1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn trần thùy mai và quế hương

99 81 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở bài viết này, tác giả có đề cập nhưng chỉ dừng lại ở sự khái quát những nét chung nhất về chất trữ tình trong truyện ngắn của các nhà văn nói chung, trong đó có nhắc đến Trần Thuỳ Mai

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN

TRẦN THÙY MAI VÀ QUẾ HƯƠNG

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN VIẾT THIỆN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong bất kì một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô; sự động viên, quan tâm, giúp đỡ của anh chị em, bạn bè cùng gia đình Với lòng kính trọng sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

TS Trần Viết Thiện – Giảng viên hướng dẫn khoa học - đã nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ, khuyến khích tôi hoàn thành luận văn này

Nhà văn Trần Thùy Mai – tác giả của những tập truyện ngắn, đã cung cấp tư liệu cũng như có những gợi mở giúp tôi hiểu sâu sắc hơn những tác phẩm của chị trong quá trình nghiên cứu

Gia đình, bạn bè – những người đã động viên tôi học tập, làm việc và hoàn thành luận văn

Huế, tháng 09 năm 2018 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của luận văn 8

6 Cấu trúc của luận văn 8

NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 9

1.1 Tổng quan về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn 9

1.1.1 Khái niệm trữ tình 9

1.1.2 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn 10

1.2 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn một số giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại 12

1.2.1 Yếu tố trữ tình trong việc thể hiện tình cảm, cái tôi cá nhân trong giai đoạn 1930-1945 12

1.2.2 Yếu tố trữ tình trong việc thể hiện tinh thần lãng mạn cách mạng giai đoạn 1945-1975 15

1.2.3 Yếu tố trữ tình trong việc thể hiện hiện thực đời sống, số phận con người giai đoạn sau 1975 18

CHƯƠNG 2: YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THUỲ MAI, QUẾ HƯƠNG NHÌN TỪ THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG 26

2.1 Nhân vật 26

2.1.1 Nhân vật cô đơn trên hành trình đi tìm hạnh phúc 26

Trang 5

2.1.2 Nhân vật buồn - đau trong bi kịch cuộc sống 30

2.1.3 Nhân vật giàu niềm vui sống, luôn hướng về điều tốt đẹp 37

2.2 Không gian nghệ thuật 41

2.2.1 Không gian thiên nhiên trong trẻo, nên thơ 42

2.2.2 Không gian văn hóa Huế trầm mặc, cổ kính 46

2.3 Thời gian nghệ thuật 48

2.3.1 Trở về với những miền hoài niệm 49

2.3.2 Đan xen giữa kí ức và thực tại 51

CHƯƠNG 3: YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THUỲ MAI, QUẾ HƯƠNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TRẦN THUẬT 56

3.1 Cốt truyện, kết cấu 56

3.1.1 Cốt truyện tâm lí 57

3.1.2 Kết thúc để ngỏ 62

3.2 Ngôn ngữ 64

3.2.1 Ngôn ngữ người trần thuật 65

3.2.2 Ngôn ngữ nhân vật 73

3.3.1 Giọng điệu xót xa, thương cảm 79

3.3.2 Giọng điệu trữ tình, triết lí 83

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Sự tương tác, thâm nhập, giao thoa thể loại trong văn học là một hiện tượng đặc sắc, để lại dấu ấn đậm nét trong cả văn học thế giới lẫn văn học Việt Nam Chính hiện tượng này đã tạo ra một thể loại khá độc đáo của văn xuôi – thể loại văn xuôi trữ tình

Văn xuôi trữ tình thế giới ghi dấu ấn với tên tuổi của các tác giả như K Paustovsky, C.T Aytmatov,… Ở Việt Nam, dòng chảy văn xuôi trữ tình hiện đại khởi nguồn từ thời kì văn học đầu thế kỉ XX, gắn với tên tuổi các tác giả như Thạch

Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu,… Trong cuốn Sổ tay truyện ngắn,

Vương Trí Nhàn có nhận định về văn học Việt Nam đầu thế kỉ XX: “… chúng ta

chứng kiến sự xích lại gần nhau giữa thơ và văn xuôi… Việc xích lại gần thơ làm cho văn xuôi trở nên vừa sâu sắc hơn, vừa dễ hiểu hơn” [49, tr.117]

Không khó để thấy rằng, sự giao thoa giữa hai loại hình văn học trữ tình và tự

sự tiếp tục phát triển trong giai đoạn văn học 1945 – 1975 với một số cây bút tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Anh Đức, Lưu Quang Vũ,… Đến giai đoạn văn học sau 1975, văn xuôi trữ tình đã trở thành một xu hướng sáng tác phổ biến với nhiều tên tuổi như Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Lập Em, Nguyễn Ngọc Tư, Nhật Chiêu, Nguyễn Quang Thiều, Trần Thuỳ Mai, Quế Hương, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương,… Phổ biến đến mức, Hoàng Ngọc Hiến coi đây là một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn sau Đổi mới [17]

1.2 Các nhà văn nữ thời Đổi mới đã ghi dấu ấn đậm nét ở thể loại truyện ngắn trữ tình Truyện ngắn trữ tình của các cây bút nữ Việt Nam sau Đổi mới đã thực sự góp một tiếng nói riêng, góc nhìn riêng; kiến tạo nên bức tranh đa sắc của truyện ngắn giai đoạn này Nổi bật lên trong dòng chảy ấy cần phải nhắc đến hai cây bút

nữ miền Trung tiêu biểu: Trần Thùy Mai và Quế Hương

Trần Thuỳ Mai là nhà văn nữ xứ Huế; chất Huế dịu dàng, sâu lắng thấm đẫm trong nhiều truyện ngắn của chị Trần Thuỳ Mai đã mang vào trang văn của mình

cái đằm thắm của thiên tính nữ Văn chương của chị lôi cuốn người đọc bởi cái “trữ

Trang 7

lượng tình cảm” hết sức dồi dào Quế Hương cũng là một nhà văn nữ gốc Huế

Những câu chuyện của chị thường buồn đau nhưng ấm áp bởi nó xuất phát từ nguồn mạch yêu thương, cảm thông Đúng như nhận xét của Đoàn Ánh Dương:

… Văn Quế Hương tinh tế mà giản dị, sắc sảo mà dịu mát Không thể tìm thấy trong văn Quế Hương vẻ gay gắt, quyết liệt Đó là một thế giới hài hoà, hài hoà ngay cả từ sự đổ vỡ Không có sự bất hạnh nào không có lối thoát Không có nỗi buồn nào không thể cảm thông Như dòng Hương, như nhà vườn, như điệu Nam ai, Nam bình, như tiếng dạ thưa của người con gái Huế… bãng lãng trong rất nhiều sáng tác của chị [12; tr.6]

Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai, Quế Hương không chỉ

tạo nên một “dư vị” khó quên mà còn báo hiệu một phong cách thể loại đang được

định hình và ngày càng đa dạng, sắc nét

1.3 Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, đã có những lúc văn xuôi mở cuộc xâm lăng vào thơ Đó là thời kì khởi phát Thơ mới Ngược lại, cũng có những giai đoạn chất thơ xâm nhập vào văn xuôi, làm thành dòng truyện ngắn trữ tình với nhiều phong cách nổi bật Tìm hiểu yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai và Quế Hương giúp cho chúng ta thấy được dòng truyện ngắn trữ tình không phải chỉ dừng lại ở những đỉnh cao của văn học quá khứ mà còn được tiếp nối ở các nhà văn đương đại với nhiều sắc thái mới mẻ Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài này còn mang một ý nghĩa thiết thực: giúp cho việc giảng dạy những tác phẩm văn xuôi mang đậm màu sắc trữ tình trong nhà trường được thấu đáo hơn

2 Lịch sử vấn đề

Giao thoa thể loại là một hiện tượng có tính quy luật trong văn chương Truyện ngắn trữ tình chính là sự thâm nhập của yếu tố trữ tình vào một thể loại văn xuôi hiện đang có nhiều thành tựu và được các nhà nghiên cứu dành sự quan tâm khá lớn

2.1 Nghiên cứu yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 nói chung

Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận được một số bài viết, công trình, luận văn,

luận án sau đây:

Trang 8

Trong cuốn Thế hệ nhà văn sau 1975: Diện mạo và thành tựu, Đinh Trí Dũng có bài viết Mạch trữ tình trong truyện ngắn thế hệ nhà văn sau 1975 Bài

viết khẳng định thế hệ này đã tiếp nối và làm phong phú thêm mạch ngầm trữ tình trong văn xuôi Việt Nam hiện đại và làm cho bức tranh truyện ngắn thêm khởi sắc, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng đa dạng, nhiều chiều của người đọc Ở bài viết này, tác giả có đề cập nhưng chỉ dừng lại ở sự khái quát những nét chung nhất về chất trữ tình trong truyện ngắn của các nhà văn nói chung, trong đó có nhắc đến Trần Thuỳ Mai và Quế Hương

Chuyên luận Tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam đương đại của

Trần Viết Thiện là công trình đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống về văn xuôi sau Đổi mới dưới góc nhìn tương tác thể loại Tác giả đã dành một chương

để khảo sát sự tương tác thể loại trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay, nhìn từ cấu trúc thể loại truyện ngắn Trong đó, sự thâm nhập của chất trữ tình vào truyện ngắn được người viết nhìn nhận qua các phương diện: cái tôi trữ tình, thế giới biểu tượng và hiện tượng thơ trong văn Trong phần kết luận, tác giả đã đặt ra triển vọng

của việc tiếp tục nghiên cứu vấn đề: “Đi sâu nghiên cứu tương tác thể loại trong

từng tác giả, tác phẩm cũng là hướng đi hứa hẹn nhiều kết quả khoa học Đó thực

sự là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để góp thêm một góc nhìn trong việc nghiên cứu văn học” [67]

Bên cạnh đó, cũng có một số luận văn đi sâu tìm hiểu yếu tố trữ tình trong

truyện ngắn của một số nhà văn cụ thể: Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Thạch Lam – Hồ Dzếnh của tác giả Nguyễn Văn Tấn, Chất trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư của tác giả Thái Thị Thanh Huyền, Yếu tố trữ tình trong văn xuôi Thạch Lam của tác giả Lương Văn Dương,…

2.2 Nghiên cứu yếu tố trữ tình trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai và Quế Hương

Về tác giả Trần Thuỳ Mai, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy có một số bài viết, luận văn đề cập đến yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai nhưng hoặc mới chỉ dừng lại ở một vài góc độ riêng lẻ, hoặc chỉ điểm qua bằng những nhận xét chung Chưa có công trình lấy truyện ngắn trữ tình Trần Thuỳ Mai làm đối tượng nghiên cứu trung tâm

Trang 9

Luận văn Thi pháp nhân vật của truyện ngắn Trần Thuỳ Mai của tác giả

Nguyễn Thị Hồng Lê khi tìm hiểu đặc điểm truyện ngắn có nhắc đến chất thơ là một trong ba đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Trần Thuỳ Mai Thế nhưng, chất thơ được nêu ra nhằm góp phần lí giải đặc điểm nhân vật chứ chưa đi vào phân tích chất thơ được thể hiện như thế nào trong truyện ngắn của tác giả này Đồng thời, tác giả cũng chỉ đề cập đến giọng điệu trữ tình như một phương thức góp phần xây dựng

nhân vật trung tâm trong các truyện ngắn của Trần Thuỳ Mai Luận văn Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Trần Thùy Mai của tác giả Lê Thị Thanh Hiệp cũng chỉ

nhận xét chung về “chất Huế” trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai, đó là: giọng

văn rất Huế nhẹ nhàng, sâu lắng, giàu chất thơ và rất nữ tính; giọng trần thuật khách quan nhưng vẫn rất trữ tình, êm ái

Tình hình nghiên cứu về tác giả Quế Hương cũng tương tự như trường hợp Trần Thùy Mai Chưa có công trình lấy truyện ngắn trữ tình Quế Hương làm đối

tượng nghiên cứu trung tâm Luận văn Đặc điểm truyện ngắn Quế Hương của tác

giả Trương Ngọc Lợi đã đi sâu tìm hiểu về cuộc đời và quan niệm nghệ thuật của Quế Hương; những đặc điểm cơ bản trong thế giới hình tượng và phương thức trần thuật như nhân vật, không - thời gian, ngôn từ nghệ thuật, giọng điệu trần thuật, Trong đó yếu tố trữ tình chỉ được tác giả tìm hiểu, khái quát qua một phương diện

đó là giọng điệu trữ tình hoài niệm Từ đó, tác giả khẳng định chính giọng điệu ấy làm cho văn của bà dung dị mà sâu lắng, vừa xôn xao buồn, vừa bâng khuâng xao xuyến Đó là yếu tính làm nên chất văn đằm sâu, da diết rất Huế của bà Bên cạnh

