1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xu hướng nghề sư phạm của học sinh, sinh viên ngành mầm non trường cao đẳng bình định

120 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 6,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù công tác hướng nghiệp và định hướng nghề đã được triểnkhai nhằm giúp cho học sinh lựa chọn nghề phù hợp với phẩm chất và năng lực củabản thân nhưng hoạt động này vẫn còn chưa đạt

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ HỒNG PHÚ

XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN NGÀNH MẦM NON

TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÌNH ĐỊNH

Chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN VĂN BẮC

Thừa Thiên Huế, năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêngtôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trungthực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Phạm Thị Hồng Phú

Trang 3

Qua đây, tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy, côgiáo, các em học sinh sinh viên ngành mầm non Khoa Sư phạm trường Cao đẳngBình Định đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trìnhnghiên cứu.

Dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót, vìthế, tác giả rất mong nhận được sự góp ý từ quý nhà khoa học, quý thầy, cô giáo

Tác giả

Phạm Thị Hồng Phú

Trang 4

MỤC LỤC Trang ph bìa ụ bìa i Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Giả thuyết khoa học 10

6 Phương pháp nghiên cứu10

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 11

8 Phạm vi nghiên cứu 11

9 Cấu trúc của luận văn 11

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN 12

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 12

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 12

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 14

1.2 Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan 16

1.2.1 Xu hướng 16

1.2.2 Nghề nghiệp 23

1.3 Xu hướng nghề sư phạm của sinh viên 30

1.3.1 Đặc điểm tâm lý, nhân cách của sinh viên có liên quan tới xu hướng nghề

30

Trang 5

1.3.2 Khái niệm xu hướng nghề sư phạm của sinh viên33

1.3.3 Biểu hiện của xu hướng nghề ở sinh viên 36

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới xu hướng nghề sư phạm 39

1.4.1 Yếu tố khách quan 40

1.4.2 Yếu tố chủ quan 42

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45

2.1 Vài nét về khách thể và địa bàn nghiên cứu 45

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 45

2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 46

2.2 Tổ chức nghiên cứu 47

2.2.1.Giai đoạn nghiên cứu lý luận 47

2.2.2 Giai đoạn nghiên cứu thực trạng 47

2.2.3 Giai đoạn thực nghiệm 47

2.3 Phương pháp nghiên cứu 48

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 48

2.3.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 53

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN MẦM NON TRƯỜNG CAO ĐẲNG BÌNH ĐỊNH

54

3.1 Lý do chọn nghề sư phạm của HSSV mầm non 54

3.2 Đánh giá về mức độ yêu thích nghề sư phạm của HSSV mầm non 603.3 Mức độ xu hướng với nghề sư phạm của HSSV mầm non 64

3.3.1 Mức độ xu hướng nghề sư phạm qua trắc nghiệm 64

3.3.2 Mức độ xu hướng nghề sư phạm qua bảng khảo sát 67

3.4 Các yếu tố tác động đến xu hướng nghề sư phạm của HSSV mầm non 853.5 Các biện pháp tác động nâng cao xu hướng nghề sư phạm cho HSSV mầm non

87

3.5.1 Các cơ sở đề xuất giải pháp 87

Trang 8

Bảng 3.6 Mức độ yêu thích nghề sư phạm của HSSV mầm non

Bảng 3.7 Mức độ yêu thích nghề sư phạm của HSSV mầm non

Bảng 3.8 Mức độ xu hướng với nghề sư phạm của HSSV mầm

Bảng 3.10 Xu hướng nghề sư phạm của HSSV mầm non dưới

Bảng 3.11 Nhận thức của HSSV trong học tập, rèn luyện nghề

Bảng 3.12 Nhận thức của HSSV trong học tập, rèn luyện nghề

Bảng 3.13 Nhận thức HSSV trong học tập về nghề sư phạm

Bảng 3.14 Nhu cầu, mong muốn học tập, rèn luyện đối với nghề

Bảng 3.15 Tương quan giữa nhận thức về các mặt hoạt động của

nghề với nhu cầu, mong muốn đối với nghề của

73

Trang 9

HSSV mầm nonBảng 3.16 HSSV mầm non có nhận thức và nhu cầu tích cực

Bảng 3.17 Nhu cầu, mong muốn học tập, rèn luyện nghề

Bảng 3.18 Nhu cầu, mong muốnhọc tập, rèn luyện nghề ởHSSV

Bảng 3.19 Hành động học tập, rèn luyện nghề của HSSV ngành

Bảng 3.20

Hành động học tập, rèn luyện nghề của HSSV mầmnon ngành dưới lát cắt hệ đào tạo dưới lát cắt kết quảhọc tập

Bảng 3.24 Kết quả khảo sát xu hướng nghề của nhóm ĐC và

Bảng 3.25 Kết quả khảo sát xu hướng nghề của nhóm ĐC vànhóm TN sau tiến hành thực nghiệm 91

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Mức độ yêu thích nghề sư phạm của HSSV

Biểu đồ 3.4 Nhu cầu, mong muốn học tập, rèn luyện nghề

ở HSSV mầm non dưới góc độ kết quả học tập 77Biểu đồ: 3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến XHNSP của HSSV

Biểu đồ 3.6 Các mặt biểu hiện của XHNSP của nhóm ĐC

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người không thể tách rời sựhình thành phát triển nhân cách của nghề Để phát triển nhân cách nghề, mỗi ngườiphải trải qua quá trình học tập, rèn luyện lâu dài trong đó yếu tố xu hướng với nghề

có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách nghề Các nghiên cứucho thấy, xu hướng với nghề có quan hệ chặt chẽ với phẩm chất, năng lực nghề củamỗi cá nhân [20] Mặc dù công tác hướng nghiệp và định hướng nghề đã được triểnkhai nhằm giúp cho học sinh lựa chọn nghề phù hợp với phẩm chất và năng lực củabản thân nhưng hoạt động này vẫn còn chưa đạt được kết quả như mong muốn.Ngay cả sinh viên khi đã đỗ vào các trường đại học, cao đẳng nhưng vẫn không cóđược nhận thức và định hướng đúng trong ngành nghề của mình

Nghề sư phạm từ xưa đến nay luôn được đánh giá là nghề cần thiết, quan trọng

và cao quý Nhà giáo dục người Tiệp Khắc - Comenxki đã từng nói: “Dưới ánh mặttrời, không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học” Ông cha ta cũng đã từng răndạy con cháu “Không thầy đố mày làm nên”

Tuy nhiên trước đây, do chế độ ưu đãi đối với người thầy chưa đảm bảo, cuộcsống của người thầy nghèo khó, thanh bần; sự quan tâm chưa thỏa đáng của xã hộicòn tồn tại, sự đánh giá chưa đúng của mọi người về vai trò của người thầy giáo…điều đó đã thực sự tác động không nhỏ tới xu hướng chọn nghề sư phạm của họcsinh Thời gian gần đây một số ngành trước kia khan hiếm thí sinh theo học thì giờtrở nên tăng lên khá nhiều Một trong những ngành đó chính là ngành sư phạm

mầm non.

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên có vịtrí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn lực con người Trong quá trình giáodục con người thì giáo viên giữ vai trò quan trọng nhất Đội ngũ giáo viên là lựclượng cốt cán biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết địnhchất lượng và hiệu quả giáo dục [26] Trong nhà trường, giáo viên là người trực tiếpđưa những nội dung giáo dục đến với trẻ theo từng độ tuổi Phẩm chất đạo đức,trình độ nhận thức, khả năng tư duy sáng tạo của trẻ không chỉ phụ thuộc vào

Trang 12

chương trình và sách giáo khoa, vào môi trường học tập mà còn phụ thuộc nhiềuvào phẩm chất nhân cách, trình độ chuyên môn, năng lực tay nghề của giáo viên.Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị quốc tế “Bàn về giáo dục cho thế kỷXXI” tại Giơnevơ “Muốn có nền giáo dục tốt cần phải có những giáo viên tốt” [8,tr.39] Sự trau dồi về phẩm chất đạo đức, sự thành thạo các kỹ năng sư phạm giúpGVMN đạt được các mục tiêu giáo dục mầm non như điều 22 – Luật giáo dục, 2005quy định: “Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, hình thành yếu tố banđầu về nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1” [8]

Trong bức tranh toàn cảnh về giáo dục mầm non hiện nay, hầu hết nhữngngười GVMN luôn âm thầm cống hiến cho sự nghiệp trồng người, họ không nhữnghết lòng quan tâm, lo lắng chăm sóc cho trẻ mà còn hy sinh thời gian, tình yêu, sứckhỏe cho đàn con thân yêu của mình… họ xứng đáng được mệnh danh là “người mẹthứ 2” của trẻ Bên cạnh đó, có một bộ phận giáo viên tha hóa về nhân cách, họkhông tận tụy, tận tâm với nghề, thậm chí còn đánh đập, nhục mạ, xúc phạm gâytổn thương về thể chất và tinh thần trẻ… Trong thời gian gần đây, đã có không ítnhững vụ bạo hành trẻ mầm non nghiêm trọng liên tiếp xảy ra đã gây phẫn nộ trong

dư luận làm ảnh hưởng đến uy tín, nhân cách của người GVMN nói riêng và nghềgiáo nói chung, làm mất lòng tin của xã hội về giáo dục nước nhà

Mặt khác, đối với SV chuyên ngành Mầm non của Khoa Sư phạm, TrườngCĐBĐ xu hướng với nghề sư phạm, động cơ chọn nghề chủ yếu của các em do cóhoàn cảnh kinh tế gia đình eo hẹp, khi ra trường có thể xin việc làm ngay thậm chíxem ngành này như là nơi trú tạm, chờ cơ hội để kiếm nghề có thu nhập cao hơn

Vì thế các em còn lơ là trong học tập, chưa thấy được tầm quan trọng cũng nhưtrách nhiệm lớn lao của cô giáo mầm non trong công tác giáo dục

