Tại Việt Nam, bệnh lý sỏi túi mật là một bệnh lý phổ biến của đường tiêu hóa, tỷ lệ mắc qua một số nghiên cứu dao động từ 2.14-6.11%.[41] Hầu hết sỏi mật không có triệu chứng, 80% bệnh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HƯỜNG
CHẨN ĐOÁN SỎI TÚI MẬT VÀ ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG TÚI MẬT BẰNG SIÊU ÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban giám hiệu, phòng Đào tạo khoa Y-Dược ĐH Quốc Gia Hà Nội; các
thầy cô ở khoa Chẩn đoán hình ảnh, các anh chị ở khoa kế hoạch tổng hợp Bệnh
viện Đại học Y Hà Nội, đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian lấy số liệu và
hoàn thành khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn Văn Sơn chủ nhiệm
bộ môn Kỹ thuật y học, khoa Y-Dược, người thầy đã quan tâm, góp ý, tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.BS.Hoàng Đình Âu, người đã
dành nhiều thời gian quý báu để trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thầy đã quan tâm và có những
góp ý cho tôi trong quá trình hoàn thành khóa luận
Cuối cùng, con xin cảm ơn gia đình đã luôn bên con, khích lệ động viên và
giúp đỡ con vượt qua mọi khó khăn để có được ngày hôm nay
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày 9 tháng 06 năm 2020 Sinh viên
Nguyễn Thị Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoạn toàn bộ số liệu và kết quả thu được trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được sử dụng hay công bố trong bất kì tài liệu nào khác Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về những thông tin và số liệu đưa ra
Hà Nội, ngày 9 tháng 6 năm 2020
Sinh viên
Nguyễn Thị Hường
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CDCA : chenodeoxycholic acid( tên một loại thuốc tan sỏi)
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giải phẫu, sinh lý đường mật ngoài gan, thành phần hóa học của sỏi 3
1.1.1 Giải phẫu đường mật và túi mật 3
1.1.2 Sinh lý tạo mật và chức năng túi mật 5
1.1.2.1 Sinh lý tạo mật 5
1.1.2.2 Chức năng túi mật 5
1.1.3 Phân loại và cơ chế hình thành sỏi 6
1.2 Chẩn đoán sỏi túi mật 8
1.2.1 Chẩn đoán lâm sàng 8
1.2.2 Cận lâm sàng 9
1.2.2.1 Xét nghiệm 9
1.2.2.2 Chẩn đoán hình ảnh 9
3.1 Các phương pháp điều trị 16
3.1.1 Nội khoa 16
3.1.2 Phẫu thuật 16
3.1.3 Điều trị bảo tồn túi mật bằng tán sỏi qua da 17
1.4 Tình hình các nghiên cứu sỏi túi mật tại Việt Nam 18
1.5 Tình hình các nghiên cứu đo chức năng túi mật trên thế giới 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu 19
2.3.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 19
Trang 72.3.4 Các bước thực hiện 20
2.4 Đạo đức nghiên cứu 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đặc điểm chung 24
3.1.1 Phân bố theo giới tính 24
3.1.2 Phân bố theo BMI 24
3.1.3 Tuổi 25
3.2 Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm máu 25
3.2.1 Lý do vào viện 25
3.2.3 Xét nghiệm máu 27
3.3 Đặc điểm siêu âm trong chẩn đoán sỏi và đánh giá chức năng túi mật 28
3.3.1 Hình ảnh viêm túi mật trên siêu âm 28
