1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần di truyền học cho sinh viên ngành sư phạm sinh học trong môi trường e learning

76 24 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào tạo theo học chế tín chỉ có đặc điểm nổi bật như: thời lượng GV lên lớp trực tiếp dạy SV ít do đó phần lớn thời gian SV tự nghiên cứu; hệ thống đào tạo mở, nội dung chương trình theo

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 2

CHUYÊN NGÀNH

LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH HỌC

MÃ SỐ: 6014011

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS: VĂN THỊ THANH NHUNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Học viên

Lê Khánh Vũ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Sinh học, trường Đại học Sư Phạm Huế đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện, giảng dạy và đóng góp nhiều ý kiến, kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường

Xin cảm ơn Khoa Nông – Lâm - Ngư – Trường Đại học Quảng Bình đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Văn Thị Thanh Nhung đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng môn đã có những ý kiến góp ý cho tôi hoàn chỉnh luận văn, ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp

TP Huế, tháng 10 năm 2017

Học viên

Lê Khánh Vũ

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt iii

Danh mục các bảng 3

Danh mục các hình 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Đối tượng nghiên cứu 7

4 Giả thuyết khoa học 7

5 Phạm vi nghiên cứu 7

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

7 Phương pháp nghiên cứu 7

8 Những đóng góp mới của luận văn 8

9 Lược sử vấn đề nghiên cứu 8

10 Cấu trúc luận văn 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỀ TÀI 13

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1.1 Khái niệm E – learning và hình thức học tập qua MT E – learning 13

1.1.2 Kỹ năng tự học và quá trình hình thành kỹ năng tự học 17

1.1.3 Vai trò của E – learning trong rèn luyện kỹ năng tự học 27

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 28

1.2.1 Đối với sinh viên 29

1.2.1 Đối với giảng viên 32

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG QUY TRÌNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ HỌC HỌC PHẦN DI TRUYỀN HỌC CHO SV NGÀNH SP SINH HỌC TRONG MÔI TRƯỜNG E - LEARNING 35

Trang 7

2.1.2 Xác định được mục tiêu học tập 35

2.1.3 KN xây dựng kế hoạch học tập khoa học 35

2.1.4 KN sử dụng máy tính và phần mềm dạy học 36

2.1.5 KN đọc sách, thu thập thông tin 36

2.1.6 KN tiếp thu bài giảng ở học liệu đa phương tiện 37

2.1.7 KN ghi nhớ 38

2.1.8 KN giao tiếp trong môi trường E - learning 38

2.1.9 KN tự đánh giá kết quả học tập 39

2.2 Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần Di truyền học cho sinh viên sư phạm Sinh học trong môi trường E - learning 39

2.2.1 Nguyên tắc xây dựng 39

2.2.2 Quy trình rèn luyện kỹ năng tự học 41

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 54

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 54

3.3 Phương pháp thực nghiệm 54

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm và đánh giá 59

3.4.1 Phân tích định lượng 59

3.4.1 Phân tích định tính 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.2 Kết quả điều tra ý kiến của SV về sự cần thiết của việc sử

dụng môi trường E – learning hỗ trợ tự học

learning trong rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên

29

Biều đồ 1.6 Mức độ đồng ý của GV về môi trường E – learning hỗ trợ tốt

cho rèn luyện kỹ năng tự học cho SV

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 SV nghiên cứu mục tiêu bài học trước khi tham gia bài học 40

Hình 2.3 GV tiến hành phân quyền và phân phối SP đến người học 42 Hình 2.4 Kế hoạch học tập của khóa học được thông báo đến học viên 42 Hình 2.5 Sinh viên cần tạo tài khoản và đăng nhập vào khóa học 44 Hình 2.6 Sinh viên thực hiện bài kiểm tra mức độ kiến thức trước khi vào

khóa học

44

Hình 2.7 Sinh viên và giảng viên trao đổi thông qua diễn đàn 45 Hình 2.8 Giao diện làm bài kiểm tra trắc nghiệm cuối chương 48

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông đã tác động vô cùng to lớn tới mọi lĩnh vực của xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo Đảng và Nhà nước ta đã xác

định công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là mục tiêu hàng đầu "đến năm 2020 đất nước ta về cơ bản phải trở thành nước công nghiệp”

Sự chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ là một trong những đổi mới mang tầm chiến lược của giáo dục đại học Việt Nam Đào tạo theo học chế tín chỉ có đặc điểm nổi bật như: thời lượng GV lên lớp trực tiếp dạy

SV ít do đó phần lớn thời gian SV tự nghiên cứu; hệ thống đào tạo mở, nội dung chương trình theo tốc độ và khả năng của người học đòi hỏi tính thích ứng cao, cập nhật thông tin thường xuyên, liên tục; khối lượng kiến thức lớn, việc kiểm tra đánh giá cần được tiến hành thường xuyên với các bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận,…; các PPDH đa dạng hóa Phương pháp thảo luận, seminar, thực tập, thực tế, các bài tập lớn, bài tiểu luận cần được sử dụng nhiều Dạy học theo tín chỉ là một phương thức đào tạo mới đối với cả người dạy và người học với các trường đại học ở Việt Nam Tuy nhiên, hầu hết các trường tỉ lệ SV/GV trong một lớp tương đối cao, lớp học tương đối đông nên việc tổ chức dạy học áp dụng phương pháp dạy học tích cực gặp nhiều khó khăn, khó tổ chức hoạt động nhận thức, khó tổ chức thảo luận, khó tổ chức hoạt động kiểm tra đánh giá định kỳ và thường xuyên với số lượng sinh viên lớn Mặt khác, dạy học theo tín chỉ phát huy tính tích cực chủ động của người học nhưng việc tổ chức SV tự học theo học chế tín chỉ đang gặp những khó khăn nhất định như: thời gian tự học; quản lý nội dung, chất lượng học tập; phương thức tổ chức phù hợp… Vì vậy, cần phải nghiên cứu đưa ra quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên

Tính ưu việt của môi trường E - learning được thể hiện rõ ở chỗ, người học

có thể học bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu Với người học, môi trường E - learning đã

mở ra một thế giới học tập mới, dễ dàng và linh hoạt hơn mà trước đó người học

Trang 11

với chỉ một vài phút vào mạng Môi trường E - learning đã xóa bỏ ranh giới địa lý, mang giáo dục đến với mọi người, mọi hoàn cảnh, lứa tuổi đặc biệt là những người

ở vùng sâu, vùng xa hoặc những người tàn tật không có khả năng đến trường Thêm vào đó, môi trường E - learning với sự hỗ trợ của Multimedia sống động có thể giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và đặc biệt là thuyết phục hơn, các học phần khó hoặc nhàm chán sẽ trở nên dễ hiểu và thú vị Môi trường E - learning được coi là một công nghệ dạy học mới, mang tính cách mạng của thế kỷ XXI với những ưu điểm nổi trội mà các phương pháp giáo dục trước đó chưa có Học phần Di truyền học, cung cấp các kiến thức cơ bản, hiện đại, thực tiễn và

có hệ thống về nội dung di truyền học, bao gồm: Cơ sở vật chất, cơ chế di truyền ở cấp độ phân tử Cơ sở vật chất, cơ chế di truyền ở cấp độ tế bào Tuy nhiên với lượng kiến thức nhiều, trong khi đó số tiết tín chỉ ít, rất khó để tổ chức dạy học đạt hiệu quả cao Mặt khác, việc vận dụng môi trường E - learning có thể phát huy những ưu điểm của đào tạo theo tín chỉ đồng thời hỗ trợ và khắc phục được khó khăn trong rèn luyện kỹ năng tự học học phần Di truyền học theo tín chỉ Cho đến nay, việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần Di truyền học với

sự hỗ trợ của môi trường E - learning chưa có tác giả nào nghiên cứu

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần di truyền học cho sinh viên ngành

sư phạm sinh học trong môi trường E – learning”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về rèn luyện kỹ năng tự học và đề xuất quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần Di truyền học trong môi trường E – learning cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học, góp phần nâng cao chất lượng đào

tạo giáo viên Sinh học hiện nay

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Trang 12

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xây dựng được quy trình rèn luyện kỹ năng tự học trong môi trường E - learning cho sinh viên ngành sư phạm sinh học một cách hợp lý thì sẽ phát huy được tính tích cực trong hoạt động tự học, góp phần nâng cao chất lượng học tập

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Nội dung: Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần Di truyền học (Chương 1: Các quy luật di truyền) cho sinh viên ngành sư phạm Sinh học trong môi trường E – learning

- Đơn vị:

+ Khảo sát: Sinh viên ngành SP Sinh học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Quảng Bình

+ Thực nghiệm: Sinh viên SP Sinh học khóa 2014 – 2018

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu về cơ sở lí luận và thực tiễn về rèn luyện kỹ năng tự học trong môi trường E – learning

- Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần di truyền học cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh học trong môi trường E – learning

- Thực nghiệm tính khả thi và hiệu quả quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần di truyền học cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh học trong môi trường E – learning

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, Nhà nước cùng với các chỉ thị của bộ Giáo dục và đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học hiện nay ở các cấp, các bậc học

- Nghiên cứu cơ sở tâm lí học và cơ sở lí luận của rèn luyện kỹ năng tự học trong môi trường E - learning

- Sưu tầm các nguồn tư liệu liên quan đến việc xây dựng quy trình rèn luyện

kỹ năng tự học trong môi trường E – learning

7.2 Phương pháp điều tra

Trang 13

tập của sinh viên

7.3 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi chuyên gia CNTT để định hướng, lựa chọn môi trường tương tác E – learning và tìm hiểu các kỹ thuật nhúng tư liệu trong môi trường multimedia theo hướng rèn luyện kỹ năng tự học

7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm nhằm điều chỉnh, hoàn thiện và xác định tính khả thi của quy trình rèn luyện kỹ năng tự học trong môi trường E – learning đáp ứng yêu cầu đào tạo sinh viên theo học chế tín chỉ

7.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê kiểm định để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về tính khả thi và hiệu quả của các quy trình và các biện pháp tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học

7.6 Phương pháp sử dụng CNTT làm môi trường tương tác

Thông qua việc sử dụng CNTT làm môi trường tương tác giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình thực hiện đề tài và xử lý số liệu

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

- Hệ thống hoá cơ sở lí luận và thực tiễn về tự học trong môi trường E – learning để rèn luyện kỹ năng tự học

- Xây dựng được quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần di truyền học cho sinh viên ngành sư phạm sinh học trong môi trường E – learning

- Thiết kế khoá học E-learning học phần Di truyền học cho sinh viên ngành

Sư phạm Sinh học theo hướng rèn luyện kỹ năng tự học

9 LƯỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

9.1 Trên thế giới

- Các nhà khoa học Đông Âu và các nhà khoa học Xô Viết (trước đây) đã dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng nghiên cứu vấn đề tự học của người học

- Một số nghiên cứu ở lĩnh vực giáo dục học về tự học như X.P Branov, T.A Ilina đã nghiên cứu và khẳng định vai trò của tự học trong quá trình học tập của người học

Trang 14

- A N Leeonchiev đã nghiên cứu và chỉ ra các kỹ năng tự học cần thiết để đảm bảo cho người học đạt kết quả cao

- P.V Eexxipov nghiên cứu công tác tự học của sinh viên ngoài giờ lên lớp cho rằng: tự học là việc học của sinh viên tiến hành khi không có sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của giáo viên Trong đó người học phải tự giác vươn tới mục đích đã

đề ra

- Về nghiên cứu E – learning tại các nước đang còn sơ khai Các nước có nền kinh tế phát triển đang nổ lực phát triển E – learning tại đất nước mình Vào đầu những năm 1960, các nhà giáo sư tâm lý học của ĐH Stanford, Patrick Suppes và Richard C Atkinson đã thử nghiệm với việc dùng máy tính dạy toán và đọc cho trẻ

em tiểu học tại East Palo, California Chương trình giáo dục cho tài năng trẻ của Stanford được bắt nguồn từ những thử nghiệm ban đầu này[44]

Từ năm 1992, William D Graziadei đã miêu tả một bài giảng truyền tải của máy tính, hướng dẫn và đánh giá dự án sử dụng thư điện tử Năm 1997, ông công

bố một bài báo miêu tả sự phát triển một chiến lược tổng thể cho việc quản lý và phát triển khóa học dựa trên công nghệ cho hệ thống giáo dục Ông cho rằng các sản phẩm phải dễ sử dụng, duy trì, vận chuyển, nhân rộng, có khả năng mở rộng, và giá cả phải chăng, và chúng phải có khả năng thành công cao trong dài hạn với hiệu quả về chi phí Nhóm nghiên cứu của ông, bao gồm William D Graziadei, Sharon Gallagher, Ronald N Brown, Joseph Sasiadek đã xây dựng một hệ thống dạy học đồng bộ và không đồng bộ: khai thác một giải pháp hệ thống quản lý các lớp học và khóa học Họ miêu tả quá trình dạy học tại đại học State University ở New York trong việc định giá các sản phẩm và phát triển chiến lược tổng thể cho việc quản lý

và phát triển các khóa học dựa trên công nghệ trong việc dạy và học Sản phẩm này

dễ sử dụng, duy trì, vận chuyển, nhân rộng, có khả năng mở rộng và chúng phải có khả năng thành công cao trong dài hạn Ngày nay nhiều công nghệ sử dụng trong E – learning, từ blogs đến kết hợp phần mềm và các lớp học ảo Hầu hết các tình huống E – learning sử dụng sự kết hợp các công nghệ này

Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 1990 Cuối năm 2004 có khoảng 90%

Trang 15

gia học tăng 33% hằng năm trong khoảng thời gian 1999 – 2004 Trong những năm gần đây, Châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng của nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong cộng đồng Châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục Ngoài việc tích cực triển khai E – learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E – learning

Tại Châu Á, E – learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai Một số quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn đang cố gắng nổ lực phát triển E – learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc…Nhật Bản là nước đang ứng dụng E – learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực Môi trường ứng dụng E – learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp… để đào tạo nhân viên

Hàn Quốc là một quốc gia có đầu tư lớn cho việc học tập trong môi trường E – learning Nhiều trường học trên mạng ra đời và trở thành nổi tiếng Megastudy là một điển hình và trở thành mạng giáo dục trực tuyến lớn nhất tại Hàn Quốc Một giảng viên giỏi tại Hàn Quốc còn cho rằng: E – learning mang lại công bằng hơn cho giáo dục, do những học sinh nghèo có thể tham gia vào các khóa học luyện thi của những thầy giỏi với mức học phí rất ít so với lớp luyện thi thông thường

Như vậy, cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin và truyền thông trong hai thập kỷ qua, việc dạy – học với sự hỗ trợ của máy tính đã và đang trở nên quen thuộc với chúng ta, đặc biệt là E – learning Thuật ngữ E – learning được hiểu một cách tổng quát là việc sử dụng ICT có chủ đích để hỗ trợ và nâng cao việc dạy – học Nó bao gồm học trực tuyến, học ảo, học không tập trung, học dựa trên web

Trang 16

cho mọi người Nhưng chỉ mới ở mức độ nêu lên một số kinh nghiệm tự học của bản thân để mọi người tham khảo

- Theo các tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, quá trình dạy học được tiến hành theo trình tự; Người học tự tìm hiểu đối tượng nhận thức, sau đó trao đổi thống nhất trong tập thể, nhóm, lớp, cuối cùng giáo viên kết luận về kết quả nhận thức của người học, điều chỉnh những thiếu sót và đi đến khẳng định chân lý Để học theo phương pháp này có hiệu quả học sinh phải biết phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu

- Từ năm 1996 đến nay, các trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, ĐH Vinh và nhiều trường cao đẳng sư phạm đã tổ chức các hội thảo khác nhau nhưng đều nhấn mạnh khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên

- Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước đã nghiên cứu thực trạng

tự học của sinh viên ở các khía cạnh khác nhau như: việc phân phối thời gian tự học, các phương pháp tổ chức hoạt động tự học, việc sử dụng thời gian tự học của sinh viên…

- Việc nghiên cứu E – learning hiện nay các trường đại học, cao đẳng đã triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho kết quả khả quan Việt Nam đã gia nhập mạng E – learning châu Á với sự tham gia của các bộ, trường khác nhau Một

số trường hiện nay cũng đã xây dựng trung tâm học liệu mở, thư viện điện tử

- Chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo trong giai đoạn tới là tích cực triển khai mô hình dạy học E – learning, nhằm xây dựng một xã hội học tập mọi lúc, mọi nơi và mọi vấn đề

- Các trường đại học, cao đẳng đã tích cực triển khai E – learning: Một số trường đại học đã tích cực triển khai hệ thống E – learning, xây dựng trung tâm học liệu mở, thư viện điện tử Huy động nhiều nguồn lực như kinh phí các dự án, kinh phí ngân sách, kinh phí các doanh nghiệp hỗ trợ… đều đầu tư hạ tầng CNTT, tập huấn cho giảng viên và xây dựng hệ thống tài liệu, bài giảng phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viên

Như vậy việc ứng dụng E – learning, rèn luyện kỹ năng tự học ở các cấp học đang được ngành giáo dục và toàn xã hội quan tâm Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử

Trang 17

dụng môi trường E – learning trong xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên chưa được đề cập đến

10 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

- Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết luận

- Phần nội dung gồm có 3 chương:

+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

+ Chương 2: Xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần Di truyền học cho sinh viên ngành sư phạm sinh học trong môi trường E – learning + Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 18

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 Khái niệm E – learning và hình thức học tập qua môi trường E – learning

1.1.1.1 Khái niệm về E – learning và hệ thống E – learning

E – learning là một thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Anh là Electronic learning, thuật ngữ này được Việt hoá bằng nhiều danh từ khác nhau như đào tạo điện tử, giáo dục điện tử, giáo dục trực tuyến…

Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về E – learning

Theo Masie center, E - learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn

bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của CNTT, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục [47]

Theo từ điển Wikipedia, E – learning đề cập đến sử dụng các phương tiện truyền thông điện tử và CNTT và truyền thông gồm tất cả các hình thức của công nghệ giáo dục trong dạy học Bao gồm đa phương tiện truyền thông văn bản, âm thanh, hình ảnh, hoạt hình, video, truyền hình vệ tinh, CD – ROM dựa trên máy tính

và mạng internet [48]

Theo E – learning site, E – learning bao gồm tất cả các hình thức điện tử hỗ trợ cho việc giảng dạy Hệ thống CNTT, dù có nối mạng hay không, phục vụ như một phương tiện truyền thông cụ thể thực hiện quá trình học tập [49]

Theo Lê Huy Hoàng, E – learning là

một mô hình học tập thông qua mạng internet

dưới dạng khoa học và được quản lý bởi các

hệ thống quản lý học tập đảm bảo sự tương

tác, hợp tác đáp ứng nhu cầu học mọi lúc, mọi

nơi của người học [12]

Như vậy, khái niệm E – learning với

mô hình gồm 4 thành phần cơ bản [7], [14]:

Hình 1.1 Mô hình E – learning[12]

 Nội dung: các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các

Trang 19

giảng viết bằng toolbookII…Bài giảng được chuyển tải tới người học có thể trước, trong quá trình học tập

 Phân phối: việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua

các phương tiện điện tử Tài liệu được gửi cho sinh viên thông qua máy tính, mạng

vệ tinh, mạng internet…; người học có thể học trên website, học qua đĩa CD – Rom, qua các phương tiện nghe nhìn, multimedia…

 Quản lý: quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương

tiện truyền thông điện tử Người học muốn học thì đăng ký qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS, hoặc đăng ký trực tiếp trên hệ thống quản lý học tập E – learning Việc theo dõi tiến độ học tập, điểm danh của học viên hoàn toàn được thực hiện qua mạng internet

 Hợp tác: sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng

được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Học viên trao đổi với nhau hoặc trao đổi với người dạy thông qua việc trao đổi thảo luận thông qua module chat trực tuyến, hội thoại video online, diễn đàn (Forum) trên mạng,…

Từ những khái niệm và thành phần cơ bản trên, có thể hiểu E – learning và

hệ thống E – learning như sau:

- E – learning là một hình thức tổ chức dạy học theo hướng đổi mới với sự hỗ trợ của đa phương tiện truyền thông giúp người học chủ động lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả dưới các hình thức học tập dựa trên công nghệ (TBT – Technology-Based Training), dựa trên máy tính (CBT – Computer-Based Training), dựa trên web (WBT – Web-Based Training) để đào tạo trực tuyến (Online Learning/ Training) và đào tạo từ xa (Distance Learning/Offline Training)

- Hệ thống E – learning là tập hợp các công cụ thực hiện các chức năng tổ chức dạy học, tạo môi trường tương tác giữa người học với nội dung học tập, với bạn học và người dạy; chức năng quản lý, theo dõi quá trình tương tác giữa người học với nội dung học tập, giữa người dạy với người học, giữa người học với người học và chức năng tổ chức KTĐG Nó cho phép tạo, lưu giữ, tổng hợp và phân phối nội dung học tập và KTDG theo kịch bản dạy học mà người dạy xây dựng từ trước

Trong phạm vi đề tài, để dễ tiếp cận đối tượng nghiên cứu, chúng tôi dùng

thống nhất sử dụng thuật ngữ môi trường E – learning, là hệ thống đào tạo sử dụng

Trang 20

các công nghệ Multimedia dựa trên nền tảng của mạng Internet Người học sẽ học

bằng máy tính, thông qua trang Web trong một lớp học ảo Nội dung bài học sẽ được phân phối tới sinh viên qua mạng, băng audio và video, CD-ROM, và các loại học liệu điện tử khác Người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như thư điện tử (e-mail), thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thoại video…

1.1.1.2 Đặc điểm của hình thức học tập trong môi trường E – learning

Hiện nay, E – learning là hình thức học tập đang phát triển mạnh và được nhiều trường đại học đưa vào chiến lược phát triển phương thức đào tạo bằng hình thức học tập mở Người học tự chủ động quá trình học như thời gian, nội dung học tập…Khác với hình thức học tập truyền thống, E – learning có những đặc điểm nổi bật sau [28]:

- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: Một khoá học E – learning được chuyển tải qua mạng tới máy tính của người học Vì vậy, người học có thể tham gia học bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu

- Tính hấp dẫn: Với sự hỗ trợ của công nghệ multimedia, những bài giảng tích hợp text, hình ảnh minh hoạ, âm thanh tăng thêm tính hấp dẫn của bài học Người học giờ đây không chỉ còn nghe giảng mà còn được xem những ví dụ minh hoạ trực quan, thậm chí còn có thể tiến hành tương tác với bài học nên khả năng nắm bắt kiến thức cũng tăng lên

- Tính linh hoạt: Một khoá học E – learning được phục vụ theo nhu cầu người học, chứ không nhất thiết phải theo một thời gian biểu cố định Vì thế người học có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình

- Dễ tiếp cận và truy nhập ngẫu nhiên: Bảng danh mục bài giảng sẽ cho phép người học lựa chọn đơn vị kiến thức, tài liệu một cách tuỳ ý theo trình độ và điều kiện truy nhập mạng của mình Người học tự tìm ra các kĩ năng học cho riêng mình với sự giúp đỡ của những tài liệu trực tuyến

- Tính cập nhật: Nội dung khoá học thường xuyên được cập nhật và đổi mới nhằm đáp ứng và phù hợp tốt nhất cho người học

Trang 21

- Học có sự hợp tác, phối hợp (Collaborative learning): Người học có thể dễ dàng trao đổi với nhau qau mạng trong quá trình học, trao đổi giữa các học viên và với giảng viên Các trao đổi này hỗ trợ tích cực cho quá trình học tập của học viên

- Đào tạo dựa trên web (WBT – Web-Based Training): Là hình thức đào tạo

sử dụng công nghệ web Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail… thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình

- Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên…

- Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web

- Học tập theo Blended learning: Đây là hình thức học tập mà việc triển khai một khoá học với sự kết hợp của hai hình thức học tập trực tuyến và dạy học giáp mặt Theo cách này, E – learning được thiết kế với mục đích hỗ trợ quá trình dạy học và chỉ quan tâm tới những nội dung, chủ điểm phù hợp nhất với thế mạnh của

Trang 22

loại hình này Còn lại, với những nội dung khác vẫn được tổ chức dạy học theo hình thức giáp mặt để phát huy thế mạnh của nó

1.1.2 Kỹ năng tự học và quy trình hình thành kỹ năng tự học

1.1.2.1 Khái niệm về tự học

Ngày nay với sự bùng nổ của tri thức mới, sáng tạo của khoa học công nghệ,

kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề… thì cốt lõi của PPDH là tổ chức các hoạt động học tập cho HS Người GV không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà cần phải tổ chức, cố vấn cho các hoạt động học tập để HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức, chủ động đạt được các mục tiêu đã đề ra Theo đó, HS phải có đủ năng lực tự học

để thích ứng với đòi hỏi đặt ra của xã hội [25]

Việc đưa ra khái niệm tự học đã được nhiều tác giả đề cập đến:

Theo N.Arubakin: “Tự học có nghĩa là tự tìm kiến thức, là quá trình lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong hoạt động thực tiễn, hoạt động cá nhân…biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của chủ thể” [29]

Theo từ điển giáo dục học “Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của GV và sự quản lí trực tiếp của cơ sở đào tạo” [9]

Theo Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học được hiểu theo đúng bản chất là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi sử dụng cả cơ bắp, tình cảm… để chiếm lĩnh tri thức của nhân loại về cho bản thân [33] Như vậy, để tự học

có hiệu quả, người học phải biết huy động mọi nguồn lực từ bản thân sau đó mới sử dụng đến sự hỗ trợ của người khác

Tự học có thể diễn ra dưới sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn của GV, hay không

có sự hướng dẫn của GV đòi hỏi người học phải nổ lực chiếm lĩnh tri thức Tự học

là một quá trình người học tìm ra vấn đề, tự thu nhập thông tin, xử lý thông tin để đưa ra các giải pháp, cách giải quyết, cách thử nghiệm từ đó thể hiện sự tìm tòi của mình bằng văn bản, bằng lời nói hoặc trao đổi ý kiến thu được với người khác Sau cùng, là tự kiểm tra, đánh giá sản phẩm thu được, để điều chỉnh, tự rút kinh nghiệm cho bản thân [11]

Trang 23

Đặng Vũ Hoạt cho rằng “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và SGK đã quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân” [14]

Trên đây là một vài nhận định về khái niệm tự học, ngoài còn rất nhiều nhận định tương tự về tự học trong: Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới PPDH của Nguyễn Quang Huỳnh [15], Tự học như thế nào của NA Rubakin [29]

Qua phân tích tổng hợp các khái niệm về tự học đã nêu chúng tôi nhận định:

Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học; đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động tự giác, phát huy cao độ vai trò của người học với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiện học tập

1.1.2.2 Các hình thức tự học

Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học Theo Thái Duy Tuyên [34] có nhiều cách tự học khác nhau:

- Tự học dưới sự hướng dẫn của thầy như: tự học của học sinh, SV, thực tập sinh, nghiên cứu sinh…Người học học theo tài liệu hướng dẫn GV đưa trước và có

sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp của GV

- Tự học không có sự hướng dẫn của thầy: Trường hợp này thường liên quan quan đến những người đã trưởng thành như thầy, cô giáo, những nhà khoa học

- Tự học trong cuộc sống: Thường gặp ở các nhà văn, các nhà kinh tế, các nhà chính trị xã hội…

1.1.2.3 Nội dung hoạt động tự học

Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho SV tự học như thế nào

để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của SV thì mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho SV Đặc biệt là việc nhận diện xem

Trang 24

những phương pháp đó ngoài sự thích ứng chung cho mọi SV có đáp ứng được cho từng nhóm đối tượng trong những giai đoạn và điều kiện, hoàn cảnh khác nhau

trong suốt quá trình đào tạo hay không

Để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự học như: nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo quy trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng

Với tất cả các lĩnh vực khoa học, việc dạy tự học có những điểm chung, thống nhất về cách thức cũng như phương pháp Đó là những vấn đề được xác định như sau:

- Xây dựng động cơ học tập

Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập

Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Bởi vì, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy

tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tại đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải là những điểm số đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không có thực lực vì động cơ học tập lệch lạc Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn

tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận

Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, có thể khuôn tách thành hai nhóm

cơ bản:

+ Các động cơ hứng thú nhận thức

+ Các động cơ trách nhiệm trong học tập

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động

và chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi GV biết tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học

Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý

Trang 25

nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các em mới có

ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận

Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dây hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi SV Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình

Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới

vô cùng mỏng manh Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghi lực đủ để chiến thắng chính bản thân mình Đối với người trưởng thành, khi mục đích cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự học đã trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứng thú khác nhau Vấn đề

là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy trên cơ sở những điều kiện tốt

từ bên ngoài Trong đó người thầy đóng vai trò chủ đạo

- Xây dựng kế hoạch học tập

Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và

kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp

là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập

Trang 26

trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi

- Tự mình nắm vững nội dung tri thức

Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bề vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động: + Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, cemine, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn SV rời xa sách và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Đơn giản vì nó thỏa mãn trí tò mò, giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến sự nhiễu loạn thông tin mà nếu không vững vàng thì giới trẻ sẽ rất dễ sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách, tâm hồn Trong lúc từ cổ chí kim, muốn làm chủ tri thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách Đọc sách là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất Khi làm việc với sách ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải biết đối thoại, gợi mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu

ý sau khi đọc sách, hoặc chí ít là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay

Đó là cách đọc sáng tạo Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường + Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…

+ Vận dụng tri thức, thông tin: trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học

Trang 27

huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… SV thường gặp rất nhiều khó khăn Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được Trong trường hợp này cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết

+ Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức hay diển ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học Giúp người học chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt

- Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu… Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy

Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết SV phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính nội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách là ngoại lực trong việc trang bị cho SV một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tự học tự đào tạo của SV mới đi vào chiều sâu thực chất

1.1.2.4 Kỹ năng tự học

- Khái niệm kỹ năng tự học

Trang 28

Mỗi hoạt động bao gồm trong nó nhiều hành động với nhiều cách thức thực hiện khác nhau Kỹ năng của một hoạt động nào đó là phức hợp bao gồm nhiều kỹ năng thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau trong cấu trúc của hoạt động

Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện một hệ thống các thao tác tự tổ chức,

tự điều khiển hoạt động tự học trên cơ sở vận dụng các kinh nghiệm có liên quan đến hoạt động đó

Kỹ năng tự học là một hệ thống, bao hàm trong nó những kỹ năng chung cho hoạt động học tập và những kỹ năng chuyên biệt Có bao nhiêu loại hình học tập thì

có bấy nhiêu loại hình kỹ năng chuyên biệt

Xuất phát từ cấu trúc hoạt động tự học của sinh viên, các nhà tâm lý học đã chỉ ra cấu trúc kỹ năng tự học chung Theo N.V Cudơmina, kỹ năng tự học của sinh viên gồm 5 nhóm: nhóm kỹ năng nhận thức; nhóm kỹ năng thiết kế; nhóm kỹ năng kết cấu; nhóm kỹ năng giao tiếp; nhóm kỹ năng tổ chức Một số nhà nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội lại phân chia kỹ năng

tự học thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập

kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm[33] Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung và sinh viên nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá Một số tác giả khác đưa ra hệ thống kỹ năng tự học chung gồm: nhóm kỹ năng phục vụ chức năng khai thác, thu nhận, sàng lọc và lưu giữ tạm thời thông tin; nhóm kỹ năng phục vụ chức năng xử

lý, biến đổi hoặc tái tạo thông tin học tập; nhóm kỹ năng phục vụ chức năng sử dụng, ứng dụng thông tin; nhóm kỹ năng phục vụ chức năng kiểm tra, đánh giá quá trình học; nhóm kỹ năng thực hiện các mối liên hệ với các nhân tố điều khiển bên ngoài; nhóm kỹ năng thiết kế các phương tiện vận hành quá trình học; những kỹ năng phục vụ chức năng thiết kế, tổ chức các phương tiện điều khiển quá trình học[30]

Tiếp thu quan điểm của các tác giả trên, theo chúng tôi, có thể nêu ra các kỹ năng tự học cơ bản của sinh viên sư phạm bao gồm các nhóm sau: nhóm kỹ năng nhận thức, nhóm kỹ năng thực hành, nhóm kỹ năng kế hoạch hoá hoạt động, nhóm

Trang 29

kế hoạch hoá hoạt động tự học, kỹ năng làm việc với sách và tài liệu, kỹ năng giải các bài tập nhận thức và thực hành, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá

Giai đoạn 2: hành động vật chất hay vật chất hoá Ở giai đoạn này hành động chủ thể cần lĩnh hội được thực hiện ở bên ngoài với những sự vật hiện thực hay mô hình, sơ đồ, hình vẽ Nội dung của giai đoạn này là chủ thể “dùng tay” để triển khai hành động, khái quát, luyện tập và rút gọn

Giai đoạn 3: hành động với lời nói to Chủ thể phải tự nói ra bằng lời của mình tất cả các thao tác mà mình đã thực hiện tương ứng với cơ sở định hướng của hành động

Giai đoạn 4: hành động với lời nói thầm Nội dung chủ yếu của giai đoạn này

là chủ thể phải triển khai hành động, luyện tập, khái quát và rút gọn hành động bằng lời nói thầm Trong quá trình phân tích, triển khai hay rút gọn từng bước các thành phần của hành động được tái hiện ra trong đầu

Giai đoạn 5: hành động trong trí óc Giai đoạn này xảy ra từ khi việc luyện tập nói thầm thành thạo

Như vậy, hành động từ ngoài chuyển vào trong diễn ra qua từng giai đoạn Ở mỗi giai đoạn cấu trúc của hành động được tổ chức lại ngày một khái quát và rút gọn hơn nhưng vẫn giữ được nội dung vật chất ban đầu của hành động Hay nói cách khác, sau khi chủ thể tiến hành hành động qua đầy đủ các giai đoạn nói trên thì

“tri thức về các đồ vật sẽ được nẩy sinh trong quá trình hành động vật chất với các

đồ vật đó, còn bản thân các hành động này khi được hình thành thì sẽ trở thành kỹ năng”

Từ ý kiến trên, theo chúng tôi người có kỹ năng về một hành động nào đó phải: có tri thức về hành động bao gồm tri thức về mục đích hành động, các điều

Trang 30

kiện, phương tiện đạt mục đích, các cách thức thực hiện hành động; tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó; đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra; có thể hành động có kết quả trong các điều kiện khác

Như vậy, thực chất của việc hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên là hình thành cho họ một hệ thống thao tác nhằm làm biến đổi đối tượng và làm sáng tỏ những thông tin trong nhiệm vụ học tập, đối chiếu chúng với hành động cụ thể Để làm được điều đó cần giúp sinh viên biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho và yếu tố phải tìm, quan hệ giữa chúng trong nhiệm vụ học tập; hình thành mô hình khái quát để giải quyết nhiệm vụ cùng loại; xác lập quan hệ giữa bài tập, mô hình khái quát trên với kiến thức tương ứng

- Quy trình hình thành kỹ năng tự học

Galperin chia một hành động làm 2 phần không ngang nhau: (1) phần định hướng, (2) phần thực hiện Phần định hướng quyết định chất lượng của phần thực hiện [14]

Phần định hướng là một cơ chế điều khiển hành động Còn phần thực hiện là quá trình có chủ định, biến vật liệu đã cho thành một sản phẩm với những thuộc tính

đã định trước Phần định hướng cần phải được hình thành Nó luôn luôn bám sát môi trường bên ngoài, nơi đang xảy ra hành động và bằng cách đối chiếu với mẫu của sản phẩm, nó điều chỉnh hành động sao cho phải thành công Chừng nào các yếu tố này ổn định, thì phần định hướng được rút gọn và hành động được tự động

hoá (thành kỹ xảo)

Theo Galperin, có ba kiểu định hướng hành động có giá trị thực tiễn quan trọng nhất trong giảng dạy Tương ứng với chúng là ba kiểu định hướng vào việc giải quyết nhiệm vụ Mỗi kiểu định hướng có kết quả và quá trình hành động riêng

Trên cơ sở định hướng đó, Galperin chia các cách giảng dạy ra làm 3 loại tương ứng:

Giảng dạy tương ứng với kiểu thứ nhất gọi là cách “thử và sai”: GV giới thiệu cho SV mẫu hành động và kết quả hành động, còn những chỉ dẫn cần phải thực hiện hành động như thế nào không được nêu ra SV thực hiện nhiệm vụ một cách mò mẫm theo phương pháp thử - sai Kết quả là nhiệm vụ có thể được thực

Trang 31

hiện, nhưng hành động mà nhờ đó nhiệm vụ được thực hiện không bền vững khi thay đổi điều kiện

Giảng dạy tương ứng với kiểu thứ hai gọi là cách “thử và đúng”: GV giới thiệu cho SV biết mẫu của hành động và những chỉ dẫn để thực hiện hành động Ở đây SV nắm vững được kỹ năng thực hiện hành động và có khả năng di chuyển sang thực hiện nhiệm vụ mới nhưng sự di chuyển này đòi hỏi phải có trong thành phần của nhiệm vụ mới những yếu tố tương tự với các yếu tố trong thành phần của nhiệm vụ đã nắm vững

Như vậy, SV có khả năng giải bài toán đúng ngay Nhưng các điều kiện đó phải có sẵn và cụ thể Mỗi điều kiện đã cho ứng với một thao tác nhất định Hành động tương đối ổn đinh khi có biến động mà không làm mất đi đặc tính cơ bản của các điều kiện cần thiết cho hành động Những người theo quan điểm dạy học này cho rằng khi học, SV không nhất thiết phải sai lầm Học là đúng ngay từ đầu Nhưng cũng vì yêu cầu đó mà các điều kiện cần thiết để thực hiện hành động phải cho sẵn từ trước Điều này, đến lượt nó, hạn chế khả năng của SV vận dụng vào các trường hợp lạ

Giảng dạy tương ứng với kiểu thứ ba gọi là “không thử, đúng ngay”: GV tiến hành dạy có kế hoạch về sự phân tích các nhiệm vụ nhằm rút ra những điểm tựa để thực hiện nhiệm vụ Những điểm tựa này là cơ sở định hướng để thực hiện hành động đúng ngay Ở đây GV cần xây dựng những điều kiện để kích thích SV tự xây dựng cơ sở định hướng đó Hành động được hình thành trong điều kiện như vậy có khả năng dịch chuyển sang một lớp các nhiệm vụ rộng lớn hơn Theo kiểu dạy học thứ ba, để hình thành có kết quả một kỹ năng thực hiện một hành động nào đó, trước hết GV cần phân tích cấu trúc của hành động, xác định rõ việc thực hiện hành động bao gồm những thao tác nào, trình tự hợp lý nhất của các thao tác đó Sau đó xây dựng hệ thống bài tập luyện tập đảm bảo để học sinh thực hiện đúng đắn, hầu như tự động các hành động đơn giản và tổ chức thực hiện chúng Việc vạch ra các thành phần thao tác tạo thành hành động là điều kiện cần thiết để lựa chọn phương pháp hợp lý cho việc hình thành kỹ năng Khi biết các thành phần thao tác ấy, GV xác định trình tự hợp lý nhất để rèn luyện kỹ năng thực hiện toàn bộ hành động Ở đây, SV ý thức được mục đích của hành động, ý nghĩa của việc nắm vững kỹ năng

Trang 32

và trình tự các thao tác tạo thành hành động sẽ cho phép các em nhanh chóng nắm vững kỹ năng hơn Trên cơ sở của cách làm đã nêu có thể hình thành kỹ năng thực hiện hành động phức tạp hơn và các bài tập luyện tập được lựa chọn vào mục đích này được thực hiện riêng Sự thực hiện các hành động phức tạp được thực hiện theo giai đoạn và việc hình thành các kỹ năng được tổ chức trên cơ sở kiểu định hướng thứ hai hay thứ ba tuỳ thuộc vào mục đích sư phạm và đặc tính của chúng

Quy trình hình thành kỹ năng tự học đã có nhiều tác giả nghiên cứu, ở đây chúng tôi giới thiệu lại quy trình như sau:

Bước 1: Sinh viên thấy được ý nghĩa của kỹ năng cần nắm vững và mục đích của hành động tương ứng

Bước 2: Sinh viên lĩnh hội các thành phần cấu trúc cơ bản của hành động và trình tự hợp lý nhất để thực hiện các thao tác tạo thành hành động

Bước 3: Sinh viên thực hiện các bài luyện tập để rèn luyện kỹ năng thực hiện hành động

Bước 4: Sinh viên sử dụng kỹ năng đã hình thành vào việc thực hiện hành động mới, phức tạp hơn nhằm nắm vững kỹ năng mới

Quá trình hình thành kỹ năng theo các bước nêu trên đảm bảo phát huy cao tính tích cực, tính tự lực và sáng tạo của sinh viên khi thực hiện nhiệm vụ học tập Điều đó cho phép sinh viên có khả năng áp dụng kỹ năng thực hiện hành động đã biết trong tình huống mới

1.1.3 Vai trò của E – learning trong rèn luyện kỹ năng tự học

Trong dạy học ở bậc đại học, mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ làm tăng thêm cơ hội cho sinh viên phát triển năng lực học tập cá nhân Theo quy chế 43/2007/QĐ-BGDĐT [3], để thực hiện một giờ lên lớp tín chỉ, sinh viên phải có thời gian hai tiết chuẩn bị ở nhà Vì vậy, ngoài thời gian lên lớp SV cần thực hiện quá trình tự học Tuy nhiên, hiện nay việc tổ chức và quản lý sinh viên trong việc thực hiện quỹ thời gian tự học còn nhiều khó khăn Để tổ chức và quản lý tốt quỹ thời gian tự học của sinh viên trong đài tạo theo học chế tín chỉ, cần có sự hỗ trợ của môi trường học tập E - learning

Trong dạy học theo học chế tín chỉ, E - learning là môi trường học tập tích

Trang 33

cực trong học tập của sinh viên Với tư cách là chủ thể của quá trình dạy học, sinh viên đóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đào tạo, có thể học mọi lúc, mọi nơi nhờ có phương tiện trợ giúp việc học Với tính tương tác cao dựa trên multimedia, môi trường E - learning tạo điều kiện cho sinh viên trao đổi thông tin

dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người, rất thích hợp cho việc đào tạo ở bậc đại học theo học chế tín chỉ

Với đặc tính mềm dẻo trong thực hiện chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ, cùng với khóa học có hỗ trợ E- learning, sinh viên ngoài thời gian lên lớp có thể

tự học giáo trình theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tùy theo khả năng và có thể chọn các nội dung học tập thích hợp Điều này giúp cho sinh viên chủ động hơn trong việc chọn môn học, học vượt, học các chuyên ngành khác

Các chương trình đào tạo E - learning hiện nay đã đạt đến trình độ phong phú

về giao diện, sử dụng rất nhiều hiệu ứng đa phương tiện âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kỹ xảo hoạt hình,… có độ tương tác cao giữa người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng Điều này đem đến cho sinh viên sự thú

vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quả trong học tập

Môi trường E - learning cho phép sinh viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc giảng viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao [27]

E - learning dễ dàng và cho phép học viên tham gia học, dễ dàng theo dõi tiến độ học tập và kết quả học tập của học viên Với khả năng tạo những bài đánh giá, người quản lý dễ dàng biết được học viên nào đã tham gia học, khi nào họ hoàn tất khóa học, làm thế nào để thực hiện và mức độ phát triển của học viên

Trong đào tạo SV sư phạm theo HCTC có hỗ trợ môi trường E - learning, SV

ra trường không chỉ nắm được phương pháp học tập này mà phải được rèn luyện

KN tự học trong môi trường E - learning để tổ chức hoạt động tự học cho học sinh

và phục vụ cho nhu cầu học tập suốt đời

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trang 34

Để có cơ sở cho việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng tự học học phần

di truyền học cho SV ngành sư phạm Sinh học trong môi trường E – learning hiệu quả, tôi đã tiến hành điều tra thực trạng dạy – học học phần Di truyền học tại các lớp Đại học Sư Phạm Sinh học, thuộc Khoa Nông – Lâm – Ngư, trường Đại học

Quảng Bình

Sau đây là kết quả tổng hợp điều tra và đánh giá:

1.2.1 Đối với sinh viên

1.2.1.1 Thời gian tự học của sinh viên

Bảng 1.1 Thời gian tự học của sinh viên

Thời gian tự học của sinh viên Số lƣợng

Qua bảng 1.1 chúng tôi có một số nhận xét sau:

Bình quân thời gian tự học của sinh viên đa số là 2h/ngày chiếm tới 43% Bên cạnh đó, 23% số sinh viên có thời gian tự học 3h/ngày; 18% tự học 4h/ ngày; 7% tự học 1h/ngày, trong khi đó tự học 6h/ngày chỉ có 4%, quá ít so với yêu cầu thời gian tự học để tự lĩnh hội các kiến thức phù hợp với đào tạo theo học chế tín chỉ

Theo quy chế 43/2007/QĐ-BGDĐT, “một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 – 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 – 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 – 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khóa luận tốt nghiệp”[12] Theo đó: “ đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được 1 tín chỉ (15 tiết), sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn

bị cá nhân” Như vậy, trong 1 buổi sinh viên học tiết chỉ lý thuyết thì ở nhà sinh viên cần phải tự học ít nhất 8 tiết (1 tiết 50 phút) tức phải học gần 7 giờ nếu học trên

Trang 35

Ví dụ: Một sinh viên chính khóa học buổi sáng 5 tiết, nếu sinh viên đó có ý thức tự học sẽ phải dành thời gian tối thiểu cho buổi chiều khoảng từ 13h30 đến 17h30 ( 4 giờ tự học buổi chiều), buổi tối từ 19h30 đến 23h30 ( 4 giờ tự học buổi tối) mới đáp ứng được giờ tự học 8 giờ cho sáng hôm sau Đó là khoảng thời gian tối thiểu mà sinh viên phải tự học để tự lĩnh hội các kiến thức, có như vậy mới phù hợp với học chế tín chỉ mà giáo dục ĐH hướng tới Tuy nhiên, nhìn chung rất ít sinh viên thực hiện được điều này

1.2.1.2 Thực trạng dạy học học phần Di truyền học với sự hỗ trợ của e - learning

Biểu đồ 1.1 Kiến thức mà sinh viên tiếp thu trên lớp

Thông qua biểu đồ, cho thấy đa số SV tiếp thu được 50% kiến thức trên lớp chiếm tỷ lệ lớn nhất (43,2%) Điều này phản ánh đúng thực tế Các thầy cô dạy trên lớp truyền đạt những kiến thức cơ bản là chủ yếu, kiến thức nâng cao hơn chỉ ít sinh viên tiếp thu được Số sinh viên tiếp thu được 100% bài giảng rất ít, chỉ chiếm 0,52%, SV tiếp thu được 80% bài giảng chiếm 9,4% Tỉ lệ tiếp thu bài thấp cần phải tìm nguyên nhân và giải pháp khắc phục

Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của SV kết quả thu được như sau: 68% SV nhận thức được rằng khả năng tự học là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến KQHT nhiều nhất Mặt khác, 42% sinh viên nhận định PPDH của GV cũng là yếu

tố ảnh hưởng đến KQHT của các em Do điều kiện cơ sở vật chất của trường Đại học Quảng Bình còn nhiều thiếu thốn nên chủ trương chung về việc dạy học đang theo phương pháp truyền thống “ Bảng đen – phấn trắng”, “Thầy giảng – trò học” Phương pháp này không phải là không mang lại hiệu quả Hiện nay các trường đại

Trang 36

học lớn như Mỹ, Anh và một số nước phát triển vẫn đang sử dụng hiệu quả Tuy nhiên, qua điều tra, theo ý kiến khách quan của SV thì GV ngoài việc dạy bằng phương pháp truyền thống cần có sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy và KTĐG theo hướng ứng dụng CNTT [33],[34]

Để biết SV quan tâm vấn đề nào trong quá trình giảng dạy học phần Di truyền học, với câu hỏi SV “Bạn quan tâm vấn đề nào ở GV khi dạy Di truyền học?”, thu được kết quả sau:

Biểu đồ 1.2 Quan tâm của sinh viên ở GV khi dạy Di truyền học

Sinh viên cho rằng sự nhiệt tình giảng dạy của thầy cô là vấn đề các em quan tâm nhất (76%), tiếp đến là các phương pháp tổ chức dạy học và nội dung bài giảng lên lớp (67%) Trong đó vấn đề SV quan tâm nhiều là bài giảng, giáo trình, bài tập mẫu, bài tập vận dụng sau mỗi bài giảng, hỗ trợ của giảng viên trong quá trình học trên lớp thông qua mạng internet đều chiếm trên 50%

1.2.1.3 Thăm dò ý kiến SV về việc sử dụng môi trường E – learning hỗ trợ tự học

Bảng 1.2 Kết quả điều tra ý kiến của SV về sự cần thiết của việc sử dụng

môi trường E – learning hỗ trợ tự học

Trang 37

Phần cuối cùng trong bảng khảo sát SV, chúng tôi yêu cầu SV cho ý kiến về

sự cần thiết phải xây dựng một môi trường E – learning hỗ trợ sinh viên tự học và kết quả nhận được rất khả quan: gần 100% SV ủng hộ giải pháp này

1.2.2 Đối với giảng viên

Đối với giảng viên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thông qua phát phiếu điều tra về thực trạng ứng dụng CNTT dạy ở đại học đào tạo theo tín chỉ hiện nay Trong

đó có đề cập đến việc hỗ trợ của E - learning trong quá trình dạy học Đối tượng điều tra là 34 GV đang giảng dạy tại khoa Nông – Lâm – Ngư, Trường Đại học Quảng Bình, các GV đang giảng dạy tại khoa đa số đều có kinh nghiệm và nhiều năm công tác giảng dạy, kết quả điều tra về các mặt của việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở bậc đại học thu được kết quả như sau:

1.2.1.1 Mục đích sử dụng internet trong dạy học

Tất cả GV được hỏi đều có sử dụng internet trong dạy học Trong đó, công việc GV thường thực hiện là tìm kiếm thông tin đang nghiên cứu (94%), tìm kiếm hoặc chia sẻ các tài liệu dạy học (93%)

Biểu đồ 1.3 Mục đích GV sử dụng internet trong dạy học

Hầu hết GV đã sử dụng internet để trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp (87%) và hỗ trợ SV học tập (82%) Tuy nhiên, GV tạo một trang E - learning hỗ trợ sinh viên trong dạy học còn rất ít (12%), tổ chức dạy học cũng như kiểm soát việc

tự học của sinh viên còn hạn chế (8%) Nhìn chung, GV ở các trường đã ứng dụng

Trang 38

internet vào nhiều hoạt động để hỗ trợ dạy học Đây là điều rất đáng mừng vì việc

sử dụng internet để tạo môi trường học tập trực tuyến trên hệ thống E – learning

1.2.1.2 Thực trạng nhu cầu sử dụng môi trường E – learning trong dạy học

Kết quả trên hoàn toàn phù hợp với câu hỏi điều tra: Thầy/cô có sử dụng môi trường E – learning để phục vụ cho việc dạy học của mình? Kết quả cho thấy, nhiều

GV rất muốn tạo trang E – learning dạy học nhưng do chưa có thời gian (38%) và khả năng sử dụng CNTT còn hạn chế (32%)

Biểu đồ 1.4 Thực trạng và nhu cầu tạo trang E – learning dạy học của GV

1.2.1.3 Mức độ ủng hộ sử dụng môi trường E – learning trong rèn luyện kỹ năng

tự học cho sinh viên

Biểu đồ 1.5 Mức độ ủng hộ của GV trong việc sử dụng môi trường E – learning

trong rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên

Hầu hết GV ủng hộ (84%) trong đó 13% ủng hộ vì đã nghe nói rất tốt Còn

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thị Lan Anh (2003), Sử dụng bài tập để tổ chức học sinh tự học các quy luật di truyền lớp 11 trung học phổ thông, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bài tập để tổ chức học sinh tự học các quy luật di truyền lớp 11 trung học phổ thông
Tác giả: Dương Thị Lan Anh
Năm: 2003
2. Phạm Thị Phương Anh (2002), Xây dựng website hỗ trợ sinh viên học tập học phần Phương pháp dạy học sinh học lớp 12 theo hệ thống tín chỉ, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở, Mã số: DDH2012-03-22, Trường DDH Sư Phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng website hỗ trợ sinh viên học tập học phần Phương pháp dạy học sinh học lớp 12 theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Phạm Thị Phương Anh
Năm: 2002
3. Bộ GD & ĐT (2007), Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 về quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 về quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Bộ GD & ĐT
Năm: 2007
4. Lê Khánh Bằng (1998), Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học, Hà Nội 5. Nguyễn Phúc Chỉnh (2013), Lí luận dạy học Sinh học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học", Hà Nội 5. Nguyễn Phúc Chỉnh (2013), "Lí luận dạy học Sinh học
Tác giả: Lê Khánh Bằng (1998), Cơ sở khoa học của tự học và hướng dẫn tự học, Hà Nội 5. Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
6. Đặng Việt Cường, Phương pháp tự học, Bài báo KHGD đăng ngày 1/12/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tự học
7. Lê Đình, Trần Huy Hoàng (2005), Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên ngành sư phạm vật lí, Trường ĐH Sư Phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên ngành sư phạm vật lí
Tác giả: Lê Đình, Trần Huy Hoàng
Năm: 2005
8. Lê Đình (2009), Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới PPDH trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Kỷ yếu hội thảo khoa học “Đổi mới PPDH trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Tác giả: Lê Đình
Năm: 2009
9. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giáo, Nguyễn Hữu Quýnh (2001), Từ điển giáo dục học, NXB từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giáo, Nguyễn Hữu Quýnh
Nhà XB: NXB từ điển Bách Khoa
Năm: 2001
10. Nguyễn Văn Hiền (2009), Hình thành cho sinh viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức bài dạy sinh học, Luận án tiến sĩ chuyên ngành lý luận và phương pháp dạy học sinh học, ĐH Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành cho sinh viên kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin để tổ chức bài dạy sinh học
Tác giả: Nguyễn Văn Hiền
Năm: 2009
11. Đậu Thị Hoà (2010), Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên địa lí trong dạy học phần địa lý tự nhiên Việt Nam, Tạp chí khoa học và công nghệ số 4(39)2010, Trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp rèn luyện kỹ năng tự học cho sinh viên địa lí trong dạy học phần địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Đậu Thị Hoà
Năm: 2010
13. Trần Bá Hoành (2004), Các năng lực và kỹ năng dạy học sinh học ở trung học cơ sở, Tạp chí KHGD số 103, trang 6 – 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các năng lực và kỹ năng dạy học sinh học ở trung học cơ sở
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2004
14. Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), Hà Thị Đức (2009), Lý luận dạy học đại học, NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại học
Tác giả: Đặng Vũ Hoạt (chủ biên), Hà Thị Đức
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2009
15. Nguyễn Quang Huỳnh (2006), Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới phương pháp dạy học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận giáo dục chuyên nghiệp và đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Nguyễn Quang Huỳnh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2006
16. Kharlamôp I. F (1978), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào tập 1, 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào tập 1, 2
Tác giả: Kharlamôp I. F
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
17. Vũ Đình Luận (2002), Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học Di truyền ở trường CĐSP, Tạp chí Giáo dục số 88, trang 36,37,44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm nhằm nâng cao chất lượng dạy học Di truyền ở trường CĐSP
Tác giả: Vũ Đình Luận
Năm: 2002
18. Vũ Đình Luận (2004), Về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi nhiều lựa chọn (MCQ) trong bước dạy bài mới, môn Di truyền học ở trường CĐSP, Tạp chí Giáo dục số 90, trang 39 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi nhiều lựa chọn (MCQ) trong bước dạy bài mới, môn Di truyền học ở trường CĐSP
Tác giả: Vũ Đình Luận
Năm: 2004
19. Vũ Đình Luận (2012), Rèn luyện tư duy qua phép so sánh trong dạy học chương Tính quy luật của hiện tượng di truyền (Sinh học 12), Tạp chí Giáo dục số đặc biệt 11/2012, trang 95 - 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy qua phép so sánh trong dạy học chương Tính quy luật của hiện tượng di truyền (Sinh học 12)
Tác giả: Vũ Đình Luận
Năm: 2012
20. Vũ Đình Luận (2012), Rèn luyện tư duy hội tụ, phân kỳ cho học sinh trong dạy bài “Liên kết gen và hoán vị gen” (Sinh học 12) bằng câu hỏi nhiều lựa chọn, Tạp chí Giáo dục số đặc biệt 11/2012, trang 124 - 126 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy hội tụ, phân kỳ cho học sinh trong dạy bài “Liên kết gen và hoán vị gen” (Sinh học 12) bằng câu hỏi nhiều lựa chọn
Tác giả: Vũ Đình Luận
Năm: 2012
21. Nguyễn Văn Linh, Phan Phương Lan, Trần Minh Tân, Phan Huy Cường, Võ Huỳnh Trâm, Trần Ngân Bình (2003), Nghiên cứu xây dựng hệ thống E – learning hỗ trợ trong đào tạo theo học chế tín chỉ, Tạp chí khoa học Trường ĐH Cần Thơ số 25, trang 94 – 102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng hệ thống E – learning hỗ trợ trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Tác giả: Nguyễn Văn Linh, Phan Phương Lan, Trần Minh Tân, Phan Huy Cường, Võ Huỳnh Trâm, Trần Ngân Bình
Năm: 2003
22. Trần Văn Lăng, Đào Văn Tuyết, Choiseong (2005), E – learning hệ thống đào tạo từ xa, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: E – learning hệ thống đào tạo từ xa
Tác giả: Trần Văn Lăng, Đào Văn Tuyết, Choiseong
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w