1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim lớp 10 trung học phổ thông

166 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học hóa học DHHH, việc nâng cao chất lượng dạy học và phát triển nhận thức, bồi dưỡng năng lực tự học cho HS có thể bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau, trong đó giải

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM ANH TUẤN

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH

THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN PHI KIM LỚP 10

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Huế, tháng 6 năm 2018 Tác giả luận văn

Phạm Anh Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài: “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài

tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim lớp 10 Trung học phổ thông” đã được hoàn thành

Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:

PGS.TS Nguyễn Xuân Trường đã dành thời gian hướng dẫn, đọc bản thảo,

bổ sung, đóng góp nhiều ý kiến quý báu và hướng dẫn tôi nhiệt tình trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Ban chủ nhiệm khoa Hóa học, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Lý luận và PPDH bộ môn Hóa học, trường Đại học Sư phạm Huế

Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Lương Văn Cù, trường PT Thực hành Sư phạm về sự quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Thừa Thiên Huế, 25 tháng 5 năm 2018

Tác giả

Phạm Anh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 7

3 Mục đích nghiên cứu 7

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 8

5 Giả thuyết khoa học 8

6 Nhiệm vụ của đề tài 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Dự kiến đóng góp của đề tài 9

9 Cấu trúc của luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC 10

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 10

1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới 10

1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam 10

1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với nhà hóa học 12

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học 12

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học 12

1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học 13

1.3 Năng lực tự học 14

1.3.1 Khái niệm tự học 14

1.3.2 Các hình thức của tự học 15

1.3.3 Chu trình tự học 21

1.3.4 Vai trò của tự học 23

1.4 Bài tập hóa học 24

Trang 5

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học 24

1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học 24

1.4.3 Phân loại bài tập hóa học 25

1.4.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa học27 1.4.5 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học 29

1.5 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học hiện nay ở trường Trung học phổ thông 30

1.5.1 Mục đích điều tra 30

1.5.2 Đối tượng, phương pháp điều tra 30

1.5.3 Kết quả điều tra 30

Tiểu kết chương 1 32

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM LỚP 10 33

2.1 Phân tích chương trình hóa học 10 THPT cơ bản phần phi kim 33

2.1.1 Mục tiêu chương trình phần phi kim 33

2.1.2 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần phi kim 34

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 35

2.2.1 Đảm bảo tính khoa học 35

2.2.2 Đảm bảo tính logic 35

2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 35

2.2.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập 36

2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức 36

2.2.6 Phù hợp với điều kiện thực tế 36

2.2.7 Tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tự học 36

2.2.8 Đảm bảo tính mục tiêu, bám sát nội dung dạy học 37

2.2.9 Chú trọng kiến thức trọng tâm 37

2.2.10 Gây hứng thú cho người học 37

2.3 Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim hỗ trợ tự học cho học sinh lớp 10 38

2.3.1 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải tổng quát phần phi kim 39

2.3.2 Các dạng bài tập và hướng dẫn giải cụ thể cho từng chương phần phi kim47 2.4 Sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần phi kim 66

Trang 6

2.4.2 Thiết kế một số giáo án có sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự

học 71

2.4.3 Hướng dẫn học sinh tự học và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học ở nhà 75

Tiểu kết chương 2 76

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 77

3.1.1 Mục đích của thực nghiệm 77

3.1.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 77

3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 78

3.3 Tiến trình thực nghiệm 78

3.3.1 Trao đổi với giáo viên về việc hướng dẫn học sinh sử dụng hệ thống bài tập và phương pháp tiến hành thực nghiệm 78

3.3.2 Khảo sát kết quả thực nghiệm sư phạm về mặt định tính và định lượng 79 3.4 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 79

3.5 Kết quả thực nghiệm 81

3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh 81

3.5.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 86

Tiểu kết chương 3 93

KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 94

1 Kết luận chung 94

2 Một số đề xuất 95

3 Hướng phát triển của đề tài 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Phương trình hóa học Sách bài tập

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Trang

BẢNG

Bảng 3.1: Kết quả (tần số) các bài kiểm tra 81

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp kết quả (tần số) các bài kiểm tra 82

Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất lũy tích qua các bài kiểm tra 82

Bảng 3.4: Phân loại kết quả học tập của HS qua các bài kiểm tra 84

Bảng 3.5: Giá trị các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 85

Bảng 3.6 Nhận xét của giáo viên về HTBT 86

Bảng 3.7 Thống kê số lượng phiếu nhận xét của học sinh 89

Bảng 3.8 Nhận xét của học sinh về hệ thống bài tập 89

HÌNH Hình 1.1 Chu trình học ba thời 21

Hình 3.1: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 83

Hình 3.2: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 83

Hình 3.3: Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 3 83

Hình 3.4: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 1) 84

Hình 3.5: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 2) 84

Hình 3.6: Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 3) 85

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỉ XXI với sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, lượng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng Việc tiếp thu kiến thức của học sinh (HS) nếu chỉ dựa vào các tiết học trên lớp là chưa đủ Do vậy, phải dạy cho HS cách học để có thể giúp họ trở thành những người có khả năng tự học suốt đời

Trong dạy học hóa học (DHHH), việc nâng cao chất lượng dạy học và phát triển nhận thức, bồi dưỡng năng lực tự học cho HS có thể bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau, trong đó giải bài tập được đánh giá là một PPDH có hiệu quả, nhất là trong việc rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú và đặc biệt kích thích HS hứng thú tự học Bài tập hoá học (BTHH) còn được coi là phương tiện cơ bản để dạy học và vận dụng kiến thức hoá học để giải quyết các nhiệm vụ học tập, các vấn đề thực tiễn có liên quan đến hoá học

Giải BTHH là lúc HS hoạt động tự lực để củng cố và trau dồi kiến thức hóa học của mình BTHH cung cấp cho HS cả kiến thức, cả con đường để giành lấy kiến thức, cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức Do vậy, BTHH vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp rèn luyện năng lực tự học hiệu nghiệm cho HS, đồng thời là thước đo đánh giá sự nắm vững kiến thức

và kĩ năng của HS

BTHH có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong DHHH Thông qua BTHH tư duy HS được đặc biệt chú trọng tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang chủ động, tích cực, sáng tạo từ đó nâng cao chất lượng học tập của HS Khi bồi dưỡng năng lực tự học cho HS ta không thể sử dụng những bài tập thông thường như khi giảng dạy trên lớp mà cần phải có hệ thống bài tập (HTBT) chất lượng, phân cấp, đa dạng và hứng thú rèn luyện kĩ năng giải, rèn luyện phương pháp tự học để phát triển

tư duy Học không chỉ để biết mà học còn để sáng tạo, học lấy cách học, học để tra cứu kiến thức của nhân loại và phát minh ra kiến thức mới

Lớp 10 là lớp đầu cấp Trung học phổ thông (THPT) là bước ngoặt khi

Trang 10

chuyển từ Trung học cơ sở (THCS) lên THPT với lượng kiến thức nhiều, yêu cầu

về nhiệm vụ học tập cao mà thời lượng trên lớp lại không đổi Nếu HS không tự học thêm ở nhà thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong học tập Đặc biệt môn Hóa học 10 cơ bản phần phi kim có nhiều mới lạ về kiến thức và đa dạng về bài tập do đó ngoài việc tiếp thu kiến thức trên lớp thì về nhà HS tự vận dụng kiến thức để làm bài tập Thông qua đó, HS có thể hiểu rõ, sâu hơn về bài học

Để góp phần đổi mới phương pháp tự học cho HS thì nhiệm vụ đặt ra cho giáo viên (GV) là hết sức khó khăn Người GV phải có năng lực hướng dẫn HS tự học, biết thu thập và xử lý thông tin để tự biến đổi mình Qua thực tế dạy học cho thấy trình độ tiếp cận những kiến thức mới của HS còn hạn chế, khả năng tự học của HS chưa tốt và GV chưa có phương pháp hợp lý HTBT phục vụ cho việc tự học, tự mở rộng kiến thức cho HS tuy đa dạng nhưng chưa có hệ thống, chưa sát với nội dung chương trình,

Xuất phát từ những nhu cầu và thực trạng trên chúng tôi chọn đề tài “Xây

dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim lớp 10 Trung học phổ thông” Với mong muốn

tạo ra HTBT giúp HS lớp 10 THPT tự học, tự rèn kĩ luyện năng giải bài tập trắc nghiệm và tự luận, thông qua đó giúp HS đánh giá trình độ bản thân và phục vụ cho các kì thi Mặt khác, giúp GV bồi dưỡng, rèn luyện tư duy hóa học và khả năng tự học cho HS ở trường THPT, đáp ứng mục tiêu giáo dục và đổi mới PPDH hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học, bước đầu nghiên cứu về HTBT và

vấn đề hỗ trợ HS tự học, tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng HTBT hóa học phần phi kim hóa học 10 ở các trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức Do đó, xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ việc tự học cho HS phần

chương Nhóm Halogen, Oxi – Lưu Huỳnh lớp 10 là cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng HTBT Nhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh với mục đích

giúp cho HS có tài liệu để có thể tự học và tự đánh giá trình độ của mình đồng thời giúp GV có cơ sở hướng dẫn HS tự học để tiết kiệm thời gian trên lớp mà vẫn khai

Trang 11

thác được hết các khía cạnh lý thuyết và các dạng bài toán hoá học ở lớp 10

Ngoài ra, thực hiện đề tài này là cơ hội tốt giúp người viết bồi dưỡng thêm kiến thức để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và rèn luyện năng lực tự học cho HS

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học Hóa học ở trường THPT

4.2 Đối tượng nghiên cứu

HTBT phần phi kim ở trường THPT phục vụ cho việc bồi dưỡng năng lực tự học của HS

5 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được HTBT phần phi kim đạt chất lượng tốt và được sử dụng

hiệu quả thì sẽ phát triển được năng lực tự học cho HS

6 Nhiệm vụ của đề tài

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp tự học

- Đánh giá thực trạng việc hướng dẫn tự học cho HS trong quá trình DHHH

ở một số trường THPT hiện nay

- Nghiên cứu nội dung chương trình hoá học và tuyển chọn, xây dựng HTBT chương Nhóm Halogen, Oxi – Lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tự học cho HS

- Đề xuất một số giải pháp sử dụng HTBT phát triển năng lực tự học cho HS

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá hiệu quả và tính khả thi của HTBT đã đề xuất

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu để xây dựng phần cơ

sở lý luận của đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra thực trạng việc tự học và trình độ của HS lớp 10 trường THPT

- Tham khảo, sưu tầm và tuyển chọn bài tập trong sách giáo khoa (SGK), sách tham khảo và đề kiểm tra, đề thi của HS lớp 10

Trang 12

- Thông qua TNSP đánh giá chất lượng HTBT biên soạn từ đó đưa ra HTBT chất lượng phù hợp để bồi dưỡng năng lưc tự học cho HS

7.3 Phương pháp thống kê toán học: Để xử lý kết quả TNSP

8 Dự kiến đóng góp của đề tài

8.1 Tuyển chọn và xây dựng được HTBT chương Nhóm Halogen, Oxi – Lưu

huỳnh lớp 10 hướng dẫn tự học phù hợp với quá trình nhận thức đa cấp độ của HS

từ thấp đến cao

8.2 Phương hướng sử dụng bài tập nhằm rèn luyện tư duy hóa học, phát

triển năng lực tự học cho HS

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim lớp 10 trường Trung học phổ thông

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Vấn đề tự học của HS đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau

1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới

Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục ở trên thế giới Nó vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm cho các nhà nghiên cứu giáo dục hiện tại và tương lai bởi vì tự học có vai trò rất quan trọng, quyết định mọi sự thành công trong học tập, là điều kiện đảm bảo cho hiệu quả, chất lượng của mọi quá trình giáo dục, đào tạo

T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 của thế kỷ XX đã cho rằng "Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập

và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi HS Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn HS tự học"

“Tự học như thế nào” của Rubakin, dịch giả là Nguyễn Đình Côi, xuất bản

1982 đã giúp bạn đọc biết tự học tập, nâng cao kiến thức toàn diện của mình

Gần đây, khá nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học

Cuốn “Phương pháp dạy và học hiệu quả” – Cark Rogers – một nhà giáo dục học, nhà tâm lý học người Mỹ do Cao Đình Quát dịch đã giải đáp cho HS câu hỏi học cái gì và học như thế nào? Câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào cũng được giải đáp

“Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên, các tác giả đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi

1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam

Ở nước ta, tự học đã có từ thời phong kiến Truyền thống tự học là một bộ phận trong truyền thống hiếu học của nhân dân ta Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam – cả cuộc đời Người là tấm gương lớn về tự học Người từng nói “còn sống thì còn học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt”

Trang 14

Sau đó, truyền thống tự học vẫn tiếp tục phát huy nhưng vẫn là khả năng tự học tự phát vì hồi đó chưa có chủ trương, chính sách chăm lo việc tự học, thầy giáo cũng không có trách nhiệm khơi dậy và phát triển năng lực tự học của HS Nhưng thực tiễn chứng minh rằng khả năng tự học tiềm tàng là rất dồi dào và nội lực cố gắng tìm học, tự học là nội lực quyết định đối với sự nghiệp giáo dục

GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta

Từ một GV trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học, tự nghiên cứu ông đã trở thành nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học Ông cho rằng

“học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài”

Trong những năm gần đây cũng đã xuất hiện một số bài viết về tự học

 Trần Anh Tuấn có bài viết: “Vấn đề tự học của học sinh từ góc độ đánh giá chất lượng kỹ năng nghề nghiệp” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số

Bên cạnh đó, một số cuốn sách về tự học cũng được xuất bản như:

 “Tôi tự học” – Thu Giang và Nguyễn Duy Cần đã đúc kết những kinh nghiệm quý báu trong quá trình tự học và đưa ra 8 nguyên tắc để làm việc

 Sau đó, năm 2009, NXB tổng hợp Tp.HCM xuất bản cuốn “Tự học thế nào cho tốt” đã rút ra những kinh nghiệm, những nguyên tắc, những quy luật giúp người học thấy được các bước đi rõ ràng để tiến nhanh đến đích, biết cách giải quyết nhiều loại khó khăn trong quá trình tự học Hai cuốn sách này đã thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học

Tuy vậy, các cuốn sách hầu như mới chỉ dừng lại ở phần lý thuyết chung nhất cho mọi môn học mà chưa đi vào các biện pháp cụ thể đối với từng môn học

Trang 15

1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với nhà hóa học

Hóa học là một môn học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng tự nhiên, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sáng tạo

Theo PGS.TS Lê Văn Năm, học không chỉ là quá trình ghi nhận, thu thập thông tin Học là hiểu, ghi nhớ, liên hệ và vận dụng Nhờ liên hệ và vận dụng HS sẽ hiểu bài sâu sắc hơn, nhớ bài lâu hơn Trong thực tế một người có thể học theo nhiều kiểu khác nhau nhưng dưới hình thức nào thì tự học cũng là cốt lõi của quá trình học Tự học đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu tri thức và hoàn thiện nhân cách của con người

Theo PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, để việc học đáp ứng 4 trụ cột mà Unesco đề ra: Học để học cách học, học để làm, học để sáng tạo và học để chung sống với người khác thì người học phải tuân theo công thức 4H: Học - Hỏi - Hiểu - Hành và học 6 mọi: Học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi người, học trong mọi hoàn cảnh, học bằng mọi cách, học qua mọi nội dung theo như tinh thần GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn đã nêu trong cuốn “học và dạy cách học” “Sáu mọi” quan hệ chặt chẽ với nhau, cái này tận dụng cái kia và là tiền đề cho cái kia Nói đến cái này thì trong đó lại thấp thoáng cái kia nên dễ có cảm tưởng “trùng lặp” nhưng nếu chỉ bớt đi một cái thì lại thấy thiếu Mới nghe tưởng chừng như cách học “sáu mọi” rất căng thẳng, rất nhồi nhét Thực tế, nó rất nhẹ nhàng giống như cách học trong câu:

“đi một ngày đàng, học một sàng khôn” Người học chỉ cần có ý thức “học” và phải kiên trì, bền bỉ Vì vậy, luyện dần cách học “sáu mọi” càng sớm càng tốt và dù muộn vẫn hơn không

1.2 Đổi mới phương pháp dạy học

1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóa đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước trở nên thực tiễn hơn và nhanh chóng hơn Khoa học - công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển

Trang 16

kinh tế - xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thệ hệ hiện nay và mai sau Vì vậy, các quốc gia, từ những nước đang phát triển đến những nước phát triển đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nước

Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yếu tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, PPDH PPDH là khâu rất quan trọng bởi lẽ PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của người học Bởi vậy, việc đổi mới giáo dục trước hết là việc đổi mới PPDH

Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 4 (khoá VII) đã xác định: “Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho

HS năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”

1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

Theo tài liệu số [4] chúng tôi thấy một số xu hướng đổi mới PPDH trên thế giới và ở nước ta hiện nay là:

1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá

2 Cá thể hóa việc dạy học

3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học

4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức

5 Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học

6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời

7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)

Trang 17

Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về PPDH hiện nay

1.3 Năng lực tự học

1.3.1 Khái niệm tự học

Một số nhà nghiên cứu nổi tiếng định nghĩa về tự học như sau:

- Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (Henri Holec)

- Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó (Leslie Dickinson)

- Tự học là sự nhận thức về quyền của người học trong hệ thống giáo dục (Phil Benson)

Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 tự học là: “…quá

trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”

Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng

được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”

Từ quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như

sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh

tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định

Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập, tự chủ, tự giác và kiên trì cao

Các mặt biểu hiện của năng lực tự học ở HS nói chung gồm có:

- Năng lực nhận biết, tìm tòi, phát hiện vấn đề

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề

Trang 18

- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (hoặc vào nhận thức kiến thức mới)

- Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Như vậy năng lực tự học có thể được mô tả thông qua các điểm chính sau đây: Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao hơn nữa những khía cạnh còn yếu kém

Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; và hình thành cách học tập riêng của bản thân; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; thành thạo sử dụng thư viện, chọn lọc các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập của các bài tập khác nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng khi cần thiết,

tự đặt được vấn đề học tập

Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vận dụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch kế hoạch điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập

Các thao tác hình thành năng lực tự học

1.3.2 Các hình thức của tự học

Theo tài liệu [18] chúng tôi thấy tự học có 3 hình thức:

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận

dụng các kiến thức trong đó

Trang 19

- Tự học có hướng dẫn: Có GV ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc

bằng các phương tiện thông tin khác

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết

trong ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học

Theo tài liệu của Khoa y sinh học - Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:

Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không

Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có GV bên cạnh

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:

Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạt đến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy

và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp các thắc mắc, làm bài, kiểm tra, đánh giá,

Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, sau đó

sinh viên về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV

Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất

xúc tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá

Trang 20

trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa Nội lực và Ngoại lực, Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển

Trong quá trình tự học ở nhà, tuy người học không giáp mặt với thầy, nhưng

dưới sự hướng dẫn gián tiếp của thầy, người học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tự sắp xếp kế hoạch huy động mọi trí tuệ và kỹ năng của bản thân để hoàn thành những yêu cầu do GV đề ra Tự học của người học theo hình thức này liên quan trực tiếp với yêu cầu của GV, được GV định hướng về nội dung, phương pháp tự học để người học thực hiện Như vậy ở hình thức tự học thứ ba này quá trình tự học của sinh viên có liên quan chặt chẽ với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của

GV và quá trình tự học của sinh viên

Theo tài liệu số [25], GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng, khi đã có hệ thống SGK thì việc tự học có thể diễn ra theo 3 cách sau:

- Có SGK rồi người học tự đọc lấy mà hiểu, mà thấm các kiến thức trong sách, qua việc hiểu mà tự rút ra kinh nghiệm về tư duy, tự phê bình về tính cách (như thiếu kiên trì, thiếu tư tưởng tiến công, dễ thỏa mãn, ) Đó là tự học ở mức cao

- Có SGK và có thêm những ông thầy ở xa hướng dẫn tự học bằng tài liệu hoặc các phương tiện thông tin viễn thông khác Hướng dẫn tự học chủ yếu là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức, hướng dẫn tự phê bình về tính cách trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Đó là tự học có hướng dẫn

- Có sách và có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, trong tuần Bằng những hình thức thông tin trực tiếp không qua máy móc hoặc ít nhiều có sự hỗ trợ của máy móc đặt ngay tại lớp Thầy làm việc hướng dẫn như ở trường hợp 2 Đó là học giáp mặt trên lớp và về nhà tự học có hướng dẫn

Khách quan mà xét thì thuận lợi đối với người học tăng dần lên từ cách 1 đến cách 3 Nhưng sự vật rất biện chứng, khó khăn và thuận lợi có thể chuyển hóa lẫn nhau Theo cách 1 thì người học gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi gặp chỗ không hiểu không biết hỏi ai, phải lúng túng loay hoay mất nhiều thì giờ Nhưng những lúng túng, những loay hoay đó thật đáng quý xét về phương diện chúng đòi hỏi

Trang 21

người học phải phát huy nội lực cao và do đó nội lực phát triển mạnh Cách thứ 3 có nhiều thuận lợi nhất nhưng thuận lợi đó có thể biến thành khó khăn nếu thầy không cảnh giác với việc làm thay trò (những việc mà trò tự làm được) và trò không cảnh giác với việc ỷ lại vào thầy (gặp khó khăn 1 chút là hỏi thầy ngay)

Theo http://webdayhoc.net, tự học có các hình thức sau:

- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế,

học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học

- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài

hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ

- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV

giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách

xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai

- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của

GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sử

dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học

- Tự học theo tài liệu hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV

gọi tắt là "tự học có hướng dẫn"

Ngoài ra, theo quan điểm của Nguyễn Văn Khải, Phan Thị Xuyến thì việc hướng dẫn người học làm việc với SGK để hình thành năng lực tự học có 3 giai đoạn cơ bản sau:

Trang 22

- Hướng dẫn HS làm việc với SGK và trả lời câu hỏi ở nhà trước khi học bài

- Hướng dẫn HS làm việc với SGK trong giờ học trên lớp

- Làm việc với SGK sau giờ học

Từ những quan điểm về các hình thức tự học nêu trên, chúng tôi đi đến phân loại các hình thức tự học như sau: tự học hoàn toàn (không có thầy hướng dẫn), tự học có hướng dẫn thì chia thành 2 dạng:

- Có hướng dẫn nhưng không giáp mặt: Có GV ở xa hướng dẫn người học

bằng tài liệu hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

- Có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với GV một số tiết trong

ngày, trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (Nguyễn Ngọc Quang (1986), Lý luận dạy

học đại cương, Tập 1, NXB GD, Hà Nội) thì việc tự học có thể diễn ra theo 2 cách sau:

* Tự học không có sự hướng dẫn trực tiếp của GV

- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học

- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: thí dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ

- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai

Trang 23

- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV

ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sử dụng SGK Hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu

sự hướng dẫn về phương pháp học

* Tự học có hướng dẫn

Tự học là một hình thức học Vậy hoạt động tự học cũng phải có mục đích, nội dung và phương pháp phù hợp Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS

Cần hiểu mối quan hệ giữa dạy và tự học là quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho HS

tự phát triển, chỉ có tự học của HS mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân HS Hình thức tự học có hướng dẫn là hướng dẫn để HS tự học Trong

tự học có hướng dẫn, HS nhận được sự hướng dẫn từ hai nguồn: từ tài liệu hướng dẫn và trực tiếp từ GV

Nguồn hướng dẫn qua tài liệu: Tài liệu SGK Hóa học thường chỉ trình bày

kiến thức mà không có những chỉ dẫn về phương pháp hoạt động để dẫn đến kiến thức, để hình thành kĩ năng Bởi vậy HS rất bị động Để khắc phục tình trạng đó tài liệu hướng dẫn tự học ngoài việc trình bày nội dung kiến thức, còn hướng dẫn

cả cách thức hoạt động để phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử lí thông tin, rút ra kết luận, kiểm tra và đánh giá kết quả

Nguồn hướng dẫn trực tiếp của GV qua các giờ lên lớp: Rèn luyện kĩ năng

tự học cho HS là một quá trình lâu dài phức tạp và luôn luôn được củng cố, nâng cao và bổ sung thêm, bởi vậy tốt nhất là nên dành thời gian tiếp xúc giữa GV và HS

ở trên lớp để thực hiện công việc đó

Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân họ Đây là quá trình tự giác, tích cực,

tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định Vì vậy, quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động HS biết tự sắp xếp,

Trang 24

bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả hoạt động tự học của chính mình

Như vậy khái niệm tự học ở đây được hiểu là hoạt động tự lực của HS để chiếm lĩnh tri thức khoa học đã được qui định thành kiến thức học tập trong chương trình và SGK với sự hướng dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp của GV thông qua các phương tiện học tập như tài liệu tự học có hướng dẫn, tài liệu tra cứu, giáo án điện tử,

HS không dùng SGK phổ thông mà sử dụng tài liệu viết riêng cho họ tự học Tài liệu tự học có hướng dẫn cung cấp cho HS nội dung kiến thức và phương pháp học nội dung kiến thức đó

1.3.3 Chu trình tự học

Nghiên cứu tài liệu [22], [23] chúng tôi thấy rằng:

Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự

hỗ trợ của môi trường sư phạm”

Cũng theo tác giả, chu trình học diễn biến theo ba thời: Tự nghiên cứu (I),

Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III)

Hình 1.1 Chu trình học ba thời

Thời (I): Tự nghiên cứu

Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm

hiểu, nhận biết vấn đề của tình huống học: Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có thể giải quyết theo hướng nào? Từ chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận

thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông tin, xây dựng các giải pháp, thử

Trang 25

nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề Chủ thể ghi lại kết quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu

Tất nhiên sản phẩm đó có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Bằng con đường nào để làm cho sản phẩm ban đầu trở thành khách quan, khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp tác với các bạn và thầy trong cộng đồng lớp học Tự thể hiện, hợp tác với bạn, đó là thời (II) của chu trình học

Thời (II) : Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy

Qua thời (I), chủ thể đã tự thể hiện mình bằng cách tự đặt mình vào tình huống, bằng sắm vai, bằng văn bản của sản phẩm học ban đầu Giờ đây, cần tiếp tục

tự thể hiện để hợp tác với các bạn và thầy bằng cách tự trình bày và bảo vệ sản phẩm học của mình, hỏi bạn và thầy về những gì đã tự hỏi mà không tự trả lời được, tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn; tham gia tranh luận Tranh luận có trọng tài,

có kết luận của thầy Tranh luận và kết luận của thầy sẽ cho phép chủ thể bổ sung sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm khách quan hơn, có tính hợp tác, xã hội, nhất là thông qua việc “tự kiểm tra, tự điều chỉnh” ở thời (III) dưới đây

Thời (III): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh

Thảo luận ở cộng đồng lớp và kết luận của thầy đã cung cấp thông tin phản hồi về sản phẩm học ban đầu của chủ thể, lấy đó làm cơ sở cho người học so sánh,

đối chiếu, tự kiểm tra lại sản phẩm học, tự đánh giá, tự phê bình và cuối cùng tổng

hợp, chốt lại vấn đề rồi tự sửa sai, điều chỉnh, hoàn chỉnh thành sản phẩm khoa học,

và tự rút kinh nghiệm về cách học, cách tư duy, cách giải quyết vấn đề của mình,

sẵn sàng bước vào một tình huống học mới

Chu trình học ba thời “Tự nghiên cứu – Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy – Tự kiểm tra, tự điều chỉnh” – thực chất cũng chính là con đường “Nhận biết, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết và giải quyết vấn đề” của việc nghiên cứu khoa học – con đường xoắn ơristic kiểu học trò ở tầm vóc và trình độ của người học, dẫn dắt người học đến tri thức khoa học, đến chân lý mới (chỉ mới đối với người học) và

chỉ có thể diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy

Chu trình học ba thời không có nghĩa tuyệt đối là có “ba bước”, “ba giai đoạn”,

Trang 26

có ranh giới rạch ròi, máy móc, tách rời nhau, mà có thể đan xen, hoà nhập lẫn nhau và

có thể biến động theo hoàn cảnh người học Ngay trong lúc đang tham gia thảo luận (thời II), chủ thể có thể động não, suy nghĩ (tự nghiên cứu – thời I), hoặc tự kiểm tra, tự phê bình về sản phẩm học của mình (thời III) Thời chỉ có nghĩa là vào lúc đó, nổi bật lên vai trò của cá nhân người học, của lớp hay của thầy Thời nào cũng có vai trò và hoạt động của trò và thầy, song ở thời (I), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) của người học với kết quả là sản phẩm học ban đầu Thời (II) là vai trò của lao động hợp tác (học hợp tác) với thầy và bạn ở lớp học, tạo ra sản phẩm học mang tính hợp tác – xã hội Ở thời (III), nổi lên vai trò lao động cá nhân (học cá nhân) ở trình độ cao hơn thời I: tự kiểm tra, tự phê bình, tự sửa sai, tự điều chỉnh, rút kinh nghiệm,…

Điều cốt yếu là cả ba thời đều diễn ra trên cái nền chung là hành động học,

tự học, tự nghiên cứu, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của chủ thể, dưới sự hướng dẫn hợp lý của nhà giáo

1.3.4 Vai trò của tự học

Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý: học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn

Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt

sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, HS sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”

Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông

Trang 27

1.4 Bài tập hóa học

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học

Thực tiễn ở trường phổ thông, bài tập giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo Bài tập vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là PPDH hiệu quả Bài tập cung cấp cho HS cả kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và

cả niềm vui sướng của sự phát hiện - tìm ra đáp số - một trạng thái hưng phấn - hứng thú nhận thức - một yếu tố tâm lý góp phần rất quan trọng trong việc nâng cao tính hiệu quả của hoạt động thực tiễn của con người, điều này đặc biệt được chú ý trong nhà trường của các nước phát triển

Vậy BTHH là gì? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn, đặc biệt

là GV nên sử dụng BTHH như thế nào để đạt hiệu quả trí - đức dục cao nhất?

Theo Từ điển tiếng Việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một số tài liệu lý luận dạy học “thường dùng bài toán hoá học” để chỉ những bài tập định lượng - đó

là những bài tập có tính toán - khi HS cần thực hiện những phép tính nhất định

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này

Thông thường trong SGK và tài liệu lý luận dạy học bộ môn, người ta hiểu bài

tập là nhưng bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là

nghiên cứu các hiện tượng hoá học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hoá học

và rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn

1.4.2 Tác dụng của bài tập hóa học

Việc dạy học không thể thiếu bài tập, sử dụng bài tập là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học BTHH có ý nghĩa, tác dụng to lớn

về nhiều mặt

1.4.2.1 Ý nghĩa trí dục

Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến

Trang 28

thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào việc giải bài tập HS mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc

Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập, HS sẽ không tập trung nếu chỉ yêu cầu HS nhắc lại kiến thức thực tế cho thấy HS chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập

Rèn luyện các kỹ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng (PTPƯ), tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học Nếu là bài tập thực nghiệm (TN) sẽ rèn các kỹ năng thực hành góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho HS

Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường

Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tư duy

có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)

1.4.3 Phân loại bài tập hóa học

Dựa vào nội dung và hình thức thể hiện có thể phân loại BTHH thành 3 loại:

- Giải thích, chứng minh, viết PTHH

- Nhận biết, phân biệt chất

- Tinh chế, tách chất ra khỏi hỗn hợp

Trang 29

- Điều chế chất

Đặc biệt trong bài tập định tính có rất nhiều bài tập thực tiễn giúp HS giải quyết các vấn đề thực tiễn có liên quan đến hóa học

Bài tập định lượng (bài tập hóa học)

Là loại bài tập cần dùng các kỹ năng toán học kết hợp với các kỹ năng hóa học để giải Căn cứ vào nội dung có các dạng bài tập định lượng khác nhau

Bài tập TNKQ

Là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn và yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng 1 kí hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời

+ Ưu điểm nổi bật của TNKQ:

Trong thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều nội dung kiến thức, tránh được tình trạng học tủ, học lệch

Việc chấm điểm là khách quan, không phụ thuộc vào người chấm nên độ tin cậy cao hơn các phương pháp kiểm tra đánh giá khác

Rèn luyện cho HS khả năng nhận biết, khai thác, xử lí thông tin và khả năng

tư duy phán đoán nhanh

Giúp người học tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của mình một cách khách quan

+ Nhược điểm:

Bên cạnh những ưu điểm trên, bài tập TNKQ vẫn còn có những nhược điểm đáng kể như:

Ít góp phần phát triển ngôn ngữ hóa học

Không thể dùng để kiểm tra kỹ năng thực hành hóa học

Giáo viên chỉ biết kết quả, suy nghĩ của HS mà không biết quá trình suy nghĩ

sự nhiệt tình, hứng thú của HS đối với nội dung được kiểm tra

Trên thực tế, sự phân loại trên chỉ là tương đối Có những bài vừa có nội dung thuộc bài tập định tính, vừa có nội dung thuộc bài tập định lượng, hoặc trong một bài có thể có phần TNKQ cùng với giải thích, viết PTPƯ

Trang 30

1.4.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài tập hóa học

1.4.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập hóa học

Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau

a) Nghiên cứu đầu bài

+ Đọc kỹ đầu bài

+ Phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (nên tóm tắt dưới dạng sơ đồ cho dễ sử dụng)

+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản

+ Viết các phương trình hóa học có thể xảy ra

b) Xây dựng tiến trình luận giải

Xây dựng tiến trình luận giải thực chất là đi tìm con đường đi từ cái cần tìm đến cái đã cho Bằng cách xét một vài các bài toán phụ liên quan Tính logic của bài toán có chặt chẽ hay không là ở giai đoạn này Nếu GV biết rèn luyện cho HS tự xây dựng cho mình một tiến trình luận giải tốt, tức là GV đã dạy cho HS bằng bài tập Thông qua đó HS không chỉ nắm vững kiến thức, biết cách giải mà còn có được một cách thức suy luận, lập luận để giải bất kỳ một bài tập nào khác Điều này được thông qua một số dạng câu hỏi như sau (GV gợi ý sau đó tập dần cho HS tự đặt câu hỏi)

c) Thực hiện tiến trình giải

Thực hiện tiến trình giải thực chất là trình bày lời giải một cách tường minh

từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, phần lớn là đặt ẩn số, dựa vào mối tương quan giữa các ẩn số để lập phương trình, giải phương trình hay hệ phương trình và biện luận kết quả (nếu cần)

d) Đánh giá việc giải

Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đến kết quả bằng cách khác không? tối ưu hơn không? tính đặc biệt của bài toán là gì?, Trên thực tế ngay cả với những HS giỏi, sau khi tìm ra cách giải và trình bày lập luận của mình một cách sáng sủa, cũng xem như việc giải đã kết thúc Như vậy chúng ta

đã bỏ mất một giai đoạn quan trọng và rất bổ ích cho việc học hỏi Việc nhìn lại cách giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi, HS có thể củng cố kiến thức và phát triển khả năng giải bài tập của mình Người GV phải hiểu và làm cho HS hiểu:

Trang 31

không có một bài tập nào hoàn toàn kết thúc, bao giờ cũng còn lại một cái gì để suy nghĩ Nếu có đầy đủ kiên nhẫn và chịu khó suy nghĩ thì có thể hoàn thiện cách giải và trong mọi trường hợp, bao giờ cũng hiểu được cách giải sâu sắc hơn

1.4.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải bài tập hóa học

- Theo Lý luận dạy học (tài liệu số [18]), kiến thức được hiểu là kết quả quá

trình nhận thức bao gồm “một tập hợp nhiều mặt về chất lượng và số lượng của các biểu tượng và khái niệm lĩnh hội được, giữ lại trong trí nhớ và được tái tạo lại khi

có những đòi hỏi tương ứng”

- Những kiến thức được nắm một cách tự giác, sâu sắc do có tích luỹ thêm kỹ

năng, kỹ xảo sẽ trở thành công cụ tư duy của học sinh

- Theo M.A Đanilôp: “Kỹ năng là khả năng của con người biết sử dụng có mục đích và sáng tạo những kiến thức và kỹ xảo của mình trong quá trình hoạt động

lý thuyết cũng như thực tiễn” Nếu như kỹ năng đòi hỏi ở mức độ nhiều, ít sự tự kiểm tra, sự tự giác, tỉ mỉ thì kỹ xảo là hành động đã được tự động hoá, trong đó sự

tự kiểm tra, tự giác xảy ra chớp nhoáng và các thao tác được thực hiện rất nhanh, như một tổng thể, dễ dàng và nhanh chóng

- Sự nắm vững kiến thức có thể được phân biệt ở 3 mức độ: Biết, hiểu và vận dụng được

+ Biết một kiến thức nào đó nghĩa là nhận ra nó, phân biệt nó với các kiến thức khác, kể lại một nội hàm của nó một cách chính xác Đây là mức độ tối thiểu

mà HS cần đạt được trong giờ học tập

+ Hiểu một kiến thức là gắn kiến thức ấy vào một kiến thức đã biết đưa được

nó vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân Nói cách khác, hiểu một kiến thức

là nêu đúng ngoại hàm và nội diên của nó, xác lập được những quan hệ giữa nó và

hệ thống kiến thức và vận dụng được trực tiếp kiến thức ấy vào những tình huống quen thuộc dẫn đến có khả năng vận dụng nó một cách linh hoạt và sáng tạo

+ Vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn, tức là phải tìm được kiến thức thích hợp trong vốn kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Thông qua vận dụng kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn càng làm cho quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, làm cho

Trang 32

mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được hình thành và củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao

- Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức hoá học một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất Theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy để giải quyết các bài toán khác nhau Ở đây, chúng ta thấy rõ quan hệ biện chứng giữa nắm vững và vận dụng kiến thức trong quá trình nhận thức của HS:

1.4.5 Xu hướng phát triển của bài tập hóa học

BTHH là phương tiện có bản chất để HS vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các nhiệm vụ học tập Nhờ sự vận dụng kiến thức để giải các bài tập mà kiến thức của HS được củng cố, khắc sâu, chính xác hóa, mở rộng và nâng cao thêm Vì vậy BTHH vừa là nội dung, vừa là phương tiện dạy học có hiệu quả giúp GV truyền tải kiến thức đến HS và ngược lại, HS cũng thu nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực, sáng tạo thông qua hoạt động giải bài tập

Xu hướng phát triển của BTHH hiện nay:

Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích gắn với kiến thức hóa học, không quá nặng về tính toán mà tập trung rèn luyện và phát triển năng lực nhận thức, tư duy cho HS BTHH cần chú trọng rèn luyện thao tác, kỹ năng TN hóa học

BTHH cần chú trọng đến việc mở rộng kiến thức hóa học có liên quan đến thực tiễn và các ứng dụng của hóa học trong đời sống, để giúp HS thấy được kiến thức hóa học mang tính thiết thực với cuộc sống con người Trong bài tập cần khai thác yếu tố ảnh hưởng của hóa học đến môi trường, kinh tế xã hội, đời sống sản xuất và các hiện tượng tự nhiên để làm cho nội dung bài trở nên hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của bộ môn

Trang 33

Chuyển hóa một số dạng BTHH tự luận sang dạng TNKQ để rèn luyện khả năng suy luận, tư duy tính toán nhanh cho HS

Như vậy việc sử dụng BTHH trong DHHH sẽ được thực hiện:

Dùng bài tập hình thành khái niệm mới Xây dựng các dạng bài tập hình thành khái niệm (xây dựng trong phiếu học tập)

Dùng bài tập rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức: dùng bài tập giúp HS giải quyết vấn đề học tập, vấn đề thực tiễn

Dùng bài tập để phát triển tư duy sáng tạo: xây dựng các bài tập khó bồi dưỡng HS giỏi đòi hỏi có sự tu duy sáng tạo nhằm bồi dưỡng HS giỏi

1.5 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học hiện nay ở trường Trung học phổ thông

1.5.1 ục đ ch điều tra

- Nắm được hình thức sử dụng HTBT, phương pháp giảng dạy các tiết học

có sử dụng bài tập như tiết luyện tập, tiết tự chọn mà GV thường sử dụng trong DHHH ở trường THPT

- Nắm được cách GV hướng dẫn HS giải bài tập trên lớp, các dạng bài tập

mà GV đã sử dụng trong các tiết bài tập cũng như việc hướng dẫn HS tự học

1.5.2 Đối tư ng phương pháp điều tra

- Đối tượng điều tra: Việc dạy và học các tiết có sử dụng bài tập ở các trường

PT Thực hành Sư phạm và THPT Lương Văn Cù (An Giang)

- Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra cho các GV dạy môn Hóa học ở các trường nói trên

+ Những ý kiến của GV về việc sử dụng HTBT ở trường THPT nhằm hỗ trợ

HS tự học

+ Các PPDH được GV sử dụng khi dạy các tiết có sử dụng bài tập

1.5.3 Kết quả điều tra

Qua phân tích kết quả khảo sát ban đầu (phiếu khảo sát được trình bày ở phụ lục 1 của luận văn) về việc sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học, chúng tôi nhận thấy:

Đa số GV đều cho rằng việc sử dụng HTBT là rất quan trọng trong việc dạy và học hóa học Tuy nhiên, BTHH trong SGK và sách bài tập (SBT) vẫn chưa đầy đủ các

Trang 34

dạng và bao quát kiến thức của chương trình, vì vậy việc xây dựng HTBT hóa học cho

HS nói chung và HTBT hóa học hỗ trợ HS tự học nói riêng là hết sức cần thiết

Có 67% GV không tự biên soạn HTBT mà chủ yếu sử dụng các bài tập trong SGK, SBT hoặc từ internet (không biên soạn lại) 33% GV tự biên soạn HTBT thì

số GV sắp xếp các bài tập theo từng nội dung kiến thức của chương hoặc phân dạng bài tập là khá ít đặc biệt bài tập sau mỗi bài học để hỗ trợ HS tự học ở nhà và làm rõ

lí thuyết là hầu như không được chú ý biên soạn cho phù hợp với đối tượng HS

Về mục đích của việc sử dụng bài tập thì có 73% GV sử dụng với mục đích đảm bảo kiến thức cơ bản cho HS, 12% GV sử dụng với mục đích bảo đảm việc điểm số trong kiểm tra cho HS, còn việc sử dụng bài tập để hướng dẫn HS tự rút ra quy luật giải toán cho một số dạng bài cụ thể, khuyến khích HS nhìn nhận một vấn

đề hay một bài toán dưới nhiều khía cạnh khác nhau hoặc giúp HS vượt qua chướng ngại nhận thức thông qua việc phát hiện và giải quyết vấn đề mà nội dung bài tập đề

ra thì GV vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Về việc hướng dẫn HS giải bài tập tại lớp thì có 58% GV áp dụng phương pháp truyền thống là GV hướng dẫn bài tập mẫu, sau đó yêu cầu HS làm bài tương

tự trên bảng hoặc gọi HS lên bảng giải bài tập và thừa nhận bài giải của HS, số GV cho HS thảo luận theo nhóm rồi yêu cầu thành viên trong nhóm thuyết trình là 27%

và việc GV gợi ý để HS tự xây dựng tiến trình luận giải cho từng dạng bài tập cụ thể hoặc GV để HS tự độc lập suy nghĩ cách giải bài tập là khá ít

Bên cạnh đó, GV thường dạy một tiết học có sử dụng HTBT như tiết luyện tập,

ôn tập, tự chọn khi giống như một tiết sửa bài tập thông thường chủ yếu GV cho HS sửa hết các bài tập trong SGK và làm thêm một vài bài tập nâng cao trong SBT hoặc chỉ hệ thống hóa kiến thức đã học ở những bài trước theo kiểu kiểm tra bài cũ

Qua số liệu trên, cũng như qua trò chuyện với một số HS, chúng tôi nhận thấy HS chưa được hướng dẫn các phương pháp tự học thông qua HTBT như: GV chưa hướng dẫn HS cách thức xây dựng tiến trình luận giải, các em chưa được khuyến khích hoặc hướng dẫn nhìn nhận một bài tập dưới nhiều góc độ khác nhau, đôi khi GV áp đặt phương pháp giải toán và đặc biệt là các em không được hướng dẫn cách tự học ở nhà thông qua các chuyên đề tự học Còn khi lấy ý kiến của GV,

Trang 35

chúng tôi nhận thấy công việc biên soạn và sử dụng HTBT theo hướng hỗ trợ HS tự học chưa thực sự được GV quan tâm đúng mức Phần lớn GV cho rằng do áp lực điểm số ở nhà trường, việc thi cử, chương trình học nặng nề, thời gian không cho phép, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn,… nên việc sử dụng bài tập của GV hiện nay giống như một cách để kiểm tra việc tiếp thu kiến thức lí thuyết, giúp HS giải một số bài tập cơ bản nhằm đáp ứng cho việc kiểm tra, đánh giá, thi cử như hiện nay

Mức độ cần thiết của các biện pháp xây dựng HTBT hóa học hỗ trợ HS tự học xếp theo thứ tự giảm dần sau:

Qua đó, chúng tôi nhận thấy xây dựng và sử dụng HTBT hỗ trợ HS tự học là một xu hướng đổi mới đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH môn Hóa học hiện nay

Trang 36

CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG

HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ VIỆC TỰ HỌC CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM LỚP 10

2.1 Phân tích chương trình hóa học 10 THPT cơ bản phần phi kim

2.1.1 ục tiêu chương trình phần phi kim

Chương trình phần phi kim lớp 10 ban cơ bản gồm có 2 chương như sau:

- Chương 5: Nhóm Halogen

- Chương 6: Oxi – Lưu huỳnh

Mục tiêu cụ thể của mỗi chương như sau:

Theo tài liệu [5] chúng tôi thấy mục tiêu phần phi kim – Hóa học 10 cơ bản:

HS được rèn luyện các kĩ năng:

- Vận dụng các kiến thức về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, phản ứng hóa học để dự đoán lý thuyết tính chất cơ bản của đơn chất, hợp chất của phi kim và

Trang 37

- Hứng thú và say mê học tập, phương pháp tư duy và nghiên cứu hóa học

- Thái độ đúng đắn với các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, ý thức bảo

vệ môi trường không khí, đất, nước

- Ý thức vận dụng kiến thức học được vào cuộc sống

2.1.2 Nội dung kiến thức và phân phối chương trình các bài phần phi kim

Tiết 47: Sơ lược về hợp chất có oxi của clo

Tiết 48, 49: Flo – Brom - Iot

Tiết 50, 51: Luyện tập

Tiết 52: Thực hành số 3

Tiết 53: Kiểm tra viết

Chương 6: Oxi – Lưu huỳnh

Tiết 54: Oxi - Ozon Luyện tập

Tiết 55: Lưu huỳnh

Tiết 56: Thực hành số 4

Tiết 57, 58: Hiđrosunfua Lưu huỳnh đioxit Lưu huỳnh trioxit

Tiết 59, 60: Axit sunfuric Muối sunfat

Trang 38

Tiết 61, 62: Luyện tập Oxi - Lưu huỳnh

Tiết 63: Thực hành số 5 (Lấy điểm kiểm tra 15 phút)

Tiết 64: Kiểm tra viết

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập

SGK Hóa học được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức cơ bản cho HS và là phương tiện để GV tổ chức các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng kiến thức, rèn luyện khả năng tự học, tự lĩnh hội kiến thức cho HS SGK Hóa học ở nước ta hiện nay là tài liệu được văn bản hóa có chứa đựng mục tiêu, nội dung và PPDH, nhưng tất nhiên là nặng về nội dung bài học Với mong muốn hỗ trợ HS tự học nhằm nâng cao kết quả học tập, khi xây dựng HTBT chúng tôi đặc biệt chú ý các nguyên tắc sau:

2.2.1 Đảm bảo t nh khoa học

Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung

Theo nguyên tắc này, bảo đảm tính cơ bản là phải đưa vào HTBT hóa học những kiến thức cơ bản về hoá học Bảo đảm tính hiện đại tức là phải đưa trình độ của

môn học đến gần trình độ của khoa học, đưa vào HTBT hóa học những quan điểm

cơ bản của kiến thức hoá học (về thành phần, về cấu tạo các hợp chất hoá học, về các quá trình hoá học, ), đảm bảo tính đúng đắn và tính hiện đại của các sự kiện được lựa chọn

Điều kiện quan trọng để thực hiện nguyên tắc này là tính hệ thống của kiến thức, thiết lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng; dùng phương pháp khái quát hoá để diễn đạt kiến thức; tập trung vào kiến thức trọng tâm,

2.2.2 Đảm bảo t nh logic

Tính logic được hiểu một cách đơn giản chính là hợp lí Hợp lí trong cả việc chọn nội dung kiến thức phù hợp với đối tượng sử dụng HTBT (ở đây là những HS học chương trình cơ bản) và hợp lí trong việc trình bày các kiến thức đó HTBT phải được trình bày tinh gọn, dễ hiểu, cấu trúc rõ ràng

2.2.3 Đảm bảo t nh đầy đủ đa dạng

- Thông qua HTBT, HS tái hiện hầu hết các kiến thức cần nhớ

- Đầy đủ các dạng bài tập thường gặp

Trang 39

2.2.4 Đảm bảo t nh hệ thống của các dạng bài tập

Sắp xếp các dạng bài tập một cách có quy củ và có sự liên tục để người sử dụng thấy được chúng là những bộ phận có liên hệ chặt chẽ với nhau

2.2.5 Đảm bảo t nh vừa sức

Tính vừa sức cần hiểu theo 2 khía cạnh :

(1) Vừa sức về độ khó: Bài tập cao hơn khả năng của HS một chút là rất tốt Nếu dễ thì HS dễ ỷ lại, còn nếu khó quá thì HS lại bỏ giữa chừng GV cần chú ý đưa những bài tập có thể hệ thống và củng cố lý thuyết kèm theo phương hướng giải quyết để HS không nản chí (hướng dẫn cách giải cho từng dạng bài tập, sau đó cho bài tập tương tự có kèm theo đáp số)

(2) Vừa sức về số lượng: Nếu nhiều bài tập quá thì HS không giải hết, ngán ngẩm, chán nản và gây ảnh hưởng đến các môn học khác Nếu ít quá thì không phủ kín chương trình và không đủ để hỗ trợ HS tự học

2.2.6 Phù h p với điều kiện thực tế

Chúng tôi đang đề cập đến điều kiện học tập của trường, địa phương cũng như điều kiện của bản thân mỗi HS sử dụng HTBT Đối với địa bàn TN thì điều kiện kinh tế còn khó khăn nên số lượng HS có máy vi tính và số lượng HS sử dụng máy vi tính có nối mạng internet chưa nhiều Vì thế GV photo HTBT hỗ trợ tự học

và phát cho HS sử dụng là phù hợp nhất

2.2.7 Tạo điều kiện thuận l i cho học sinh tự học

Để HS tự học một cách thuận lợi, HS cần được hướng dẫn học tập cụ thể và

có thông tin phản hồi (đáp án các câu hỏi trắc nghiệm và bài tập giúp HS tự kiểm tra kết quả tự học) Vậy HTBT hỗ trợ tự học cần phải:

- Có phân dạng bài tập và hướng dẫn cách giải từng dạng

- Có bài giải mẫu

- Có các bài tập tương tự để HS tự giải

- Có đáp số cho bài tập tương tự

- Sắp xếp các bài tập từ dễ đến khó

- Có câu hỏi nhỏ (có thể là câu hỏi trắc nghiệm) kiểm tra kiến thức cơ bản kèm theo đáp án

Trang 40

- Có các câu hỏi tổng hợp để kiểm tra kiến thức sau khi HS học xong một số bài học, chương nào đó

Việc tự học thuận lợi giúp HS tiếp thu kiến thức cần nắm và say mê học tập hơn, kết quả học tập nâng cao

Theo ông Nguyễn Hải Châu - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Bộ Giáo dục và Đào tạo: Về mặt nội dung, có thể xem hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành là tài liệu giúp HS ôn tập, chuẩn bị cho các kỳ thi Đề thi tốt nghiệp, thi đầu cấp, hay thi tuyển sinh đại học đều phải đảm bảo nguyên tắc “căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng”, nhưng cùng một nội dung, tùy mục tiêu của mỗi kỳ thi sẽ có cách hỏi khác nhau, kể cả trong một đề thi cũng có những câu hỏi để kiểm tra các mức độ: thông hiểu, vận dụng, sáng tạo Chúng tôi đã vào căn cứ vào hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Hoá học lớp 10 chương trình cơ bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo để xây dựng HTBT

2.2.8 Đảm bảo t nh mục tiêu bám sát nội dung dạy học

Khi thiết kế các hoạt động học tập cho HS, GV cần cụ thể hoá bằng các bài tập hướng vào mục tiêu bài học Tiến trình tổ chức cho HS từng bước giải quyết được các bài tập đó cũng đồng thời là quá trình thực hiện các mục tiêu dạy học đã đề ra

2.2.9 Chú trọng kiến thức trọng tâm

HTBT cần xoáy vào kiến thức trọng tâm giúp cho mọi đối tượng HS (kể cả trung bình và yếu) đều nắm được những kiến thức cơ bản cần nắm, kết quả học tâp được nâng cao Kết quả học tâp được nâng cao chính là động lực thôi thúc các HS chưa chăm, chưa học tốt cố gắng hơn nữa để học tốt hơn

2.2.10 Gây hứng thú cho người học

- BTHH gắn liền với các kiến thức khoa học về hoá học hoặc các môn học khác, gắn với thực tiễn sản xuất hoặc đời sống,…

- HTBT chứa đựng các bài tập có thể giải theo nhiều cách, trong đó cách giải ngắn gọn nhưng đòi hỏi HS phải thông minh hoặc có sự suy luận cần thiết mới giải được

Ngoài 10 nguyên tắc trên ta còn cần phải chú ý các nguyên tắc sau:

- HTBT thiết kế giúp HS tiếp thu được kiến thức mới, mở rộng kiến thức đã học, phát huy được tính tích cực chủ động của người học

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Thị Thiên An, Phân loại và phương pháp giải BTHH 10, NXB QG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại và phương pháp giải BTHH 10
Nhà XB: NXB QG Hà Nội
2. Nguyễn Cương (2007), PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học , NXB Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Đại học Giáo Dục
Năm: 2007
3. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2012), Lí luận dạy học hiện đại một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học, Postdam - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2012
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Hóa học, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông môn Hóa học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2007
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học (2008), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học lớp 10, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học lớp 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Vụ Giáo dục Trung học
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2008
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án Việt Bỉ (2010), Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực. Một số phương pháp và kỹ thuật dạy học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án Việt Bỉ
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2010
8. Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung (1999), PPDH hóa học (tập 1), NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH hóa học (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Cương, Nguyễn Mạnh Dung
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 1999
9. Nguyễn Cương (2007), PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học , NXB Đại học Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH hóa học ở trường phổ thông và đại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Đại học Giáo Dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Văn Cường (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Bộ Giáo dục đào tạo, Dự án phát triển giáo dục THPT, Tài liệu hội thảo tập huấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
11. Nguyễn Đức Dũng (2012), Đổi mới phương pháp DHHH ở trường phổ thông, Tập bài giảng cho học viên sau đại học, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp DHHH ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng
Năm: 2012
12. Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Đình Xuân (2013), “ Rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT qua HTBT phần hóa học hữu cơ có nội dung thực tiễn”, Tạp chí giáo dục, (7/2013), tr. 118-119 và 132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT qua HTBT phần hóa học hữu cơ có nội dung thực tiễn”
Tác giả: Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Đình Xuân
Năm: 2013
13. Cao Cự Giác (2000), Hướng dẫn giải nhanh BTHH, tập 1, 2, 3; NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giải nhanh BTHH, tập 1, 2, 3
Tác giả: Cao Cự Giác
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
14. Trần Bá Hoành, Cao Thị Thặng, Phạm Thị Lan Hương (2003), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn hóa học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy và học tích cực trong môn hóa học
Tác giả: Trần Bá Hoành, Cao Thị Thặng, Phạm Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
15. Trần Thị Thu Huệ (2012), Phát triển một số năng lực của học sinh trung học phổ thông thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong DHHH phần hóa học vô cơ, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một số năng lực của học sinh trung học phổ thông thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong DHHH phần hóa học vô cơ
Tác giả: Trần Thị Thu Huệ
Năm: 2012
16. Adam Khoo (Trần Đăng Khoa và Uông Xuân Vy dịch), Tôi tài giỏi, bạn cũng thế, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi tài giỏi, bạn cũng thế
Nhà XB: NXB Phụ nữ
17. Lê Đăng Khương (2017), Làm chủ môn hóa trong 30 ngày phần hóa vô cơ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm chủ môn hóa trong 30 ngày phần hóa vô cơ
Tác giả: Lê Đăng Khương
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2017
18. Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu (2013), PPDHmôn hóa học ở trường THPT, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDHmôn hóa học ở trường THPT
Tác giả: Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2013
19. Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận DHHHtập 1, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận DHHHtập 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1994
20. Nguyễn Thị Sửu (chủ biên) – Đào Thị Việt Anh – Nguyễn Thị Minh Châu – Nguyễn Thị Thiên Nga (2010), Dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn hóa học 10, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn hóa học 10
Tác giả: Nguyễn Thị Sửu (chủ biên) – Đào Thị Việt Anh – Nguyễn Thị Minh Châu – Nguyễn Thị Thiên Nga
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2010
21. Nguyễn Thị Sửu, Lê Văn Năm (2009), PPDH hóa học – Học phần PPDH hóa học 2, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPDH hóa học – Học phần PPDH hóa học 2
Tác giả: Nguyễn Thị Sửu, Lê Văn Năm
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w