đó, phải kể đến bài viết Chất trữ tình trong truyện ngắn Quế Hương của tác giả

Nguyễn Thị Ngọc Giang Bài viết đã tìm hiểu các phương diện như chất thơ, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, giọng điệu mang đậm tính trữ tình Tuy nhiên, ở phạm vi một bài báo khoa học nên bài viết chỉ dừng lại ở tính khái quát; chưa đi sâu phân tích, luận giải vào từng phương diện cụ thể

Nhìn lại những nghiên cứu về sáng tác của Trần Thuỳ Mai và Quế Hương, có thể thấy chưa có công trình nào nghiên cứu tập trung và có hệ thống về yếu tố trữ

tình trong sáng tác của hai cây bút nữ này Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài Yếu

tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai và Quế Hương nhằm nghiên cứu

một cách hệ thống bằng những khảo cứu, phân tích, kiến giải khoa học

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn là những phương diện biểu hiện của yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai và Quế Hương

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi khảo sát các tập truyện ngắn của hai tác giả như sau:

3.2.1 Tác giả Trần Thuỳ Mai

- Bài thơ về biển khơi, NXB Thuận Hoá, Huế, 1983

- Trò chơi cấm, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1998

- Quỷ trong trăng, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001

- Đêm tái sinh, NXB Thuận Hoá, Huế, 2004

- Mưa ở Strasbourg, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2007

- Một mình ở Tokyo, NXB Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2008

- Onkel yêu dấu, NXB Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010

3.2.2 Tác giả Quế Hương

- Đôi chân biết khóc, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1995

- Quán Búp Bê, NXB Kim Đồng, 1996

- 27 truyện ngắn của Quế Hương, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2004

- Truyện ngắn ba cây bút nữ: Ngân Hoa, Quế Hương, Đỗ Bích Thúy, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2007

- Đóa hoa không gai và con cừu không rọ mõm, NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2010

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp loại hình: Chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình nhằm phân

loại các đặc điểm thuộc phương thức trữ tình và phương thức tự sự; từ đó thấy được

sự xâm lấn, thâm nhập của yếu tố trữ tình vào truyện ngắn nói chung, truyện ngắn hai tác giả nữ nói riêng

- Phương pháp thi pháp học: Chúng tôi soi chiếu dấu ấn của yếu tố trữ tình trong truyện ngắn trên các phương diện thế giới hình tượng và một số phương diện trần thuật Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Quế Hương được chúng tôi khai tác từ các góc độ: Nhân vật, không – thời gian, cốt truyện – kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu,…

Trang 11

- Phương pháp khảo sát - thống kê: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để khảo sát sự hiện diện của yếu tố trữ tình trong từng truyện ngắn cụ thể, từ đó thống

kê những dẫn chứng tiêu biểu tương ứng với các phương diện thế giới hình tượng

và một số phương diện trần thuật trong truyện ngắn của hai tác giả

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Đề tài đặt trong hệ thống truyện ngắn sau

1975 và truyện ngắn nữ sau 1975 nói chung, truyện ngắn của hai tác giả nói riêng

để xem xét, phát hiện và đánh giá những biểu hiện của yếu tố trữ tình trong truyện ngắn của hai tác giả

- Phương pháp so sánh: Dựa trên phương pháp so sánh đồng đại và lịch đại để tìm ra nét đặc sắc của truyện ngắn hai tác giả so với các tác giả khác trên phương diện biểu hiện của yếu tố trữ tình trong tác phẩm

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn khai thác và chỉ ra một cách hệ thống sự tiếp nối của yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Việt Nam, cũng như cho thấy những nét riêng đặc sắc về yếu tố trữ tình trong sáng tác của hai nữ nhà văn Trần Thuỳ Mai và Quế Hương Hi vọng luận văn sẽ mang đến cho bạn đọc cái nhìn toàn diện hơn về văn xuôi trữ tình Việt Nam sau 1975 cũng như truyện ngắn trữ tình trong sáng tác của hai nhà văn Trần Thuỳ Mai, Quế Hương

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn được cấu trúc thành ba chương:

Chương 1: Yếu tố trữ tình trong sự phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại

Chương 2: Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai, Quế Hương nhìn

từ thế giới hình tượng

Chương 3 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai, Quế Hương nhìn

từ phương diện trần thuật

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ LOẠI

TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 Tổng quan về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn

1.1.1 Khái niệm trữ tình

“Trữ tình” hay “chất trữ tình” hoặc “yếu tố trữ tình” là một thuật ngữ lí luận

văn học, dùng như một khái niệm để nói đến một tính chất văn học Qua khảo sát, chúng tôi ghi nhận được một số quan niệm về khái niệm trữ tình như sau:

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Trữ tình (tiếng Pháp: lyricque) là một

trong ba phương thức thể hiện đời sống (bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học… Trữ tình phản ánh đời sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng, ý nghĩ, cảm xúc chủ quan của mình đối với thế giới và nhân sinh… Nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực, là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình Tác phẩm trữ tình thể hiện tâm trạng Do đó, nó thường không có “cốt truyện” hiểu theo nghĩa chặt chẽ của từ này

và dung lượng của nó thường ngắn (vì một trạng thái tâm trạng không thể kéo dài)”

[16, tr.374]

Trong Giáo trình Lí luận văn học, khái niệm trữ tình được hiểu là sự “miêu

tả và biểu hiện thế giới chủ quan của con người với những cảm xúc, tâm trạng và ý nghĩ trực tiếp” [53, tr.189]

Trữ tình còn được hiểu là “chất thơ”: chất thơ hay chất trữ tình – tính chất

được tạo nên từ sự cô đọng của tâm hồn, sự hòa quyện giữa vẻ đẹp của cảm xúc, tâm trạng, tình cảm với vẻ đẹp của cách biểu hiện nó để có thể khơi gợi những rung động thẫm mĩ và tình cảm nhân văn Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy có nhận định

như sau: “Chất thơ trước tiên hiểu theo nghĩa rộng phải gắn với cái đẹp Cái đẹp có

thể là do tự nhiên mang lại như cảnh mây trắng nhởn nhơ bay trên bầu trời xanh thẳm, tạo ra cảm giác dễ chịu cho người ngắm nhìn Hoặc, “chất thơ” cũng có thể

Trang 13

tạo ra từ những tình cảm, hành động của con người như: Sự nhớ nhung, sự uyển chuyển của các điệu múa…” [84] Như vậy, có thể thấy dù được gọi tên khác nhau

nhưng yếu tố trữ tình vẫn thống nhất ở nguồn gốc: xuất phát từ tâm hồn, biểu hiện qua cảm xúc và tâm trạng chủ thể

Tựu chung lại, khái niệm trữ tình được hiểu là phương thức thể hiện của văn học, đó là phương thức thiên về diễn tả, bộc lộ cảm xúc Nguyên nghĩa từ Hán Việt

“trữ tình” cũng có ý nghĩa như vậy: “trữ” là thổ lộ, “tình” là tình cảm, cảm xúc

Trữ tình là một khái niệm dùng để chỉ một phương thức trong sáng tác văn học, trong đó chú trọng đến miêu tả cảm xúc, tâm trạng, tình cảm chủ quan của chủ thể trữ tình Chúng tôi sử dụng cách hiểu này để nghiên cứu về yếu tố trữ tình trong truyện ngắn ở những phần tiếp theo của luận văn Tuy nhiên, yếu tố trữ tình không những chỉ xuất hiện trong các tác phẩm trữ tình mà còn thể hiện trong các tác phẩm

tự sự hay kịch Do vậy, đôi khi người ta dùng cách nói như “chất trữ tình”, “tính

trữ tình” hay “yếu tố trữ tình” để diễn tả đặc điểm này trong các tác phẩm tự sự

1.1.2 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nhà văn thường sử dụng nhân vật, sự kiện, biến cố,… để bộc lộ tư tưởng nghệ thuật về cuộc sống con người Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của

nó, truyện ngắn chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện, biến cố Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn là những chi tiết có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Trong truyện ngắn, yếu tố tự sự là chủ đạo và xuyên suốt Tuy nhiên, do bị phụ thuộc vào nội dung được trần thuật, phụ thuộc vào thể tạng của nhà văn mà trong một số sáng tác, yếu tố tự sự bị giảm nhẹ Trong khi đó, các yếu tố trữ tình, nghị luận sẽ tăng, tạo ra sự giao thoa thể loại trong truyện ngắn

Nói về vị trí chất thơ trong văn xuôi, K Paustovsky viết: “Văn xuôi là sợi cốt,

còn thơ là sợi ngang Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất

Trang 14

thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả” [54; tr.17] Có thể thấy, quan niệm của

Paustovsky đã chỉ rõ vai trò cũng như vị trí của thơ trong văn xuôi

Lại Nguyên Ân khi bàn luận về chất thơ của văn xuôi có khái quát về yếu tố trữ tình nói chung và yếu tố trữ tình trong văn xuôi như sau:

Trữ tình thường gắn với những xung động tâm lí căng và ngắn Ngôn từ ở trữ tình có ưu thế biểu cảm hơn là mô tả (tạo hình), bộc bạch thế giới bên trong của chủ thể phát ngôn hơn là vẽ ra thế giới bên ngoài chủ thể ấy Tất nhiên, với tư cách là một tố chất thẫm mĩ không nhất thiết phải đi kèm với ngôn ngữ có vần điệu nghiêm ngặt, trữ tình chẳng những có thể được thể hiện bằng thơ mà còn có khả năng thể hiện ở văn xuôi Văn xuôi trữ tình không phải bao giờ cũng là dạng “trữ tình” thuần túy, nhưng chính vì vậy, đây lại là chỗ lộ rõ dấu vết thơ đối với văn xuôi [2]

Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn có thể bộc lộ ở phương diện hình thức thể hiện Đó là tính nhạc, sự hàm súc của ngôn từ, đó là sự linh hoạt của các thủ pháp nghệ thuật tạo cho giọng văn, lời văn sức truyền cảm lớn Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn cũng có thể thể hiện ở mạch kết cấu, ở những rung động tinh tế trong tâm hồn nhân vật, ở bức tranh thiên nhiên thơ mộng trữ tình,…

Có thể thấy, yếu tố trữ tình trong truyện ngắn được tạo nên khi nhà văn chú ý khai thác và biểu hiện một cách tinh tế mạch cảm xúc, tâm trạng, tình cảm của nhân vật hoặc của chính mình trước thế giới bằng những chi tiết, hình ảnh đầy gợi cảm và một lối văn trong sáng, truyền cảm, phù hợp với nhịp điệu riêng của cảm xúc, tâm hồn Một truyện ngắn (hoặc tác phẩm văn xuôi) được coi là truyện ngắn trữ tình khi mối bận tâm của người viết không đặt vào kể lại một biến cố, sự việc, hành động

mà là việc làm bật lên một trạng thái của đời sống hoặc của tâm hồn con người Qua từng thời kì, yếu tố trữ tình thâm nhập vào truyện ngắn với sự đậm nhạt khác nhau Sự tham gia của yếu tố trữ tình vào cấu trúc của truyện ngắn khi thì được thể hiện qua cái tôi cảm xúc, cảm nghĩ, một cái tôi đầy suy tư của chủ thể trữ tình; khi lại được thể hiện qua âm hưởng hào hùng, ngợi ca; khi lại là đi sâu khám phá số phận con người trong cuộc sống đời thường

Trang 15

Sự tương tác, giao thoa, thâm nhập của các yếu tố thuộc loại hình trữ tình vào loại hình tự sự đã tạo nên dấu ấn thẩm mĩ đậm nét

1.2 Yếu tố trữ tình trong truyện ngắn một số giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại

1.2.1 Yếu tố trữ tình trong việc thể hiện tình cảm, cái tôi cá nhân trong giai đoạn 1930-1945

Nếu như dòng truyện ngắn hiện thực đi sâu vào những vấn đề xã hội nhức nhối thì dòng truyện ngắn trữ tình lại cảm nhận và tái hiện cuộc sống từ cái Tôi trữ tình cá nhân Các nhà văn trữ tình miêu tả cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của mình, lăng kính ấy chính là thế giới nội tâm, là cảm xúc, tâm trạng của nhà văn trước diễn biến của xã hội Đây chính là phương thức sáng tác cho mọi nhà văn đi theo dòng truyện ngắn trữ tình trước 1945, dù ở mỗi nhà văn, cái tôi biểu hiện khác nhau

