng với quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Khi bàn đến QCN Jaeque Mourgeon trong cuốn "Các QCN" đã cho rằng:

QCN trước hết được hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà con người có Đó là khả năng hành động có ý thức, trách nhiệm nhất là tự bảo vệ Nhưng bản thân đặc quyền (quyền tự nhiên) chưa phải là QCN Mà để đạt đến cái gọi là "quyền" thì phải có yếu tố thứ hai là pháp luật Chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì các đặc quyền của cá nhân mới trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật mới trở thành QCN

Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con người, C Mác đã xác định: "Con người là "con người xã hội" là sự "tổng hòa các quan hệ xã hội", Cho nên QCN thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó"

Trên cơ sở các quan niệm về QCN năm 1776, lần đầu tiên các QCN được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong

đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc" Năm 1791, trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp, QCN tiếp tục được xác định: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải được tự do bình đẳng về quyền lợi" Từ đó các tiêu chí về QCN từng bước được các quốc gia thừa nhận và quy định trong pháp luật của nước mình Ở nước ta, vấn đề QCN đã được nghiên cứu và phản ánh một cách phong phú và đa dạng thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và các văn bản pháp luật

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: "Quyền con người là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng" Vì vậy, theo quan niệm chung hiện nay, "quyền con người là những giá trị, năng lực, nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người với tư cách là thành viên của cộng đồng nhân loại được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"

Trang 3

QCN là giá trị thắng lợi chung của nhân loại, nhưng do điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội ở các châu lục, các khu vực, các quốc gia phát triển không giống nhau nên ở các quốc gia khác nhau thì năng lực và nhu cầu của mỗi thành viên xã hội sẽ không giống nhau mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế chính trị

-xã hội nhất định mà thành viên đó sinh sống Cho nên, ở các quốc gia, QCN được thể hiện thành quyền công dân và được đảm bảo thực hiện bởi hệ thống pháp luật của quốc gia đó

2 Khái niệm quyền con người trong tư pháp hình sự

Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự là tổng hợp các quyền dân

sự, chính trị, kinh tế, xã hội phản ánh giá trị xã hội cao quý được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại, là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt, được bảo đảm bằng việc ghi nhận, thực thi pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sử bởi các quốc gia và cộng đồng quốc

tế.1

Đặc điểm của quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự:

Thứ nhất: Quyền con người trong lĩnh vưc tư pháp hình sự là quyền tự nhiên vốn có của bất kỳ người nào, không thể phân chia, mang tính phổ biến chung và tính đặc thù, tính quốc tế và bất khả xâm phạm2 Đây cũng là những đặc điểm chung của quyền con người mà bất kỳ cá nhân nào sinh ra đều mặc nhiên thụ hưởng quyền này và bình đẳng không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo hay vị thế xã hội Quyền là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành… và khi thiếu thì được yêu cầu

để có, nếu bị tước đoạt thì có thể đòi hỏi để giành lại Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự là một bộ phận cấu thành của quyền con người nói chung được xuát phát từ chính phẩm giá của mỗi con người, không phân biệt giới tính, dân tộc, màu da,ngôn ngữ hay bất kỳ địa vị nào

Thứ hai: Quyền con người trong tư pháp hình sự phát sinh khi một cá nhân phải đối mặt với nhưng thủ tục tố tụng hình sự của một bộ máy quyền lực nhà nước do đã thực hiện một hành vi (thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động) có dấu hiệu của tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự của quốc gia hoặc pháp luật hình sự quốc tế Đây là đặc điểm căn bản để phân biệt quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự với quyền con người ở những lĩnh vực khác

Thứ ba: Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được quy định trong lĩnh vực pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia hình thành hệ thống bảo đảm pháp lý đối với quyền con người Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau

về quyền con người, trong đó định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp Quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm

1 Giáo trình Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sư, NSB Hồng Đức, 2015.

2 Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Hỏi đáp về quyên con người, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội,

Trang 4

chống lại nhưng hành động hoặc bỏ qua sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản bởi con người” Như vậy, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế Các quyền con người có thể gây cản trở lẫn nhau, chúng bị giới hạn bởi các quyền tự do của người khác hay bởi các yêu cầu về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ3