3.3.4 Tính chất của sỏi 31
3.3.4.1 Độ di động sỏi 31
3.3.4.2 Hình đậm âm kèm bóng cản 31
3.3.5 Chỉ số co bóp 32
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 34
4.1 Đặc điểm chung 34
4.1.1 Giới tính 34
4.1.2 Chỉ số BMI 35
4.1.3 Tuổi 35
4.2 Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm máu 35
4.2.1 Lý do vào viện 35
4.2.2 Tiền sử 36
4.2.3 Xét nghiệm máu 36
4.3 Siêu âm túi mật 37
4.3.1 Viêm túi mật 37
Trang 84.3.2 Số lượng sỏi 37
4.3.3 Kích thước sỏi lớn nhất và mối liên hệ với giới tính 38
4.3.4 Tính chất di động của sỏi và tính chất sỏi đậm âm kèm bóng cản 38
4.3.4.1 Độ di động của sỏi 38
4.3.4.2 Tính chất đậm âm kèm bóng cản 39
4.3.5 Chỉ số co bóp túi mật 40
4.3.6 Chức năng co bóp túi mật 41
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 42
KIẾN NGHỊ 44
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 1: Giải phẫu túi mật và đường mật ngoài gan 3
Hình 1 2: Bất thường của túi mật và ống túi mật 4
Hình 1 3: Hình ảnh sỏi mật 7
Hình 1 4: A: Túi mật sỏi có bóng lưng; hình B: sỏi ở phễu túi mật 11
Hình 1 5: Viêm TM mật cấp 12
Hình 1 6: Siêu âm đánh giá chức năng túi mật 13
Hình 1 7: Sỏi túi mật trên phim chụp bụng Xquang không chuẩn bị 14
Hình 1 8: Sỏi túi mật kết hợp với sỏi đường mật trên CLVT 15
Hình 1 9: Sỏi túi mật trên MRI 16
Hình 2 1: Máy siêu âm 2D g7 expert logiq tại bệnh viện đại học y Hà Nội 21
Hình 2 2 Siêu âm sỏi túi mật tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội 21
Hình 4 1: Siêu âm sỏi túi mật Bệnh viện ĐHYHN 39
Hình 4 2: Đo chức năng túi mật 41
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3 1 phân bố đối tượng nghiên cứu theo BMI 24
Biểu đồ 3 2 : Lý do vào viện của đối tượng nghiên cứu 26
Biểu đồ 3 3 Tiền sử bệnh nhân trong nghiên cứu 26
Biểu đồ 3 4: Số lượng sỏi trên siêu âm ở bệnh nhân nghiên cứu 29
Biểu đồ 3 5: Kích thước sỏi lớn nhất 30
Biểu đồ 3 6 Độ di động của sỏi 31
Biểu đồ 3 7 Tính chất sỏi đậm âm kèm bóng cản 31
Biểu đồ 3 8 Chức năng co bóp túi mật 33
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 phân bố các đối tượng nghiên cứu theo giới tính 24
Bảng 3.2 Độ tuổi 25
Bảng 3.3 Lý do vào viện của các đối tượng nghiên cứu 25
Bảng 3.4 giá trị bilirulin của đối tượng nghiên cứu 27
Bảng 3.5 Giá trị men gan 27
Bảng 3.6 Xét nghiệm viêm nhiễm khuẩn 28
Bảng 3.7 Hình ảnh viêm túi mật trên siêu âm 28
Bảng 3.8: Mối quan hệ giữa kích thước sỏi và giới tính 30
Bảng 3.9 Chỉ số co bóp túi mật 32
Bảng 3.10 Chỉ số co bóp trung bình túi mật 32
Bảng 4.1 Tỉ lệ nam nữ bệnh sỏi túi mật một số nghiên cứu 34
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi túi mật là một bệnh phổ biến và tốn kém chi phí điều trị Ở những quốc gia phát triển, có tới 10-15 % người trưởng thành mắc bệnh Ở Châu Âu, có tới 20% dân số bị bệnh, 2-15% dân số Châu Á[40] Tại Việt Nam, bệnh lý sỏi túi mật là một bệnh lý phổ biến của đường tiêu hóa, tỷ lệ mắc qua một số nghiên cứu dao động từ 2.14-6.11%.[41]