Truyện ngắn trữ tình giai đoạn này dù tả cảnh, tả ngoại hình hay nội tâm nhân vật,… yếu tố chủ quan của tác giả bao giờ cũng đậm nét Sự giao hòa giữa hai loại hình tự sự và trữ tình mang đến cho người đọc một thể loại văn học mà ở đó cái tôi tâm trạng thấm đẫm xuyên suốt chiều dài của các sáng tác Nếu như thơ trữ tình biểu hiện cái tôi qua từng vần thơ, âm điệu, thì truyện ngắn trữ tình biểu hiện cái tôi qua dòng tâm trạng của nhân vật Truyện ngắn trữ tình thường có cốt truyện bị giảm nhẹ; tác phẩm có cấu tứ gần như thơ trữ tình

Từ năm 1936 đến năm 1942, phong cách truyện ngắn trữ tình mới thực sự được định hình với cây bút truyện ngắn đặc sắc – Thạch Lam Ba tập truyện ngắn của Thạch Lam đã thực sự khởi động cho khuynh hướng truyện ngắn này trên văn đàn Nhiều nhà văn đã thử nghiệm và tiếp nối Thạch Lam làm nên một dòng phong cách truyện ngắn trữ tình đặc sắc: Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Đỗ Tốn, Chính việc coi trọng cá thể và đề cao sự thể hiện cái tôi cá nhân đã tạo nên xu hướng thẩm mĩ này Chúng tôi muốn điểm qua vài tác giả nhằm thấy rõ hơn cái tôi

cá thể trong các truyện ngắn trữ tình giai đoạn này

Trước tiên là Thạch Lam – người được coi là đã đặt nền móng cho dòng truyện ngắn mang phong cách trữ tình trong văn xuôi giai đoạn 1930 – 1945 Phần lớn truyện của Thạch Lam thuộc loại truyện không có cốt truyện Mỗi truyện là một tâm trạng,

Trang 16

một bài thơ trữ tình Trong truyện ngắn trữ tình Thạch Lam, các nhân vật không tồn tại với tư cách là đại diện cho những tầng lớp, giai cấp hay địa vị xã hội nhất định, mà tồn tại với tư cách là những cá tính của cá nhân, cá thể Với tư cách là những cá nhân, nhân vật của Thạch Lam là một cái tôi tinh thần… Cái tôi của Thạch Lam thường khiêm nhường, ẩn trong những con người bình thường, nhỏ bé, cái tôi của cảm giác, cảm xúc

mơ hồ thoáng qua, khó nắm bắt Tác giả Nguyễn Hoành Khung đã nhận xét về bút

pháp của Thạch Lam: “Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của

cái tôi, với sự phân tích cảm giác tinh tế Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn” [78]

Trong truyện ngắn Thạch Lam, chúng ta thấy hiện lên cái tôi từng trải điềm tĩnh Cái tôi trong truyện ngắn Thạch Lam đa dạng và biến hóa: khi là một thế giới

nhân vật nhỏ bé, nghèo khổ, nhưng luôn mang một tấm lòng trắc ẩn trong Gió lạnh đầu mùa, là cái tôi tự vấn của Thanh trong Một cơn giận; Liên, Huệ trong Tối ba mươi, hay Sinh, Mai trong Đói Đó cũng có thể là cái tôi đồng cảm như Dung (Hai lần chết) hay mẹ Lê (Nhà mẹ Lê),… Có thể thấy, dù đa dạng, nhưng cái tôi trong

truyện ngắn Thạch Lam đều thể hiện sự trải đời, điềm tĩnh của chính tác giả

Xuân Diệu cũng là một trong những tác giả cần phải nhắc tới khi nói về truyện

ngắn trữ tình giai đoạn này với hai tập truyện ngắn Phấn thông vàng (1939) và Trường ca (1945) Nổi lên ở hai tập truyện trên là cảm xúc trữ tình của một cái tôi

khao khát mạnh mẽ Hình tượng cái tôi trong truyện ngắn Xuân Diệu vừa là cái tôi khao khát yêu thương, khao khát giao cảm với đời; vừa là cái tôi giàu lòng trắc ẩn

Sự thành công của Thạch Lam, Xuân Diệu trong việc thể nghiệm chất trữ tình trong văn xuôi đã tạo cảm hứng cho những nhà văn đến sau như Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh,… Cùng hướng đi, các tác giả này cũng được ghi nhận với những sáng tác

đậm chất trữ tình, đó là: Quê mẹ, Chị và em, Ngậm ngải tìm trầm của Thanh Tịnh;

là Chân trời cũ của Hồ Dzếnh,…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng mỗi truyện ngắn của Thanh Tịnh như một bài thơ trong đó nhiều truyện có khuynh hướng lãng mạn rõ rệt, còn một số truyện khác lại có khuynh hướng hiện thực Một chủ nghĩa hiện thực trữ tình Trong

lời giới thiệu tập Văn xuôi lãng mạn Việt Nam, Nguyễn Hoành Khung đi sâu vào

Trang 17

phân tích chất thơ trong Chân trời cũ: “Đó là chất thơ của hoài niệm, cũng là chất

thơ của vẻ đẹp đất nước con người Việt Nam, “quê ngoại” mà tác giả đã gắn bó bằng cả máu thịt tâm hồn mình”; “Truyện của Hồ Dzếnh thường rất buồn, văn Hồ Dzếnh thường giàu cảm xúc, ý vị, tuy mực thước trau chuốt mà lắng đọng dư ba”

[35] Còn Vũ Quần Phương thì nói rõ bằng việc xưng danh cụ thể: “Truyện ngắn

Hồ Dzếnh là truyện ngắn trữ tình” [81]

Về cái tôi trữ tình tiếp nối trong truyện ngắn các tác giả sau Thạch Lam, chúng tôi nhận thấy có sự đồng điệu trong chất trữ tình của những truyện ngắn trữ tình giai đoạn này, đó là hình tượng những cái tôi mà nhiều nhà nghiên cứu, nhận

định đó là: cái tôi gọi những cái tôi, thúc đẩy nhau sáng tạo [33] Với Thanh Tịnh,

đó là cái tôi tâm trạng ẩn sâu trong cái nhìn của một cậu bé từ ấu thơ tới lúc trưởng thành trước những đổi thay của làng quê Làng Mỹ Lý xuất hiện trở đi trở

lại trong mười ba truyện ngắn của tập Quê mẹ Từ cảm xúc rưng rưng trong ngày trở lại trường của cậu bé ở Tôi đi học, đến những rung động đầu đời của Mẫn và Hương ở Quê bạn, và rồi là tình quê khi xa làng Mỹ Lý đi làm ăn xa của Đông và Thuyên ở Tình quê hương,

Hồ Dzếnh với tập truyện Chân trời cũ đã cho thấy một cái tôi trẻ thơ nhưng

luôn ám ảnh bởi những cảm nhận về gia tộc, dòng họ, quê hương, đất nước Toàn bộ

mười lăm truyện ngắn trong tập Chân trời cũ được Hồ Dzếnh viết theo bút pháp tự

truyện về mối quan hệ, về tư tưởng, tình cảm của tác giả với từng người thân trong gia đình Dường như, cái tôi tác giả trong truyện vừa là chủ thể, vừa là đối tượng thẫm mỹ; tác phẩm vì vậy là nơi bộc lộ thế giới nội tâm của chính nhà văn

Có thể thấy, yếu tố trữ tình trong văn học giai đoạn 1930 – 1945 đã góp phần thúc đẩy những cái tôi xuất hiện Bằng dòng cảm xúc tinh tế, những truyện ngắn giai đoạn này thiên về sự trải nghiệm và thể nghiệm lần đầu của những cái tôi Đó

có thể là cảm xúc của “qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở

đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt” [36, tr.111], nơi

những đứa trẻ nghèo sống đầy nhân hậu, nơi một mảnh áo ấm sẵn sàng được sẻ chia Đó có thể là tâm trạng của một cái tôi trong trẻo giữa không gian nên thơ:

“Hàng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những

Trang 18

đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường…” [70, tr.85] Hay đơn giản, chỉ là ánh mắt lấp lánh hi vọng của hai chị em

Liên trong Hai đứa trẻ - ánh mắt gửi gắm những ước mơ, những khát khao về cuộc

sống Yếu tố trữ tình giúp các nhà văn phát hiện và gieo vào những cảm xúc tinh tế nhất của con người, tạo nên một dòng truyện ngắn trữ tình mang âm hưởng đặc biệt, đặt nền móng cho dòng truyện ngắn trữ tình trong văn học Việt Nam các giai đoạn tiếp theo

Phổ âm trữ tình trong truyện ngắn lãng mạn giai đoạn trước 1945 là thứ âm hưởng của một cái tôi cá nhân, cá thể rõ nét Sự kế thừa, nối tiếp của các thế hệ từ Thạch Lam, Xuân Diệu đến Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh hay Đỗ Tốn khiến cho phong cách truyện ngắn trữ tình chính thức được khơi nguồn ở Việt Nam

1.2.2 Yếu tố trữ tình trong việc thể hiện tinh thần lãng mạn cách mạng giai đoạn 1945-1975

Từ đầu thập kỉ 60 và trong suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, dòng văn xuôi trữ tình tiếp tục nảy nở và phát triển ngay trong hoàn cảnh chiến tranh như một biểu hiện của sức sống, vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam Truyện của các tác giả giai đoạn này tập trung khai thác vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước và nhất là vẻ đẹp tâm hồn con người

Thế giới trong truyện ngắn trữ tình thường thể hiện qua tâm trạng, cảm xúc, cảm giác chủ quan của nhà văn Trong ba thập kỉ đấu tranh bảo vệ và thống nhất đất nước, hiện thực xã hội là một hiện thực đầy máu, khói lửa và bom đạn Văn học hiện thực đã đảm nhận vai trò ghi lại lịch sử cuộc kháng chiến đầy đau thương nhưng cũng đáng tự hào ấy Còn văn học trữ tình đảm nhận nhiệm vụ ca ngợi, phát hiện những vẻ đẹp tiềm tàng trong mưa bom bão đạn, thể hiện tinh thần lãng mạn cách mạng triệt để và sâu sắc

Truyện ngắn trữ tình giai đoạn này tập trung khai thác hai chủ đề chính, đó là

vẻ đẹp tâm hồn con người và vẻ đẹp thiên nhiên đất nước Con người Việt Nam xuất hiện trong truyện ngắn trữ tình, trước hết là những con người có một thế giới tâm hồn đẹp Tâm tư, thái độ, nỗi niềm của họ đối với đời sống và đối với nhau là cái nền để tác giả sáng tác nên truyện ngắn Phẩm chất của họ là cái chất phù sa

Trang 19

lắng đọng qua bao đời nay từ Đất và Nước Thái độ đối với cách mạng, với vận mệnh của Tổ quốc lúc lâm nguy là thước đo phẩm giá của một con người Họ có ở mọi nơi, mọi thành phần, lứa tuổi: những anh chiến sĩ lái xe, những cô thanh niên xung phong, những anh bưu tá, anh thợ gốm,… Hình tượng con người mang tình yêu và niềm tin cách mạng như là một phẩm chất lí tưởng giúp thi vị hóa các sáng tác về đề tài chiến tranh

Đó là một ông già người Mèo tên Cắm dành cả cuộc đời mình cho cách mạng

trong Rẻo cao của Nguyên Ngọc Truyện hầu như không có cốt truyện nhưng mang

lại nhiều cảm xúc cho người đọc: đó là vẻ đẹp tâm tư, tinh thần nhiệt huyết với cách mạng, với Đảng của ông Cắm, là vẻ đẹp của thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc Nhận xét

về truyện ngắn này, nhà văn Bảo Ninh cho rằng: “Rẻo cao, tập truyện ngắn trong

sáng, tinh tế, vô cùng hồn hậu, chan chứa tình yêu và ước mơ hạnh phúc được sống trong hòa bình ấy thực chất là bức tâm thư của người chiến sĩ miền Nam gửi độc giả miền Bắc trước khi lên đường trường chinh trở lại quê hương đang lụt chìm trong lửa đạn chiến tranh tàn khốc” [80] Trần Đăng Khoa khi viết lời tựa cho truyện ngắn

này cũng khẳng định rằng: “Văn Nguyên Ngọc là thứ văn trong, sánh như mật ong,

lại đượm ướp một làn hương rất đặc biệt Đọc cứ bàng hoàng váng vất mãi” [34]