Quyền con người nói chung và trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật là tiền đề để quyền con người đượ bảo đảm thực thi trong đời sống Thông qua các quy định của luật hình sự, luật

tố tụng hình sự, luật thi hành án hình sự, Nhà nước trao cho con người những phương tiện để giải quyết cũng như đảm bảo các quyền của mình và thiết lập các cơ chế để giải quyết cũng như đảm bảo các quyền của các chủ thể Những quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được ghi nhận trong pháp luật quốc gia nhưng phải dựa trên các tiêu chí về nhân quyền được ghi nhận trong pháp luật quốc tế mà trong đó trọng tâm là các Bộ luật về nhân quyền Sở dĩ như vậy là do những văn bản pháp lý về nhân quyền là giá trị chung của nhân loại là kết quả đấu tranh hàng nghìn năm của những tư tưởng tiến bộ với những thế lực độc tài, là sự cố gắng không biết mệt mỏi của các quốc gia và cộng đồng quốc tế sau những biến cố mang tính lịch sử, chà đạp quyền con người Chuyền tải những tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người nói chung, trong tư pháp hình sự nói riêng, là biểu hiện cụ thể, sinh động của nhận thức tiến bộ hợp quy luật của mỗi quốc gia

II Quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam

1 Quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.1 Khái niệm về quyền con người trong tố tụng hình sự

Quyền con người trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công bằng bởi một tòa án độc lập khách quan đối với những người yếu thế (người bị cáo buộc phạm tội, người bị tạm giữ, bị cáo, người chấp hành án và những người tham gia tố tụng khác) khỏi sự tùy tiện và

sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự

1.2 Những quy định cụ thể

Nhóm quyền về an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nhân trong tố tụng hình sự

- Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện

Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai

3 Đinh Văn Mậu (2003), Quyền lực Nhà nước và quyền con người, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr656.

Trang 5

bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”, sau đó được Công ước quốc tế

về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) cụ thể hóa hơn tại Điều 9 như sau: “ Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những

lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do Việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm

họ sẽ có mặt tại Tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội

Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho

họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp

Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường”

Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) đã được HRC/UNHRC giải thích tại Bình luận chung số 8 (phiên họp thứ 16, 1992) rằng:

– Phạm vi áp dụng Điều 9 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR): Cho tất cả những người bị tước tự do (những người bị buộc tội, tâm thần, lang thang, nghiện ma túy, người bị tước tự do vì mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư…)

 Thời hạn tạm giữ: theo quy định của pháp luật quốc gia nhưng Ủy ban khuyến nghị không nên tạm giữ quá hai ngày

 Tổng thời gian bị tạm giam: thời gian bị tạm giam của người bị buộc tội phải phù hợp với thời hạn xét xử Việc tạm giam trước khi xét xử chỉ nên coi là ngoại lệ và càng ngắn càng tốt

 Nếu muốn tiến hành việc giam giữ như là một biện pháp ngăn chặn thì việc thực hiện phải có căn cứ; phải được thực thi theo đúng các trình tự, thủ tục luật định Nếu biện pháp ngăn chặn bị sử dụng một cách tùy tiện thì nạn nhân phải được bồi thường

Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại khoản 2, Điều 20 Hiến pháp năm

2013: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết

định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt, giam, giữ người do luật định” Để đảm bảo quyền này, việc bắt,

giam, giữ một người phải được tiến hành theo quy tắc nhất định, do những

Trang 6

người có thẩm quyền quyết định và tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật quy định Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân Nếu quyền tự do và an toàn cá nhân của con người không được đảm bảo một cách hiệu quả thì việc bảo vệ các quyền cá nhân khác sẽ dễ bị tổn thương và không thực tế Tuy vậy, trong tố tụng hình sự, quyền này vẫn có nguy cơ bị vi phạm khi các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn một cách tùy tiện, nhất là khi áp dụng biện pháp bắt người, tạm giữ và tạm giam để điều tra, truy tố và xét xử