Hầu hết sỏi mật không có triệu chứng, 80% bệnh nhân sẽ không bao giờ có triệu chứng cơn đau quặn mật hoặc biến chứng là viêm đường mật, viêm đường mật, viêm tụy cấp Các triệu chứng khó chịu không đặc hiệu như là đầy bụng, khó tiêu, nôn, buồn nôn Sỏi kích thước > 3cm có nguy cơ cao gây ung thư túi mật [40]
Chẩn đoán sớm sỏi túi mật là điều vô cùng cần thiết để có thể bảo tồn chức năng túi mật và giảm bớt các biến chứng Hiện nay có rất nhiều phương pháp chẩn đoán sớm sỏi túi mật Phổ biến là siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ nhưng siêu âm là phương pháp ưu việt nhất vì giá thành rẻ, không xâm lấn, dễ sử dụng trong chẩn đoán cũng như đánh giá chức năng túi mật Hơn nữa siêu âm có
độ nhạy độ, đặc hiệu cao, có thể phát hiện những sỏi nhỏ 2mm với độ nhạy lớn hơn 95% và an toàn hơn cho thai phụ khi không phải dùng các phương pháp ăn tia khác MRI là một phương pháp cũng có hiệu quả cao nhưng giá thành lại rất đắt Cắt lớp vi tính phù hợp khi bệnh nhân có nhiều biến chứng, phương pháp này chỉ chẩn đoán được 80-90% sỏi túi mật do sỏi có thể có cùng tỉ trọng với mật
Hiện nay có 2 hướng điều trị sỏi túi mật Thứ nhất là điều trị bảo tồn gồm: nội khoa và tán sỏi mật qua da Thứ hai là phẫu thuật gồm mổ mở và qua nội soi Điều trị nội khoa bằng muối mật ngoại sinh tỉ lệ thành công thấp 30% với ursodeoxycholic acid , 7% với chenodeoxycholic acid Tán sỏi túi mật qua da là phương pháp tốt và có hiệu quả để điều trị sỏi túi mật Năm 2010 đến năm 2017 Patel và cộng sự thực hiện TSTM qua da cho 13 bệnh nhân có chống chỉ định
Trang 13phẫu thuật, tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật là 100%, chỉ có 1 bệnh nhân (8%)
biến chứng khoảng 0.5%, tử vong khoảng 0.6% và gặp các biến chứng đau đớn, viêm phổi, dính ruột, tắc ruột sau mổ Cắt túi mật qua nội soi thực hiện lần đầu tiên năm 1987 tại Pháp và 1992 tại Việt Nam Biến chứng cắt túi mật là 1-4%, tử vong 0.1-0.3%.[1]
- Gần đây, việc bảo tồn túi mật vì những chức năng quan trọng của nó cùng với
sự phát triển cũng như hiệu quả của tán sỏi túi mật qua da mà kỹ thuật siêu âm
và đánh giá chức năng túi mật càng nên phổ biến nhiều tới các cơ sở y tế để mang lại những điều trị tốt nhất cho bệnh nhân Tán sỏi túi mật qua da dưới hướng dẫn của DSA là một phương pháp điều trị thay thế có hiệu quả cho nhóm bệnh nhân nguy cơ cao không có chỉ định phẫu thuật và gây mê toàn thân, giải quyết nguyên nhân viêm túi mật cấp và là phương pháp điều trị sỏi mật bảo tồn túi mật ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ tái phát sỏi mật thấp
Tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội sử dụng phổ biến siêu âm trong chẩn đoán bệnh lý sỏi túi mật do đó chúng tôi thực hiện đề tài “ Chẩn đoán sỏi túi mật và đánh giá chức năng túi mật bằng siêu âm” với hai mục tiêu:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh siêu âm của sỏi túi mật
2 Nghiên cứu vai trò của siêu âm trong đánh giá chức năng túi mật
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giải phẫu, sinh lý đường mật ngoài gan, thành phần hóa học của sỏi 1.1.1 Giải phẫu đường mật và túi mật