Với tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác đào tạo GVMN đáp ứng yêu cầu

nghề nghiệp mà xã hội yêu cầu, tác giả chọn đề tài “Xu hướng nghề sư phạm của

học sinh, sinh viên ngành Mầm non Trường Cao đẳng Bình Định” làm luận văn

thạc sĩ của mình với mong muốn tìm ra một số biện pháp tác động nhằm nâng caoXHNSP cho SV ngành mầm non và qua đó góp phần nâng chất lượng đào tạo SV

sư phạm của nhà trường

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng XHNSP của SV ngành Mầm nonTrường Cao đẳng Bình Định và từ đó đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nângcao XHNSP ở SV ngành mầm non

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu XHNSP của SV ngành Mầm non Trường Cao đẳng Bình Định

3.2 Khách thể nghiên cứu

Khách thể khảo sát thực trạng gồm 300 SV (120 SV năm 1, SV 120 năm 2, 60

SV năm 3) hệ chính quy ngành Mầm non thuộc Khoa Sư phạm Trường Cao đẳngBình Định

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của XHNSP của SV mầm non

4.2 Nghiên cứu thực trạng XHNSP của SV Mầm non Khoa Sư phạm, TrườngCao đẳng Bình Định

4.3 Đề xuất biện pháp và tiến hành thực nghiệm một số biện pháp tác động nâng cao XHNSP của SV ngành Mầm non Trường Cao đẳng Bình Định

5 Giả thuyết khoa học

SV ngành Mầm non Khoa Sư phạm Trường Cao đẳng Bình Định bước đầu

đã có XHNSP tuy nhiên do tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nênXHNSP chưa cao do vậy nó ảnh hưởng tới kết quả học tập và chất lượng đào tạocủa nhà trường và nếu có biện pháp tác động khoa học thì sẽ nâng cao XHNSP cho

SV đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường

6 Phương pháp nghiên cứu

Để luận văn đảm bảo kết quả khách quan, khoa học tác giả lựa chọn các nhómphương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nhằm xây dựng cơ sở lý luận

của luận văn

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6 2.1 Phương pháp quan sát

Trang 14

6 2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (anket)

6.2.3 Phương pháp trắc nghiệm

6.2.4 Phương pháp chuyên gia

6.2.5 Phương pháp phỏng vấn

6.2.6 Phương pháp thực nghiệm tác động

6.2.7 Phương pháp thống kê toán học

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 Luận văn tiếp cận các quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học về XHN

và qua đó góp phần làm phong phú thêm lý luận tâm lý học về XHN, XHNSP của

9 Cấu trúc của luận văn

Luận văn có cấu trúc 3 phần và 3 chương:

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận về xu hướng nghề sư phạm của sinh viên

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu xu hướng nghề sư phạm của học sinh, sinh

viên mầm non Trường Cao Đẳng Bình Định

Phần kết luận và kiến nghị

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XU HƯỚNG NGHỀ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

Xu hướng nghề nghiệp là một vấn đề rộng và có ý nghĩa lớn về lý luận vàthực tiễn Vấn đề này đã được nghiên cứu khá nhiều trên thế giới, đặc biệt ở Liên

Xô cũ vào những năm 60, 70 của thế kỷ XX tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu lạixem xét XHN ở một góc độ khác nhau Khi nghiên cứu về XHN, các nhà tâm lý học

đã đi theo nhiều hướng nhằm giải quyết các vấn đề lớn sau: nhận thức về nghề,hứng thú nghề nghiệp; dự định nghề nghiệp; động cơ lựa chọn nghề nghiệp

Nghiên cứu về nhận thức nghề nghiệp có các tác giả như: I.S.Côn, V.VTêbưsêva Trong đó, I.S Côn cho rằng: Thanh niên hãy còn biết rất ít cả nhữngthuộc tính thực tế của những nghề hấp dẫn họ và cả những yêu cầu mà các nghề đó

đề ra cho người lao động, lẫn những khả năng tiềm tàng của bản thân mình [31, tr.42].Các tác giả V.N Supkin, V.P Gribanov, X.N Trixtaicôva, N.N Dakhacos, M VGiuvanov, V.I Giucôpxkaia nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp của học sinh đã

đi đến kết luận: Hứng thú nghề nghiệp nảy sinh và phát triển ngay từ khi trẻ em cònhọc ởtrường phổ thông, chịu ảnh hưởng của tâm lý lứa tuổi và đặc điểm giới tính.Nhìn chung học sinh thích những nghề công nghiệp hơn là nông nghiệp và phục vụ.Nhiều tác giả như: V.N Supkin, V.P Gribanov, X.N Trixtaicôva, N.N Dakhacos,A.A Barbinova đã nghiên cứu về dự định nghề và đưa ra nhận xét: học sinh phổthông trung học thường có dự định mong muốn được tiếp thu nền học vấn cao,không thích đi làm ngay

Sự lựa chọn nghề của học sinh do nhiều động cơ khác nhau thúc đẩy Các tácgiả như: I.S Côn, A.V Petrovxki, V.A Cruchetxki, đều có những công trìnhnghiên cứu về vấn đề này

Theo I.S Côn thì các nguyên nhân hấp dẫn học sinh lựa chọn một nghề nào đó

là do tính chất sáng tạo của lao động, ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp và quy môtiền lương [11]

Bên cạnh đó, V.A Cruchetxki cho rằng nghề được chọn phù hợp với nguyện

Trang 16

vọng cá nhân khuynh hướng cá nhân đối với một dạng lao động nhất định, các nănglực đối với dạng lao động ấy và sự đánh giá các ý nghĩa xã hội của nó được kết hợpnhuần nhuyễn với nhau mang lại sự thoả mãn về mặt đạo đức cho con người và lợiích tối đa cho xã hội Theo ông sự kết hợp giữa nguyện vọng, khả năng của cá nhânvới ý nghĩa xã hội của nghề nghiệp trong sự lựa chọn nghề là những yếu tố giúp choquá trình chọn nghề đạt hiệu quả tốt [12].

Khi nghiên cứu về XHNSP các nhà tâm lý học đã đi theo các hướng sau: bảnchất và cấu trúc của XHNSP; đặc điểm nguồn gốc của XHNSP; các giai đoạn vàđiều kiện hình thành XHNSP

- Khi nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của XHNSP, các tác giả: A.KMarcova, G.A Tomilova, X.A Zimicheva cho rằng là thái độ cảm xúc - giá trị đối vớinghề giáo viên, là biểu hiện nhận thức dương tính về công việc của người giáo viên.Còn đối với: Ph.N Gonobolin, V.A Spastenhin, A.N Leonchiev, cho rằng bản chấtXHNSP là phẩm chất có ý nghĩa nghề nghiệp của nhân cách người giáo viên

Cùng với việc xác định bản chất, cấu trúc của XHNSP các tác giả cũng đưa racác cách phân chia các kiểu XHNSP: Như I.V Fastoves đã phân chia các kiểuXHNSP gồm các thành phần sau: Xu hướng công việc, xu hướng vị tha, xu hướng

cá nhân Sự chú ý đặc biệt trong công trình được dành cho nghiên cứu xu hướng vịtha của giáo viên

- Nghiên cứu đặc điểm nguồn gốc của XHNSP, các tác giả cho rằng nguồngốc của XHNSP là động cơ hoạt động sư phạm Hiệu quả hoạt động sư phạm phầnlớn phụ thuộc vào cường độ và cấu trúc động cơ nghề nghiệp của người thầy giáo.Khi nghiên cứu động cơ hoạt động sư phạm A.K Baimetov đã gộp sự đa dạng củachúng thành ba nhóm: Động cơ nghĩa vụ; động cơ hứng thú say mê môn học; động

cơ say mê giao tiếp với trẻ em - “Tình yêu đối với trẻ em”

- Nghiên cứu về các giai đoạn và điều kiện hình thành XHNSP Theo ý kiến

của nhiều nhà nghiên cứu, người ta phân chia bốn giai đoạn phát triển xu hướng:+ Bộc lộ hứng thú đối với nghề nghiệp như là sự phản ánh nhu cầu có nghề.+ Hình thành hứng thú ổn định đối với hoạt động nghề nghiệp

+ Hình thành khát vọng, mục đích nắm vững các cơ sở của tài nghệ sư phạm

Trang 17

+ Hình thành tổ hợp các phẩm chất có ý nghĩa nghề nghiệp đối với laođộngcủa giáo viên.

Như vậy, việc nghiên cứu về vấn đề XHN đã được nhiều tác giả nước ngoàinghiên cứu Riêng về lĩnh vực XHNSP, một phạm vi của xu hướng nghề còn ítđược chú ý Từ các công trình nghiên cứu trên của các tác giả chúng tôi nhận xétmột cách khái quát về tình hình nghiên cứu XHNSP như sau:

- Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, trọn vẹn và chuyên sâu

về XHNSP về cả lý luận và thực tiễn, mà đi theo các hướng như: xác định bản chất

và cấu trúc của XHNSP; nghiên cứu đặc điểm nguồn gốc của nó; nghiên cứu cácgiai đoạn và điều kiện hình thành XHNSP

- Các công trình nghiên cứu hầu như chưa nghiên cứu tổng thể về các biểuhiện của XHNSP, chưa vạch ra được một cách rõ ràng con đường, biện pháp hìnhthành, phát triển XHNSP

- Các công trình chưa đi sâu nghiên cứu về XHNSP của SV sư phạm, đặc biệtchưa có công trình nào nghiên cứu về XHNSP của SV sư phạm mầm non

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam việc nghiên cứu XHN, XHNSP đã được xem xét ở nhiều góc độkhác nhau như: nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, dự địnhnghề nghiệp, động cơ nghề nghiệp

Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết nghiên cứu sự lựa chọn nghề nghiệp của học sinhlớp 10 (cũ) và tìm ra mối quan hệ của đặc điểm phát triển tâm lý của học sinh lớp

10 với nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, mối quan hệ của vấn đề nhận thức vị trícủa các nghề trong xã hội với nguyện vọng lựa chọn nghề nghiệp, mối quan hệ củaước mơ lý tưởng với sự hình thành nguyện vọnglựa chọn nghề nghiệp [42]

Sau đó, tác giả Phạm Tất Dong và các cộng sự đã nghiên cứu về nhiều khíacạnh khác nhau của xu hướng nghề như: nguyện vọng chọn nghề, hứng thú nghềnghiệp sự lựa chọn nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp, những nhân tố tác động đến

sự hình thành xu hướng nghề của học sinh cấp 3 Kết quả nghiên cứu cho thấy: đa

số học sinh có xu hướng muốn có trình độ học vấn đại học trước khi đi vào lao độngphục vụ Xu hướng chọn nghề ở HS nam và nữ là khác nhau đo đặc điểm lứa tuổi,

Trang 18

giới tính và nó cũng ảnh hưởng đến sự phân hoá hứng thú nghề nghiệp [14].