Chất trữ tình chảy trong mạch truyện Rẻo cao là chất trữ tình xuất phát từ cảm hứng

lãng mạn cách mạng, với xúc cảm lí tưởng hóa con người và cảnh vật

Những nhân vật mang một gương mặt tinh thần đẹp từ vóc dáng đến phẩm chất cũng xuất hiện nhiều trong sáng tác của Đỗ Chu Với bút pháp ước lệ và lý tưởng hóa, con người trong truyện ngắn Đỗ Chu hiện lên thanh tú, lịch lãm, hiền lành và hơn hết họ đều là những con người lí tưởng của cách mạng Đó là Chuyên

trong Ráng đỏ, cô thanh niên xung phong đã anh dũng hi sinh để cứu xe trong trận

bom của giặc Mỹ Đó là Quế, một cô văn công hiền lành nhưng gan góc, kín đáo

nhưng sôi nổi Hay là Vĩnh trong Tháng Hai, một cán bộ địa chất xông xáo nhưng

cũng là một nghệ sĩ tài hoa, sống đẹp,… Nhìn chung, diện mạo nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Chu là hóa thân của lí tưởng cách mạng, mang vẻ đẹp của con người thời đại

Trang 20

Chiến tranh đã gõ cửa từng mái nhà, bao nhiêu thử thách khốc liệt đã đến với mỗi người Việt Nam chúng ta Nhưng những thử thách ấy không làm cho những người dân Việt Nam chùn bước, trái lại càng quyết tâm trên tuyến đầu chống Mỹ Đọc truyện ngắn của Nguyễn Thi, Đỗ Chu, Nguyễn Thành Long chúng ta thấy sự vĩ đại ấy, sự thật khiến cả thế giới phải kinh ngạc, thán phục, biểu hiện ra ở những lúc, những con người tưởng như bình thường nhất Đó có thể là hai đứa trẻ mang tên

Đực và Bỉnh trong truyện ngắn đầu tay của Nguyễn Thi, truyện ngắn Chuyện xóm tôi (1964) Chúng chỉ là hai đứa trẻ bình thường sống ở một ngôi làng nhỏ nơi miệt

vườn Nam Bộ, nhưng trong tâm can hai đứa trẻ ấy lại ẩn chứa một sức mạnh phi thường, đại diện cho lòng quật khởi của bao con dân Việt Nam Sức mạnh bắt nguồn từ lòng căm thù giặc đã cướp đi tính mạng người cha, sức mạnh ấy biến

thành ý chí quyết tâm, trả thù nhà, đền nợ nước Hay truyện ngắn Người mẹ cầm súng, mang đến cho người đọc chân dung những người phụ nữ anh hùng, giỏi việc

nước, đảm việc nhà trong chiến tranh Có thể thấy, cảm hứng lãng mạn cách mạng giai đoạn này đã mang đến những thiên truyện ngắn đẹp với những con người lí

tưởng Nói về truyện ngắn trữ tình giai đoạn này không thể không nhắc tới Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Hình tượng nhân vật Nguyệt và Lãm với

những phẩm chất cao quý và niềm tin vào tương lai trong hoàn cảnh bom đạn khốc liệt khiến cho truyện ngắn đậm chất thơ Nhà nghiên cứu N.Nicolin có nhận xét về

các tác giả văn học giai đoạn này: “Nhà văn thời ấy đã khá triệt để trong việc thi vị

hóa nhân vật Đây vừa là chỗ mạnh của anh vừa là chỗ yếu: niềm tin vào chất bất khả chiến thắng của cái đẹp tinh thần, của cái thiện đã được khúc xạ ở chỗ anh đã

“tắm rửa sạch sẽ” các nhân vật của mình, họ giống như được bao bọc trong một

bầu không khí vô trùng” [82] Mảnh trăng cuối rừng là một truyện ngắn trữ tình,

đậm chất thơ từ cách đặt tên, cho đến khung cảnh thiên nhiên “Xe tôi chạy trên lớp

sương bồng bềnh” [62, tr.38] và tạo hình nhân vật từ vẻ bề ngoài đến phẩm chất

Truyện như một bản giao hưởng tình yêu giữa chiến tranh khốc liệt, người đọc vẫn cảm thấy vẻ đẹp con người và thiên nhiên đầy thơ mộng giữa chiến tranh

Vẻ đẹp thiên nhiên đất nước cũng được đưa vào trong các truyện ngắn trữ tình

giai đoạn này Đó là phong cảnh Sa Pa (Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long) với

Trang 21

núi cao với thác đổ trắng xóa, đường núi uốn lượn quanh co, cây cối rậm rạp chen

nhau hiện dần lên: “Cảnh trước mặt bỗng hiện lên đẹp một cách kì lạ Nắng bây giờ

bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây, những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh, thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên những vòm lá ướt sương, rơi, xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe” [55, tr 181] Tất cả như muốn đem đến cho các nhân vật một cảm giác

mới lạ, thơ mộng về một vùng đất; về những khát khao, háo hức khi lần đầu tiên bước chân đến một vùng đất mới

Đó là những câu chuyện nhẹ nhàng, lấy cảnh làm duyên cớ để biểu lộ tâm trạng nhân vật trong các sáng tác của Đỗ Chu Cảnh sắc thiên nhiên trong truyện ngắn Đỗ Chu gắn liền với sinh hoạt của làng quê, đó là cánh đồng, lũy tre, dòng sông,… Thiên nhiên gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, thật lãng mạn và

gần gũi: “Mùa xuân rồi mùa hạ, năm lại năm, anh trở về với con sông Cầu lãng

mạn như một câu quan họ” [8, tr.801]; hay: “từng con sóng đang đập vào bờ, từng đám lau dưới đê đang bị gió đánh lả lướt đều muốn nói với cô một điều gì xót xa lắm” [8, tr.164] Cảnh vật ở đây giúp bộc lộ nội tâm, từ đó khiến chất trữ tình chảy

tràn trong các truyện ngắn với những cảm xúc đến từ tâm trạng các nhân vật

Nhìn chung, có thể thấy, truyện ngắn trữ tình giai đoạn 1945 – 1975 mang âm hưởng của thời đại, một thời đại cách mạng hào hùng Sự hào hùng ấy đã thổi vào trong văn thơ những cảm hứng đặc biệt, trong đó, truyện ngắn trữ tình đã tạo nên

thứ văn xuôi có chất thơ - “văn xuôi mọc cánh”, tấu lên bản hợp xướng hùng tráng,

tràn đầy niềm vui và tinh thần lạc quan trong sáng của thời đại

1.2.3 Yếu tố trữ tình trong việc thể hiện hiện thực đời sống, số phận con người giai đoạn sau 1975

Sau năm 1975, đất nước trở về với cuộc sống đời thường; với cú hích của tiểu thuyết, truyện ngắn thăng hoa, nở rộ Truyện ngắn của các nhà văn giai đoạn này đã

đi sâu bám sát cuộc sống đời thường, lật xới từng mảnh nhỏ của hiện thực để chiêm nghiệm, suy ngẫm: có hiện thực nghiệt ngã, có kỳ ảo thâm trầm, có trào lộng thâm thúy, có trữ tình da diết,…Nhà văn hướng đến việc lấy số phận cá nhân làm gương

Trang 22

soi lịch sử và lấy nội tâm con người để nói về cuộc sống, họ muốn “tìm thấy con

người trong con người” [3, tr.51], cũng như “miêu tả tất cả các chiều sâu của tâm hồn con người” [3, tr.51]

Với nỗ lực đổi mới và phát triển, trong sự vận động mạnh mẽ của thể loại,

truyện ngắn sau 1975 đã tạo nên những xu hướng thể loại khác nhau Và“sự hội ngộ

với phương thức trữ tình là một chiều tương tác mang lại tính phong phú và độc đáo cho diện mạo truyện ngắn giai đoạn này” [67]

Có thể bắt gặp truyện ngắn đậm chất thơ chảy tràn trong văn phong Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nhật Chiêu, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư, Trần Thuỳ Mai, Quế Hương, Phan Thị Vàng Anh, Nguyên Hương,… Đọc nhiều truyện ngắn của họ, chúng ta bắt gặp một mạch ngầm da diết, tiếp nối dòng mạch trữ tình sâu thẳm của văn chương Việt

Một cái tôi đầy suy tư trước cuộc sống thường nhật, trước những thân phận nhỏ bé của đời thường trong truyện ngắn Nguyễn Khải Ở đó luôn hiện diện thường trực hình tượng cái tôi hết sức gần gũi, thân thuộc Cái tôi ấy có khi không cần giấu giếm sau bức màn hư cấu mà luôn xuất hiện lồ lộ trên văn bản Nhưng cũng có khi cái tôi tác giả lùi về đằng sau để kể về những người thân yêu xung quanh mình Do vậy, truyện ngắn của ông đôi khi có dáng dấp của những cuốn tự truyện Thế nhưng

điều làm cho cái tôi ấy gần với thơ là ở hình tượng cái tôi: “cái tôi - cảm nghĩ hơn

là cái tôi – tính cách” [67] Truyện ngắn của Nguyễn Khải thường là một “mạch cảm xúc”, một “dòng suy tưởng” Cốt truyện là một dòng chảy, dòng chảy của ngôn

từ và dòng chảy của cảm xúc Hình tượng trong tác phẩm hầu hết là các hình tượng trữ tình: cái tôi trữ tình, nhân vật trữ tình, giọng điệu trữ tình, thiên nhiên trữ tình,… nhưng sức ám gợi lớn nhất là một cái tôi tự bộc lộ với những nguồn mạch cảm xúc

tinh tế, “không ồn ào trên bề mặt sự kiện mà gây nên cái ba động ở chiều sâu”

[67] Ông gọi đó là “một giọt nắng nhạt”, một ngọn “hoa cỏ may”: Một giọt nắng

nhạt, Má hồng, Phía khuất mặt trời, Hoa cỏ may,…

Nguyễn Huy Thiệp thuộc thế hệ nhà văn có tiếng tăm trên văn đàn vào thập niên 80 của thế kỉ XX Truyện ngắn của ông mang hơi thở mạnh mẽ của tư duy đổi mới Ông được xem là người mở toang cánh cửa để thơ đi vào văn xuôi một cách tự

Trang 23

do, nhuần nhuyễn và đậm nét Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang cảm quan của

thơ ca Nhà văn Lê Minh Hà gọi đó là những truyện ngắn “dữ dội và hết sức thơ”

[50, tr.498] Cảm quan thơ ca thể hiện bàng bạc trong tác phẩm của cây bút này từ ngôn từ đến cấu trúc, từ huyền thoại đến những bài thơ, từ tiêu đề đến những kết

thúc: Chút thoáng Xuân Hương, Con gái thủy thần, Chảy đi sông ơi, Cánh buồm nâu thuở ấy, Thương nhớ đồng quê,… Trong truyện ngắn, cũng như

Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp hoàn toàn không có ý định che giấu cái tôi của mình Nhưng như Nguyễn Đăng Mạnh từng nói, có một cái lưỡng phân trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, một cái tôi của văn xuôi và một cái tôi của thơ Cái tôi thứ hai giàu suy tư và bao giờ cũng mênh mang buồn Cái tôi thứ hai luôn khắc khoải đi tìm; đi tìm cái đẹp, đi tìm tình yêu, đi tìm thiên tính nữ và tìm lại những chân trời huyền thoại trong vô thức tuổi thơ của mỗi con người [67]

Hành trình sáng tác từ Phiên chợ Giát đến Bến quê của Nguyễn Minh Châu

là mẫu mực cho sự thay đổi tọa độ soi ngắm hiện thực, con người của truyện ngắn giai đoạn này Tác giả hướng vào chiều sâu bên trong, hiện thực ở đây trở thành

hiện thực sâu thẳm trong tâm hồn con người Hiện thực trong Bến quê là hiện thực

trong tâm tưởng nhân vật Nhĩ được chiếu ứng bởi hình tượng bãi bồi phía bên kia

sông Một người mãi vòng vèo, chùng chình; một người suốt đời “đi tới không sót

một xó xỉnh nào trên trái đất” để rồi khi bệnh liệt giường mới nhận ra vẻ đẹp của

“bến quê”: “Một chân trời gần gũi, mà lại xa lắc vì chưa hề bao giờ đi đến – cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa sổ nhà mình” [6, tr.262] Truyện ngắn Nguyễn

Minh Châu thường tìm đến lối biểu đạt bằng hình tượng, những hình tượng đầy sức

ám gợi: hình tượng cỏ lau, hình tượng bãi bồi bên kia sông, hình tượng những bông hoa bằng lăng,…

Chất thơ thấm đẫm trong các truyện ngắn của Nguyễn Quang Thiều ngay từ

tiêu đề: Chiều hoa tầm xuân, Giấc mơ hoa cỏ trắng, Khúc hát của dòng sông, Mùa hoa cải bên sông, Tiếng đập cánh của chim thần, Tiếng gọi cuối mùa đông,… Truyện ngắn của anh, dù viết về làng quê, về tình yêu hay về số phận của

những người phụ nữ đều hòa trộn cái ảo vào cái thực, thể hiện sâu đậm chất cổ tích giữa đời thường Dõi theo dòng chảy bất tận của cuộc đời, truyện ngắn Nguyễn