Túi mật: hình quả lê dài từ 6cm-8cm, rộng 3cm-4cm, chứa 20- 60ml dịch mật nằm ở hố túi mật dưới gan cạnh thùy vuông, tách biệt với nhu mô gan bằng một màng mỏng tổ chức liên kết, có liên quan mật thiết với bao Glisson của gan Túi mật bao gồm đáy, thân, cổ túi mật và ống túi mật [9]
Túi mật được cấp máu từ động mạch túi mật
Tĩnh mạch dẫn lưu máu từ túi mật là một mạng lưới các tĩnh mạch nhỏ đổ về tĩnh mạch cửa [24]
Hình 1 1: Giải phẫu túi mật và đường mật ngoài gan[9]
Trang 15Biến thể giải phẫu túi mật
Biến thể
Biến thể giải phẫu của túi mật gồm gấp nếp đáy túi mật (tỷ lệ gặp 1-6%
trường hợp)[16, 31], túi mật đôi, túi mật hai ngăn, túi thừa, thiểu sản hoặc bất sản[6], và túi mật lạc chỗ[46] Bất sản túi mật gặp ở 0.035% đến 0.3% trường hợp, có thể đơn độc hoặc phối hợp với các bất thường bẩm sinh khác[15] Túi Hartmann là một túi ở cổ túi mật,[45]
Hình 1 2: Bất thường của túi mật và ống túi mật[9]
A TM đôi B TM có vách ngăn C Túi thừa TM D Sự biến đổi ống cổ TM
Trang 161.1.2 Sinh lý tạo mật và chức năng túi mật
1.1.2.1 Sinh lý tạo mật
Mật được sản xuất liên tục từ gan 1-2lít/24h, mật vận chuyển tới túi mật,mật
có thể được cô đặc từ 5-10 lần.Thành phần chứa trong túi mật bao gồm muối mật( chiếm 50%), nước, chất điện giải, cholesterol, bilirubin, lecithin Muối mật giúp tiêu hóa thức ăn nhờ hai tác dụng: (1) nhũ tương hóa chất béo giúp chất béo
có thể hòa tan trong nước, (2) tạo thành phức hợp micelle với các chất béo, nhờ
đó các chất béo có thể hấp thu qua niêm mạc ruột.[1]
1.1.2.2 Chức năng túi mật
Túi mật có các chức năng sinh lý sau:
+ Chức năng dự trữ và cô đặc dịch mật: đây là chức năng chủ yếu, đảm bảo cho
áp lực đường mật không bị tăng lên
+ Chức năng bài tiết: dịch mật bài tiết khoảng 20ml/24h, dịch này do những tuyến nhỏ nằm ở vùng cổ túi mật tiết ra, nó có vai trò bảo vệ niêm mạc túi mật
và làm cho dịch mật qua cổ túi mật một cách dễ dàng
+ Chức năng vận động: Khi ăn túi mật co bóp đẩy dịch mật xuống tá tràng ngay
từ những phút đầu của quá trình tiêu hóa [26]
Các rối loạn gặp phải khi cắt túi mật:
* Rối loạn tiêu hóa:
- Thay đổi thành phần và sự bài tiết dịch mật
- Thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột
- Rối loạn cơ thắt Oddi
- Thay đổi niêm mạc ruột non [26]
* Rối loạn chuyển hóa:
- Tăng chuyển hoá nền khoảng 25% ở những năm đầu
- Liên quan NAFLD (gan nhiễm mỡ không do rượu) và cắt túi mật với
Trang 17OR = 2.4[15]
* Tăng nguy cơ ung thư đường tiêu hóa: nguy cơ carcinoid ruột tăng
khoảng 1,7 lần [32]
1.1.3 Phân loại và cơ chế hình thành sỏi
Sỏi mật có thành phần chính: cholesterol, muối mật và canxi, ngoài ra còn có các thành phần khác như sắt, protein, mảnh tế bào, vi khuẩn, kí sinh trùng, chất nhầy Trong đó, sỏi cholesterol có thành phần cholesterol chiếm > 50% trọng lượng, màu vàng nhạt, mặt gồ ghề Thành phần chủ yếu của sỏi sác tố mật gồm bilirubinate calcium, calcium palmitate, calciumstearate… và một ít cholesterol, màu nâu hay đen, mặt nhẵn, có cấu trúc phân lớp đồng tâm Và sỏi hỗn hợp là sỏi mà có cả 2 thành phần cholesterol và bilirubinate canxi chiếm < 50%.[3, 6] Sỏi túi mật được thành lập trong túi mật, gồm 2 loại: sỏi cholesterol, và sỏi sắc tố (sỏi sắc tố đen và sỏi sắc tố nâu)
