Mục đích Luận văn có mục đích nghiên là phân tích, làm rõ những vấn đề pháp lý, lý luận và thực tiễn về quyền tự do cư trú của công dân ở thành phố Hồ Chí Minh; thông qua đó đề xuất các
Trang 1HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 7
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ 7
1.1.Các vấn đề lý luận về quyền tự do cư trú 7
1.2.Quyền tự do cư trú theo luật pháp quốc tế 8
1.3.Quyền tự do cư trú theo luật pháp Việt Nam 14
Chương 2 18
THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN 18
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 18
2.1 Thực trạng dân số và điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân số của thành phố Hồ Chí Minh đến việc bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân 18 2.2 Việc ban hành các quy định về quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh 22
2.3 Thực tế thực hiện pháp luật về quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh 36
2.4 Những hạn chế và bất cập trong việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh 50
Chương 3 58
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 59
3.1 Quan điểm về bảo đảm quyền cư trú của công dân từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 59
3.2 Một số giải pháp bảo đảm quyền cư trú của công dân từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh 61
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn này là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả: Trần Văn Điệp
Trang 5
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, bạn học và đồng nghiệp Nhân dịp này cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo tham gia giảng dạy, công tác tại Học viện Khoa học xã hội – nơi tôi đã học tập; cảm ơn các bạn bè và đồng nghiệp, những người đã cung cấp nhiều số liệu cho tôi
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình tới thầy
Gs.Ts.Nguyễn Đăng Dung đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tôi trong
quá trình hoàn thiện Luận văn này
Tác giả: Trần Văn Điệp
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa OHCHR: Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về Nhân quyền
UDHR: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
UNHRC: Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Ủy ban nhân dân
ANTT: An ninh trật tự
TDCT: Tự do cư trú
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Dân số thành phố Hồ Chí Minh qua các năm 2016, 2017, 2018
Bảng 2.2 Dân số 24 quận huyện thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.3 Đăng ký thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh qua các năm 2016,
2017, 2018
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền tự do cư trú là một quyền quan trọng của con người được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, trong đó bao gồm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và Công ước quốc tế quyền con người về chính trị, dân sự 1966 Tự do đi lại, cư trú cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận ngay từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và tiếp tục được khẳng định trong các bản Hiến pháp về sau, bao gồm Hiến pháp năm 2013 Bên cạnh đó, quyền này cũng được cụ thể hoá trong Bộ luật Dân sự, Luật Cư trú 2013 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
Cùng với sự phát triển nền kinh tế của đất nước, số người từ ngoại thành chuyển lên thành thị làm ăn sinh sống cư trú ngày một tăng Việc đó gây không ít khó khăn cho công tác quản lý xã hội nói chung và công tác
giữ gìn an ninh trật tự nói riêng Luật Cư trú năm 2006 được ban hành ngày
29/11/2006 và có hiệu lực từ 01/07/2007 đã được sửa đổi, bổ sung năm
2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú, vẫn còn một số hạn chế, đòi hỏi cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để đáp ứng các yêu cầu trong tình hình mới
Đặc biệt là ở những đô thị lớn thì vấn đề bảo đảm quyền tự do cư trú lại càng trở nên phức tạp mà thành phố Hồ Chí Minh, là một ví dụ điển hình Nơi đây là có dân số đông, nhiều người nước ngoài sinh sống, học sinh sinh viên và người lao động tỉnh khác đến làm ăn học tập và cư trú Do vậy ở thành phố Hồ Chí Minh, đang đặt ra vấn đề làm sao để bảo đảm quyền cư do cư trú của công dân mà vẫn đảm bảo được trật tự xã hội, trị an trên địa bàn thành phố
Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân ở thành phố Hồ Chí Minh cũng như tìm ra giải pháp hoàn thiện
Trang 9pháp luật về cư trú, cũng như tầm quan trọng về quyền tự do cư trú và bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân Học viên quyết định chọn đề tài
“Quyền tự do cư trú của công dân từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh”
để thực hiện luận văn thạc sĩ luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tự do cư trú hiện nay là vấn đề đáng chú ý của nhiều nhà quản lý cũng như những cán bộ trực tiếp tham gia công tác về quản lý cư trú Đã có một số công trình, tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan đến quyền tự do cư trú của công dân ở Việt Nam, cụ thể là:
- Cao Vũ Minh (2014), Hoàn thiện các quy định của pháp luật về cư trú bảo đảm quyền cư trú của công dân, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số
5/2014
- Đỗ Văn Hòa, Trịnh Khắc Thẩm (chủ biên) (1999), Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
- Hà Thị Phương Tiến – Hà Quang Ngọc (2000),, Lao động nữ di cư
tự do nông thôn thành thị, Nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội
- Lê Thành Tâm (2009) Để pháp luật về cư trú phù hợp hơn với thực tiễn, Tạp chí Lao động và xã hội, số 372, 2009
- Trần Hồng Vân (2002), Tác động xã hội của di cư tự do vào Tp Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Nxb Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh
- Đặng Nguyên Anh (2010) “Di dân đến khu đô thị và các khu công nghiệp - Thực trạng và một số vấn đề chính sách qua nghiên cứu đánh giá
tư liệu 2004-2009”, Nxb Khoa học xã hội, Tp Hồ Chí Minh
Lê Thị Hoài Thu., Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12, 2013
-Những vấn đề đặt ra trước thực trạng lao động di cư trong nước
Những đề tài khoa học trên đã làm sáng tỏ đến nội dung về quyền cư trú của công dân Các tài liệu trên là nền tảng để học viện tham khảo trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sỹ
Trang 10Tuy vậy, hiện nay chưa có riêng một đề tài nào liên quan đến quyền
cư trú của công dân tại một địa bàn cụ thể là Thành phố Hồ Chí Minh Chính vì vậy tác giả cho rằng luận văn này vẫn cần thiết cả mặt về lý luận lẫn thực tiễn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về quyền
tự do cư trú của công dân từ thực tiễn ở thành phố Hồ Chí Minh
3 2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung, tác giả không mở rộng đến các quyền con người,
quyền công dân khác mà chỉ nghiên cứu về quyền tự do cư trú của công dân
Phạm vi không gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về
quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi thời gian, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng về
quyền tự do cư trú của công dân ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian khoảng 3 năm gần đây
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 1 Mục đích
Luận văn có mục đích nghiên là phân tích, làm rõ những vấn đề pháp
lý, lý luận và thực tiễn về quyền tự do cư trú của công dân ở thành phố Hồ Chí Minh; thông qua đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân ở Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về cư trú trong thời gian tới
Trang 11thi hành Luật Cư trú, làm rõ những vướng mắc, bất cập, hạn chế trong thực tiễn thực hiện
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân Thành phố phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập, hạn chế cùng nguyên nhân trong thực tiễn thực hiện
- Từ yêu cầu khách quan trong thực tế học viên mạnh dạn đề xuất những các giải pháp hoàn thiện pháp luật để bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân ở nước ta trong thời gian tới từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
4.2.1 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Nhằm thực hiện những mục tiêu đã đề ra, tác giả đã sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; kết hợp với nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú làm cơ sở lý luận cho luận văn
Tác giả đã sử dụng các phương pháp: chứng minh biện luận, hệ thống phân tích, đối chiếu, thống kê, tổng hợp Kết hợp với tổng kết thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng với các phương pháp nghiên cứu khác
4.2.2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Là công trình nghiên cứu đầu tiên về quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 03 năm gần đây
Luận văn cung cấp những thông tin thực tiễn cũng như những hạn chế bất cập của pháp luật về cư trú và những đề xuất nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân ở Thành phố Hồ Chí Minh
Cùng với đó, luận văn có thể dùng cho việc tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật Hiến pháp - Luật hành chính
Cơ cấu của luận văn
Trang 12Cơ cấu của luận văn gồm các phần mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục bảng, danh mục các chữ viết tắt và kết luận
Nội dung chính luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Các vấn đề lý luận và pháp lý về quyền tự do cư trú
Chương 2: Thực hiện quyền tự do cư trú của công dân tại Thành phố Hồ
Chí Minh
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền tự do cư trú của công
dân tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ 1.1 Các vấn đề lý luận về quyền tự do cư trú
Quyền tự do đi lại, cư trú trước hết được đề cập trong Điều 13 Tuyên
ngôn thế giới về Nhân quyền, tên tiếng Anh Universal Declaration of Human
Rights (UDHR), trong đó nêu rằng: Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự
do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia Tất cả mọi người đều được quyền rời khỏi nước mình, cũng như quyền trở về nước mình kể cả bất kỳ nước nào đã được phép cư trú hợp pháp Quy định này sau đó được tái khẳng định và
cụ thể hóa trong các Điều 12 và 13 Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị, tên tiếng Anh viết tắt (ICCPR)
“Tất cả mọi người đều được quyền rời khỏi nước mình, cũng như quyền
trở về nước mình kể cả bất kỳ nước nào đã được phép cư trú hợp pháp.” Điều
đối,
Các quốc gia thành viên phải tuân thủ nguyên tắc có liên quan theo Điều 5 ICCPR, những hạn chế đưa ra phải không làm tổn hại đến bản chất của các quyền; phải có sự tương thích giữa sự hạn chế và quyền có liên quan,
Trang 14nguyên tắc tương xứng này cần được tuân thủ một cách tuyệt đối giữa các cơ quan
Các hạn chế thích đáng gồm:
(i) Những giới hạn về quyền tự do cư trú ở những nơi nguy hiểm đến tính
mạng, sức khỏe;
(ii) Giới hạn việc đi vào những khu vực quân sự khu vực lây nhiễm bệnh
Cần lưu ý là kể cả khi những hạn chế đưa ra phải phù hợp với những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng và không phân biệt đối xử về chủng tộc, giới tính, sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, sở hữu, nguồn gốc xuất thân hay địa vị khác
1.2 Quyền tự do cư trú theo luật pháp quốc tế
“ Mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh
thổ của quốc gia Mọi người đều có quyền rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình, cũng như có quyền trở về nước mình.” được đề cập trong Điều 13 Tuyên
ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) Quy định này sau đó được tái khẳng định
và cụ thể hóa trong các điều 12 và 13 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR)
“Không ai bị tước đoạt một cách tùy tiện quyền được trở về nước mình
Mọi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình Bất
cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại
và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó ” quy định tại
khoản 1, 2, 4 Điều 12 ICCPR:
Có thể thấy rằng, Điều 12 ICCPR đã đề cập bốn dạng tự do cụ thể có mối liên hệ gắn kết với nhau, bao gồm: Tự do lựa chọn nơi sinh sống trên lãnh thổ quốc gia; Tự do đi khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình;; Tự do trở về nước mình;Tự do đi lại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Trang 15
Theo khoản 1 Điều 12- Việc bảo đảm quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi sinh sống trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia không phụ thuộc vào mục đích hay lý do của việc đi lại hay của việc lựa chọn nơi cư trú, quyền tự do đi lại được áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ của một nước, các cá nhân có quyền đi từ nơi này đến nơi khác của quốc gia và được sinh cơ lập nghiệp ở những nơi mà mình lựa chọn
Quyền tự do đi ra nước ngoài để làm việc, thăm quan cũng như để cư trú lâu dài, không phụ thuộc vào nước đến và mục đích, thời gian mà cá nhân dự định ở lại bên ngoài nước mình kể cả nước mình Bất cứ sự hạn chế nào với quyền này phải căn cứ vào quy định trong khoản 3 Điều 12 ICCPR
Giấy tờ thông hành như hộ chiếu… là cần thiết để một người đi lại giữa các nước Nên quyền có được những giấy tờ thông hành cũng nằm trong quyền được đi khỏi một nước Nước mà một người sẽ đến cư trú và nước người đó có quốc tịch đều có trách nhiệm bảo đảm quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào nêu
ở khoản 2 Điều 12 ICCPR
Trong mọi trường hợp, cá nhân không thể bị tước đoạt một cách trái pháp luật quyền trở về nước mình, bất kể sự tước đoạt đó từ cơ quan nhà nước nào và
kể cả khi một nhà nước đã ra quyết định tước quốc tịch của một cá nhân hoặc trục xuất một cá nhân đến một nước thứ ba thì cũng không được ngăn cản cá nhân này được trở về đất nước của mình nếu không có lý do chính đáng
Quyền được trở lại nước mình không chỉ là quyền của một người được trở lại sau khi rời đất nước mình mà còn quyền của một người có quốc tịch nước
đó sinh ra ở nước ngoài lần đầu tiên trở về nước mình mang quốc tịch
Quyền tự do cư trú chỉ bị hạn chế ngoại trừ những trường hợp được quy định tại khoản 3 Điều 12 ICCPR, bao hàm sự bảo vệ khỏi tình trạng bị bắt buộc
di dời chỗ ở trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, cũng như khỏi bị ngăn cấm không được đến hoặc sinh sống ở một khu vực nhất định trên lãnh thổ quốc gia,
Trang 16
Cư trú được hiểu là “sinh sống thường xuyên tại một địa điểm dưới hình
thức tạm trú/ thường trú ” Để thực hiện quyền này cá nhân phải được bảo đảm
quyền có nơi ở Và cần phải hiểu đó là quyền được sống ở nơi được tôn trọng về phẩm giá và an toàn, bình yên Trong đó nhà ở đóng vai trò quan trọng để cá nhân thực hiện quyền cư trú, nhưng có thể có một số khía cạnh nhất định của quyền này cần được xem xét trong bất cứ bối cảnh cụ thể:
Một là, an ninh pháp lý về sở hữu tài sản Quyền sở hữu dưới nhiều hình
thức khác nhau, gồm cả nhà ở hợp tác, nhà thuê, nhà ở khẩn cấp và định cư không chính thức, tự làm chủ, … Tất cả các hình thức sở hữu, đều được quyền bảo đảm an ninh về tài sản nhất định
“Nghĩa vụ cơ bản của các chính phủ là bảo vệ và cải thiện tình hình nhà ở
và môi trường xung quanh hơn là làm tổn hại hoặc phá hủy chúng” Nghị quyết 43/181” Từ lâu cộng đồng quốc tế đã thừa nhận rằng việc cưỡng chế di dời khỏi nơi cư trú là một vấn đề hết sức nghiêm trọng Con người phải được bảo vệ bằng pháp luật để chống lại những hành động không công bằng liên quan đến việc di dời hoặc đất đai của họ
Hai là, tính sẵn sàng của dịch vụ, nguyên liệu, cơ sở vật chất và kết cấu
hạ tầng Một nơi ở thích đáng cần bảo đảm đủ những điều kiện vật chất cơ bản
về y tế, an ninh, tiện nghi và dinh dưỡng Lợi ích của quyền có nhà ở thích đáng
là được tiếp cận một cách bền vững với các nguồn lực chung và nguồn lực tự nhiên, với các điều kiện nước sạch, chất đốt, ánh sáng, sưởi ấm, vệ sinh, giặt giũ, phương tiện về bảo quản thực phẩm, xử lý rác thải, các dịch vụ chống cháy
và các dịch vụ khẩn cấp khác
Ba là, tính vừa phải Nhà nước cần có biện pháp để bảo đảm tỷ lệ chi
phí liên quan đến nhà ở nói chung phù hợp với mức thu nhập, đồng thời các nhà nước cũng cần xây dựng chế độ trợ cấp về nhà ở cho những người không có khả năng chi trả, cũng như các hình thức và mức độ hỗ trợ tài chính về nhà ở để
Trang 17giúp cho việc đáp ứng nhu cầu về nhà ở một cách thích đáng Chi phí tài chính
mà cá nhân hay hộ gia đình phải chi trả nhà ở cần phải ở mức hợp lý, không đe dọa hay ảnh hưởng đến việc hưởng thụ các nhu cầu thiết yếu
Bốn là, có thể định cư được Tránh gây ảnh hưởng đến sức khỏe, bị lạnh,
ẩm ướt, nóng, mưa, gió và các mối đe dọa khác, nguy hại về mặt cấu trúc và lây nhiễm bệnh tật và phải bảo đảm có thể định cư được cả về không gian và có sự bảo vệ là các yếu tố của nhà ở thích đáng
Nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực Ngày 18/11/2012 tại Thủ đô Phnom Penh, Campuchia với sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên Tuyên
bố Nhân quyền ASEAN là văn bản tuyên bố chung về Nhân quyền của các nước ASEAN trong khuôn khổ Hội Ngị Cấp cao ASEAN lần thứ 21
Tuyên bố Nhân quyền ASEAN gồm 40 điều khoản, khẳng định mọi công dân ASEAN có 4 nhóm quyền căn bản về dân sự và chính trị, về kinh tế xã hội
và văn hóa những nguyên tắc căn bản là bình đẳng, tôn trọng đặc thù khu vực và
sự đa dạng của mỗi quốc gia
Nội dung chính:
Tuyên bố có 7 phần với 40 Điều:
Mở đầu: Khẳng định lại nguyên tắc trong Hiến chương ASEAN, các mục đích, nhấn mạnh cam kết đối với Hiến chương Liên Hiệp quốc, Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền, , , Nhằm tạo khuôn khổ chung cho tăng cường hợp tác
về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực
Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các
quyền (trích đoạn mở đầu của Tuyên bố)
Những nguyên tắc cơ bản trong trong tuyên bố nhân quyền gồm:
Nguyên tắc được công nhận và bảo vệ trước các quy định pháp luật;
Trang 18Nguyên tắc không phân biệt đối xử và quyền bình đẳng,;
Nguyên tắc không chính trị hóa vấn đề nhân quyền
Nguyên tắc đối xử cân bằng giữa các quyền cân bằng giữa quyền và trách nhiệm;
Nguyên tắc bảo đảm không thiên vị, khách quan
Nguyên tắc tôn trọng sự đa dạng văn hóa lịch sử đặc thù khu vực, về thể chế chính trị, kinh tế, …;
Nhóm quyền dân sự và chính trị: cụ thể:
Quyền được sống;
Quyền không bị buôn bán và nô dịch;
Quyền hưởng tự do và an ninh cá nhân;
Quyền hôn nhân và gia đình;
Quyền có quốc tịch;
Quyền không bị tra tấn;
Quyền tự do cư trú,đi lại và tị nạn;
Quyền sở hữu tài sản;
Quyền được bảo vệ trước pháp luật và xét xử công bằng;
Quyền tham gia bầu cử, ứng cử theo luật pháp của mỗi nước;
Quyền riêng tư cá nhân và bảo vệ dữ liệu;
Quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận;
Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo
Nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội: Khẳng định một số quyền trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Quyền lập và tham gia công đoàn;
Trang 19Quyền về việc làm;
Quyền cơ bản được tiếp cận các dịch vụ xã hội;
Quyền được chăm sóc sức khỏe
Quyền được nâng cao thể chất;
Quyền giáo dục và an sinh xã hội;
Giới hạn quyền tự do cư trú
Trong một số điều kiện nhất định, quyền tự do cư trú có thể bị giới hạn Một số điều ước quốc tế về cho phép các quốc gia thành viên áp đặt một
số điều kiện với việc hưởng thụ một số quyền con người nhất định.Việc giới hạn một số quyền phải bảo đảm các điều kiện:
Thứ nhất, nhằm để tránh sự tùy tiện trong việc áp đặt các giới hạn về
quyền, những giới hạn đó phải được quy định trong luật quốc gia
Thứ hai, những giới hạn đặt ra phải không trái với bản chất của các quyền
có liên quan, không làm tổn hại đến khả năng của các cá nhân có liên quan trong việc hưởng thụ các quyền đó,
Thứ ba, với mục đích để bảo vệ an ninh quốc gia, để bảo đảm an toàn cho
cộng đồng, để bảo vệ sức khỏe hay đạo đức cộng đồng và để bảo vệ các quyền,
tự do hợp pháp của người khác, việc đặt ra các hạn chế về quyền là cần thiết trong một xã hội dân chủ và nhằm mục đích duy nhất là để thúc đẩy phúc lợi chung của cộng đồng
Quy định về việc giới hạn quyền tự do cư trú:
“Trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội trật tự công cộng hoặc các quyền tự do của người khác và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận thì những giới hạn quyền tự do cư trú sẽ không phải chịu bất kỳ hạn chế nào,”
Khoản 3 Điều 12 ICCPR
Trang 201.3 Quyền tự do cư trú theo luật pháp Việt Nam
Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tại Điều 23, ghi nhận quyền tự do cư trú Quy định này được tái khẳng định trong
Điều 48 Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 3 Luật cư trú năm 2006 được ban hành
ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ 01/07/2007 với 42 Điều đã được sửa đổi, bổ
sung năm 2013, quy định về quyền tự do cư trú trong nước của công dân
Tuy nhiên, bởi một lý do nào đó, trong Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu lực vào ngày 01-01-2017) không còn quy định về quyền tự do cứ trú
Luật cư trú đã ghi nhận:
“Quyền tự do cư trú của công dân theo quy định của Điều 3 của Luật Cư
trú và các quy định khác có liên quan Việc đăng ký tạm trú, thường trú Khi
công dân có đủ điều kiện thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký
Quyền tự do cư trú của công dân còn được thể hiện bằng việc công dân
có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký tạm trú, thường trú đăng ký Đó là việc công dân có quyền tự mình lựa chọn, quyết định nơi tạm trú hoặc nơi thường trú, theo quy định của Luật cư trú và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật là tiêu chí tiên quyết để thực hiện quyền
tự do cư trú, Luật Cư trú đã quy định rõ các nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú,
đó là: kết hợp giữa việc bảo đảm quyền tự do cư trú, các quyền cơ bản khác của công dân và trách nhiệm của Nhà nước với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh
tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; Bảo đảm
hài hoà quyền, lợi ích của công dân, lợi ích của Nhà nước, cộng đồng và xã hội
“ Giới hạn quyền tự do cư trú của công dân phải theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và phải tuân thủ trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”
Trang 21Nhà nước bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân được quy định tại Điều 5 Luật Cư trú Việc quan tâm về nguồn lực cũng như về vật chất của Nhà nước cho hoạt động quản lý cư trú cũng có nghĩa là phục vụ tốt cho việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân Luật cũng đã thể hiện rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với hoạt động quản lý cư trú, bằng cách bảo đảm ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn lực, đầu tư phát triển công nghệ, kỹ thuật tiên tiến
Trong các trường hợp thay đổi về cư trú phải thực hiện đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký tạm trú một nơi, đăng ký thường trú Các bước về trình
tự, thủ tục đăng ký phải kịp thời, chính xác, đơn giản, thuận tiện
Điều 8 Luật Cư trú quy định các hành vi bị nghiêm cấm, áp dụng đối với
cơ quan, tổ chức và cá nhân, cụ thể có chín nhóm hành vi bị nghiêm cấm Các quy định nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân theo pháp luật đồng thời cũng bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao
Các hành vi bị nghiêm cấm gồm:
Lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm lợi ích của Nhà nước;
Lạm dụng quy định để gây phiền hà, sách nhiễu công dân;
Cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú;
Tự đặt ra giấy tờ, biểu mẫu trái với quy định, thủ tục của pháp luật hoặc làm sai lệnh sổ sách, hồ sơ về cư trú;
Lợi dụng quyền tự do cư trú để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân;
Thu và sử dụng lệ phí trái với quy định của pháp luật về đăng ký cư trú; Nhận hối lộ trong việc đăng ký, quản lý cư trú;
Sách nhiễu, gây phiền hà, cửa quyền, hách dịch;
Trang 22Làm sai lệch nội dung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến
cư trú; Thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, làm giả, sửa chữa, sử dụng giấy tờ giả…
Lôi kéo, dụ dỗ, môi giới, giúp sức, kích động, xúi giục, , cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về cư trú
Giới hạn quyền tự do cư trú
Quy định mang tính nguyên tắc trong việc giới hạn quyền con người, lần
đầu tiên Hiến pháp năm 2013 tại Điều 14 trong có quy định: “Quyền con người,
quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức
xã hội, sức khỏe cộng đồng”
Điều 10 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) có quy định
các trường hợp cụ thể bị hạn chế quyền tự do cư trú:
“1 Người bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cư trú
2 Người bị Tòa án áp dụng hình phạt cấm cư trú; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án, được hưởng án treo hoặc đang được hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; người đang bị quản chế
3 Người bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành”
Để tránh tình trạng giới hạn một cách tùy tiện, xâm phạm đến quyền tự do
cư trú của công dân việc giới hạn quyền tự do cư trú phải tuân theo các quy định của pháp luật
Trang 23Kết luận Chương 1
Nhà nước và pháp luật cần phải có những chính sách, quy định cụ thể nhằm bảo vệ, bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân Trên cơ sở sự công nhận và bảo hộ của Nhà nước mà công dân có thể có một nơi cư trú nhất định theo sự lựa chọn của bản thân Các quy định nhằm bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân theo pháp luật; đồng thời cũng bảo đảm cho công tác quản lý cư trú đạt hiệu quả cao
Trang 24Chương 2 THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO CƯ TRÚ CỦA CÔNG DÂN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, dân số của thành phố Hồ Chí Minh đến việc bảo đảm quyền tự do cư trú của công dân
Thành phố Hồ Chí Minh được thành lâp vào ngày 02 tháng 7 năm
1976, Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên nước thành Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đồng thời đổi tên thành phố Sài Gòn – Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh
Vị trí, địa hình
Với tổng diện tích 2.096 km² và 8.993.082 người, trong đó: thành thị 7.127.364 người (chiếm 79,25%), nông thôn: 1.865.718 người (chiếm 20,75%) (số liệu 2019), thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn thứ 2 Việt Nam về diện tích (sau Hà Nội) và lớn nhất về dân số
Theo đà phát triển của kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh có dân số tăng quá nhanh và đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn Các quận nội thành, đường sá thường xuyên ùn tắc do lượng xe quá lớn, giờ cao điểm trở nên quá tải, Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả Triều
Trang 25cường gây ngập cục bộ cũng là vấn đề nan giải của thành phố cần có biện pháp khắc phục Môi trường thành phố đang bị ô nhiễm nặng do khí thải công nghiệp sản xuất phương tiện giao thông, và nhiều các công trường xây dựng … Ngoài
ra, thành phố đang phải đối mặt với nguy cơ bị nhấn chìm vì nước biển dâng lên
do biến đổi khí hậu gây ra Mỗi khi đến mùa mưa, thành phố phải đối mặt với việc ngập lụt trên các tuyến đường, hiện nay thành phố đã có chủ trương khắc phục
Về dân cư
Trang 26Bảng 2.1 Dân cư thành Phố Hồ Chí Minh qua các năm
Trang 272013 7.818.200 +2.0%
Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Dân số thành phố đã tăng gấp 10 lần kể từ năm 1929 Sau khi thống nhất đất nước, dân số Thành phố Hồ Chí Minh gia tăng nhanh, dân nhập cư từ nông thôn di chuyển lên thành phốn không kiểm soát được Theo số liệu thống
kê chính thức, dân số Thành phố Hồ Chí Minh năm 1975 là 3,5 triệu người Tính đến năm 2018, dân số toàn Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 8,5 triệu người, với diện tích hơn 2000 km², mật độ dân số đông Hiện Thành phố
Hồ Chí Minh đang gặp phải vấn đền dân số, diện tích đất không thay đổi từ năm
1976 nhưng dân số tăng hàng năm cho nên tạo áp lực lớn lên nền kinh tế và cả
về quản lý dân cư, tạo một áp lực lớn cho chính quyền thành phố
Với tổng diện tích 2.096 km² và 8.993.082 người, trong đó: thành thị 7.127.364 người (chiếm 79,25%), nông thôn: 1.865.718 người (chiếm 20,75%)
(số liệu 2019)
Và một khó khăn khác là sự phân bố dân cư ở thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều Trong khi một số quận nội thành có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ , Nhà Bè, Bình Chánh… có mật độ tương đối thấp khoảng 100người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5% Một khó khăn khác, trong những năm gần đây dân cư ngoại thành có xu hướng chuyển về nội thành làm ăn sinh sống Trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu
Trang 28khách du dich vãng lai tại thành phố Hồ Chí Minh Đến năm 2019, dân số của thành phố là 8.993.082 người
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng
4 năm 2019, toàn thành phố Hồ Chí Minh có đủ 54 thành phần dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống
2.2 Việc ban hành các quy định về quyền tự do cư trú của công dân tại thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Tổ chức hành chính
Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là thành phố trực thuộc Trung ương của Về mặt hành chính, thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp xã nằm trong 24 đơn vị hành chính cấp huyện
Bảng 2.2 Dân số 24 quận huyện thành phố Hồ Chí Minh
Hành chính Bình Tân 52,02 784.000 10 phường BìnhThạnh 20,78 499.000 20 phường
Gò Vấp 19,73 676.000 16 phường Phú Nhuận 4,88 163.000 15 phường Tân Bình 22,43 474.000 15 phường Tân Phú 15,97 485.000 11 phường
Trang 30Quyền tự do cư trú của công dân ghi nhận trong Hiến pháp đã được cụ thể hoá trong Luật Cư trú với những quy định rõ ràng, cụ thể, thông thoáng về thủ tục, điều kiện đăng ký cư trú, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật, giải quyết những bức xúc của nhiều người về vấn đề cư trú; đồng thời, bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước về cư trú trong tình hình mới, góp phần tích cực, có hiệu quả trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở các cấp, địa phương trong tình hình hiện nay
Hiện nay, tại Thành phố Hồ Chí Minh việc thực thi quyền đăng ký thường trú, tạm trú theo quy định của Luật cư trú được thực hiện tương đối tốt, đúng theo quy định của pháp luật Các thủ tục, giấy tờ cần có trong hồ sơ theo quy định tại Luật cư trú 2013, Thông tư 35/2014/TT-BCA và quy định về thu
Trang 31các loại lệ phí theo Quyết định số 47/2014/QĐ-UBND ngày 29/9/2014 thu Lệ phí đăng ký cư trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh được niêm yết công khai tại trụ sở Công an quận/ huyện và được thực hiện nghiêm túc Cán bộ tiếp dân thân thiện, không sách nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân Mức thu lệ phí được đánh giá là phù hợp với điều kiện kinh tế của nhân dân tại địa bàn thành phố
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong năm thành phố trực thuộc Trung Ương của nước ta, được ví là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển bậc nhất cả nước, thu hút sự đầu tư trong và ngoài nước cũng như thu hút nguời dân và người lao động từ các tỉnh thành khác sang sinh sống, học tập cũng như lao động Từ đây đặt ra vấn đề về quản lý dân cư cụ thể là vấn đề đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tăng cao Tuy nhiên, nhằm quản lý và kiểm soát sự nhập cư ồ ạt của công dân để đảm bảo quỹ đất tại thành phố, thực hiện tốt công tác quản lý dân cư, pháp luật quy định những điều kiện nhất định để đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ đặc điểm tình hình và công tác thực tế về đăng ký, quản lý cư trú của thành phố; Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có những quy định riêng về điều kiện, hồ sơ, thủ tục nhập hộ khẩu vào thành phố Hồ Chí Minh
Các văn bản của thành phố Hồ Chí Minh gồm:
(i) Chỉ thị số: 21 /2007/CT-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2007 của ủy ban nhân
dân thành phố hồ chí minh “về triển khai thực hiện luật cư trú và các quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý cư trú trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”
Căn cứ đặc điểm tình hình và công tác thực tế về đăng ký, quản lý cư trú của thành phố; Ủy ban nhân dân thành phố chỉ thị:
1 Hội đồng Phối hợp công tác, phổ biến, giáo dục pháp luật của thành phố
và quận - huyện:
Tổ chức tuyên truyền Luật Cư trú, Nghị định số 107/2007/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 06/2007/TT-BCA (C11) của Bộ Công an (đã nêu trên) cho
Trang 32các ngành, các cấp và nhân dân thành phố thông suốt và thống nhất thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về cư trú trên địa bàn thành phố
2 Công an thành phố:
a) Hướng dẫn và chỉ đạo Công an quận - huyện tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý cư trú thống nhất trên địa bàn thành phố; không được đặt ra thêm các quy định, thủ tục khác gây phiền hà đối với nhân dân
b) Khảo sát, dự báo số lượng công dân đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú
và nơi tập trung đông người lưu trú của từng quận - huyện để chuẩn bị: nơi tiếp công dân, trang bị các điều kiện, phương tiện cần thiết phục vụ cho công tác tiếp công dân, giải quyết đăng ký thường trú, tạm trú và tiếp nhận thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng… bảo đảm cho người dân được thuận lợi và dễ dàng
c) Chủ trì, phối hợp với các sở - ngành liên quan xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện Luật Cư trú, tập huấn nghiệp vụ về Luật Cư trú và các quy định có liên quan cho cán bộ, chiến sỹ trong lực lượng, nhất là lãnh đạo Công
an quận - huyện, phường - xã - thị trấn, lực lượng trực tiếp làm công tác đăng
ký, quản lý cư trú và những người tham gia công tác đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú, tạm vắng tại các khu dân cư; bồi dưỡng nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức phục vụ nhân dân, nhằm đáp ứng nhanh yêu cầu cải cách hành chính, chống quan liêu, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân trong công tác đăng
ký, quản lý cư trú
d) Lập kế hoạch đề nghị Bộ Công an cung cấp đầy đủ các biểu mẫu về đăng ký, quản lý cư trú, sổ tiếp nhận lưu trú, các giấy tờ khác về cư trú theo quy định mới của Luật Cư trú; tổ chức in ấn các loại tài liệu biểu mẫu theo quy định của
Bộ Công an về đăng ký, quản lý cư trú; thông báo rộng rãi và niêm yết công khai về trình tự, thủ tục đăng ký và cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, thời gian giải quyết và lệ phí trong công tác đăng ký thường trú, tạm trú; địa điểm và số điện thoại tiếp nhận thông báo lưu trú để nhân dân biết, thực hiện
Trang 33đ) Kiện toàn tổ chức bộ máy, bố trí đầy đủ cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, làm công tác đăng ký, quản lý cư trú; chấn chỉnh tác phong làm việc, tiếp dân, kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ làm công tác đăng ký, quản lý
cư trú có hành vi sách nhiễu, gây phiền hà cho cơ quan, tổ chức và nhân dân; cải tiến phương pháp làm việc, bảo đảm công tác quản lý cư trú với trình tự, thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú đúng quy định, kịp thời, chính xác, công khai minh bạch; giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến cư trú, quản lý cư trú theo đúng quy định của pháp luật
e) Thực hiện việc đăng ký và cấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú nhanh chóng, thuận tiện cho những người có đủ điều kiện theo quy định của Luật Cư trú
g) Chủ động nghiên cứu, đề xuất với Bộ Công an, Ủy ban nhân dân thành phố tăng cường đầu tư về cơ sở vật chất, đảm bảo phục vụ tốt cho hoạt động đăng
ký, quản lý cư trú, quản lý cơ sở dữ liệu thông tin về trước mắt và lâu dài
h) Chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp biên soạn tài liệu tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thi hành Luật Cư trú cho cán bộ, công chức và nhân dân với nội dung rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo cho việc thực hiện được thống nhất trên toàn thành phố
i) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan mở hội nghị triển khai Luật Cư trú, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú và nội dung Chỉ thị này cho các sở - ngành, Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã - thị trấn quán triệt, thống nhất trong việc xác nhận các yêu cầu của công dân có liên quan đến đăng ký và quản lý cư trú
3 Thủ trưởng các sở - ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - huyện, phường - xã - thị trấn:
Có trách nhiệm rà soát ngay các văn bản pháp luật, thủ tục hành chính có liên quan đến hộ khẩu thuộc lĩnh vực cơ quan, đơn vị mình phụ trách; đánh giá và
đề xuất xử lý các quy định, thủ tục hành chính có lạm dụng về hộ khẩu làm hạn
Trang 34chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, gửi về Sở Tư pháp tổng hợp trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định cuối quý III năm 2007
Phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến và triển khai thi hành Luật Cư trú, tiến hành kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác trong lĩnh vực quản lý của mình có liên quan đến quy định về hộ khẩu để sửa đổi, bãi bỏ hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nội dung trái với Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú
4 Sở Tư pháp:
a) Phối hợp với Công an thành phố biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thi hành Luật Cư trú cho cán bộ, công chức và nhân dân với nội dung rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo cho việc thực hiện Luật Cư trú được thống nhất
b) Chủ trì, phối hợp với Công an thành phố kiểm tra, hướng dẫn các sở - ngành thành phố, Ủy ban nhân dân các cấp rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các văn bản của các ngành và địa phương liên quan đến quy định về hộ khẩu hoặc các quy định khác trái với Luật Cư trú để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ
c) Tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố xem xét cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam đối với các trường hợp công dân Việt Nam ở nước ngoài được về nước thường trú
5 Sở Xây dựng:
Đẩy nhanh tiến độ cấp số nhà, thống nhất với Công an thành phố để giải quyết các trường hợp chỗ ở xác định hợp pháp nhưng không kịp cấp số nhà để giải quyết đăng ký thường trú, tạm trú cho công dân; Hướng dẫn cho Ủy ban nhân dân quận - huyện chỉ đạo Ủy ban nhân dân phường - xã - thị trấn việc xác nhận tình trạng nhà đối với 05 loại nhà không được đăng ký thường trú
6 Sở Tài nguyên và Môi trường:
Trang 35Phối hợp Sở Văn hóa và Thông tin, Ủy ban nhân dân quận - huyện thông báo các địa điểm: cấm xây dựng; mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật; mốc giới bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng; khu vực đất công mà dân
đã lấn chiếm xây dựng nhà trái phép; khu vực đã có quyết định thu hồi đất; khu vực đang có tranh chấp khiếu kiện về quyền sử dụng chưa được giải quyết; (các nội dung quy định nhà ở không được đăng ký hộ khẩu liên quan chức năng của mình)…
…………
16 Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận - huyện:
a) Chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về cư trú tại địa phương mình; chỉ đạo các phòng chức năng và Ủy ban nhân dân phường - xã - thị trấn thực hiện việc chứng thực các loại giấy tờ xác nhận chỗ ở hợp pháp cho công dân theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ, không gây phiền hà cho nhân dân
b) Thông báo và hướng dẫn kịp thời Công an quận - huyện những tình hình có liên quan đến việc thực hiện Luật Cư trú
c) Tổ chức triển khai việc quản lý Nhà nước về cư trú tại địa phương theo quy định của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú theo phân cấp
d) Bố trí cán bộ có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, làm công tác đăng ký, quản lý cư trú ở phường - xã - thị trấn; bảo đảm trình tự, thủ tục đăng ký thường trú, tạm trú đơn giản, kịp thời, chính xác, công khai minh bạch theo đúng quy định của Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú đ) Giải quyết kịp thời kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến
cư trú, quản lý cư trú theo quy định của pháp luật; kịp thời xử lý những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi sách nhiễu, gây phiền hà cho cơ quan, tổ chức
và nhân dân
Trang 36e) Tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác thuộc phạm vi quản lý liên quan đến quy định về hộ khẩu, kịp thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi hoặc bãi bỏ những nội dung trái với Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú
g) Không được tự ý ban hành thêm quy định, thủ tục, đặt ra việc thu phí, lệ phí không đúng quy định trong Luật Cư trú và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cư trú”
(ii) Chỉ thị số: 02/2009/CT-UBND ngày 11 tháng 01 năm 2009 của Ủy ban
Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh “Về tăng cường quản lý nhà nước đối với việc nhập cảnh, cư trú và lao động của người nước ngoài trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh”
Để tăng cường quản lý nhà nước đối với người nước ngoài nhập cảnh, cư trú và lao động trên địa bàn thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chỉ thị:
1 Công an thành phố:
1.1 Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, xử phạt đối với các đối tượng người nước ngoài nhập cảnh trái phép, cư trú không khai báo và những hành vi vi phạm pháp luật về cư trú; kiểm tra, xử phạt đối với các chủ cơ sở có người nước ngoài cư trú, cá nhân, tổ chức bảo lãnh hoặc làm các thủ tục cho người nước ngoài không thực hiện đúng các quy định pháp luật về khai báo nhập cảnh, cư trú của người nước ngoài Kiên quyết điều tra, xử lý hình sự đối với các đối tượng là người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật hình sự
1.2 Chỉ đạo Công an quận, huyện tham mưu Ủy ban nhân dân cùng cấp thường xuyên tổ chức kiểm tra, rà soát, xử lý kiên quyết các trường hợp người nước ngoài sinh sống, tụ tập, buôn bán tại các công viên, vỉa hè, nơi công cộng khác
để tập trung quản lý, xử lý theo quy định pháp luật
Trang 371.3 Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ tham mưu
Ủy ban nhân dân thành phố bổ sung chức năng, nhiệm vụ và tăng cường cơ sở vật chất, nhân sự cho Trung tâm hỗ trợ xã hội để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ người nước ngoài trong thời gian chờ làm thủ tục trục xuất
1.4 Hướng dẫn theo thẩm quyền việc cấp, bổ sung, sửa đổi thị thực, khai báo tạm trú cho người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam với mục đích du lịch, lao động, làm việc, thăm thân nhân hoặc mục đích khác trên địa bàn thành phố 1.5 Kiến nghị Bộ trưởng Bộ Công an phân cấp cho Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh có quyền áp dụng biện pháp xử phạt trục xuất người nước ngoài vi phạm pháp luật trên địa bàn thành phố theo quy định tại khoản 6 Điều
1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 4 năm 2008
1.6 Tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quy định về việc truyền
dữ liệu khai báo tạm trú của người nước ngoài nghỉ qua đêm tại thành phố, từ các cơ sở cho người nước ngoài lưu trú và từ Công an các phường, xã, thị trấn
về Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh, qua đường truyền máy tính đảm bảo nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ và chính xác
2 Bộ đội Biên phòng thành phố có trách nhiệm tăng cường kiểm tra việc nhập cảnh để ngăn ngừa nhập cảnh trái phép vào thành phố, chủ động phát hiện những trường hợp nhập cảnh trái phép vào thành phố để xử lý theo quy định pháp luật
3 Sở Ngoại vụ có trách nhiệm:
3.1 Thông báo và làm việc với cơ quan lãnh sự nước ngoài tại thành phố để xử
lý các trường hợp người nước ngoài là công dân của họ vi phạm pháp luật; báo cáo và kiến nghị với Bộ Ngoại giao về việc xử lý các trường hợp là người nước ngoài mà cơ quan đại diện ngoại giao của họ không có đặt trụ sở, văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh
Trang 383.2 Phối hợp với các cơ quan chức năng của Thành phố xử lý các trường hợp người nước ngoài vi phạm pháp luật
3.3 Thông báo cho các cơ quan lãnh sự nước ngoài tại thành phố những quy định của pháp luật Việt Nam về xuất nhập cảnh, cư trú, đi lại và lao động của người nước ngoài để các cơ quan này thông báo cho công dân của họ thực hiện đúng quy định của pháp luật Việt Nam khi đến Việt Nam
4 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm:
4.1 Thực hiện cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài làm việc trên địa bàn thành phố theo đúng quy định pháp luật
4.2 Tăng cường thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp có sử dụng lao động là người nước ngoài, kiên quyết xử lý các trường hợp doanh nghiệp có sử dụng lao động là người nước ngoài nhưng không có giấy phép theo quy định pháp luật 4.3 Trong quá trình kiểm tra doanh nghiệp nếu phát hiện trường hợp người nước ngoài nhập cảnh, cư trú không hợp pháp phải kịp thời thông báo, phối hợp với cơ quan Công an để xử lý theo quy định pháp luật
5 Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Công an thành phố, hướng dẫn các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, thực hiện nghiêm quy định pháp luật về bảo lãnh và tổ chức du lịch cho khách du lịch nước ngoài; hướng dẫn các cơ sở kinh doanh lưu trú, tổ chức khai báo tạm trú của người nước ngoài và thực hiện quy trình truyền dữ liệu lưu trú về Phòng Quản
lý Xuất nhập cảnh, qua đường truyền máy tính hoặc khai báo tại trang thông tin điện tử (website) của Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với các cơ
sở lưu trú vi phạm pháp luật
……
8 Ủy ban nhân dân các quận, huyện có trách nhiệm:
Trang 398.1 Tuyên truyền, phổ biến và tổ chức cho nhân dân địa phương nâng cao tinh thần cảnh giác với các hành vi lừa gạt, vi phạm pháp luật của một số cá nhân,
tổ chức nước ngoài để nhân dân phát hiện, kịp thời tố giác tội phạm là cá nhân,
tổ chức nước ngoài cho cơ quan nhà nước
8.2 Tăng cường công tác kiểm tra các cơ sở khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ, nhà
ở, các cơ sở lưu trú cho người nước ngoài tạm trú không đúng quy định, để xử
lý sai phạm theo quy định pháp luật
8.3 Chỉ đạo Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn quản lý chặt chẽ các cơ sở cho người nước ngoài lưu trú, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về đăng ký
và quản lý cư trú của người nước ngoài trên địa bàn phường, xã, thị trấn
9 Trách nhiệm của chủ cơ sở cho người nước ngoài lưu trú, chủ doanh nghiệp
có sử dụng lao động là người nước ngoài trên địa bàn thành phố:
9.1 Chủ cơ sở có người nước ngoài lưu trú có trách nhiệm:
- Hướng dẫn người nước ngoài nghỉ qua đêm tại khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ của mình thực hiện khai báo tạm trú Thủ tục khai báo tạm trú của người nước ngoài với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh theo quy định tại điểm a khoản 2 Mục III Thông tư số 04/2002/TTLT-BCA-BNG ngày 19 tháng 01 năm 2002 bao gồm: xuất trình hộ chiếu, tờ khai nhập xuất cảnh, chứng nhận tạm trú và thị thực (nếu thuộc diện phải có thị thực); khai vào phiếu khai báo tạm trú theo mẫu do Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh ban hành
- Lập danh sách người nước ngoài khai báo tạm trú và nộp tại Công an phường, xã, thị trấn sở tại; đối với cơ sở có người nước ngoài lưu trú đã nối mạng máy tính với Phòng Quản lý Xuất nhập cảnh thì truyền ngay nội dung khai báo tạm trú của người nước ngoài về Phòng Quản lý xuất nhập cảnh - Công an thành phố và thông báo số lượng người nước ngoài tạm trú cho Công
an phường, xã, thị trấn sở tại biết theo quy định của cấp có thẩm quyền