Trang 24

Quang Thiều luôn phản ánh những mâu thuẫn, nghịch lí của đời sống, nhưng đồng thời cũng luôn tràn đầy hi vọng và niềm tin vào những điều tốt đẹp

Phải nói rằng, sự góp mặt của hàng loạt cây bút nữ trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam sau 1975 đã đem đến một diện mạo mới, một làn gió mới cho

nền văn học dân tộc Tác giả Bùi Việt Thắng cho rằng: “Văn học nước nhà sang thế

kỉ XXI sẽ mang gương mặt phụ nữ khoan dung, trắc ẩn và đắm đuối” [63; tr.18] Sự

bổ sung về đội ngũ, sự phá cách và đặc trưng trong chiếm lĩnh hiện thực của các cây bút nữ đã tạo nên những màu sắc mới cho văn học Việt Nam đương đại, mà trước hết là sự đa dạng và phong phú về dấu ấn phong cách

Với người Việt Nam, trữ tình nói chung và thi ca nói riêng luôn là một mạch nguồn sâu thẳm cắm rễ trong tâm thức Việt Đó chính là cội nguồn của chất trữ tình đằm thắm trong một bộ phận truyện ngắn của các nhà văn nữ giai đoạn sau 1975, tạo thành một dòng mạch sâu lắng và đầy xúc cảm Những tên tuổi như Quỳnh Vân, Nguyễn Ngọc Tư, Hoàng Ngọc Thư, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Quế Hương, Võ Thị Xuân Hà, Nguyên Hương,… đã tạo ra những ấn tượng sâu sắc với bạn đọc Truyện ngắn của các nhà văn ấy là những mảng màu đa sắc: hiện thực mặn chát, kì ảo huyền hoặc, hài hước biếm họa,… nhưng tất cả vẫn gặp nhau ở mạch ngầm trữ tình da diết từ trong sâu thẳm tâm hồn

nữ giới

Trần Viết Thiện nhận ra trong cấu trúc truyện ngắn của các nhà văn nữ ấy luôn hiện diện hình tượng cái tôi trữ tình Cái tôi trữ tình ấy ngày càng thấm sâu vào thế giới nghệ thuật nhiều truyện ngắn:

Đó là cái tôi thủ thỉ tâm tình của Quỳnh Vân qua từng truyện ngắn: Dòng

sông mùa nước cạn, Duyên phận, Lệ ơi!, Những ngọn sóng hình sin,…

Trong Dòng sông mùa nước cạn, Quỳnh Vân kể về một cuộc tình nhưng

hình như chỉ có điểm nhìn của “tôi”, một cái tôi trữ tình Truyện có đối thoại nhưng đối thoại qua dòng hồi ức của cái tôi ấy Và rất nhiều trường hợp, cái tôi ấy lặn sâu vào tâm cảm để có những đoạn trữ tình ngoại đề Như đoạn sau đây, nhân vật tôi không phải đối thoại với Đức mà chính là đang trữ tình ngoại đề cùng người đọc: “Cũng như anh, tôi yêu dòng sông

Trang 25

như yêu mẹ của mình Không có dòng sông không còn mẹ nữa, tôi như người mất cả tuổi thơ, cái tuổi thơ lấm láp nhọc nhằn mà chứa chan ân nghĩa [67]

Y Ban đã khéo léo lựa chọn hình thức thể loại tự do nhất cho truyện ngắn của mình là thư từ để cái tôi ấy có khoảng không mà thỏa sức tuôn trào Quỳnh Vân xuôi dòng tâm trạng của mình trong hình thức một truyện ngắn - nhật kí; Y Ban lại để cái

tôi ấy bộc lộ qua hình thức truyện ngắn - bức thư: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ Tâm

trạng, nỗi niềm của con đã tạo nên những câu văn xuôi mang đậm dư vị của thi ca:

Mẹ ơi, ai đã dạy con ư? Đất đấy, thiên nhiên đấy, màu vàng của lúa, màu xanh của cây, miền quê con sông ấy đã kiến tạo nên tâm hồn con, để con biết khóc trong tiếng mưa, biết cười trong nắng, biết múa hát trong tiếng cây cỏ trỗi dậy sau trận mưa rào” “Hoàng Ngọc Thư viết truyện

ngắn Bốn bức thư như một bài thơ được cấu tứ qua bốn khổ: Bình minh,

Giữa trưa, Xế chiều và Đêm Qua “bốn khổ thơ ngắn” ấy người đọc chỉ thấy một chủ thể trữ tình là tôi, một nhân vật trữ tình là em và một âm hưởng thơ ca dội lên từ cái tôi thăng hoa trong cảm xúc đậm màu sắc lãng mạn Truyện ngắn như một bài thơ văn xuôi, một bài thơ tình trong trẻo, lãng mạn và rất đẹp [67]

Đó còn là thế giới mênh mang cảm xúc trong văn phong Nguyễn Ngọc Tư Trong thế giới ấy, dù trực tiếp hay gián tiếp đều hiện diện một cái tôi yêu thương da diết với từng khung cảnh, từng cánh đồng, từng dòng kênh, từng mùa gió chướng

của vùng quê Nam Bộ: Hiu hiu gió bấc, Cái nhìn khắc khoải, Thương quá rau răm, Dòng nhớ, Nhớ sông, Cánh đồng bất tận Đọc truyện ngắn Nguyễn Ngọc

Tư do vậy luôn bắt gặp một chất giọng man mác buồn Có lẽ, sức lôi cuốn của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư chủ yếu được tạo nên bởi cái tôi sâu lắng, đầy tính nhân văn ấy [67]

Truyện ngắn trữ tình Trần Thùy Mai thường khai thác những câu chuyện đời thường dung dị, nhưng từ đó lại đặt ra nhiều vấn đề lớn, có ý nghĩa nhân văn sâu

sắc (Trăng nơi đáy giếng, Nàng công chúa lạc loài, Thập tự hoa, Biển đời người,…) Trần Thùy Mai khá thành công với những nhân vật là nhà văn, nhà giáo,

Trang 26

họa sĩ,…, sống với bao lo toan, dằn vặt; vừa nhẫn nại, vừa cam chịu, vừa mơ mộng, khát khao cháy bỏng về tình yêu, sự nghiệp để rồi lại thất vọng, đau xót vì ước vọng không thành Có nhiều buồn đau, day dứt, nhưng dư vị đọng lại qua các truyện ngắn

là tình người, sự sẻ chia, lòng nhân ái, bao dung Chị cũng khai thác sâu vào tình yêu, những mối tình đẹp và buồn, vừa mong manh, vừa vĩnh cửu Đinh Trí Dũng so

sánh: “Những mối tình trong truyện không bạo liệt, gai góc như Y Ban, Nguyễn Thị

Thu Huệ nhưng đầy chất men quyến rũ bởi sự lãng mạn, lòng vị tha của người trong cuộc, nhất là những người phụ nữ” [51] Trần Thùy Mai có nhiều trang phân

tích tâm lí tinh tế, đào sâu vào những uẩn khúc, những éo le trong sâu thẳm tâm hồn con người, trong đó nhiều nhân vật luôn toát lên vẻ đẹp trong trẻo, đằm thắm của văn hóa Huế

Nguyễn Ngọc Tư bên cạnh các tác phẩm phơi bày những mặt trái của đời sống, của con người thì cũng có những tác phẩm đề cập đến những con người sống thật đẹp với truyền thống đậm chất Nam Bộ: vị tha, trọng tình, trọng nghĩa, xem

khinh tiền bạc, vật chất (Qua cầu nhớ người, Cải ơi, Dòng nhớ, Cái nhìn khắc khoải,…) Rất nhiều mất mát, đổ vỡ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Nguyên

nhân đổ vỡ cũng hết sức đa dạng: chiến tranh, li tán, đói nghèo, những ứng xử sai lầm của con người,… Chất thơ trong nhiều truyện của Nguyễn Ngọc Tư toát lên từ

sự ứng xử của các nhân vật Một người đàn ông mang nỗi đau bị hiểu nhầm vì đứa con riêng của vợ bỏ đi, đã bỏ cả quãng đời dài mười hai năm đi tìm đứa con thơ dại,

trong tâm tưởng luôn vọng mãi tiếng kêu “Cải ơi” đầy xa xót (Cải ơi) Một người

đàn bà đau khổ, bị chồng bỏ rơi nhưng vẫn giữ lại trong mình những xúc cảm nóng

ấm tình người và một người đàn bà khác vừa thương cả người chồng đa tình, vừa

cảm thông với cả “tình địch” của mình (Dòng nhớ)…

Chất Huế dịu dàng, sâu lắng thấm đẫm trong nhiều truyện ngắn của Quế Hương Truyện ngắn của chị thường là những câu chuyện buồn nhưng ấm áp; tinh

tế mà giản dị; sắc sảo mà dịu dàng, là một thế giới hài hòa ngay trong sự đổ nát

(Câu hát tìm nhau, Phố Hoài, Tịnh Tâm Viên, Cội mai lưu lạc, Trần gian có mưa,…) [51]

Trang 27

Nguyên Hương, sống và viết ở Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) Truyện ngắn của chị là tiếng lòng đồng cảm với những kiếp người bất hạnh ở một vùng cao nguyên đầy nắng và gió Chị viết nhiều về những con người cô đơn, thua thiệt do chiến tranh, do bệnh tật, đói nghèo Chị xúc động trước những thân phận tàn tật vẫn quyết vươn lên, tìm chỗ đứng dưới mặt trời Chị quan tâm đặc biệt đến số phận phụ nữ, trẻ

em (Triết gia, Hoàng đế một đêm, Tinh thần thƣợng võ,…) Mẹ con đậu đũa là

một trong những truyện ngắn đặc sắc của Nguyên Hương, đề cao tấm lòng người

cha đơn thân, nghèo khổ, dành hết tình yêu cho đứa con thơ dại của mình Bố ơi

cũng là câu chuyện đầy tính nhân văn về người lính sau chiến tranh Người đàn ông mất ba đứa con vì chất độc da cam, vợ bỏ đi, vẫn trải lòng yêu thương một cô bé bất

hạnh mà ông xem như con gái mình Quà muộn là những trang cảm động về tấm

lòng thơm thảo của những đứa con trong một gia đình đổ vỡ… Truyện ngắn

Nguyên Hương đôi lúc làm cho người đọc nhớ đến Thạch Lam trong Gió lạnh đầu mùa, Đứa con nuôi,… Đôi khi chỉ là một món quà nhỏ con người trao nhau hay

“một chút âu yếm, một chút tình thương”, nhưng ở đó, những ai biết yêu thương sẽ

sống đẹp hơn

Cuộc sống hôm nay còn nhiều vấn đề phức tạp, đa đoan; truyện ngắn trữ tình

nữ đã bám sát được những mạch sống ấy Song, sau những bức xúc về thế thái nhân tình chính là niềm tin mãnh liệt vào con người, cuộc sống, là những khao khát về tương lai tươi sáng hơn Đây chính là thiên tính nữ của văn học mà ở đó mỗi tác phẩm được viết ra như là sự vắt kiệt của nhà văn, là một sự dâng hiến – dâng hiến cái đẹp cho cuộc sống

Những truyện ngắn trữ tình giai đoạn sau 1975 thường có hiện tượng mờ hóa cốt truyện, nhiều lúc truyện chỉ là những dòng tâm trạng rời rạc, chắp nối Không

mở rộng hiện thực về diện, truyện ngắn đào sâu vào thế giới bên trong, thế giới nội tâm Từ thế giới bên trong đầy phức tạp ấy, các nhà văn biết lọc ra phần sâu thẳm đầy chất nhân văn của con người

Dòng mạch trữ tình trong trong các truyện ngắn của những cây bút văn học giai đoạn sau 1975 đã tiếp nối và làm phong phú thêm mạch ngầm trữ tình trong văn xuôi Việt Nam hiện đại và làm cho bức tranh truyện ngắn thêm khởi sắc, đáp ứng nhu cầu thẫm mỹ ngày càng đa dạng, nhiều chiều của người đọc Trong đó, với

đặc tính về giới, các nhà văn nữ đã “lấn át” các nhà văn nam ở địa hạt này

Trang 28

Tiểu kết chương 1

Trữ tình rõ ràng không phải là tố chất dành riêng cho các thể loại như thơ ca, tùy bút,… Tác giả truyện ngắn có thể năng động dung nạp bất cứ tố chất của thể loại nào miễn là làm giàu cho tác phẩm của mình Do vậy mà việc truyện ngắn tìm đến chất trữ tình cũng không phải là sự gặp gỡ ngẫu nhiên Yếu tố trữ tình đã hiện diện một cách sinh động, đầy duyên nợ trong tiến trình phát triển của truyện ngắn Việt Nam hiện đại Đó là chất trữ tình mở đường cho sự lên ngôi của cái tôi cá nhân, cá thể trong truyện ngắn đầu thế kỉ XX Đó là thứ văn xuôi mọc cánh nhằm chuyển tải cảm hứng lãng mạn trong truyện ngắn 1945 – 1975 Và tất nhiên khi cuộc sống sang trang, khi trở về với giai điệu của đời thường, chất trữ tình đã dự phần rất quan trọng trong việc đi sâu vào cái đa sự, đa đoan vốn có Cả nhà văn nữ với sự mẫn cảm riêng

đã để lại những dấu ấn đậm nét trên khuynh hướng thể loại này

Trang 29

CHƯƠNG 2 YẾU TỐ TRỮ TÌNH TRONG TRUYỆN NGẮN TRẦN THUỲ MAI,

QUẾ HƯƠNG NHÌN TỪ THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG

2.1 Nhân vật

Con người là đối tượng trung tâm của văn học Văn chương bao giờ cũng là câu chuyện của con người Nói đến nhân vật văn học là nói đến con người được nhà văn miêu tả, thể hiện trong tác phẩm Dẫu nhân vật đó sống động hay mờ nhạt, có tên hoặc không tên hay núp dưới bóng những đồ vật, chim thú thì cái đích cuối cùng

mà nhà văn muốn hướng đến vẫn là con người “Văn học không thể thiếu nhân vật,

bởi vì nó là hình thức cơ bản để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng Văn học chỉ tái hiện đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như tấm gương cuộc đời” [40, tr.107]

Hình tượng nhân vật trong nhiều truyện ngắn Trần Thùy Mai và Quế Hương mang đậm tính chất của nhân vật trữ tình Đó là những nhân vật luôn gánh trong tim mình một tình yêu nặng trĩu, đẹp mà buồn Họ luôn cô đơn trên hành trình đi tìm hạnh phúc, buồn – đau trong bi kịch cuộc sống nhưng vượt lên trên hết là những con người giàu niềm vui sống và luôn hướng về điều tốt đẹp Chính sự thấu hiểu và cảm thông với từng số phận con người đã khiến cho hai nhà văn đi sâu được vào đời sống nội tâm, giao cảm được với con người qua những niềm vui, nỗi buồn, sự mất mát, khổ đau, hướng người đọc về một niềm tin ở phía trước

2.1.1 Nhân vật cô đơn trên hành trình đi tìm hạnh phúc

Nhân vật trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Quế Hương là những con người

có tâm hồn trong như ngọc với bao khát khao và ước mơ cháy bỏng, nhưng lại ít gặp hồng phúc trong hành trình đi tìm hạnh phúc Họ cô đơn khi đi tìm hạnh phúc cho bản thân trong một biển người mênh mông mà nhìn đâu cũng thấy xa lạ, khoảng cách; họ càng khát khao hạnh phúc bao nhiêu thì thực tại cuộc đời lại càng đau đớn, bất hạnh bấy nhiêu Phần lớn các nhân vật cô đơn ấy đều là phụ nữ Đó là

Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng, là Ng trong Thị trấn hoa quỳ vàng, là Quyên trong Cánh cửa thứ chín, là Trúc trong Chị Hai ơi,… (Trần Thùy Mai); đó là Mưa

Trang 30

trong Trần Gian có mƣa, là chị Thời trong Chiếc là hình giọt lệ, chị Ái trong Họ

và Lão,… (Quế Hương) Cá biệt mới có trường hợp ngoại lệ như lão Tầm Xuân trong Câu hát tìm nhau Với kiểu nhân vật này, cả Trần Thùy Mai và Quế Hương

đều rất ít khi chú ý miêu tả ngoại hình nhân vật, mà nếu có thì các nhân vật đều được phác họa một cách chung chung là những người phụ nữ đẹp, hay ít ra là có duyên Những trường hợp khác, việc miêu tả ngoại hình đều nhằm hướng đến vẻ đẹp bên trong tâm hồn của nhân vật Đây là cách ông giới thiệu về Hạnh trong

truyện Trăng nơi đáy giếng: “Mỗi sáng, người trong xóm đều thấy cô Hạnh xách

tô ra đầu ngõ mua bún cho chồng Những hôm mưa lâm thâm, cái dáng gầy của cô

co ro, tay cô cầm chiếc nón cố che cho kín tô bún, chứ chẳng nhớ che đầu” [43, tr

93] Cái dáng gầy, co ro đó chỉ nhằm bộc lộ sự tận tụy, lo toan của người phụ nữ Huế khi họ đã dành tất cả tình yêu, sự tôn kính cho đức lang quân của mình Cả hai nhà văn đều tập trung vào hành trình bên trong đầy nhọc nhằn của nhân vật Trước tiên, đó là hành trình cô đơn đi tìm hạnh phúc đời thường; càng khát khao hạnh phúc cuộc đời, họ càng nặng trĩu cảm giác cô đơn Hiệu ứng của những dòng tâm trạng bên trong ấy kết thành chất trữ tình trong tác phẩm hơn là chất tự sự thuần túy

Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng đúng ra là người được hưởng hạnh phúc bởi

trong cô có đầy đủ phẩm chất của một người vợ hiền Cuộc đời Hạnh chỉ biết có ông Phương – chồng cô Người đàn ông này đã là người cô yêu thương, tôn thờ cho

đến nửa đời người và “hơn mười mấy năm, họ đã sống chung nơi căn hộ bé nhỏ

này [43, tr.93] Hạnh chăm sóc cho chồng từng li từng tí bởi vì ông Phương không

phải chỉ là chồng cô mà còn là vị Thánh sống đối với cô Hạnh là người phụ nữ luôn

ý thức được thiên chức của người phụ nữ trong mình, nhưng trớ trêu thay, tạo hóa

chỉ ban cho cô làm vợ, còn cướp đi cái quyền làm mẹ Chỉ vì “muốn anh ấy sung

sướng” và “không chịu nổi vẻ buồn thầm lặng trên khuôn mặt ông” mà Hạnh đã

mất dần tất cả Thế rồi, bi kịch thật sự của đời cô đã đến khi cô nhận ra sự bội bạc, lừa dối của những người thân yêu ngay bên cạnh mình: đó chính là ông Phương – chồng cô, cô Thắm – người mà cô cưới về cho chồng, bà Thu thư kí công đoàn trường Để rồi cuối cùng không ai khác, Hạnh là người phải gánh lấy hậu quả của

Trang 31

lòng dối trá, thấp hèn của đời người Hạnh phúc đối với cô, cái hạnh phúc bình dị

mà cô hằng khát khao, chỉ là “trăng nơi đáy giếng thấy bóng chẳng thấy hình”

Đó là những người phụ nữ không tên trong Thập tự hoa, Giông mùa xuân;

họ đã từ chối hạnh phúc chỉ vì “Mỗi người đàn ông đều có con thuyền và giấc mơ

của mình, họ đến bến để rồi lại đi, mẹ không muốn ngăn cản những chuyến đi ấy bao giờ” và họ “sợ giữ lại bên mình những cuộc đời bị giam hãm” [44; tr.319] Là

Trúc trong Chị Hai ơi! sống tròn vo như định số dù trong đời đã từng thổn thức,

khát khao để rồi những khát vọng của tình yêu, những khoảnh khắc của hạnh phúc ngọt ngào đó vẫn muôn đời là một huyền thoại, là những kí ức, những hoài niệm của vĩnh cửu

Hạnh phúc đối với họ như chiếc cầu vồng mờ ảo cuối chân trời, như cánh

cửa thứ chín của mỗi đời người, đầy hứa hẹn nhưng không thể mở ra Hạnh phúc là

cái gì như sờ mó được, lại vừa xa xôi, hư ảo, cứ chấp chới phía trước Trong Cánh cửa thứ chín, Quyên mặc dù biết sau cánh cửa thứ chín ấy là một thế giới khác mà

muốn bước sang thế giới ấy thì người ta sẽ “bị cháy”, “bị bỏng” Thế nhưng Quyên lại “chịu cháy”, “chịu bỏng” để được đau đớn, được yêu thương, để được đến chân trời với một tình yêu đích thực vì Quyên không chịu được “sự tẻ nhạt” Song cuối

cùng, nhân vật phải chấp nhận đứng nhìn cánh cửa thứ chín không được mở ra cùng với một thông điệp bỏ ngỏ đầy tính nhân bản của bi kịch khát khao yêu mà không dám yêu của con người Và Quyên đã tự chôn mình cùng với thế giới ấy – một thế

giới sau cánh cửa thứ chín để rồi “tôi đang khóc tôi”

Với tác phẩm Thị trấn hoa quỳ vàng, Trần Thùy Mai đã miêu tả một bi kịch

tình yêu của những con người khao khát muốn thoát ra cái hữu hạn của cuộc sống

để vươn đến một tình yêu vĩnh cửu Cái vĩnh cửu nằm trong sự tuyệt đối của tình yêu, một tình yêu thuộc về thế giới ảo, chỉ để tôn thờ, ngưỡng vọng Trong mười năm trời, năm nào Ng và người đàn ông cô yêu cũng gặp nhau vào ngày tháng ấy:

“Chỉ một đêm thôi họ đã sống cho đủ 365 ngày, và chẳng bao giờ dám ở lại lâu hơn, bởi vì cũng như tất cả những kẻ không đầy đủ trên đời, họ cảm nhận hạnh phúc như một thử thách chỉ có thể kính cẩn đụng môi đến một lần mỗi kỳ rước lễ”

[44, tr.225] Bộ ba định mệnh “anh, em và Hướng Dương” không còn nguyên vẹn

Trang 32

và những cuộc phiêu lưu tình yêu của họ bây giờ chỉ còn là những kí ức chập chờn

ẩn hiện với lời hẹn ước năm nào, với những khát vọng không bờ bến, muốn vươn

đến một cái gì bên ngoài cuộc sống nhưng lại bị “ám ảnh bởi lời bà tiên dặn cô Lọ

Lem không được vui quá nửa đêm” [44, tr.227] Thật bi kịch khi biết rằng “cuộc đời hai người luôn luôn có hai thực tại, một thực tại mỗi ngày, tầm thường, bất lực, đắng cay và thực tại trong khát vọng, huy hoàng, rực rỡ, không bến bờ” [44, tr

225] Và “cả hai đều muốn vươn tới một cái gì đó bên ngoài cuộc sống đầy giới

hạn này” [44, tr.225] nhưng đó chỉ còn là huyền thoại của một tình yêu trong kí ức

của Ng

Người phụ nữ trong văn Quế Hương chẳng mấy khi được tận hưởng hạnh

phúc Quế Hương nói: “Thượng đế cho người đàn bà đến ba đôi mắt! Đôi đằng

trước, đôi đằng sau, đôi trong tâm hồn để nhìn, cảm nhận và thấu suốt Thượng đế cho họ quá nhiều nhạy cảm nhưng lại giao kèo bằng đức hi sinh và sự yếu mềm”

(Trần gian có mƣa) Có lẽ vì tin như vậy mà nhân vật nữ trong truyện của chị luôn

luôn lặng lẽ sống, lặng lẽ buồn Người ta đau đáu một tình yêu trong tim và lời yêu

chỉ vỡ òa thành tiếng “Mưa ơi” khắc khoải khi người ta khóc thương cho một đời nằm xuống vì trần gian có mưa Cả đời người phụ nữ tên Mưa ấy “ướt sủng” vì

hoài nhớ một kỉ niệm đã xa Chị Thời yêu mà không biết mình đang cặm cụi cắt tỉa

một đời những Chiếc lá hình giọt lệ Chị Ái “nhọc nhằn lắm mới có ngày hôm

nay”, thế mà định mệnh lại cướp đi hạnh phúc của chị (Họ và Lão) Là biển người

mênh mông, thời gian như lớp bụi mờ, lão Tầm Xuân vẫn đau đáu đi tìm nửa câu

quan họ cắt đôi chia lìa ngày trước (Câu hát tìm nhau)… Mỗi nhân vật một số

phận, họ khắc khoải tìm cho mình một con đường đến bến bờ hạnh phúc nhưng mỗi ngày sống là một ngày buồn và những ngày sống là những vòng quay buồn

Chính vì vậy, để níu giữ hạnh phúc mỏng manh, con người thường tìm đến cái chết Có khi là cái chết tâm hồn Đó là Lan – người thiếu nữ đem lòng yêu chú tiểu

Minh, cô xem mối tình này là “sự sinh tử đời mình” Sau hơn bốn trăm ngày đợi chờ không thành, cô đã quyết định đi lấy chồng nhưng với cô “lấy một người mình

không thương, đến một nơi xa lạ thì với em còn khổ hơn là chết” [44, tr.75] Hay

Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng, người đàn bà chịu đến tận cùng của bất hạnh, đã

Trang 33

tìm đến cõi tâm linh, vì cô không muốn sống với đời sống thực nữa Hạnh đã mất hết lòng tin ở con người trước những dối trá và chỉ có thế giới tâm linh mới ở lại với

cô và đem lại hạnh phúc cho cô mãi mãi Kyoko trong Một mình ở Tokyo - luôn là

sự giằng xé giữa khát khao được yêu thương, được chở che, được san sẻ và ý thức

trách nhiệm, mong muốn được giải tỏa những dồn nén, được “tháo cũi sổ lồng”

Nhưng nỗi khát khao, niềm mong muốn đã không thắng được ý thức trách nhiệm,

Kyoko không thể mở “cánh cửa thứ 9” của đời mình… Có khi là cái chết của thân xác trần tục để linh hồn được sống: “Trái tim héo hắt của Vãi Thông đã ngừng đập

vào đúng lúc người đàn bà ấy nhận ra, không có nỗi ám ảnh quá khứ thì cuộc đời

bà chẳng còn gì để sống” [45, tr.188-189] Với Hơ Thuyền, cô đã chọn cái chết cho

một tình yêu đích thực: “Hôm sau nó thắt cổ trên đỉnh cao nhất Khi chết, mắt nó

cứ mở, nhìn về phía Quy Nhơn” [44, tr.206-207], cô đem vào thế giới thiên thu với

một tình yêu bất tử trong đôi mắt mà “chỉ có thần linh mới lột tả được trong đôi

mắt kia tình yêu dữ dội của nàng, con mắt trần gian của tôi đã không nhìn thấy”

[44, tr.206] Có cái chết đau đớn, có cái chết vì quá hạnh phúc Đó phải chăng chính

là lòng cảm thông sâu sắc với thân phận con người của nhà văn gửi gắm trong đó cũng như giá trị thanh lọc tâm hồn do nó gợi ra?

Dễ thấy một điều lặp đi lặp lại trong truyện ngắn Trần Thùy Mai, Quế Hương,

đó là sự cô đơn thăm thẳm của những nhân vật nhiều khao khát trên hành trình đi tìm hạnh phúc Phải chăng vì thế mà đa phần nhân vật của hai nhà văn đều bất hạnh hoặc một – nửa – hạnh – phúc Con đường tìm đến hạnh phúc của họ chính vì thế

chỉ là “hành trình đi tìm hạnh phúc ảo ảnh” [31] Với họ, “vẫn biết chân trời là nơi

không đến được nhưng dù sao tôi cũng có một chân trời” [44, tr.263] Số phận của

họ, tình yêu của họ đã là một bài thơ trữ tình với nhiều dư ba

2.1.2 Nhân vật buồn - đau trong bi kịch cuộc sống

Các cây bút nữ dường như nhạy cảm hơn với thân phận con người, bởi chính

họ mang những “bi kịch” của đời Tuy nhiên, một số cây bút chỉ mới “chạm” đến

bi kịch mà chưa “lột” được bản chất của nó Là hai cây bút nữ giàu trải nghiệm, có

độ chín về trải nghiệm cuộc đời và nghệ thuật nên Trần Thùy Mai và Quế Hương đã thể hiện rất thành công tấn bi kịch của những thân phận con người Một điểm gặp

Trang 34

nhau giữa truyện ngắn của Trần Thùy Mai và Quế Hương là: cả hai nhà văn đều không chú trọng tạo ra những tình huống xung đột bên ngoài mà tập trung xoáy sâu vào những cơn bão tố trong chính nội tâm nhân vật Bên cạnh hành trình cô đơn như đã nói ở trên, hai nhà văn đều hướng đến việc mô tả, sẻ chia đồng thời cũng đi tìm câu trả lời cho bi kịch của những người cùng giới Họ bị dối lừa một cách phũ phàng, khi ngộ ra, họ đau đớn, nhưng họ chấp nhận và rồi tha thứ tất cả Phải chăng lòng độ lượng và bao dung của người phụ nữ là ưu điểm và cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những bi kịch của họ? Do vậy, hai nhà văn nữ đã để lại nhiều dấu ấn riêng: vừa nhức nhối lại vừa dịu dàng, đậm chất nữ tính khi xây dựng và miêu tả những bi kịch của con người Ngòi bút của Trần Thùy Mai, Quế Hương đã xuyên qua đời sống nội tâm, giao cảm được với con người ở những niềm vui, nỗi buồn, sự mất mát, khổ đau,… Mỗi người mang một bi kịch khác nhau, nhưng như đúng bản chất của khái niệm bi kịch, cuộc đời đau khổ của nhân vật nào cũng ánh lên những tia sáng hết

sức nhân văn: bi kịch của Na trong Người bán linh hồn, của Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng, của Ng trong Thị trấn hoa quỳ vàng, của Quyên trong Cánh cửa thứ chín, của Trang trong Khói trên sông Hương, của Chị trong Thập tự hoa, của Kha và Naoko trong Chiếc phong linh, của Akiko – cô gái Phù Tang - trong Thuốc ba màu, … (Trần Thùy Mai); đó còn là bi kịch của Mưa trong Trần Gian

có mưa, của chị Thời trong Chiếc là hình giọt lệ, chị Ái trong Họ và Lão, … (Quế

Hương)

Bi kịch trước tiên thuộc về những con người phải gánh chịu nhiều bất hạnh, đau khổ trong tình yêu, bi kịch ấy phần lớn thuộc về người phụ nữ Bi kịch của những con người khao khát muốn thoát ra cái hữu hạn của cuộc sống để vươn đến

một tình yêu vĩnh cửu Với tác phẩm Thị trấn hoa quỳ vàng, Trần Thùy Mai đã

thành công trong cách xây dựng kiểu thời gian, không gian hiện thực pha màu huyền thoại với những hồi tưởng và những giấc mơ Họ đã đắm mình trong hạnh

phúc với “khúc hát địa đàng lần đầu tiên và mãi mãi”, “khúc nhạc ấy hoài vang

vọng trong kí ức rất riêng của hai người” đã trở thành “tiếng gọi tỉ tê, lặng lẽ, đau đớn, không ngừng thôi thúc họ đạp lên nhưng vòng gai để quay trở lại” [44, tr.221]

Thế nhưng đến “mặt trời cũng không vĩnh cửu”, với sự thay đổi của thị trấn bên bờ

Trang 35

biển thì tình yêu cũng xa dần Đó là những khoảnh khắc tình yêu ngọt ngào nhưng chỉ là một thế giới ảo mà cuộc đời hạn hữu không bao giờ chạm đến được

Đó là Hạnh trong Trăng nơi đáy giếng Bất hạnh đã lấy đi hết của cô từ người

chồng, mà cô hết mực yêu thương và tôn kính, đến cu Nhứt, đứa con riêng của chồng

mà cô yêu thương như con đẻ, và con chó cũng bỏ cô mà đi Hạnh hình như không

còn nơi bấu víu cho mình khi chứng kiến cảnh vị Thánh của lòng cô “đang lúi húi

giặt một đống áo quần đủ loại, đánh đánh chà chà trên sân xi măng”, “bọt trắng xà phòng bay, bay tới tấp, nhấn chìm tôi, tức tưởi, mê man” [43, tr.103-104] Hạnh tìm

đến cõi Phật; ông Hoàng Bảy – trấn thủ tỉnh Thừa Thiên, và thằng Cu – một đứa con

trai ở cõi vô hình Cuộc sống của Hạnh giờ đây chỉ là một cõi mơ màng, “vẻ mơ

màng thường thấy trên gương mặt những người lãng trí” [43, tr.105] Với Hạnh “tôi không bỏ ông Hoàng, vì ông ấy đỡ đần tôi khi thập tử nhất sinh, ông ấy không bỏ tôi, không ruồng rẫy tôi bao giờ…” [43, tr.106] Đó là những lời bộc bạch tâm sự từ đáy

lòng của một kẻ cô đơn, đáng được cảm thông và chia sẻ

Trong tình yêu, người phải gánh chịu những bất hạnh và đau khổ không ai khác chính là những phụ nữ yếu đuối Bởi càng nhạy cảm bao nhiêu thì phụ nữ lại càng dễ bị tổn thương bấy nhiêu trước sự dối trá, đớn hèn của cuộc sống Na trong

Người bán linh hồn, một người phụ nữ yêu hết mình; nàng là người yêu, người

bạn, người phục vụ, người bảo vệ và là người mẫu thường xuyên cho chàng vẽ Cô xem Tuấn, người yêu cô, như là một thần tượng, một thiên tài vì Tuấn là sinh viên nổi trội nhất và một ngày kia anh sẽ là một họa sĩ vĩ đại Cô sẵn sàng hi sinh gánh lấy cái phần tục lụy của nghệ thuật, lao vào một cuộc mặc cả nhục nhã trong cuộc bán mình để có tiền trả phòng trọ, để bức tranh của Tuấn có cơ hội được triển lãm tại Gallery Kình Dương Đau đớn thay, người đàn ông mà cô tôn thờ và hi sinh tất

cả để giữ gìn, bảo vệ cho tâm hồn ấy không bị tổn thương, bận bịu với những lo toan đời thường để chuyên tâm sáng tác đã cam tâm bán cả linh hồn cho quỷ Tuấn – người họa sĩ tài hoa, vì ánh hào quang của danh vọng, trước cơ hội tiến thân đã

không kìm chế được lòng mình, đã biến tác phẩm mà “bất cứ ai đứng trước bức

tranh cũng bồi hồi xúc động” [44, tr.185] thành “dị dạng vô hồn, trông giống như một thứ côn trùng đang biến thái dở dang” [44, tr.199] Thế nhưng, người đời vẫn

Trang 36

“tấm tắc khen ngợi nó, một số nhà phê bình hội họa còn phát hiện ra nơi đây một bút pháp mới đầy sáng tạo, pha trộn giữa hư và thực” [44, tr.199] Na đã thắp nén

nhang cho người bội bạc lại tình yêu và nghệ thuật để chạy theo danh vọng, tiền tài

hư vô ở chốn xa hoa Và cô ra đi, “nơi khoảng trống mà bức tranh để lại, Na đã đặt

một cái bàn nhỏ, trên bàn là bức chân dung của anh mà trước đây nàng đã vẽ: Một

bộ mặt thô thiển, nông cạn và chẳng có tí linh hồn”[44, tr.199] Người đàn bà đã

bán thân xác để cứu rỗi một linh hồn, một tài năng; còn người đàn ông lại bán linh

hồn cho quỷ sứ để đổi lấy danh vọng, tiền tài Đó chẳng phải là một “bi kịch”, một

nỗi ngang trái của cuộc đời này?

Người phụ nữ trong Thập tự hoa đã đóng đinh đời mình vào dĩ vãng Chị

nghĩ “mỗi đời người đều có một cây thập tự phải mang” [44, tr.317] Chị sống với

dĩ vãng của chị là bé Mi – kết quả của một tình yêu đầy kỉ niệm và một bó hoa khô còn sót lại từ quá khứ Đây là bó hoa mà người đàn ông đã mang đến cho chị vào

ngày sinh nhật thứ 26 Bây giờ “những chiếc lá xốp cứng, còn hoa thì giòn và khô

như những phiến đá mỏng” [44, tr.316], nhưng “trong những cánh hoa đã chết vẫn còn dư âm của hơi thở, những lời thì thầm và cát” [44, tr.318] Với chị, tất cả chỉ là

một giấc mơ hoang tưởng, chị không còn niềm tin vào những cuộc phiêu lưu mới bởi vì có lẽ màu nâu khô dĩ vãng của bó hoa tuổi 26 và tình yêu của người đàn ông

“đã đặt cả vũ trụ vào lòng nàng rồi ra đi” [44, tr.318], đã đóng đinh cuộc đời chị

và cây thập tự mà chính chị đã dựng nên

Trong Khói trên sông Hương, Trang từ chối Tung, rời bỏ Hoành, vì cô đã

dành trọn tình yêu của mình cho nghệ thuật, vì cô “không thể tin chắc chắn vào bất

cứ điều gì, trừ những bài ca” [43, tr.75] và Trang tin số phận của cô “là ở đây để giữ lấy dĩ vãng” [43, tr.76] Cuộc đời con người xét đến cùng là một bi kịch, bởi ở

đó luôn có sự giới hạn khắt khe giữa cái thường tình dung tục với cái đẹp của những khát vọng vô bờ Nhưng rồi liệu cô có hoàn toàn hạnh phúc hay không khi chỉ giữ bên mình những câu ca vĩnh cửu?

Trần gian có mưa của Quế Hương khắc họa hình ảnh một người đàn bà cam

chịu với cuộc sống ép buộc bên người chồng mà không hề có tình yêu Bà phải dối

lòng mình để sống với bổn phận của một người vợ “bởi mẹ đã đóng đinh số phận

Trang 37

vào ngôi nhà này, gia đình này” Một người đàn bà mà mọi suy nghĩ, hành động, sự

tồn tại đều hướng về tâm điểm chồng con, để rồi nửa đêm tỉnh giấc, tóc đứa con lại ướt đẫm vì nước mắt của người mẹ Những tâm tư, những suy nghĩ đành chôn sâu, giấu kín trong tận đáy lòng, tạo nên những khoảng lặng trong cuộc sống mà đôi khi

đi bên nhau suốt cuộc đời người chồng cũng không bao giờ có thể hiểu được Ngày tháng trôi đi đối với bà là những ngày buồn, tối tăm mặt mũi vì cuộc sống đầy rẫy những lo toan Cuộc sống với họ vẫn mãi là những cuộc chiến không cân sức, nó in hằn trên khuôn mặt và cả trong trái tim người đàn bà khốn khổ ấy vô số những dấu vết của sự đè nén và cam chịu

Nếu ai đã đọc Chiếc lá hình giọt lệ hẳn sẽ không quên được hình ảnh người

con gái đảm đang, tỉ mỉ làm những lọ mứt Tết, đó là chị Thời với mái tóc nhung dài buộc chiếc nơ đen Chị trao trọn lòng yêu thương cho chú Tâm, người láng giềng thân thiết, người đã đem lòng yêu thương người khác và giờ đây đang gàn dở vì bệnh thất tình Chính chị đã cùng mẹ lên chùa Linh Mụ để giải bùa cho chú khỏi nỗi khổ đau vì tình để rồi chính chị cũng ngấm dần nỗi đau đó Chị đã dõi theo từng

bước đi của người mình yêu để rồi chịu nỗi đau lặng câm không hề lên tiếng: “Dưới

ánh sáng kì diệu của tình yêu mãnh liệt mà câm nín ấy trông chị đẹp lạ lùng… Tôi quay lại nhìn chị Thời như cố khắc ghi thoáng hạnh phúc mong manh rờ rỡ trên

mặt chị trước khi nó lịm tắt” (Chiếc lá hình giọt lệ) Người mình thương yêu đi lấy

vợ mà chị vẫn nhẫn nại, tỉ mỉ ngồi gọt những chiếc lá – chị đâu hay rằng những chiếc lá cũng giống như nỗi buồn câm lặng của chị, chúng mang hình giọt lệ

Nỗi buồn – đau của con người còn bị giăng lưới trong bi kịch giữa khát vọng và hiện thực Các nhân vật dường như ý thức được những giới hạn khắt khe của hiện thực nghiệt ngã, của cái đời thường dung tục với cái cao đẹp của những khát khao

Đó là Kha và Naoko trong truyện ngắn Chiếc phong linh, câu chuyện như

một huyền thoại Tác giả miêu tả đôi tình nhân với một tình yêu định mệnh Họ không thể tránh khỏi bi kịch định mệnh – một cuộc hội ngộ trong khoảnh khắc yêu thương mà nghìn thu li biệt Cuộc tình của họ bị cuốn vào những huyền ảo của cuộc

sống, những bí ẩn của linh hồn Naoko Kha – người đàn ông “không thích nói đến

những chuyện không chắc có thật” [44, tr.138] và luôn “mong mình sẽ gặp lại nhau

Trang 38

bằng xương, bằng thịt, để yêu nhau không phải chỉ bằng linh hồn mà thôi” [44,

tr.139-140] đã phải bật khóc khi biết “Naoko của tôi đã chết” [44, tr.142] Naoko ra

đi để lại cho Kha với chiếc phong linh mang những âm thanh trầm bổng như tiếng chuông ngân, văng vẳng, xôn xao kì lạ Naoko trở thành người thiên cổ nhưng tình

yêu của cô vẫn ở lại với Kha: “Nàng đã giữ lời hứa với tôi, nàng đã quay về Nàng

đã quay về để báo cho tôi biết linh hồn bé bỏng của nàng đang cùng ngọn gió biển ngao du trên những nóc nhà của phố Hội” [44, tr.142]

Akiko – cô gái Phù Tang - trong Thuốc ba màu, khoảng hai mươi tuổi “tin

vào sự linh cảm của mình về một tình yêu định mệnh” đã đem lại cho Vũ – một họa

sĩ tài năng nhưng cô đơn cảm giác mới lạ của tình yêu Akiko yêu anh với một tình yêu mãnh liệt say đắm của cô thiếu nữ tuổi đôi mươi, đó là tình yêu với những gam

màu “ấm áp và rạng ngời Thế giới của hoa, chim, thiếu nữ, lộc non, và sương mùa

thu” [43, tr.36] Thế nhưng cuộc sống không viên mãn như ý ta mong muốn, bởi vì

“tất cả chúng ta đều giống nhau ở chỗ có một hoàn cảnh không thể vượt qua Ở chỗ khát vọng thì vô bờ mà thực tế luôn giới hạn” [43, tr.42] Với Vũ, hôn nhân là một

hạnh phúc quá lớn, vì Vũ biết: “những gì trong tranh, trong mơ, ở giữa tôi và nàng

đều thuộc về thế giới khác, không bến bờ, thế giới của thần linh Và thần linh là để cách xa và tôn thờ, không thể chạm tay vào, chạm vào một phút thôi tất cả sẽ tan biến thành hư vô” [43, tr.42] Để rồi Akiko phải ra đi với lời vĩnh biệt, nàng mang

theo một hoài niệm về tình yêu “ngày nào còn sống em còn nhớ, ngày nào còn sống

em không bao giờ quên” [43, tr.47] Còn Vũ chạy trốn tình yêu nhưng lại sống

trong sự chờ đợi, “dù chỉ một lần thôi, xin em hãy quay về! Hãy bay về cùng tôi từ

xứ sở của ngàn cánh hạc!” [43, tr.47], để được sống “cùng em những gam màu huyền thoại” [43, tr.47] dù chỉ trong khoảnh khắc Tình yêu của họ, chuyện tình của

họ đẹp, bay bỗng lãng mạn trong những day trở của chia cắt Chính tình yêu ấy đã

là một bài thơ trữ tình buồn để lại nhiều dư ba trong lòng người đọc

Trong truyện ngắn của Trần Thùy Mai và Quế Hương có nhiều nhân vật, nhiều tình yêu mang dáng dấp một bài thơ trữ tình buồn như thế Nhân vật trong

Thương nhớ Hoàng Lan của Trần Thùy Mai luôn gằng xé giữa cõi đời và cõi đạo

Cha Minh vốn là một chú tiểu thông minh, học giỏi được cử làm giáo sư ở một

Trang 39

trường tư thục của Giáo hội, nhưng cha của Minh không có duyên với nghiệp tu bởi

ông bị vướng vào duyên đời khi ông gặp một “cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt

hút hồn, đôi môi đầy đam mê…” “Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy” [44,

tr.67] Ông rời chùa để “cứu một sinh linh, sao lại khước từ” [44, tr.67] Trở về với đời nhưng “ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều” vì “đã không bỏ

đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời” [44, tr.67-68] Và “tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương?” [44, tr.68] Làm sao ông có thể đắc đạo khi

ông còn duyên nợ với cõi đời và Minh vẫn không “vô vi” được với đời, mâu thuẫn

trong tư tưởng của Minh là một minh chứng cho sự day dứt giữa cõi đạo và cõi đời,

“tu núi thì dễ, tu giữa chợ mới là khó Không ở giữa đời làm sao hiểu đời đục mà tránh?” [44, tr 69] Minh chưa ngộ ra được một điều, đó là “đời không đục, không trong” [44, tr.69], mà trong hay đục đều ở cái tâm của mình, phải giữ được cho tâm

của mình trong sáng đó mới là chân tu Minh đã đi trọn con đường mình đã chọn

bằng cách dựa vào hương hoàng lan để đi tiếp con đường nghiệp dĩ: “Tôi tưới cây

bằng nước giếng chùa Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian Tôi cầm lòng thôi thương thôi nhớ!”[44, tr.75] Con người luôn dằn vặt và đau đớn vì mặc cảm tội lỗi

quá khứ luôn đeo đẳng, ám ảnh Trong dòng chảy ý thức đó, nhân vật có cơ hội để

“tự ý thức” về mình để tiến tới sự hoàn thiện của mỗi cá nhân

Trong tác phẩm Trò chơi cấm, ông Thanh tạo bữa tiệc mừng sinh nhật lần thứ

bảy mươi với bản nhạc Trò chơi cấm mà người khách lạ đem đến Thứ giai điệu kì

lạ mà “ông Thanh tưởng mình nghe tiếng mưa Mưa mùa thu, dìu dặt và nhẹ nhàng”

[44, tr.387] đã đẩy ông về với một vùng kí ức tưởng đã ngủ yên trong ông từ lâu Bản nhạc đó đã giúp ông nhớ về kỉ niệm ở một thành phố cao nguyên đẹp mà buồn với mối tình mà với ông như một trò chơi của thần tiên gắn với định mệnh người

thiếu phụ Huế Nhưng “con người thật kì lạ luôn muốn phiêu lưu nhưng không dám

vượt ra khỏi những rào cản của cuộc sống bầy đàn”, và ông đã bỏ ra đi trước “để khỏi bị nàng bỏ lại” [44, tr.388] Để rồi mười tám năm sau, ông bẽ bàng nhận ra

Trang 40

gương mặt đẹp của người tình năm xưa qua gương mặt của một người con gái có

“đôi mắt của ông, giống ông hơn tất cả những đứa con ông đã có” [44, tr.389]

Ông Thanh mới nhận ra rằng “đã đến lúc ông phải quay về” nơi ngôi nhà nhỏ

“ngậm ngùi dưới những cơn mưa mù sương Đó vốn là nơi trở về của ông”: “Ông

còn phải sống, sống rất dài lâu, vì ông chưa hết nợ với thế gian này” [44, tr.391]

Đằng sau những con chữ, những trang viết, những số phận nhân vật là một thế giới tâm hồn sâu kín với bao giằng xé đầy bi kịch và mỗi bi kịch đều thể hiện được những chiều sâu khác nhau trong cách nhìn nhận, đánh giá con người, cuộc đời Nhân vật chính trong các truyện ngắn của hai nhà văn chủ yếu là các nhân vật

nữ Các nhân vật nữ dù có cuộc sống và số phận khác nhau nhưng đều ánh lên vẻ đẹp của thiên tính nữ, một vẻ đẹp mà bản thân nó đã giàu chất trữ tình, giàu chất thơ Những người phụ nữ ấy luôn đi đến cùng với bản ngã của chính mình, mặc dù rồi họ phải trả giá cho chính những điều mà họ lựa chọn Thế nhưng họ không nuối tiếc hay hối hận Họ yêu hết mình, sống hết mình và hy sinh hết mình cho cái họ đã lựa chọn Chính những tâm hồn ấy đã là một giai điệu đẹp có khả năng tưới mát cho cuộc sống hôm nay vốn còn nhiều khô khốc, cỗi cằn

2.1.3 Nhân vật giàu niềm vui sống, luôn hướng về điều tốt đẹp

Sự thấu hiểu và cảm thông với từng số phận con người đã khiến cho Trần Thùy Mai, Quế Hương đi sâu vào đời sống nội tâm, giao cảm được với con người qua những niềm vui, nỗi buồn, sự mất mát, khổ đau Nhân vật trong mỗi trang văn

là những số phận bất hạnh, đau khổ, chịu nhiều mất mát, thiệt thòi nhưng vượt lên tất cả đó là những con người luôn giàu niềm vui sống, luôn hướng về điều tốt đẹp Tình yêu trong truyện ngắn của hai nữ tác giả là sự trăn trở của những đau khổ, giữa sự thật tàn nhẫn của phản trắc, của lãng quên… nhưng vẫn nuôi hi vọng

vô bờ Tình yêu không chỉ là một thứ tình cảm đặc biệt mà còn là lý do để sống Tình yêu như ngôi sao xanh trên bầu trời, như những bóng cây làm dịu mát những tâm hồn đang nhức nhối bởi những vết thương lòng và cho họ niềm tin vào tình người, vào cái thiện, vào hạnh phúc của tình yêu Ở phương diện này, có thể thấy, nhân vật của truyện ngắn Trần Thùy Mai và Quế Hương dù có đau khổ, bất hạnh,

dù có mang nặng bi kịch tình yêu, bi kịch cuộc đời, hay dù cuộc sống còn nhiều cay

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w