- Sỏi cholesterol: Mật do gan tạo ra và được dự trữ trong túi mật Những thành phần cơ bản trong mật là muối mật, bilirubin, và cholesterol Sỏi mật được hình thành là do mất cân bằng các thành phần này
Sự tạo sỏi cholesterol hình thành theo ba cơ chế chính:
+ Sự thay đổi thành phần dịch mật
+ Sự kết nhân của các tinh thể cholesterol
+ Suy giảm chức năng của túi mật
Thông thường, tỉ lệ muối mật/cholesterol lớn hơn 10, tỉ lệ Phospholipid /Cholesterol lớn hơn 3 Khi các tỉ lệ này giảm thì có hiện tượng bão hòa cholesterol là tiền đề cho sự kết tủa cholesterol tạo sỏi Điều này cũng phù hợp giải thích nguyên nhân sỏi cholesterol hay gặp ở người phương Tây, do chế độ
ăn nhiều chất béo dẫn đến tăng khả năng hình thành sỏi cholesterol[3] Acid Ursodesoxycholic không những làm giảm quá trình bão hòa cholesterol mà còn giảm sự kết nhân, do đó có tác dụng điều trị sỏi cholesterol túi mật[10]
Trang 18Một phần quan trọng góp phần tạo nên sỏi là giảm chức năng của túi mật
Sự ứ trệ của túi mật dễ tạo cơ hội quá trình tạo sỏi phát triển[10]
- Sỏi sắc tố đen: Sắc tố mật là một sản phẩm phân hủy của hemoglobin Khi các
tế bào hồng cầu già và chết đi, hemoglobin sẽ chuyển hóa thành bilirubin (sắc tố mật) và phân tán vào máu
- Sỏi sắc tố nâu: liên quan đến tình trạng viêm đường mật và nhiễm kí sinh trùng
Vi khuẩn thường gặp nhất là vi khuẩn đường tiêu hóa Ecoli, Enterococus, nó sẽ sinh ra β-glucoronidase (ngoại sinh) có tác động phá hủy liên kết giữa bilirubin
và acid glucoronic làm cho bilirubin bị ion hóa sẽ kết hợp với ion Ca+ tạo nên bilirubinat canxi rồi lắng động tạo thành sỏi
Hình 1 3: Hình ảnh sỏi mật: A: Sỏi Cholesterol, B: Sỏi Sắc tố, C: Sỏi hỗn hợp Bilirubinate -calcium carbonate, D: sỏi hỗn hợp Bilirubinate –phosphate [34]
Trang 191.2 Chẩn đoán sỏi túi mật
là do tắc nghẽn ống túi mật và sự căng chướng của túi mật Cũng cần chú ý đến các triệu chứng đi kèm với cơn đau Khi một nội tạng bị căng trướng đột ngột nó
sẽ co thắt và gây ra phản xạ ói mửa Phản xạ nôn này có hai đặc trưng: (1) Không làm dịu cơn đau (2) thường không kèm cảm giác buồn nôn.[1]
Sỏi túi mật không biến chứng hiếm có dấu hiệu vàng da trừ khi sỏi túi mật kèm sỏi ống mật chủ hoặc hội chứng Mirizzi
Triệu chứng viêm túi mật cấp: VTMC là tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính của
TM, do sự xâm nhập của vi khuẩn Triệu chứng của VTMC điển hình gồm: Đau dưới sườn phải, sốt, bạch cầu trong máu ngoại vi tăng, siêu âm hoặc chụp cắt lớp
vi tính thấy thành TM dày và thường có sỏi trong TM.[23]
Khoảng 1-3% số người bị sỏi có triệu chứng viêm túi mật cấp, thường gặp khi sỏi hay bùn túi mật làm kẹt ống cổ túi mật Các triệu chứng gần giống như cơ đau quặn mật nhưng dữ dội và dai dẳng hơn:
- Đau hạ sườn phải, có thể đau từng đợt, có những cơn đau cấp tính kéo dài hàng giờ
- Sốt: Gặp trong 80% trường hợp viêm túi mật cấp, ở người già và bệnh
nhân suy giảm miễn dịch có thể không sốt
- Dấu hiệu Murphy (+)
Trang 20Triệu chứng viêm túi mật mạn:
- Đau bụng dưới sườn phải, cơn đau cách quãng có khi lan lên vai phải
- Bệnh nhân sợ mỡ, sợ thức ăn chiên rán, đôi khi buồn nôn, chán ăn
- Các triệu chứng thực thể nghèo nàn, ấn đau hạ sườn phải gợi ý có
- >85% tăng bạch cầu
- >50% tăng bilirubin huyết thanh
1.2.2.2 Chẩn đoán hình ảnh
Hình ảnh siêu âm túi mật bình thường: Trên mặt cắt dọc túi mật có hình
cấu trúc dịch dạng quả lê, phần lớn nhất là đáy và thuôn nhỏ dần đến cổ túi mật, trên mặt cắt ngang trục cho thấy hình ảnh cấu trúc dịch hình tròn hoặc oval.[6]
Hình ảnh siêu âm điển hình
- Sỏi là hình đậm âm tròn hoặc bầu dục, đôi khi có hình vòng cung, kèm bóng cản, di động dễ theo tư thế bệnh nhân Bóng cản âm phía sau luôn có đối với sỏi
>3mm, tuy nhiên một tỷ lệ nhỏ sỏi bùn không kèm theo bóng cản, hầu hết sỏi túi
Trang 21mật có đặc tính di chuyển khi thay đổi tư thế bệnh nhân Số lượng sỏi có thể là một nhưng thường là nhiều viên, kích thước sỏi thì lớn nhỏ khác nhau
Hình ảnh siêu âm không điển hình
- Túi mật chất đầy sỏi và co nhỏ tạo nên hai hình vòng cung một vòng cung của thành túi mật và vòng cung thứ hai của sỏi kèm bóng cản
Một số hình ảnh có thể nhầm với sỏi túi mật:
- Hơi trong ống tiêu hóa
- Polyp túi mật: không thay đổi vị trí, không bóng cản
- Nếp gấp của túi mật
- Hơi trong túi mật: bờ không rõ nét, nằm ở vị trí cao
- Sán lá gan trong túi mật: Không kèm bóng cản.[5]
Một số tác giả khi đi sâu vào phân tích các yếu tố tạo ra bóng lưng của sỏi thì nhận thấy đậm độ của bóng lưng phụ thuộc những yếu tố sau:
+ Độ suy giảm âm của thành phần vật chất của sỏi
+ Đặc tính phản hồi của viên sỏi với sóng âm
+ Độ rộng của chùm tia siêu âm, khả năng che phủ một phần hay toàn phần viên sỏi
+ Năng lượng của chùm tia phát và mức khuếch đại được điều chỉnh.[8]
Trang 22Hình 1 4: A: Túi mật với vô số viên sỏi có bóng lưng; hình B: Túi mật chứa một viên sỏi nhỏ ở bệnh nhân khác, sỏi ở phễu túi mật[5]
Trong viêm túi mật cấp: Hình ảnh siêu âm:
+ Túi mật căng to, chiều dài ≥ 8cm, chiều rộng ≥4cm
+ Thành túi mật dày ≥3mm
+ Có thể thấy có dịch quanh túi mật
+ Dấu hiệu Sono-Murphy: Đau khi ấn đầu dò vào túi mật, khá đặc biệt Hình ảnh siêu âm của một số thể viêm túi mật cấp
+ TM viêm mủ: dịch trong TM có phản âm không đều, có hơi trong lòng
Trang 23
Hình 1 5: Viêm TM mật cấp,thành dày, giảm âm Trong lòng TM có nhiều sỏi[5]
Đánh giá chức năng túi mật:
Chức năng túi mật được đo bằng chỉ số co bóp của túi mật:
Với trẻ < 10tuổi:
phút
co bóp bình thường[30]
Với người lớn >10tuổi:
đêm đo được V1
Boyden) sau ăn 30-60 phút đo được thể tích túi mật sau ăn V2
Trang 24 Bình thường chỉ số co bóp > 40% Khi túi mật còn chức năng tức là còn khả năng dự trữ và bài tiết dịch mật[19]
+Có thể sử dụng ngay trong cấp cứu,