Các tác giả Nguyễn Mạnh Trang, Trần Thế Linh, Bùi Thị Phương Mai, Đỗ ThịHậu đã nghiên cứu XHN của học sinh phổ thông và ảnh hưởng của nó đến tính tíchcực học tập

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu của các tác giả khác như:

- Đề tài “Xu hướng nghề nghiệp” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn và cộng sự

đã nghiên cứu về đặc điểm XHN của HS thành phố và kết luận: Nhận thức về nghềcủa HS còn yếu, số nghề và các trường chuyên nghiệp được HS biết đến chưanhiều Hứng thú nghề nghiệp của HS hình thành muộn, chưa tập trungvà chưa rõnét [30]

- Công trình của tác giả Đỗ Mộng Tuấn nghiên cứu về động cơ và xu hướngnghề nghiệp của SV có nhận xét: Các động cơ mang ý nghĩa xã hội là động cơ chọnnghề chủ yếu của đa số SV sư phạm và xu hướng nghề nghiệp của SV sư phạmtương đối ổn định trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những kiến nghị nhằm hìnhthành xu hướng nghề nghiệp cho SV [39]

- Tác giả Đỗ Thị Châu tìm hiểu “Xu hướng sư phạm của thanh niên trong tìnhhình đổi mới kinh tế - xã hội” đã nhận xét: Xu hướng sư phạm của thanh niên vẫnchưa ổn định do chủ yếu là vấn đề chế độ đãi ngộ (trong đó có vấn đề tiền lương)đối với giáo viên vẫn chưa thỏa đáng [9]

- Tác giả Phan Thị Tố Oanh đã tiến hành nghiên cứu “Nhận thức nghề và dựđịnh chọn nghề của học sinh phổ thông trung học” Nghiên cứu cho thấy: Nhận thức

về nghề của học sinh mới dừng ở những biểu hiện bên ngoài của nghề mà chưa đisâu tìm hiểu những đặc trưng riêng của từng nghề và đối chiếu yêu cầu đó vớinhững đặc điểm cá nhân [30]

- Tác giả Đào Thị Oanh nghiên cứu về “Xu hướng nghề nghiệp của học sinhtrung học” đã nhận xét: Nhìn chung học sinh trung học chưa định hình một khuynhhướng nghềnghiệp cụ thể Các hứng thú mới chỉ dừng lại ở chỗ thỏa mãn nhu cầuthích hiểu biết Một số nghề hiện nay xã hội đang có nhu cầu cao về nhân lực lạichưa được học sinh định hướng vào do sự thiếu thông tin, thiếu gắn bó với nhữnglĩnh vực tri thức về các ngành nghề đó [29]

Nhìn chung, việc nghiên cứu XHN, XHNSP đã được nhiều tác giả trong nước

Trang 19

nghiên cứu Tuy nhiên từ các công trình nghiên cứu trên của các tác giả chúng tôi

có nhận xét khái quát sau:

- Hầu như chưa có công trình nghiên cứu sâu, trọn vẹn về XHN, mà chỉnghiên cứu từng góc độ khác nhau của XHN như: nguyện vọng lựa chọn nghềnghiệp, hứng thú nghề nghiệp, dự định nghề nghiệp, động cơ nghề nghiệp

- Các công trình nghiên cứu về XHNSP rất ít, chưa có một nghiên cứu nào đisâu nghiên cứu tổng thể về XHNSP với các mặt biểu hiện của nó

- Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu trên khách thể là HS, việcnghiên cứu ở lứa tuổi SV còn rất hạn hẹp, đặc biệt SV sư phạm ngành mầm non.1.2 Một số khái niệm, thuật ngữ có liên quan

1.2.1 Xu hướng

1.2.1.1 Khái niệm xu hướng

Trong sinh hoạt, học tập, lao động, nói chung trong toàn bộ cuộc sống mỗi conngười bao giờ cũng hướng về một mục tiêu nào đó mà mình xem là có nhiều ýnghĩa đối với bản thân, sự hướng về mục tiêu này thường không phải chỉ diễn ratrong ngày một, ngày hai, mà trái lại nó có tính chất lâu dài, tương đối ổn định.Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm xu hướng:

Các nhà khoa học Anh định nghĩa: Xu hướng là con đường mà một ngườihoặc một vật hướng tới để trở thành hoặc hành động Là hướng mà sự vật nào đóchuyển động hoặc thay đổi [46, tr.940]

Các nhà khoa học Đức cũng định nghĩa: Xu hướng là hướng tới một mục đíchxác định Là chiều hướng phát triển của một hiện tượng [47, tr.471]

Các nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thuỷ,Nguyễn Quang Uẩn đã khẳng định: Xu hướng nói lên phương hướng, chiều hướngphát triển của con người, xác định người đó “đi” theo hướng nào, từ đâu [19, tr.74].Khái niệm này tương đối thống nhất với khái niệm: Xu hướng là sự thiên vềmột hướng nào đó trong quá trình hoạt động Sự thiên hướng về một hoạt động nào

đó nhằm một mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân trong một thời gian lâu dài[32, tr.1118]

Trong cuốn Tâm lý học đại cương của Hội đồng bộ môn tâm lý học có định

Trang 20

nghĩa: Xu hướng là ý định hướng tới đối tượng trong một thời gian lâu dài, nhằmthoả mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc vươn tới mục tiêu cao đẹp mà cá nhânlấy làm lẽ sống cho mình [20, tr.146].

Phân tích định nghĩa này ta thấy xu hướng có ba mặt: Mặt nhận thức trong xuhướng biểu hiện ở chỗ xu hướng bao giờ cũng có đối tượng nhất định Đối tượng đó

dù cụ thể hay trừu tượng cũng đều được phản ánh vào đầu óc của cá nhân

Mặt thái độ của xu hướng biểu hiện ở chỗ, đối tượng hay mục tiêu sẽ làm thoảmãn những đòi hỏi của mình, nên cá nhân luôn tỏ một thái độ tích cực

Mặt hành động trong xu hướng biểu hiện ở chỗ, là ý định hướng tới đối tượnghay mục tiêu Sự vươn tới đó có khi trở thành một đòi hỏi gay gắt đối với cá nhân,thôi thúc họ hành động

Tóm lại, có nhiều định nghĩa khác nhau về xu hướng, trong luận văn này khái

niệm xu hướng được hiểu: Xu hướng là ý định hướng tới đối tượng trong một thời

gian lâu dài, nhằm thoả mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc vươn tới mục tiêu cao đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống cho mình.

1.2.1.2 Các cách tiếp cận xu hướng

a Xu hướng với tư cách là một thuộc tính nhân cách

* Quan điểm của một số trường phái tâm lý học phương Tây về xu hướng nhân cách

Trong nền tâm lý học phương Tây, có thể do nhiều nguyên nhân về thế giớiquan, về phương pháp luận nên việc nghiên cứu nhân cách tuy đã được quan tâm và

đã có những đóng góp nhất định cho nền tâm lý học nói chung Tuy nhiên, vấn đề

xu hướng nhân cách không được nghiên cứu tách bạch, không được xem như mộtthuộc tính của nhân cách

Trong Phân tâm học, điển hình là S.Freud (1856 – 1939) nghiên cứu nhâncách theo mô hình cấu trúc 3 bộ phận: “cái nó” (id), “cái tôi” (ego), và cái “siêu tôi”(superego) và bản năng xâm kích (aggressive), sự trưởng thành “cái tôi” và sự hợp

lý của “cái siêu tôi” mà nhân cách sẽ có động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cáchkhác nhau

Tâm lý học hành vi, đại biểu điển hình là J.Watson (1878 – 1958) coi hành vi

Trang 21

là nền tảng, là đối tượng nghiên cứu Hành vi được nảy sinh, phát triển trên cơ sở cánhân gắn liền với yếu tố thưởng phạt (theo nguyên tắc S – R) Do đó, nghiên cứunhân cách dựa trên việc xem xét hành vi để tìm hiểu động cơ thúc đẩy nhân cáchhành động theo xu hướng “tự do” cá nhân dựa trên những đặc điểm riêng của cánhân gắn liền với nhu cầu của họ.

Trong khi đó A.Maslow (1908 – 1970) cho rằng: động lực chính của nhâncách là mong mong muốn trở thành cái mà nó có thể thực hiện bằng tất cả khả năng,

ý chí của mình Không phủ nhận động cơ vô thức, khả năng ảnh hưởng của quátrình học tập, ông còn chỉ rõ động cơ thúc đẩy hành động của nhân cách gắn liền vớiviệc thỏa mãn các nhu cầu (bậc trên và bậc dưới) Trong đó, ông coi việc tự khẳngđịnh (self – actualization) là nhu cầu có vị trí cao nhất, có tính quyết định đến thái

độ, hành vi, chiều hướng phát triển của nhân cách

Hai nhà tâm lý học H.Spencer (1820 – 1903) và W.James (1842 – 1910) chorằng trong quá trình tồn tại, cá thể người luôn phải thích nghi với những điều phứctạp của môi trường tự nhiên và xã hội Theo đó, con người luôn hướng ý thức và tổchức hành động vào việc đạt tới mục đích thực hiện được sự thích ứng với môitrường Như vậy, tuy không nghiên cứu xu hướng nhân cách, nhưng khi đề cập đếnkhía cạnh thích nghi, thích ứng nghề nghiệp các tác giả đã chỉ ra mối quan hệ củanhân cách và nghề nghiệp [34]

Có thể kết luận rằng, các nhà tâm lý học phương Tây đã có những phát hiệnđáng trân trọng trong nghiên cứu nhân cách Tuy nhiên, họ đã không nghiên cứu xuhướng nhân cách như một thuộc tính quan trọng của nhân cách con người Đồngthời, họ lại giải quyết vấn đề trên trên lập trường sinh vật cơ cũng như xu hướng củanhân cách, chưa thấy được tính tích cực, chủ động trong xu hướng của nhân cách

* Quan điểm về xu hướng nhân cách của một số nhà tâm lý học Macxit

Vào những năm 40 của thế kỷ XX, người đặt nền móng cho việc nghiên cứuchuyên biệt về xu hướng nhân cách là X.L Rubinstein, theo ông “vấn đề nhân cáchtrước hết là câu hỏi về khuynh hướng thúc đẩy như là động cơ quy định hoạt độngcủa con người” [35]

Tuy ở đây chỉ mô tả hiện tượng, chưa nói lên được đầy đủ bản chất vấn đề xu

Trang 22

hướng nhân cách song khái niệm này đã phản ánh mục đích, động cơ căn bản củacon người trong hoạt động sống

Hoạt động của con người bao giờ cũng hướng tới một mục tiêu nào đó (mộtsản phẩm cụ thể, tri thức khoa học, tư tưởng chính trị ) đồng thời thúc đẩy hoạtđộng nhằm từng bước chiếm lĩnh chúng Sự hướng tới này được phản ánh trong tâm

lý mỗi người như là xu hướng của nhân cách

Xu hướng nhân cách là một trong những thành phần quan trọng trong cấu trúccủa nhân cách Nó giữ vị trí điểm nút trong mạng lưới các mối quan hệ giữa cácthuộc tính trong cấu trúc nhân cách Xu hướng còn làm nhiệm vụ định hướng, điềukhiển, điều chỉnh sự hình thành và phát triển toàn bộ các thuộc tính của nhân cách(năng lực, tính cách, khí chất ) và làm cho chúng kết hợp hài hòa với nhau trởthành một chỉnh thể trọn vẹn, một khối thống nhất không thể chia cắt được Nói đến

xu hướng là nói đến bộ phận hợp thành quan trọng nhất trong cấu trúc của nhâncách, đóng vai trò chủ đạo trong cuộc sống cá nhân, chi phối mọi sự suy nghĩ, hànhđộng, lối sống của cá nhân, quy định đường hướng căn bản của toàn bộ cuộc đờimỗi con người

A.V Petrovxki định nghĩa về xu hướng nhân cách như sau: “Xu hướng nhâncách là kết quả của sự nảy sinh những động cơ chiếm ưu thế một cách ổn định củahành vi” [31] Xu hướng nhân cách vừa là kết quả vừa là biểu biện của một cấu trúc

có cấp bậc bền vững của động cơ Xu hướng nhân cách phản ánh bộ mặt đạo đứccủa con người, phản ánh toàn bộ hệ thống quan điểm tiến bộ hay lạc hậu của con người.Khi bàn về những vấn đề tâm lý của tính cách, N.Đ Lêvitốp nêu quan niệmrằng: “Xu hướng nhân cách là một trong hàng loạt các yếu tố cùng với ý chí cấuthành tính cách, đó là hệ thống thái độ xác định quan hệ lựa chọn và tính tích cựccủa con người” [33, tr.16]

Tóm lại, những thành tựu của các nhà tâm lý học Macxit, đặc biệt là của tâm

lý học Liên Xô trong việc nghiên cứu về xu hướng nhân cách thể hiện trước hết ởchỗ họ đã từng bước hoàn thiện khái niệm, chỉ ra được mối quan hệ của xu hướngvới các thuộc tính khác trong nhân cách, làm rõ cấu trúc cũng như các giai đoạn vàđiều kiện hình thành, phát triển nó

* Quan điểm của một số nhà tâm lý học Việt Nam về xu hướng nhân cách

Trang 23

Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Xu hướng làm nhiệm vụ định hướng, điềukhiển và điều chỉnh sự hình thành và phát triển toàn bộ các thuộc tính của nhâncách, làm chúng kết hợp hài hòa với nhau thành chỉnh thể trọn vẹn, một khối thốngnhất không chia cắt được và đặc biệt xu hướng có quan hệ chặt chẽ với năng lực”[19, tr 315].

Trong quyển Tâm lý học quân sự cũng nêu lên quan điểm về xu hướng: “Xuhướng giữ vị trí trung tâm và đóng vai trò chủ đạo trong cuộc sống cá nhân, chi phốimọi suy nghĩ, hành động, lối sống, quyết định đường hướng căn bản của toàn bộcuộc đời một con người” [33, tr.186]

Theo tác giả Vũ Dũng, “Xu hướng của nhân cách là thuộc tính khái quát vàtích hợp của nhân cách, là tổng hòa các động cơ ổn định định hướng hoạt động củanhân cách, tương đối độc lập với các tình huống đang diễn ra” [15, tr.1012]

Như vậy, mặc dù có cách diễn đạt khác nhau, song về cơ bản, các tác giả ViệtNam đều có những nhận định chung khi nói về xu hướng nhân cách Trong luận vănnày, tác giả tiếp cận quan điểm xu hướng nhân cách của tác giả Nguyễn Quang Uẩn

“Xu hướng của nhân cách là một thuộc tính điển hình của cá nhân bao hàm trong nómột hệ thống những động lực quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân và quyđịnh sự lựa chọn thái độ của nó” [43, tr.172] làm cơ sở định hướng trong xem xétXHNSP của SV

Một số biểu hiện của xu hướng nhân cách:

Trong cuộc sống hằng ngày, xu hướng được biểu hiện ra bên ngoài ở nhu cầu,hứng thú, lý tưởng, thế giới quan, niềm tin

- Nhu cầu là đòi hỏi tất yếu của cá nhân về một cái gì đó mà con người thấycần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu bắt nguồn từ mối quan hệ phụthuộc của con người và hoàn cảnh sống cụ thể, không phải do ý thức hay do ý chíchủ quan sinh ra C.Mac từng viết: “Đói là nhu cầu tự nhiên, cho nên nó cần tựnhiên ở bên ngoài nó, cần có đối tượng ở bên ngoài nó để thỏa mãn mình, làm cho

no mình” [23] Ở con người, nhu cầu không chỉ là sự cần thiết về ăn, mặc, ở màcòn là về nhu cầu lao động, nhận thức, thẩm mỹ, hay hoạt động xã hội, giáo dục, tựgiáo dục Nghiên cứu xu hướng nhân cách không thể không tính đến nhu cầu của

Trang 24

họ Nhu cầu khi gặp đối tượng có khả năng thỏa mãn sẽ trở thành động cơ thúc đẩycon người hoạt động nhằm tới đối tượng.

- Động cơ chính là sự phản ánh, sự biểu hiện nhu cầu của con người Tuynhiên, động cơ không phải là bản thân nhu cầu mà là nhu cầu đã được cụ thể hóa.Trên cơ sở cùng một nhu cầu thường nảy sinh nhiều động cơ Mặt khác cùng mộtđộng cơ lại đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau Một động cơ có thể chi phối nhiềuhoạt động, ngược lại, một hoạt động có thể do nhiều động cơ thúc đẩy, định hướng,trong đó có một động cơ giữ vai trò chủ đạo Các động cơ khác không chỉ địnhhướng và còn thúc đẩy hành động của con người mà còn làm cho các hành vi, hànhđộng của con người mang một ý nghĩa chủ quan, ý nghĩa cá nhân

- Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ýnghĩa với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quátrình hoạt động Như vậy, khi có hứng thú với một đối tượng nào đó thì đối tượng

đó bao giờ cũng được ta ý thức, hiểu rõ ý nghĩa của nó với cuộc sống và ta có mộttình cảm đặc biệt với nó Do đó, hứng thú lôi cuốn, hấp dẫn con người về phía đốitượng, tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận, đi sâu vào nó Chính vì vậy, khi được làmviệc phù hợp với hứng thú của mình dù phải vượt qua muôn vàn khó khăn conngười vẫn cảm thấy thoải mái và thu được hiệu quả cao

- Lý tưởng được xác định như một hình mẫu mà con người cần vươn tới trongcuộc sống Theo Lê Khanh, “Lý tưởng được coi là mục tiêu cao đẹp, được phản ánhvào trong đầu óc con người dưới hình thức một hình ảnh mẫu mực và hoàn chỉnh,

có tác dụng lôi cuốn mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống của cá nhân trong một thời giantương đối lâu dài và hoạt động để vươn tới mục tiêu đó” [31] Lý tưởng hình thành

và phát triển trong sự phụ thuộc thế giới quan và niềm tin của cá nhân Vì thế, lýtưởng có tác dụng kích thích, định hướng và điều chỉnh sự phát triển của quá trìnhtâm lý cá nhân cho phù hợp với nó Có thể nói, trong lý tưởng có sự thống nhất hàihòa giữa nhận thức sâu sắc, tình cảm nồng cháy và ý chí kiên cường

Thế giới quan cá nhân là hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và bảnthân, xác định phương châm hành động của con người Thế giới quan đóng vai tròđặc biệt quan trọng trong đời sống của cá nhân Có thể nói, thế giới quan chính là

Trang 25

kim chỉ nam cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của mỗi người Thếgiới quan quyết định thái độ của con người đối với hiện thực xung quanh Nó là cơ

sở của đạo đức Toàn bộ những thuộc tính tâm lý của cá nhân như nhu cầu, hứngthú, tính cách, năng lực và đặc biệt là lý tưởng đều được hình thành và phát triểndưới ánh sáng của thế giới quan cá nhân [31]

Niềm tin chính là những quan điểm đã được cá nhân nhận thức, thể nghiệmsâu sắc và coi là chân lý chính xác nhất của bản thân Quan điểm biến thành niềmtin là quan điểm đã được gắn chặt với tình cảm, có được niềm tin đó là do cá nhânluôn luôn dựa vào những sự kiện của cuộc sống để rút ra những quan điểm, rồi lạidùng những quan điểm đó để nhận thức và hành động Niềm tin tạo cho con ngườinghị lực, ý chí để hành động phù hợp với quan điểm đã chấp nhận

b Xu hướng với tư cách là khuynh hướng hoạt động của cá nhân

Khi nghiên cứu về xu hướng, V.S Merlin đã cho rằng, cần hiểu xu hướng nhưmột thuôc tính tâm lý xác định khuynh hướng chung của hoạt động tâm lý conngười trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống Có thể nói, ở đây ông đã gópphần giải thích rõ thêm về xu hướng với tư cách là khuynh hướng hoạt động của cá nhân.G.D Lucốp chỉ rõ: “Xu hướng là tổng hòa các quan điểm, lý tưởng và niềmtin chủ đạo trong hoạt động tích cực của con người, hướng họ đến chỗ đạt tới nhữngmục đích quan trọng nhất của cuộc sống” [33] Như vậy, ông đã nêu lên một số yếu

tố cấu thành nên xu hướng cũng như vai trò chi phối của những yếu tố đó đối vớikhuynh hướng hoạt động của cá nhân

L.Ph Phêđencô lại cho rằng: Xu hướng là thuộc tính chỉ ra cho con người phấnđấu tới cái gì và hướng cuộc đời mình tới đâu Xu hướng dựa trên hoài bão, khátvọng của cá nhân, là những động cơ, nhu cầu của họ, phản ánh mục đích và động cơcăn bản của con người trong hoạt động sống” Với cách diễn đạt như trên, ông đãchỉ ra rõ ràng hơn “cái” và “cách” tồn tại của xu hướng [33, tr.16] Chúng tôi chorằng, đây là quan điểm phù hợp nhất về xu hướng với tư cách là khuynh hướng hoạtđộng của cá nhân

Tóm lại, trong tâm lý học có hai cách tiếp cận xu hướng: thứ nhất xu hướng

Trang 26

được biểu hiện với tư cách là một thuộc tính của nhân cách; thứ hai, xu hướng đượctiếp cận với tư cách là khuynh hướng hoạt động của cá nhân Dù tiếp cận xu hướng

ở góc độ nào thì chúng ta vẫn không thể phủ nhận vai trò quan trọng của xu hướngtrong việc quy định tính tích cực hoạt động nhằm đạt tới mục đích sống của con người

1.2.2 Nghề nghiệp

Nghề là một hoạt động đặc thù của con người, nó được nảy sinh, phát triển,tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội loài người Trong xã hội nguyên thủy, khitrình độ sản xuất con người còn thấp kém, con người chỉ biết chế tạo công cụ laođộng thô sơ nên chưa có sự phân công lao động rõ rệt, vì vậy, ở thời kỳ này kháiniệm nghề nghiệp cũng chưa rõ ràng, mạch lạc

Khi trình độ sản xuất dần dần phát triển, việc sử dụng công cụ bằng kim loạilàm cho năng suất lao động tăng lên đã dẫn tới sự phân công lao động trong xã hội.Chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay xã hộidần xuất hiện các ngành nghề khác nhau

Theo thống kê, trên thế giới hiện nay có khoảng 65000 nghề và chuyên mônkhác nhau Ở nước ta, danh mục nghề đào tạo cho đội ngũ thanh niên có hàng chụcnghìn nghề nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ [41]

Để có một khái niệm nghề làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu thực tiễn của đề

tài, chúng tôi tìm hiểu các khái niệm có liên quan như việc làm,chuyên môn

- Việc làm: Theo định nghĩa của giáo sư Lê Thi, “đó là công việc đem lại lợi

ích cho người lao động, tạo thu nhập để nuôi sống gia đình, bản thân, bất kỳ ởngành nghề gì và khu vực kinh tế nào (quốc doanh, tập thể, tư nhân) và không bịpháp luật ngăn cấm” [37]

- Chuyên môn: “Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp, trong đó

con người bằng sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần của mình làm ra những giátrị vật chất hoặc những giá trị tinh thần như là những phương tiện cần cho sự tồn tại

và phát triển của xã hội”

Nhà tâm lý học Nga E.A Klimov định nghĩa: Chuyên môn là một dạng hoạtđộng mà trong đó con người dùng trí lực và thể lực của mình tạo ra những phươngtiện cần thiết cho xã hội tồn tại và phát triển [25, tr.10]

Trong Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: chuyên môn là lĩnh vực riêng những

Trang 27

kiến thức riêng nói chung của một ngành khoa học, kỹ thuật [32].

Như vậy chuyên môn là một khái niệm hẹp so với khái niệm nghề, nó phânbiệt sự khác nhau về từng chuyên môn trong nghề

- Nghề nghiệp:

+ Nghề nghiệp xuất phát từ tiếng La tinh “frofessio” là công việc (việc làm)chuyên môn đã định một cách chính thức, từ “frofessio” là nói rõ công việc củamình, là dạng hoạt động lao động, nghề đòi hỏi trình độ học vấn nhất định và lànguồn để tồn tại

+ E.A Klimov: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất vàtinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân cônglao động xã hội mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động củamình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển” [25, tr.10] + Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên môn làm theo sựphân công lao động trong xã hội Nghề nghiệp là nghề nói chung” [32]

Giữa việc làm và nghề nghiệp cũng có sự giống và khác nhau

Trong Đại Từ điển tiếng Việt có định nghĩa: “Việc làm là công việc, nghềnghiệp thường ngày để sinh sống” [45, tr.1815]

Hoặc việc làm là hành động cụ thể, là công việc được giao làm và được trảcông [32, tr.35]

Mọi nghề nghiệp đều được coi là việc làm nhưng không phải việc làm nàocũng là nghề Đối với cả việc làm và nghề nghiệp, con người đều phải bỏ sức laođộng và tạo ra sản phẩm để tồn tại và sinh sống, song điểm khác nhau cơ bản giữaviệc làm và nghề nghiệp đó là: nghề nghiệp là sự gắn bó lâu dài với công việcchuyên môn, cần phải trải qua quá trình đào tạo lâu dài hoặc ngắn hạn để hình thành

kỹ năng, kỹ xảo nhất định, còn việc làm có thể nhất thời, không ổn định mà chỉ theothời vụ

Có thể nói rằng, nghề nghiệp là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao độngtrong xã hội theo sự phân công lao động mà con người sử dụng sức lao động củamình để tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần cho xã hội

Vì thế, một vấn đề được đặt ra là làm sao giúp con người lựa chọn được một

Trang 28

nghề nghiệp phù hợp với bản thân, đào tạo nghề một cách hệ thống Đây là vấn đềtrong chỉ quan trọng đối với cá nhân mà còn có ý nghĩa rất lớn cho xã hội Nếu chọnnghề hợp lý, đúng đắn và được đào tạo đến nơi đến chốn thì con người sẽ phát triểnđầy đủ nhân cách của họ trong lao động, góp phần tích cực vào việc nâng cao năngsuất lao động xã hội Ngược lại, nếu chọn nghề không hợp lý, đúng đắn, người laođộng sẽ không có điều kiện phát huy hết năng lực bản thân mình, gây ra lãng phílớn nhân lực cho toàn xã hội.

Từ việc tìm hiểu và phân tích các quan điểm về nghề nghiệp, trong luận vănnày nghề nghiệp được hiểu:

Nghề dùng chỉ một lĩnh vực hoạt động trong xã hội theo sự phân công laođộng mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những sản phẩm vậtchất, tinh thần cho xã hội

1.2.3 Nghề sư phạm

1.2.3.1 Khái niệm nghề sư phạm

Trong bất kỳ thời đại nào, xã hội nào thì nghề sư phạm đều cần thiết và quan trọng,

vì giáo dục là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương lai của một dân tộc.Người thầy giáo có vai trò to lớn trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ Người thầy giáo làmột trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo Nhiều nhà lý luận, nhà giáo dục

đã nhắc đến tác động to lớn về đạo đức, quyền lực hùng mạnh và thông thái của nghề

sư phạm: Platôn, I.A Cômenxki, K.D Usinxki, L Tônxtôi, A.S Makarencô

G.Mustenberg cho rằng: xét về nguồn gốc, nghề sư phạm được tách riêngthành một chức năng xã hội khi trong cấu trúc của phân công lao động xã hội hìnhthành một dạng hoạt động đặc biệt mà vai trò của nó là chuẩn bị cho các thế hệ đangtrưởng thành bước vào cuộc sống dựa trên cơ sở tiếp cận các giá trị của văn hoáloài người

Nhiều tác giả: I.A Zimnia, A.K Marcova đã định nghĩa nghề sư phạm củangười thầy giáo như là sự tác động giáo dục và dạy học của người thầy đến họcsinh, hướng vào sự phát triển về mặt nhân cách, trí tuệ và hoạt động của học sinh,đồng thời thể hiện như là cơ sở của tự phát triển và tự hoàn thiện bản thân

Từ các quan điểm trên ta có thể hiểu: Nghề sư phạm là lĩnh vực hoạt động của

Trang 29

người thầy giáo theo sự phân công của xã hội, trong đó người thầy sử dụng cácnăng lực thể chất và tinh thần của mình để dạy dỗ, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trởthành những con người hữu ích cho xã hội.

Trên cơ sở khái niệm nghề sư phạm, trong luận văn này nghề sư phạm ở bậc

mầm non là lĩnh vực hoạt động của người GVMN theo sự phân công của xã hội,trong đó người GVMN non sử dụng các năng lực thể chất và tinh thần của mình đểchăm sóc, giáo dục trẻ từ 0 đến 6 tuổi theo những mục tiêu, yêu cầu, nội dung giáodục mầm non mà xã hội đòi hỏi

1.2.3.2 Đặc điểm lao động của nghề sư phạm

a Đặc điểm lao động của nghề sư phạm

Lao động của người thầy giáo không giống lao động của các ngành nghề khác,không tạo ra của cải vật chất, nhưng lao động của người thầy giáo là lao động thiếtyếu của xã hội Lao động sư phạm đẹp và giá trị ở chỗ nó sáng tạo ra nhân cách conngười, một sản phẩm cao quí nhất của xã hội Đó là nét đặc thù riêng, độc đáo màkhông nghề nào có được:

Mục đích của lao động sư phạm

Như bất kỳ loại lao động nào, lao động sư phạm là một hoạt động có mụcđích Lao động sư phạm nhằm giáo dục thế hệ trẻ, hình thành ở họ những phẩm chất

và năng lực mà xã hội yêu cầu Lao động sư phạm là quá trình tác động qua lại giữangười dạy học (người đã tiếp thu những giá trị văn hoá nhất định của loài người vàcủa dân tộc, đã được chuẩn bị về mặt nghề nghiệp và được xã hội giao cho thựchiện chức năng này) và học sinh (người có nhiệm vụ học tập, tiếp thu những giá trịvăn hoá của xã hội loài người để sau này sống và phục vụ xã hội)

Đối tượng của lao động sư phạm

Đối tượng của lao động sư phạm là rất đặc biệt Đó là những con người trẻtuổi những con người đang trưởng thành, với những đặc điểm tâm sinh lý chung củalứa tuổi và đặc điểm riêng cá nhân, rất đa dạng, phong phú Vì vậy lao động củangười thầy giáo vô cùng khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có tính sáng tạo, tínhkhoa học và nghệ thuật cao Mặt khác, HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạtđộng giáo dục Kết quả của hoạt động giáo dục không chỉ phụ thuộc vào lao động

Trang 30

của bản thân thầy giáo mà còn phụ thuộc vào thái độ của HS đối với các tác động sưphạm, phụ thuộc vào mức độ tích cực hoạt động của chính bản thân HS.

Công cụ lao động

Công cụ lao động của người thầy giáo cũng rất độc đáo, đó là nhân cách củathầy, đó là trình độ nghề nghiệp của thầy Vốn kiến thức khoa học về một bộ mônnhất định, về khoa học sư phạm được thừa nhận là công cụ quan trọng của ngườithầy giáo Bên cạnh đó, công cụ lao động của người thầy giáo còn cả những phẩmchất đạo đức, nhân cách của thầy Đây là công cụ chủ yếu của người thầy giáo K.DUsinxki cho rằng: “Trong viêc giáo dục, tất cả phải dựa trên nhân cách của nhà giáodục, không có điều lệ và chương trình nào thay thế được nhân cách của người GVtrong sự nghiệp giáo dục” Đó cũng là lý do mà ông khẳng định: “Dùng nhân cách

để giáo dục nhân cách”

Sản phẩm của lao động sư phạm

Lao động sư phạm có đối tượng là con người cùng với những đặc điểm nhâncách của nó Sản phẩm của lao động sư phạm là nhân cách của người học đáp ứngnhững yêu cầu khách quan của xã hội qui định Do vậy, lao động sư phạm là loạihình lao động đặc biệt - không giống bất kỳ lao động nào

Người thợ dệt sau một ca làm việc thấy ngay sản phẩm là những tấm vải.Người nông dân sau mấy tháng lao động vất vả có một vụ mùa bội thu Còn ngườithầy giáo với những ngày tháng lao động vất vả mà khó thấy ngay sản phẩm, bởisản phẩm của thầy là sự chuyển biến về chất trong nhân cách học sinh Sự chuyểnbiến đó sau một ngày, một tháng khó có thể thấy được và thậm chí những phẩmchất, năng lực đã hình thành nếu không được tiếp tục nuôi dưỡng sẽ mai một dần đi

Vì vậy đòi hỏi người thầy giáo phải trau dồi nhân cách, không ngừng làm việc vì

HS thân yêu và tất nhiên người học phải tích cực sáng tạo mới có thể đạt kết quả tốt.Điều kiện của lao động sư phạm

Lao động sư phạm được tiến hành trong thời gian, không gian đặc biệt Thực

tế lao động sư phạm được chia làm hai phần: phần chuẩn bị (soạn bài, chấm bài,chuẩn bị thực hành ) và phần thực hiện hoạt động sư phạm (lên lớp, hướng dẫnthực hành ) Vì thế thời gian lao động sư phạm không thể tính như giờ hành chính

Trang 31

Thậm chí những GV có trách nhiệm với nghề thì ngay cả khi làm công việc giađình, họ vẫn không ngừng suy nghĩ về các giờ học tới, về HS của mình Hơn nữalao động sư phạm là lao động không lặp lại và kết quả của nó cách xa với thời gian,với bản thân quá trình lao động Dạy học - giáo dục HS vừa là một khoa học, vừa làmột nghệ thuật và đòi hỏi người thầy luôn luôn phải sáng tạo.

Tóm lại, những đặc điểm trên cho thấy lao động của người thầy giáo là laođộng đặc biệt, lao động sản xuất phi vật chất, nó đòi hỏi người thầy giáo không chỉ

có tri thức, có năng lực mà còn có nhân cách trong sáng, hết lòng vì HS Điều nàycàng minh chứng tính khách quan trong yêu cầu đối với nhân cách nhà giáo dục,nhưng đồng thời nó cũng đặt ra cho xã hội phải dành cho nhà giáo một vị trí tinhthần và sự ưu đãi vật chất xứng đáng

b Đặc điểm của lao động sư phạm ở bậc mầm non

Ngoài các đặc điểm chung của lao động sư phạm, lao động của GVMN còn cónhững đặc thù nhất định Tính đặc thù được biểu hiện ở những đặc điểm sau:

Mục đích lao động sư phạm của GVMN

Mục đích lao động sư phạm của GVMN nhằm giúp trẻ nhỏ phát triển về thểchất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những cơ sở của nhân cách, chuẩn bịcho trẻ vào lớp một Thực hiện mục đích này, GVMN phải biết kết hợp chặt chẽ

việc chăm sóc sức khoẻ với việc giáo dục trẻ, tổ chức cuộc sống và hoạt động cho

trẻ phù hợp với đặc điểm phát triển của từng lứa tuổi nhằm hình thành và pháttriển các chức năng tâm lý, trau dồi những tình cảm, tri thức, kỹ năng, thói quen cầnthiết cho cuộc sống và cho sự phát triển của trẻ, từng bước chuẩn bị cho trẻ thíchứng với hoạt động ở trường phổ thông

Đối tượng lao động của GVMN

Lao động của người GVMN không thể so sánh với bất kỳ dạng lao động sưphạm nào bởi vì đối tượng lao động của họ là trẻ em từ 0 đến 6 tuổi Đây là lứa tuổinon nớt nhất của cuộc đời con người, nhạy cảm với mọi tác động bên ngoài, đồngthời cũng là lúc trẻ phát triển rất nhanh, mạnh cả về thể chất, tinh thần và trí tuệ.Đây chính là giai đoạn đầu tiên của sự hình thành và phát triển nhân cách Các mặtthể chất, tình cảm, trí tuệ được hoà quyện vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau Vì thếviệc chăm sóc, giáo dục, tổ chức cuộc sống, tổ chức hoạt động cho trẻ đòi hỏi cao

Trang 32

sự mẫu mực về nhân cách của người GV, cũng như vai trò chủ đạo và nghệ thuật sưphạm của người GVMN.

Phương tiện lao động của người GVMN

Phương tiện lao động chủ yếu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công táccủa người GVMN chính là nhân cách của bản thân họ Sự tác động vào thế giới trẻthơ bằng nhân cách của người GV vừa mang tính chất như là hình mẫu để trẻ bắtchước, vừa mang tính chất “ám thị sư phạm” tác động mạnh đến tình cảm, nhậnthức, niềm tin của trẻ Sự mẫu mực về nhân cách của người GVMN luôn luôn làtấm gương, là nội dung giáo dục, là phương tiện giáo dục có hiệu quả đối với trẻmầm non Vì thế GVMN phải không ngừng hoàn thiện nhân cách của mình

Vốn kiến thức khoa học về lĩnh vực giáo dục mầm non, về việc chăm sóc giáodục trẻ và khả năng thu hút trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động đa dạng, phùhợp và cả năng lực ngôn ngữ là những phương tiện quan trọng của người GVMN,đồng thời nó còn là điều kiện tiên quyết đảm bảo sự thành công của người GV trongcông việc

Để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ, cùng với những phương tiện laođộng trên cũng không thể thiếu được những phương tiện hỗ trợ mang tính vật chấtnhư đồ chơi, đồ dùng dạy học và các trang thiết bị kỹ thuật Đây là những phươngtiện hỗ trợ mạnh mẽ giúp cho hoạt động của người GVMN đạt kết quả cao

Thời gian lao động của GVMN

Xuất phát từ đặc điểm của đối tượng lao động, công việc của người GVMNđòi hỏi phải đi sớm về muộn so với giờ giấc lao động của các bậc cha mẹ để đón trảtrẻ nhằm đảm bảo thời gian lao động của họ Thời gian lao động của họ vượt rangoài khuôn khổ của 8 giờ lao động hành chính Trong thời gian trẻ ở trường mầmnon từ 8 đến 10 giờ cô luôn bận rộn với công việc để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt

và tạo môi trường cho trẻ hoạt động tích cực Việc chuẩn bị để tổ chức tốt các hoạtđộng cho trẻ, đòi hỏi người GV cũng phải đầu tư không ít thời gian và công sức choviệc chuẩn bị giáo án, đặc biệt là các đồ dùng dạy học, đồ chơi cho trẻ Người GVyêu nghề, yêu trẻ không chỉ công phu, tỉ mỉ chuẩn bị những đồ vật đó, mà còn luônsáng tạo tìm cách cải tiến nó, làm phong phú nó

Môi trường lao động của GVMN

Trang 33

Đối tượng lao động của GVMN là trẻ nhỏ Ở nhà sống trong gia đình trẻ luônluôn được những người thân yêu ruột thịt đùm bọc, quan tâm tạo cho trẻ cảm giác

an toàn về tâm lý và thể chất Do đó, khi trẻ đến trường toàn bộ hoạt động sư phạmcủa cô phải cho trẻ cảm nhận được nguồn hạnh phúc, được an toàn, được sống trongkhông khí gia đình với sự đùm bọc, yêu thương, âu yếm, chở che của cô giáo nhưtình cảm và tấm lòng của người mẹ như ở gia đình Vì thế môi trường lao động của

người GVMN là sự tích hợp của môi trường sư phạm và môi trường gia đình, trong

đó giáo viên vừa là nhà giáo dục vừa là người mẹ thứ hai của trẻ Đó là môi trường

thuận lợi không chỉ cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mà còn thuậnlợi cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của mỗi GV

Tóm lại, từ những đặc điểm trình bày ở trên cho chúng ta thấy lao động sưphạm của GVMN là sự tổng hoà các đặc điểm lao động của nhà giáo dục - lao độngcủa người mẹ và lao động của người thầy thuốc Đây là loại hình lao động vừa tinh

tế vừa phức tạp Nó đòi hỏi người GVMN phải có nhận thức sâu sắc về nghề, phải

có lòng yêu nghề tha thiết, thương yêu trẻ như tình yêu của người mẹ, sẵn sàng, tậntuỵ vì trẻ, có sự mẫu mực nghiêm túc và nghệ thuật ứng xử sư phạm

1.3 Xu hướng nghề sư phạm của sinh viên

1.3.1 Đặc điểm tâm lý, nhân cách của sinh viên có liên quan tới xu hướng nghề

1.3.1.1 Khái niệm về sinh viên

Thuật ngữ SV có nguồn gốc từ tiếng Latinh student có nghĩa là người làm

việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức SV là nhóm xã hội đặcbiệt, đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội, là lực

Trang 34

lượng bổ sung cho đội ngũ trí thức với nghiệp vụ cao SV là giai đoạn thứ 2 củatuổi thanh niên (18-25) và đã đạt trình độ cao của sự trưởng thành về thể chất, pháttriển cao về tâm lý và quan hệ xã hội Lứa tuổi SV có vị trí ý nghĩa đặc biệt - cótính chuyển tiếp từ vị trí của người học nghề lên vị trí người lao động nghề cótrình độ chuyên môn cao

Tác giả Nguyễn Thạc cho rằng: “SV là đại biểu của nhóm xã hội đặc biệt,đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Nhóm xãhội đặc biệt gồm hàng triệu SV trên thế giới, nhóm này rất cơ động mà mục đíchhoạt động của họ được tổ chức theo một chương trình nhất định của việc thực hiệnvai trò xã hội và nghề nghiệp cao trong lĩnh vực sản xuất và tinh thần Nhóm xã hộiđặc biệt này là nguồn gốc bổ sung cho đội ngũ tri thức SV được đào tạo để trởthành người lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đadạng, có ích cho xã hội” [35, tr 58]

1.3.1.2.Đặc điểm tâm lý, nhân cách của sinh viên

Sự thích nghi với môi trường sống và phương pháp học tập mới: Khi bướcchân vào các giảng đường CĐ, ĐH, các tân SV phải đối mặt với những thay đổi tolớn về nề nếp sinh hoạt hằng ngày và phương pháp học tập tại đây Chính vì vậy, trởthành SV ở các trường CĐ, ĐH đồng nghĩa với việc các em phải thích nghi với điềukiện, hoàn cảnh sống mới, môi trường và phương pháp học tập mới Sự thích nghinày hoàn toàn khác nhau ở mỗi người, tùy thuộc vào tính cách, năng lực bản thân,

sự tự chủ Để các em có thể nhanh chóng thích nghi với môi trường mới và cóphương pháp học tập tốt nhất, việc tư vấn, cung cấp cho các em kỹ năng sống,phương pháp học tập là thực sự cần thiết

Sự phát triển nhận thức của SV: Nếu như trong môi trường học tập phổ thông,

HS ở đây được trang bị kiến thức chung thì trong môi trường học tập ở bậc CĐ,

ĐH, SV được trang bị những kiến thức chuyên ngành để có thể trở thành người laođộng, người chuyên gia trong lĩnh vực mình được đào tạo Hoạt động nhận thức của

SV luôn gắn liền với tính tự giác và chủ động cao Do đó, giảng viên sẽ trang bị chocác em kỹ năng tự học, tự trau dồi tri thức thông qua hệ thống thư viện, phòng thínghiệm, phòng thực hành Đây là một đặc điểm quan trọng trong nhận thức vàhoạt động học tập của SV ở các trường CĐ và nó có ảnh hưởng lớn đến sự phát

Trang 35

triển về mặt chuyên môn, nhân cách nghề nghiệp của các em.

Tự ý thức của SV: Cùng với hoạt động học tập, sự tự ý thức của SV cũng pháttriển hoàn thiện hơn Thông qua mối quan hệ với những người khác cũng nhưnhững tri thức lĩnh hội được, các em có những đánh giá phù hợp với bản thân mìnhhơn Đây là cơ sở thuận lợi để các em có thể rèn luyện, khắc phục hạn chế, phát huynhững mặt mạnh để hoàn thiện nhân cách của bản thân mình Trong sự đánh giá của

SV, cần tránh hai xu hướng hoặc đánh giá quá cao bản thân mình gây ra sự tự tinthái quá, kiêu ngạo, như vậy các em dễ gặp những “cú sốc” khi công việc diễn rakhông như mong muốn; hoặc đánh giá quá thấp bản thân gây nên tình trạng tự ti,không phát huy hết năng lực, sở trưởng của bản thân

Đời sống xúc cảm, tình cảm: Đa số SV tại các trường CĐ, ĐH có độ tuổi từ 18– 25 Có thể nói đây là giai đoạn đẹp nhất của đời người Thế giới xúc cảm, tìnhcảm của các em biểu hiện khá phong phú, sinh động trong đời sống hằng ngày phảnánh một thế giới nội tâm tinh tế và nhạy cảm Trong đời sống xúc cảm, tình cảm của

SV, điều không thể không đề cập đến là tình yêu đôi lứa Đó là tình cảm thiêngliêng, lãng mạn đối với các em và là động lực để các em học tập, rèn luyện bảnthân Trong tình yêu đôi lứa của SV cũng cần có sự định hướng đúng đắn để tìnhyêu của các em luôn gắn liền với trách nhiệm của bản thân cũng như để tình yêu đóphù hợp với hoàn cảnh, điều kiện học tập của mình

Động cơ và định hướng giá trị của SV: Động cơ và định hướng giá trị của SVcũng có sự phát triển phong phú, đa dạng Điều đó phản ánh trong mục đích họctập, phấn đấu của các em Trong môi trường tập thể, SV dần chấp nhận nhữngphong cách, lối sống, giá trị sống của người khác và hướng đến những giá trị sốngcho là phù hợp với mình Có thể nói, việc định hướng giá trị sống cho SV là việclàm cần thiết để hướng các em vào những mục đích, giá trị cao đẹp

1.3.1.3 Sinh viên mầm non

SV mầm non là những người học tập trong ngành sư phạm mầm non Bêncạnh những đặc điểm tâm lý, nhân cách như SV nói chung, nhân cách SV mầm noncũng có những nét đặc thù riêng trong hoạt động học tập và rèn luyện hướng vàoviệc hình thành, phát triển nhân cách người chuyên làm công tác chăm sóc và nuôidưỡng trẻ từ 0 – 6 tuổi Trong quá trình học tập và rèn luyện ở trong môi trường

Trang 36

CĐ, ĐH, XHN của SV mầm non dần thể hiện rõ nét hơn qua việc các em tích cựcrèn luyện năng lực nghề nghiệp, bồi dưỡng phẩm chất nghề nghiệp để hướng tớimục tiêu trở thành GVMN trong tương lai Có thể nói, chính quá trình đó sẽ quyếtđịnh sự thành công hay thất bại trong nghề nghiệp của SV sau này Khi đã có XHN

rõ ràng, SV mầm non sẽ có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về lĩnh vực nghề mình họctập Chính những kiến thức đó thôi thúc các em tích cực hơn nữa trong hoạt độnghọc tập và trau dồi tri thức của mình Cũng thông qua quá trình học tập và rènluyện, các em nhận biết những hạn chế của bản thân cũng như những phẩm chấttâm lý nào cần phải hình thành để có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành nghềmình theo học, từ đó xác định rõ nhiệm vụ cho bản thân tiếp tục rèn luyện, trau đồi

1.3.2 Khái niệm xu hướng nghề sư phạm của sinh viên

1.3.2.1 Khái niệm xu hướng nghề

XHN là những hiểu biết và tiếp nhận bên trong các mục đích và nhiệm vụcủa hoạt động nghề nghiệp có liên quan đến hứng thú, niềm tin, quan điểm và tâmthế đối với hoạt động này [35, tr 82]

Tác giả Nguyễn Thạc cho rằng: XHN được hiểu là có hứng thú đối với nghề

và có khuynh hướng chiếm lĩnh nó XHN cũng có thể được hiểu là ý định của cánhân muốn sử dụng những tri thức, kinh nghiệm, năng lực của mình vào lĩnh vựcnghề nghiệp nhất định mà mình đã chọn XHN là những hiểu biết và tiếp nhận bêntrong các mục đích và nhiệm vụ của hoạt động nghề nghiệp có liên quan đến hứngthú, niềm tin, quan điểm và tâm thế đối với hoạt động này [36]

XHN còn được hiểu là ý định hướng tới nghề nào đó trong một thời gian lâudài, nhằm thoả mãn những nhu cầu hay hứng thú của cá nhân đối với nghề nghiệphoặc vươn tới mục tiêu cao đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống của mình

Từ những quan điểm trên của các tác giả về khái niệm XHN, chúng tôi hiểunội hàm khái niệm XHN theo các dấu hiệu biểu hiện, đồng thời là các thành tố tâm

lý tạo thành XHN Khái niệm XHN được hiểu như sau:

Xu hướng nghề là ý định hướng tới một nghề nào đó, được biểu hiện ở các dấu hiệu sau:

Nhận thức về nghề mà cá nhân hướng tới: Nhận thức về nghề là phải nhận

thức được những yêu cầu đặc trưng của nghề, nhận thức được yêu cầu của xã hội đối với nghề và nhận thức những đặc điểm tâm lý cá nhân cần thiết với nghề.

Trang 37

Thái độ của cá nhân đối với nghề: Thái độ đối với nghề được biểu hiện ở

nguyện vọng, tình cảm đối với nghề cá nhân hướng tới

Hành vi của cá nhân để thực, hiện hoạt động nghề mà cá nhân hướng tới: Là

hành động tích cực tự giác trong học tập và rèn luyện nghề và được biểu hiện ở kếtquả thực hiện các nhiệm vụ đề ra của nhà trường

1.3.2.2 Khái niệm xu hướng nghề sư phạm

XHNSP là một phạm vi cụ thể của XHN Có thể nêu ra ba hướng định nghĩa

về bản chất XHNSP của nhiều tác giả khác nhau như sau:

Hướng thứ nhất: XHNSP được xem xétnhư là yếu tố thể hiện thái độ cảm xúc - giá

trị đối với nghề GV, thể hiện sự nhận thức về công việc của người thầy giáo Đại diện

là các tác giả: A.K Marcova, N.V Cudơmina, Ia.L Colominxki, G.A Tomilova, X.AZimicheva, L.M Akhmedzianova

Hướng thứ hai: XHNSP được xem như là phẩm chất có ý nghĩa nghề nghiệp của

nhân cách người giáo viên hay một thành phần của năng lực sư phạm Đại diện là L.MMinina, Ph.N Gonobolin, A.I Serbacov, V.A Slastenhin, A.N Leonchiev

Hướng thứ ba: XHNSP được xem như là yếu tố biểu hiện hành vi thực hiện

các nhiệm vụ cơ bản của người giáo viên là tổ chức các hoạt động của học sinh Đạidiện là Iu.N Ciliutkin, G.X Xukhovxcaia, X.G Verxlovxki

Như vậy các hướng định nghĩa trên về XHNSP đều đúng, vì chúng nhấn mạnhđến các khía cạnh khác nhau của XHNSP Xuất phát từ khái niệm trên chúng tôihiểu khái niệm XHNSP như sau:

XHNSP là ý định hướng tới lĩnh vực hoạt động giáo dục, thể hiện ở nhận thức đúng về nghề sư phạm, thái độ tích cực đối với nghề sư phạm và hành vi tích cực để thực hiện hoạt động nghề sư phạm của cá nhân.

Trên cơ sở khái niệm XHNSP, trong luận văn này XHNSP của SV mầm non là

ý định hướng tới lĩnh vực hoạt động giáo dục ở bậc mầm non, thể hiện ở nhận thứcđúng về nghề sư phạm, thái độ tích cực đối với nghề sư phạm và hành vi tích cựctrong học tập rèn luyện nghề sư phạm

Trang 38

1.3.2.3 Sự hình thành và phát triển xu hướng nghề sư phạm

Xu hướng là nguyện vọng biểu lộ ở con người muốn tham gia vào một hoạtđộng nhất định nào đó XHN được hình thành rất sớm, có mầm mống từ khi các emcòn nhỏ tham dự các trò chơi phân vai, khi các em học phổ thông, đặc biệt đượchình thành nhanh, mạnh trong quá trình đào tạo ở các trường nghề và nó còn tiếptục được hình thành khi cá nhân trực tiếp tham gia độc lập vào hoạt động nghề màmình lựa chọn XHNSP được hình thành theo các giai đoạn sau:

Thứ nhất: Trong thời kỳ học ở phổ thông, dưới tác động của GV, mặt trí tuệ và

đạo đức của HS được hình thành, thế giới quan và XHN cũng dần phát triển

Đây được xem là thời kỳ hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cáchngười GV tương lai, nó hình thành ở các em mong muốn được tham gia vào lĩnhvực sư phạm, vào công tác dạy dỗ đào tạo thế hệ trẻ

Thứ hai: Một giai đoạn mới cực kỳ quan trọng trong việc hình thành XHNSP

của người GV tương lai được mở ra khi người đó bước chân vào trường sư phạm(khoa sư phạm) Đó là thời kỳ nắm vững các kiến thức khoa học, thời kỳ hình thànhthế giới quan khoa học, tình cảm nghề nghiệp và các niềm tin nghề nghiệp

Trong quá trình học tập, việc kiến tập, thực hành, thực tập sư phạm có một ảnhhưởng hết sức lớn lao đến việc hình thành XHNSP ở SV Đây chính là lúc các emđược rèn luyện tay nghề, hun đúc lòng yêu nghề SV tăng thêm lòng yêu nghề haygiảm đi nhiệt huyết với nghề phụ thuộc nhiều vào các đợt thực tập này

Thứ ba: Giai đoạn tiếp theo trong việc hình thành XHNSP của người giáo viên

là công tác độc lập trong nhà trường Chính ở đây, trong quá trình lao động sư phạmthật sự sáng tạo và đầy tinh thần trách nhiệm, XHNSP, các phẩm chất năng lực sưphạm của cá nhân được thực sự hình thành một cách thực tế, linh hoạt và phong phú.XHNSP của GVMN cũng được hình thành theo các giai đoạn như vậy Tuynhiên nó thực sự được hình thành nhanh mạnh khi người SV bước chân vào họctrong các trường sư phạm mầm non

Trong quá trình học tập ở các trường (khoa) sư phạm mầm non, thông quaviệc học tập các môn khoa học cơ bản, cơ sở và chuyên ngành về tâm lý và sư phạmnuôi dạy trẻ SV sẽ có một cái nhìn đầy đủ và chính xác về nghề sư phạm củaGVMN (ý nghĩa xã hội của nghề, đặc trưng của nghề, những yêu cầu đối với người

Trang 39

GVMN ) Từ việc nhận thức rõ về nghề dần dần ở SV sẽ hình thành tình cảm nghềnghiệp, lòng mong muốn vận dụng những tri thức hiểu biết của mình để chăm sóc

và giáo dục trẻ Tức là XHNSP của SV sư phạm mầm non được hình thành

Như vậy, XHNSP của SV sư phạm mầm non được hình thành mạnh mẽ trongquá trình các em được học tập rèn luyện ở các trường (khoa) sư phạm mầm non Tất

cả điều này còn tiếp tục được hình thành khi các em làm việc độc lập trong cáctrường mầm non với vai trò của người GV Chính nơi đây, trong quá trình lao độngtham gia trực tiếp vào các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ với tinh thần tráchnhiệm và sự sáng tạo cùng với sự sẵn sàng giúp đỡ của tập thể sư phạm XHNSP,các phẩm chất năng lực sư phạm, các đặc điểm tâm lý của GVMN được thực sựhình thành một cách rõ rệt, phong phú

1.3.3 Biểu hiện của xu hướng nghề ở sinh viên

Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về những biểu hiện XHN và XHNSP

* Theo các nhà tâm lý học sư phạm Việt Nam, XHNSP của SV được biểu hiện ở các mặt sau:

1.3.3.1 Xu hướng nghề biểu hiện ở nhận thức của SV về ý nghĩa, tầm quantrọng nghề sư phạm

Nhận thức về nghề sư phạm là quá trình phản ánh các đặc trưng cơ bản củanghề sư phạm, những yêu cầu xã hội đối với nghề sư phạm

Nhận thức về nghề sư phạm là nhận thức được những vấn đề cơ bản sau: mụcđích, yêu cầu đào tạo; những yếu tố cần thiết để hoạt động tốt trong nghề sư phạm;đặc điểm lao động của nghề sư phạm; ý nghĩa xã hội của nghề sư phạm; nhận thức

về các đặc điểm tâm lý cá nhân cần thiết đối với người làm nghề sư phạm

Nhận thức về nghề sư phạm ở bậc mầm non là nhận thức được những vấn đề

cơ bản sau: nhận thức về các yêu cầu đặc trưng của nghề sư phạm bậc mầm non;nhận thức về ý nghĩa xã hội của nghề sư phạm ở bậc mầm non

Trong thời gian học tập tại các trường (khoa) sư phạm mầm non, SV phải cónhận thức đúng đắn về nghề sư phạm nói chung và nghề sư phạm ở bậc mầm nonnói riêng SV phải nhận thức được những yêu cầu đặc trưng của nghề, ý nghĩa xãhội của nghề và các đặc điểm tâm lý cá nhân cần thiết đối với người GV Từ nhậnthức đúng sẽ giúp họ có tình yêu và sự gắn bó nghề nghiệp mà họ theo đuổi

Trang 40

1.3.3.2 Xu hướng nghề biểu hiện ở động cơ học tập nghề sư phạm

Trong đời sống hằng ngày, mọi hành vi và hoạt động của con người đều đượcquy định bởi hệ thống động cơ và chính động cơ này đã đem lại cho hoạt động củacon người một ý nghĩa nhất định Như vậy, động cơ có vai trò rất quan trọng đối vớihoạt động của con người, nó có tác dụng kích thích, thúc đẩy con người đạt tớimục đích

Việc lựa chọn nghề nghiệp của SV cũng được một hệ thống động cơ thúc đẩy.Những động cơ này thường bắt nguồn từ nhu cầu, hứng thú riêng của mỗi người.Việc lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân có thể xuất phát từ động cơ có quan hệ trựctiếp với nội dung và quá trình thực hiện nghề nghiệp như yêu nghề, mong mỏi tíchlũy kiến thức Đây chính là cơ sở thúc đẩy con người vươn tới những mục tiêunhất định để thỏa mãn những nhu cầu bên trong của cá nhân, tạo sự sẵn sàng tâm lýđối với hoạt động nghề nghiệp Mặt khác, việc lựa chọn nghề nghiệp cá nhân có thểxuất phát từ động cơ quan hệ xã hội như lựa chọn nghề theo gia đình, bạn bè; nghềkhông đóng học phí Những động cơ này thường khiến chủ thể lựa chọn nghềnghiệp một cách thụ động Trong thực tế, việc kết hợp hài hòa các động cơ là cầnthiết nhằm mang lại kết quả tốt nhất cho hoạt động nghề nghiệp của cá nhân

1.3.3.3 Xu hướng nghề biểu hiện ở mong muốn, nhu cầu trở thành giáo viên giỏi

Nhu cầu là nguồn gốc của mọi tính tích cực cá nhân Nội dung nhu cầu củacon người được quy định bởi điều kiện sống của cá nhân, xã hội và cách thức thểhiện nó Nhu cầu của con người bao giờ cũng hướng vào một đối tượng cụ thể Khinhu cầu gặp đối tượng có khả năng đáp ứng thì lúc đó nhu cầu được thực hiện hóatrở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng

Đối với SV mầm non, nhu cầu của các em được thể hiện qua việc mong muốnđược học tập, tiếp thu tri thức của nghề một cách đầy đủ; tu dưỡng, rèn luyện nhữngphẩm chất đạo đức cần thiết; mong muốn tìm được công việc phù hợp với ngànhnghề đã được đào tạo để có điều kiện phát huy hết năng lực, chuyên môn nhằmcống hiến cho xã hội

1.3.3.4 Xu hướng nghề biểu hiện ở hứng thú trong học tập, rèn luyện nghề

Hứng thú đối với nghề sư phạm là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với nghề sưphạm có ý nghĩa đối với cá nhân khiến cho cá nhân nảy sinh khát vọng hành động,

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w