- Quyền được xét xử nhanh chóng, không trì hoãn

Điểm c khoản 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) quy định: “Người bị buộc tội được xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý”

Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xác định tại Điều 27:

“Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng Vấn đề xét

xử không chậm trễ trong tố tụng hình sự được đề cập trong khoản 3c Điều 14, theo đó sự chậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của Điều 14 Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân sách cho thực thi pháp luật”

Đây là một quyền quan trọng góp phần rất lớn trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ pháp luật tố tụng Việc chậm trễ không kịp thời có thể gây ra những ảnh hưởng về mặt vật chất, tinh thần và gây ra tâm lý không tốt cho những người tham gia tố tụng

- Quyền được xét xử công bằng

Đây thực chất là một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng, gồm: Bình đẳng trước Tòa án; Được xét xử bởi một tòa

án độc lập, không thiên vị, công khai; Được suy đoán vô tội; Không bị áp dụng hồi tố; Không hình sự hóa vụ án dân sự

Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền được xét xử công bằng đầu tiên được

đề cập trong các Điều 10 và 11 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR) Theo Điều 10, mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án độc lập và khách quan để xác định các quyền

và nghĩa vụ của họ, cũng như về bất cứ sự buộc tội nào đối với họ Điều 11 bổ sung thêm một số khía cạnh cụ thể, theo đó: Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình

sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật tại một phiên toà xét xử công khai nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình Không ai bị cáo buộc là phạm tội vì bất cứ hành vi hoặc sự tắc trách nào mà không cấu thành một phạm tội hình sự theo pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế vào thời điểm thực hiện hành vi hay có sự tắc trách đó Cũng không ai bị tuyên phạt nặng hơn mức hình

Trang 7

phạt được quy định vào thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện Các quy định kể này sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 14, 15 và

11 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR)

Trong pháp luật Việt Nam, quyền này được thể hiện bằng nhiều quy định trong Hiến pháp 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều ghi nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó, nguyên tắc suy đoán vô tội được thể hiện rất rõ tại Điều 31 của Hiến pháp năm 2013, quyền được xét xử công bằng còn thể hiện ở những quy định bảo đảm quyền bào chữa cho người phạm tội, quyền tranh tụng tại các phiên tòa, quyền độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, việc quy định về bồi thường cả về vật chất và tinh thần khi

có oan sai xảy ra

Nhìn chung trong những năm qua, hoạt động tố tụng hình sự đã có những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người bị vi phạm, đặc biệt là những quyền lợi quan trọng và cơ bản gây ra những hậu quả nặng nề, khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục Chính vì vậy, bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự là vấn đề rất quan trọng cần được đề cao Việc ban hành chính sách, quy định hợp

lý, khả thi luôn phải đi đôi với việc đảm bảo thực hiện trên thực tế

2 Quyền con người trong luật hình sự Việt Nam

II.1 Khái niệm Quyền con người trong pháp luật hình sự

Quyền con người trong pháp luật hình sự là tổng hợp các quyền con người

do pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận, được pháp luật hình sự bảo

vệ thông qua việc tội phạm hóa và phi tội phạm hóa để trừng trị người hạm tội đồng thời khôi phục các quyền bị xâm hại

Ý nghĩa của việc nghiên cứu quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự:

Trên cơ sở khái niệm đã nêu, có thể thấy quyền con người chỉ có giá trị thực

tế và được bảo đảm khi được nhà nước ghi nhận và được bảo vệ bằng Hiến pháp

và pháp luật Đặc biệt, trong đó sự bảo về quyền con người bằng pháp luật hình sự- ngành luật “ xương sống” trong hệ thống pháp luật (hay sự thể hiện nó trong các quy định của pháp luật hình sự) có ý nghĩa chính trị- xã hội và pháp lý quan trọng trước hết là trên cơ sở các chức năng vốn có của nó và những nội dung được thể hiện như sau:

Một là: hình sự có bản chất là ngành luật có chức năng bảo vệ Theo đó luật hình sự được coi là công cụ cần thiết của Nhà nước, của xã hội chống lại tội phạm với tư cách là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cho cộng đồng và cho con người Do vậy, nhiệm vụ đầu tiên và cũng là chức năng cơ bản của bất kỳ quốc gia nào, ở giai đoạn nào, đã có luật hình sự thì cũng đương nhiên có nhiệm vụ, chức năng đó Đặc biệt chức năng này khi được thể hiện để bảo vệ tất ca các

Trang 8

lĩnh vực quan hệ xã hội quan trọng nhất, trong đó quyền và tự do của con người trước sự xâm phạm hoặc đe dọa của tội phạm

Hai là, luật hình sự sở hữu công cụ với tư cách là chế tài- biện pháp cưỡng

chế mạnh mẽ nhất trong hệ thống pháp luât là hình phạt Đây chính là thể hiện

chức năng phòng ngừa của luật hình sự Luật hình sự sử dụng hình phạt- loại chế tài pháp luật (hay biện pháp cưỡng chế về hình sự) nghiêm khắc nhất, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ và phòng ngừa tội phạm Bản thân khi Tòa án áp dụng hình phạt đã thể hiện tính nghiêm khắc nhất là ở chỗ nó tước bỏ, hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, những giá trị như

tự do, tài sản, các quyền, lợi ích khác, thậm chí là quyền sống của con người

Ba là: luật hình sự điều chỉnh các quan hệ xã hội đặc biệt, nơi có khả năng rất

dễ xảy ra vi phạm quyền con người một cách nghiêm trọng Luật hình sự điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa nhà nước và người phạm tội Trong quan hệ đó, Nhà nước với tư cách là chủ thể bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội

có quyền sử dụng sức mạnh cưỡng chế của mình để buộc người phạm tội chịu trách nhiệm về tội phạm do họ đã gây ra mà không phụ thuộc hay bị cản trở bởi bất kỳ cá nhân, tổ chức nào

II.2 Quyền con người trong pháp luật hình sự Việt Nam

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử ở nước ta trong thời gian qua cho thấy

việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người còn là vấn đề lớn gây bức xúc trong

xã hội, đòi hỏi phải có quyết tâm cao mới có thể giải quyết được Nhìn chung, người dân chưa cảm thấy an toàn về môi trường sống của mình So với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới tiến bộ về quyền con người, quyền công dân, thể hiện nhận thức, tư duy mới của Nhà nước ta, coi quyền con người là giá trị phổ cập của nhân loại mà Nhân dân Việt Nam hoàn toàn xứng đáng được hưởng Theo đó, quyền con người được quan niệm là quyền tự nhiên vốn có của con người, thể hiện phẩm giá của con người Có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định đầy đủ về các quyền con người, quyền công dân phù hợp với các Điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt nam là thành viên Các quyền này khá rộng và đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, bao gồm các nhóm quyền cơ bản: (1) quyền sống; (2) quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh

dự và nhân phẩm; (3) quyền bình đẳng; (4) các quyền tự do dân chủ, (5) các quyền trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; (6) các quyền về kinh tế, văn hoá, xã hội, lao động, (7) các quyền liên quan đến trẻ em Đặc biệt, trong đó có những quyền lần đầu tiên được ghi nhận trực tiếp trong Hiến pháp như: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; quyền tiếp cận thông tin; quyền được sống trong môi trường trong lành; quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác cũng như quyền quyết định việc cho phép tiến hành thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể mình Với tư cách là công cụ sắc bén, hữu hiệu nhất trong việc bảo vệ chế độ bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bảo vệ quyền con người, Bộ luật hình sự đã bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bảo vệ quyền con người, Bộ luật hình sự đã quán triệt sâu sắc những yêu cầu mới mà Hiến pháp

Trang 9

năm 2013 đặt ra về quyền con người và đã có những quy định phù hợp để đáp ứng những yêu cầu đó Theo thống kê Việt Nam ta đã là thành viên của 7/9 Điều ước quốc tế về nhân quyền và trên thực tế, Việt Nam đã tích cực thực hiện các cam kết quốc tế đó Gần đây nhất, thực hiện cơ chế rà soát định kỳ phổ quát, Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đánh giá cao những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về nhân quyền, đồng thời đưa

ra hàng trăm khuyến nghị nhằm giúp Việt Nam làm tốt hơn nữa việc bảo vệ và bảo đảm quyền con người

Ở góc độ chung nhất, có thể đánh giá rằng quyền con người, quyền công dân

đã được bằng Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) bảo

vệ bằng các quy định cụ thể như sau:

- Để bảo vệ quyền sống của mọi người, trong đó có cả người phạm tội, Bộ luật Hình sự coi hình phạt tử hình là hình phạt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Hình phạt tử hình không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 thàng tuổi khi phạm tội hoặc khi bị xét xử Không thi hành án tử hình đối với người phụ nữ đang có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định 22 loại tội phạm có khung hình phạt tử hình, đồng thời quy định 10 tội danh liên quan đến hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp, vô tình hay cố ý tước đoạt tính mạng con người một cách bất hợp pháp (Các điều 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100, 101, 102);

- Để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, Bộ luật Hình sự đã giành Chương XII để quy định về các tội xâm phạm quyền này của con người Tổng cộng có 17 tội danh liên quan đến hành vi xâm phạm về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người một cách bất hợp pháp Trong đó có 7 tội danh xâm phạm sức khỏe (các điều 104, 105, 106, 107,

108, 109 và 110); 6 tội danh xâm phạm quyền tự do tình dục của người khác đặc biệt là trẻ em (các điều 111, 112, 113, 114, 115, 116); 4 tội xâm phạm nhân phẩm danh dự của con người (các điều 119, 120, 121 và 122) Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự còn quy định các tội dùng nhục hình (Điều 298), tội bức cung (Điều 299), tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123), tội ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật (Điều 295)

- Để bảo vệ quyền lập hội, quyền hội họp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, Bộ luật Hình sự đã quy định 9 tội xâm phạm các quyền này Đây

là những tội xâm phạm đến khách thể là các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác lập và thực hiện các quyền tự do, dân chủ của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận

- Để bảo vệ bí mật đời tư, Bộ luật Hình sự quy định 2 tội danh (các điều 124, 125) nhằm chống lại sự can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, bí mật gia đình của công dân v.v

Trang 10

So với yêu cầu do Hiến pháp năm 2013 cũng như do các công ước quốc tế và Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đặt ra, thì Bộ luật hình sự năm 2015, được chỉnh lý bởi Luật số 12/2017/QH14 ngày 20/6/2017 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng phù hợp nhằm góp phần bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, đáng chú ý là:

(i) Các sửa đổi cụ thể đảm bảo việc bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân, đảm bảo thực hiện các quyền về dân sự - chính trị như sau: Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện áp dụng hình phạt theo

hướng hạn chế áp dụng hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt không phải là phạt tù: - Mở rộng phạm vi áp dụng phạt tiền là hình phạt chính không chỉ đối với các tội phạm ít nghiêm trọng, mà còn đối với các tội phạm nghiêm trọng do

Bộ luật quy định (điểm a khoản 1 Điều 35) Riêng đối với các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định thì phạt tiền là hình phạt chính có thể áp dụng đối với cả tội rất nghiêm trọng (điểm b khoản 1 Điều 35) So với Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tăng hơn 30 khoản có hình phạt tiền

- Bổ sung nội dung của quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ: theo

đó, trong trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ với thời gian lao động không quá 04 giờ trong một ngày và không quá

05 ngày trong một tuần Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (khoản 4 Điều 36)

- Không áp dụng hình phạt tù đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng

do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng (khoản 2 Điều 38)

Thứ hai, bổ sung một chương riêng (chương IV) với 07 điều (từ Điều 20 đến

Điều 26) quy định về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, trong đó, tiếp tục duy trì và cụ thể hóa 04 trường hợp như Bộ luật hiện hành (sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết và tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự), đồng thời, bổ sung thêm 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là: gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (các điều 24, 25, 26)

Thứ ba, bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện, theo đó, phạm

nhân có thể được miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại khi có đủ 06 điều kiện như: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; có nơi cư trú

rõ ràng; đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì đòi hỏi người đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình

Ngày đăng: 12/09/2020, 23:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w