+Không phải hấp thụ tia X nên an toàn cho bệnh nhân
+Giá thành rẻ
Nhược điểm: Khó sử dụng ở bệnh nhân mập,nhiều hơi trong ruột, phụ thuộc trình độ người làm siêu âm
Trang 25Chụp X quang bụng không chuẩn bị:
Đây là phương pháp nhằm phát hiện sỏi cản quang, nhưng chỉ có khoảng 30% sỏi túi mật là cản quang Trên X quang là hình ảnh nốt cản quang có nhiều vòng đồng tâm ở vị trí túi mật, có thể thấy bóng túi mật to[1]
Hình 1 7: Sỏi túi mật trên phim chụp bụng Xquang không chuẩn bị[1]
Chụp cắt lớp vi tính:
Chụp cắt lớp vi tính thường không được áp dụng với sỏi túi mật đơn thuần
Có giá trị khi nghi ngờ các biến chứng như thủng, sỏi ống mật chủ, ung thư của tụy hay của túi mật, viêm tụy cấp hay mạn, giãn đường mật trong và ngoài gan Phát hiện sỏi chính xác khoảng 80-90% phụ thuộc vào độ hấp thu tia X của sỏi,
vị trí, kích thước sỏi và tương quan với mặt cắt CT
Dấu hiệu trên CLVT của sỏi túi mật là hình ảnh tăng tỉ trọng.Sỏi cholesterol thường đồng tỉ trọng, sỏi nhỏ đôi khi bị bỏ sót trên cắt lớp vi tính
Trang 26Ưu điểm của CLVT trong chẩn đoán sỏi túi mật khi bệnh nhân to béo, vướng hơi nhiều khi siêu âm, Sỏi túi mật có biến chứng viêm, thủng túi mật hoặc phải đánh giá chức năng gan
Hình ảnh CLVT viêm túi mật: Dày thành túi mật, túi mật lớn, có khí trong lòng túi mật, dịch quanh túi mật Lớp mỡ quanh túi mật bị thâm nhiễm.[4]
Hình 1 8: Sỏi túi mật kết hợp với sỏi đường mật trong và ngoài gan gây giãn
đường mật trong và ngoài gan trên CLVT.[43]
Chụp cộng hưởng từ:
Ưu điểm
+ Bệnh lý đường mật chính đi kèm: sỏi, u Đánh giá ống cổ túi mật: ống cổ túi mật giãn nguy cơ vụn sỏi kẹt cổ túi mật hay rơi xuống ống mật chủ
Nhược điểm: Giá cả cao nên ít khi sử dụng
MRI có thể giúp phân biệt các loại sỏi Sỏi cholesterol, sỏi sắc tố giảm tín hiệu trên T2W Không như sỏi cholesterol, sỏi sắc tố tăng tín hiệu trên T1W
Khi có viêm túi mật Trên T2W thấy thành túi mật tăng tín hiệu và dày thành(>3mm) Có thể quan sát thấy phù nề xung quanh
100% sỏi cholesterol có thể được phát hiện bằng cộng hưởng từ với hình ảnh giảm tín hiệu trên xung T1W, 90% sỏi sắc tố phát hiện trên T1W tăng tín hiệu.[18]
Trang 27+ Kháng sinh: chỉ sử dụng khi có tình trạng nhiễm trùng đường mật,
nhiễm khuẩn huyết, áp xe, vỡ túi
+ Giảm đau khi có cơn đau quặn mật: thuốc giảm đau Non-steroids,
thuốc giãn cơ trơn, opioids.[1]
Trang 28và không giúp tăng thời gian sống thêm cho bệnh nhân[36]
• Tỷ lệ ung thư túi mật/ Sỏi túi mật không triệu chứng rất thấp.[29, 35, 37] Tuy nhiên, bệnh nhân sỏi túi mật không có triệu chứng/ túi mật sứ: khuyến cáo nên cắt túi mật do tỷ lệ ung thư túi mật/ Túi mật sứ cao, khoảng >20%[13]
Mổ cắt túi mật là phương thức hàng đầu để điều trị viêm túi mật cấp, tuy nhiên tỉ lệ tử vong liên quan đến cuộc mổ ở những bệnh nhân lớn tuổi và có bệnh toàn thân nặng là rất cao (lên tới 19%)[25]
Một số biến chứng sau mổ có thể gặp trong cắt túi mật nội soi là: tụ dịch vết
mổ, nhiễm trùng vết mổ, thoát vị vết mổ là những biến chứng thường gặp.[42] Gần đây càng nhiều nghiên cứu đã đặt ra vấn đề chức năng của túi mật: liên quan đến việc cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, thay đổi sinh lý và thành phần dịch mật bài tiết.Phẫu thuật nội soi lấy sỏi và bảo tồn túi mật là phương pháp ít xâm lấn, tỷ lệ lấy sỏi thành công cao và bảo tồn được chức năng túi mật
3.1.3 Điều trị bảo tồn túi mật bằng tán sỏi qua da
Những bệnh nhân có chống chỉ định với phẫu thuật, chống chỉ định với gây
mê hoặc bệnh lý toàn thân nặng (nhóm nguy cơ cao) vẫn là thách thức khi lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu và an toàn
Theo một số tác giả, nhóm nguy cơ cao:
+ >70 tuổi, có nguy cơ tim mạch cao (Goldman cardiac risk index >13),bệnh phổi mạn tính, xơ gan Child-Pugh B và C, BMI > 30 kg/m2 Do đó, tiến hành đặt dẫn lưu túi mật cấp cứu thì 1, tiến hành phẫu thuật hoặc tán sỏi thì 2
Phương pháp tán sỏi túi mật (TSTM) bằng đường hầm xuyên nhu mô gan bảo tồn túi mật là: can thiệp điện quang dưới hướng dẫn của máy chụp mạch số hoá xoá nền Từ đường vào qua da, đưa dụng cụ tán sỏi (ống nội soi với đầu tán laser) xuyên nhu mô gan vào túi mật để tán nhỏ sỏi và bơm nước đẩy sỏi ra ngoài hoặc dung rọ lấy sỏi ra ngoài
Trang 29+ Năm 1988, Kellett và cộng sự lần đầu mô tả kỹ thuật nội soi qua phúc mạc lấy sỏi qua da để điều trị sỏi túi mật.[27]
+Từ năm 2004 đến năm 2009, Young Hwang Kim thực hiện tán sỏi qua da dưới DSA, cổng vào 12F cho 63 bệnh nhân nguy cơ cao, tỉ lệ thành công 94%[28] + Năm 2010 đến năm 2017 Patel và cộng sự thực hiện TSTM qua da cho 13 bệnh nhân có chống chỉ định phẫu thuật, tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật là 100%, chỉ có 1 bệnh nhân (8%) viêm túi mật cấp tái phát sau 1095 ngày [33]
1.4 Tình hình các nghiên cứu sỏi túi mật tại Việt Nam
+ Nguyễn Vũ Phương và cộng sự nghiên cứu 74 bệnh nhân thì tất cả đều có kết quả siêu âm là sỏi túi mật
1.5 Tình hình các nghiên cứu đo chức năng túi mật trên thế giới
+ Tony Ugwu và cộng sự nghiên cứu và đo chức năng túi mật 50 bệnh nhân GBCI là 42.8% (± 19.33%) ở nam giới và 37.66% (± 16.29%) ở phụ nữ
Trang 30CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội bắt đầu từ tháng
08 năm 2019 đến tháng 03 năm 2020
2.2 Đối tượng nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân được chẩn đoán sỏi túi mật trên siêu âm, có chỉ định đo chức năng túi mật xét điều trị tán sỏi túi mật qua da
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân không có chỉ định đo chức năng túi mật để xét tán sỏi túi mật qua
da
- Có bệnh lý khác không phù hợp tán sỏi túi mật qua da:
+ Sỏi túi mật có biến chứng viêm túi mật cấp nặng, thủng túi mật, viêm túi mật mạn
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả, thu thập số liệu hồi cứu
2.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện
2.3.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu
Phương tiện nghiên cứu: Máy siêu âm, hồ sơ bệnh án, hướng dẫn dùng bữa ăn để đánh giá chức năng túi mật
Thông tin của đối tượng nghiên cứu: