1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tổ chức học sinh thiết kế sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học trong dạy học phần sinh học cơ thể, sinh học 11

164 78 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 11,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐOÀN THỊ KIM CHI TỔ CHỨC HỌC SINH THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11 LUẬN VĂN THẠC

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ KIM CHI

TỔ CHỨC HỌC SINH THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY

ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG

DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trang 2

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 3

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐOÀN THỊ KIM CHI

TỔ CHỨC HỌC SINH THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY

ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG

DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học

Mã số: 60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ DIỆU PHƯƠNG

Trang 4

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là khách quan, trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Kim Chi

Trang 6

Xin chân thành gửi lời biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế, đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu

Cảm ơn Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cám ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô và các em học sinh trường THPT Thuận Hóa, trường THPT An Lương Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tạo điều kiện và hợp tác giúp tôi trong quá trình thực nghiệm đề tài

Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người thân, các anh chị em bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt khóa học

Trang 7

Huế, tháng 10 năm

2017

Đoàn Thị Kim Chi

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp mới của đề tài 6

9 Cấu trúc luận văn 6

PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Tổng quan những hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài 7

1.1.1 Tổng quan những hướng nghiên cứu sự phát triển NLTH cho HS trong dạy học 7

1.1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.1.2 Tổng quan những hướng nghiên cứu về SĐTD và ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học 10

1.1.2.1 Trên thế giới 10

1.1.2.2 Ở Việt Nam 11

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 12

1.2.1 Cơ sở lý luận về phát triển NLTH trong quá trình dạy học 12

1.2.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển năng lực trong quá trình dạy học 12

1.2.1.2 Năng lực tự học 14

Trang 9

1.2.1.3 Dạy học theo chủ đề 17

1.2.2 Cơ sở lý luận về SĐTD 18

1.2.2.1 Khái niệm SĐTD 18

1.2.2.2 SĐTD với các cơ sở hoạt động của não bộ 19

1.2.2.3 Quy tắc thiết kế SĐTD và quy trình rèn luyện kỹ năng thiết kế SĐTD trong dạy học 20

1.2.2.4 Vai trò của SĐTD đối với quá trình nhận thức trong học tập 22

1.2.2.5 Đặc trưng của SĐTD 22

1.2.3 Mối quan hệ giữa SĐTD với việc phát triển NLTH cho HS trong

dạy học 24

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 25

1.3.1 Mục đích, đối tượng, phương pháp và nội dung điều tra thực trạng 25

1.3.2 Kết quả điều tra thực trạng 26

1.3.2.1 Thực trạng về phát triển NLTH trong dạy học Sinh học 26

1.3.2.2 Thực trạng về nhận thức và sử dụng SĐTD trong dạy học Sinh học 30 1.3.2.3 Thực trạng tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH cho HS trong dạy học Sinh học 33

1.3.3 Kết luận chung về thực trạng các vấn đề liên quan đến đề tài 35

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC HỌC SINH THIẾT KẾ SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN

SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11 37

2.1 Phân tích cấu trúc, nội dung chương trình Sinh học cơ thể, Sinh học 11 37

2.2 Nguyên tắc tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH 38

2.3 Các chủ đề tổ chức HS thiết kế SĐTD phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 40

2.4 Tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển năng lực tự học trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 45

2.4.1 Quy trình tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 45

2.4.2 Minh họa quy trình tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 48

2.4.2.1 Tổ chức HS thiết kế SĐTD chủ đề ―Sinh trưởng và phát triển ở thực vật‖ để phát triển NLTH trong dạy học Sinh học 11 48

Trang 10

2.4.2.2 Tổ chức HS thiết kế SĐTD chủ đề ―Sinh sản ở cấp độ cơ thể‖ để

phát triển NLTH trong dạy học Sinh học 11 53

2.5 Biện pháp tổ chức hs thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 58

2.5.1 Cơ sở xác định biện pháp thiết kế SĐTD 58

2.5.2 Các biện pháp tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH 60

2.4.3 Thiết kế SĐTD theo các chủ đề học tập trong chương trình Sinh học cơ thể, Sinh học 11 70

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73

3.1 Mục đích thực nghiệm 73

3.2 Nội dung thực nghiệm 73

3.2.1 Nội dung tiến hành thực nghiệm 73

3.2.2 Nội dung đánh giá kết quả thực nghiệm 73

3.3 Phương pháp thực nghiệm 73

3.3.1 Chọn trường và lớp thực nghiệm 73

3.3.2 Chọn GV dạy thực nghiệm 74

3.3.3 Tiến hành thực nghiệm 74

3.3.3.1 Đối với đánh giá chất lượng lĩnh hội kiến thức của HS 74

3.3.3.2 Đối với đánh giá kỹ năng thiết kế SĐTD để phát triển NLTH của HS trong dạy học Sinh học cơ thể, Sinh học 11 74

3.4 Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm 79

3.5 Nhận xét kết quả thực nghiệm 81

3.5.1 Kết quả chất lượng lĩnh hội kiến thức của HS thông qua các bài kiểm tra kiến thức 81

3.5.1.1 Phân tích định lượng kết quả TN 81

3.5.1.2 Phân tích định tính kết quả TN 85

3.5.2 Kết quả đánh giá kỹ năng thiết kế SĐTD để phát triển NLTH của HS 85

3.5.2.1 Phân tích định lượng kết quả TN 85

3.5.2.2 Phân tích định tính kết quả TN 87

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC

Trang 12

DANH MỤC CÁC BẢNG

phát triển NLTH cho HS trong dạy học

26

dạy học Sinh học

27

8 Bảng 1.8 Kết quả điều tra về hình thức phát triển NLTH trong quá

11 Bảng 1.11 Kết quả điều tra tình hình GV sử dụng SĐTD trong dạy

học Sinh học

31

12 Bảng 1.12 Kết quả về những khó khăn của GV khi sử dụng SĐTD

trong dạy học Sinh học

32

13 Bảng 1.13 Kết quả điều tra thực trạng hiểu biết và sử dụng SĐTD của HS 32

học tập

33

NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

Trang 13

STT Số hiệu Tên bảng Trang

20 Bảng 2.4 SĐTD gợi ý HS tham khảo trong quá trình tổ chức HS

thiết kế SĐTD để phát triển NLTH

71

phát triển NLTH

79

38 Bảng 3.18 Bảng so sánh các tham số thống kê đặc trưng giữa nhóm

lớp TN và ĐC qua các bài kiểm tra

84

39 Bảng 3.19 Kết quả đánh giá NLTH thông qua thiết kế SĐTD phân

tích nội dung kiến thức

85

40 Bảng 3.20 Kết quả đánh giá NLTH thông qua thiết kế SĐTD diễn đạt

khái niệm cấp cơ thể

86

Trang 14

6 Hình 2.2 Quy trình tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển

NLTH trong dạy học

45

điều hòa sinh sản

56

17 Hình 2.13 SĐTD về chủ đề Sinh trưởng ở thực vật và động vật – dạng 1 62

18 Hình 2.14 SĐTD về chủ đề Sinh trưởng ở thực vật và động vật – dạng 2 62

Trang 15

STT Số hiệu Tên hình Trang

30 Hình 3.1 Đường biểu diễn phân phối tần suất (fi%) ở bài kiểm tra số 1 81

31 Hình 3.2 Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến (f1↑) ở bài kiểm tra số 1 81

32 Hình 3.3 Đường biểu diễn phân phối tần suất (fi%) ở bài kiểm tra số 2 82

33 Hình 3.4 Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến (f1↑) ở bài kiểm tra số 2 82

34 Hình 3.5 Đường biểu diễn phân phối tần suất (fi%) ở bài kiểm tra số 3 83

35 Hình 3.6 Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến (f1↑) ở bài kiểm tra số 3 83

36 Hình 3.7 Biểu đồ so sánh NLTH thông qua thiết kế SĐTD phân

37 Hình 3.8 Biểu đồ so sánh NLTH thông qua thiết kế SĐTD diễn

38 Hình 3.9 Các SĐTD về chủ đề Sinh trưởng và phát triển ở TV

41 Hình 3.12 Các SĐTD về chủ đề Sinh trưởng và phát triển cấp độ

42 Hình 3.13 Các SĐTD về chủ đề Sinh trưởng và phát triển cấp độ

43 Hình 3.14 Các SĐTD về chủ đề Sinh sản cấp độ cơ thể của HS

Trang 16

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Xuất phát từ yêu cầu và định hướng dạy học phát triển năng lực

Thời đại bùng nổ thông tin đã tiếp sức cho tri thức khoa học của nhân loại phát triển và đổi mới nhanh chóng theo tốc độ lũy tiến Do đó khoảng cách giữa sự vô hạn của tri thức nhân loại và sự có hạn của tri thức cá nhân ngày càng lớn hơn, thậm chí những kiến thức, kỹ năng hiện có nhanh chóng trở nên lạc hậu và không đủ thỏa mãn nhu cầu cuộc sống con người Tự học, tự nghiên cứu đã trở thành chìa khóa vàng để rút ngắn khoảng cách trên

Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: ―Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS‖

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 (Nghị Quyết số 29 – NQ/TW) của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI ngày 04/11/2013 đã tiếp tục xác định nhiệm vụ và giải

pháp cụ thể về đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại: ―Phát huy

tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức kỹ năng, phát triển năng lực…”

1.2 Sử dụng SĐTD là một trong những kỹ thuật dạy học tích cực để phát triển năng lực tự học cho HS

Xuất phát từ đặc trưng và thực tiễn ứng dụng SĐTD cho thấy SĐTD là công cụ

tư duy kích thích tiềm năng hoạt động của HS; một phương tiện dạy học tiên tiến khơi

dậy ở người học niềm say mê tìm tòi, khám phá và duy trì được hoạt động tự học lâu dài NLTH có sẵn trong mỗi người, để đánh thức năng lực tự học cần phải thông qua quá trình học tập và rèn luyện Việc sử dụng SĐTD như một công cụ trong quá trình dạy học cũng góp phần rèn luyện và phát triển NLTH cho HS

Trang 17

Mặt khác, Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định mục tiêu dạy học: ―Phát triển năng lực học tập, đặc biệt là NLTH: Biết thu thập và xử lý thông tin, lập sơ đồ, biểu bảng, đồ thị, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, làm báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp‖ Như vậy, SĐTD được xem là công cụ dạy học tối ưu giúp HS hệ thống hóa, khái quát hóa nội dung đồng thời hình thành và phát triển các năng lực cần thiết, đặc biệt là NLTH trong quá trình học tập

1.3 SĐTD là công cụ dạy học phù hợp với dạy học Sinh học nói chung và dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 nói riêng

Xuất phát từ thực tiễn ứng dụng SĐTD trong dạy học cho thấy SĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như các bậc học cao hơn Nhờ SĐTD mang tính trực quan, tính cô đọng và tính khái quát mà HS nắm được tri thức nhanh hơn, việc tái hiện lại nội dung tri thức thuận lợi hơn SĐTD giúp trình bày các ý tưởng, tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức học tập một cách rõ ràng, mạch lạc và logic

Với chương trình Sinh học cơ thể, Sinh học 11, kiến thức chủ yếu là các khái niệm chuyên khoa về cơ thể sống Các khái niệm này không thể hình thành ngay một lúc mà cần phải trải qua quá trình tìm hiểu, đào sâu để hiểu rõ về các dấu hiệu bản chất Sử dụng SĐTD trong học tập cho phép mở rộng các ý tưởng bằng cách phân cấp

và liên kết các nhánh để hệ thống hóa kiến thức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống tri thức Do đó với SĐTD, việc nhận thức các khái niệm sẽ sâu sắc và khái quát hơn Như vậy nếu vận dụng SĐTD trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 sẽ góp phần đáp ứng được mục tiêu và nâng cao được chất lượng dạy học Xuất phát từ những lý do trên, đồng thời chúng tôi nhận thấy rằng chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu theo hướng tổ chức học sinh thiết kế SĐTD trong dạy học Sinh

học để phát triển năng lực cho học sinh Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Tổ chức học sinh thiết kế sơ đồ tƣ duy để phát triển năng lực tự học trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11”

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Xây dựng quy trình và biện pháp tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

Trang 18

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Việc phát triển NLTH cho HS trong quá trình dạy học

- Lý thuyết SĐTD và những ứng dụng của SĐTD trong dạy học

3.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của đề tài

- Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức HS thiết kế SĐTD trong dạy học Sinh học 11

- Tìm hiểu thực trạng việc phát triển NLTH cho HS trong dạy học Sinh học

- Tìm hiểu thực trạng việc tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học Sinh học 11

3.3 Phân tích cấu trúc, nội dung phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 làm cơ sở cho việc xác định nội dung kiến thức để tổ chức HS thiết kế SĐTD nhằm phát triển NLTH

3.4 Nghiên cứu đề xuất quy trình, biện pháp tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

3.5 Thực nghiệm sƣ phạm nhằm đánh giá hiệu quả của quy trình và biện pháp

tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy và học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

4.2 Đối tƣợng nghiên cứu

Quy trình và biện pháp tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu xác định được quy trình và các biện pháp thích hợp để tổ chức HS thiết kế SĐTD trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 sẽ phát triển được NLTH cho

HS; qua đó nâng cao được chất lượng dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

Trang 19

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu trong phạm vi sau:

- Phát triển NLTH được giới hạn trong dạy học bài lý thuyết phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

- Tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học

cơ thể, Sinh học 11 ở các chương sau:

Chương III: Sinh trưởng và phát triển Chương IV: Sinh sản

- Đề tài được tiến hành TN tại hai trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

1 Nghiên cứu các Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết của Bộ Giáo dục và Đào tạo

về thực hiện đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở các ngành học, bậc học

2 Nghiên cứu các tài liệu dạy học theo định hướng phát triển năng lực và NLTH

3 Nghiên cứu tài liệu về lý thuyết SĐTD, tài liệu về ứng dụng SĐTD trong các lĩnh vực khác nhau mà đặc biệt là trong dạy học tổ chức HS vận dụng SĐTD để phát triển NLTH

4 Nghiên cứu SGK Sinh học 11 và các tài liệu chuyên ngành có liên quan đến nội dung phần Sinh học cơ thể để xác định những kiến thức, kỹ năng cần đạt được cho HS

7.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Chúng tôi sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến và trao đổi trực tiếp với GV, HS lớp

Trang 20

Qua đó, chúng tôi thu nhận được những cơ sở thực tiễn quan trọng để thực hiện mục tiêu đề tài đã đặt ra, để xây dựng quy trình và biện pháp dạy học hợp lí

7.3 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi trực tiếp, xin ý kiến của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia phương pháp dạy học và chuyên ngành Sinh học về quy trình, biện pháp tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 Đồng thời xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia về các vấn đề liên quan đến quá trình điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm ở lớp 11 tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Nội dung phương pháp TN được trình bày cụ thể ở chương 3

7.6 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng thống kê toán học để xử lý, phân tích và đánh giá các kết quả điều tra

và kết quả thực nghiệm sư phạm

Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành phân tích kết quả về mặt định lượng

và định tính để đánh giá hiệu quả hướng nghiên cứu của đề tài (Nội dung chi tiết trình bày ở chương 3)

Trang 21

8 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

8.1 Hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

8.2 Xác định được các chủ đề tự học trong chương trình Sinh học cơ thể, Sinh học 11 có thể tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH, đồng thời thiết kế được hệ thống SĐTD theo các chủ đề đó

8.3 Xây dựng được quy trình tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

8.4 Đề xuất được các biện pháp tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

9 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Tổ chức HS thiết kế SĐTD để phát triển NLTH trong dạy học

phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 22

PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 TỔNG QUAN NHỮNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.1 Tổng quan những hướng nghiên cứu sự phát triển NLTH cho HS trong dạy học

Trong lịch sử phát triển giáo dục, việc tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến chất lượng giáo dục Chính vì vậy, từ trước đến nay vấn đề tự học và phát triển NLTH đã được các tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

1.1.1.1 Trên thế giới

Tự học đã được quan tâm từ xa xưa và nay đã trở thành tư tưởng lớn của giáo dục thời đại Như Phương Tây cổ đại có phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530 - 475 TCN), Socrate (Hy Lạp, 469-390 TCN), Aristote (384 - 322 TCN) nhằm

mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận

Socrate cho rằng: ―Cần phải để cho người học tự suy nghĩ, tự tìm tòi, cần giúp người học tự phát hiện thấy sai lầm của mình và tự khắc phục những sai lầm đó‖ [20] Montaigne (1533-1592) đã từng khuyên rằng: ―Tốt hơn là ông thầy để cho học trò tự học, tự đi lên phía trước, nhận xét bước đi của họ, đồng thời giảm bớt tốc độ của thầy cho phù hợp với sức học của trò‖ [54]

Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX nhà giáo dục người cộng hòa Séc J.A Conmesky

(1592-1670) cùng với việc “đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học”

Conmesky đã tìm ra phương pháp cho phép GV giảng dạy ít hơn, HS học nhiều hơn Ông khẳng định: ―Không có khát vọng học tập, không có khát vọng suy nghĩ thì sẽ không thể trở thành tài năng‖ [48, tr.7] Ngoài ra, một số nhà giáo dục nổi tiếng như Jacques Rousseau(1712-1778), A.ĐiXtecvec (1970-1866),…trong các công trình nghiên cứu của họ về giáo dục phát triển trí tuệ đều đặc biệt nhấn mạnh: ―Muốn phát triển trí tuệ bắt buộc người học phải phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo để tự mình dành lấy tri thức Muốn vậy phải tăng cường khuyến khích người học tự khám phá, tự tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập‖ [56, tr.5]

Trong tác phẩm “Tự học như thế nào” N.A.Rubakin (1862-1946) đã nhấn

mạnh vai trò và thái độ tích cực tự học của HS trong việc chiếm lĩnh tri thức Ông

Trang 23

khẳng định: ―Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản của HS tích cực, chủ động trong tự học‖ [48, tr.8]

Hiện nay các nhà giáo dục đã có nhiều nghiên cứu toàn diện về đào tạo ở Đại học, trong đó có vấn đề tự học trong đào tạo GV; các phương pháp, biện pháp tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên Chẳng hạn:

- Hai nhà giáo dục Ấn Độ Sharma và Ahmed (1986) [20], trong tác phẩm “Phương

pháp dạy học ở trường Đại học” đã trình bày hoạt động tự học như là một hình thức tổ

chức dạy học có hiệu quả Theo tác giả: Cốt lõi của hình thức tổ chức dạy học này là quá trình điều khiển gián tiếp của GV đối với quá trình tự học của sinh viên thông qua việc giao nhiệm vụ nhận nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập; việc xây dựng và

sử dụng bài tập cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu có vai trò đặc biệt quan trọng

- Samaras (2010) cho rằng để nghiên cứu về tự học, (1) bản thân GV bằng quan sát và kinh nghiệm trong lớp học phải tự đặt ra các câu hỏi đồng thời tự trả lời các câu hỏi đó; (2) trao đổi câu trả lời đó với sinh viên, đồng nghiệp; lập kế hoạch

để sử dụng các biện pháp cải thiện việc tự học của sinh viên; (4) ban hành tài liệu hướng dẫn sử dụng biện pháp đó trong quá trình tự học của sinh viên và đánh giá hiệu quả sử dụng chúng; (5) chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu [52] Tóm lại, hoạt động tự học đã được các tác giả xem xét tương đối cụ thể, từ vai trò của

tự học, các kỹ năng tự học cần thiết đến các điều kiện để tổ chức quá trình tự học đạt kết quả

1.1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, vấn đề tự học, tự bồi dưỡng được nghiên cứu và triển khai rộng rãi nhằm nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS Trong Nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục (11/01/1979) đã viết:

―Cần coi trọng việc bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học cho HS, hướng dẫn HS biết cách nghiên cứu SGK, thảo luận chuyên đề ghi chép tài liệu, tập làm thực nghiệm khoa học‖ Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề này có tính thời sự và đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu [56, tr.8]

Nhiều công trình nghiên cứu của Lê Khánh Bằng [4], [5], Đinh Quang Báo [3], Trần Bá Hoành [26],…về tự học đã chỉ ra tính cấp thiết, cơ sở khoa học và tính khả thi của tự học và dạy tự học Theo Đinh Quang Báo, phương pháp dạy sinh viên đọc sách là phương pháp dạy tự học chủ yếu Trong các công trình nghiên cứu của mình, Trần Bá Hoành cho rằng: ―GV phải biết hướng dẫn, tổ chức cho HS tự mình khám

Trang 24

phá kiến thức mới, dạy cho HS không chỉ kiến thức mà cả phương pháp học, trong đó cốt lõi là phương pháp tự học‖ [24, tr.83]

Trong tác phẩm ―Học và dạy cách học” giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng:

―Cốt lõi của học là tự học Hễ có học là có tự học, vì không ai có thể học hộ người khác được Nhiệm vụ của chúng ta là biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, tức là khéo léo kết hợp quá trình dạy học của thầy với quá trình tự học của trò thành một quá trình thống nhất biện chứng‖ Cuốn sách này thực sự là tài liệu bổ ích giúp cho việc đổi mới phương pháp dạy và học ở Việt Nam, đặc biệt là quá trình dạy tự học [48, tr.10] Tác giả Lê Đức Ngọc [37] cho rằng: ―Để người học có NLTH suốt đời thì người thầy phải dạy cho HS cách học Yêu cầu HS không chỉ học biết, học hiểu, học vận dụng mà còn học phân tích, học tổng hợp, học đánh giá và nhất là học phương pháp học tập (học có kế hoạch, học có tư duy, học có sáng tạo) Người thầy dạy phương pháp học môn học sẽ làm cho người học có tiềm năng tự phát triển học vấn.‖ Hiện nay, vấn đề tự học càng trở lên cấp bách, nên đã và đang có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng các biện pháp nhằm phát triển NLTH cho sinh viên như: Trịnh Quang Từ [50] đã nghiên cứu và đưa ra phương hướng tổ chức hoạt động tự học của sinh viên trong các trường quân sự; Hoàng Hữu Niềm [40] cho rằng nên sử dụng phiếu tự học và tài liệu hướng dẫn tự học để hướng dẫn cho học viên

ở các Trung tâm giáo dục thường xuyên; Dương Thị Thanh Huyền [55] cho rằng: ―Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Bồi dưỡng NLTH là cách tốt nhất để tạo

ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập và tự học giúp mọi người có thể tự học suốt đời‖ Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu của các tác giả khác: Đỗ Thị Phương Thảo [45], Trần Đức Khoán - Nguyễn Hoàng Sơn [33], Nguyễn Thanh Hùng [28],… Như vậy, trên thế giới và trong nước đã có nhiều nghiên cứu về tự học và tổ chức hoạt động học tập để phát triển NLTH cho HS Các tác giả đều đề cao vai trò của tự học; để tự học tốt cần phải có khát vọng học tập (động cơ) và các kỹ năng tự học Có nhiều biện pháp để tổ chức hoạt động tự học (sử dụng bài tập tình huống, câu hỏi bài tập, chủ đề học tập, SĐTD, dạy học theo dự án, nghiên cứu khoa học ), trong đó việc xây dựng và sử dụng câu hỏi bài tập, chủ đề học tập để phát triển NLTH cho HS đang rất được quan tâm

Trang 25

1.1.2 Tổng quan những hướng nghiên cứu về SĐTD và ứng dụng SĐTD trong quá trình dạy học

1.1.2.1 Trên thế giới

Tony Buzan là ―cha đẻ‖ của phương pháp tư duy Mind Map (Phương pháp Mind

Map được Tony Buzan 1 sáng tạo như một ―công cụ đa năng của não bộ‖ - ứng dụng

trong mọi lĩnh vực, từ thay đổi cách quản lý, ghi chú, tư duy đến giải quyết mọi vấn đề) Những nghiên cứu của ông về SĐTD được ghi dấu bằng những thành tựu sau:

Năm 1974 lần đầu tiên cuốn sách viết về SĐTD mang tên Sử dụng trí tuệ của

bạn (Use your head) được xem là “Bộ bách khoa toàn thư đầu tiên về sách sử dụng

bộ não” [9] Từ đó, các tác phẩm kinh điển khác của ông nghiên cứu về não bộ

cũng được xuất bản, nổi bậc là bộ sách The Mind Set bao gồm các đầu sách: Use

your head [9], Master your memory, The Speed reading book [10] Ngoài ra còn có

các tác phẩm Mindmaps at working (SĐTD trong công việc) [11],… Các cuốn sách

trên nói về giá trị của SĐTD, nó như một công cụ giúp con người có thể hệ thống kiến thức, sự kiện và ghi nhớ một cách tốt nhất theo cách hoạt động của não bộ, từ

đó đề ra những cách thức giải quyết sáng tạo và hiệu quả

Cùng với Tony Buzan, Barry Buzan là giáo sư Quan hệ quốc tế thuộc Trường Kinh Tế và Chính trị London (LSE) đồng thời là một tác giả nổi tiếng về lĩnh vực lịch sử và cấu trúc của hệ thống chính trị quốc tế Ông đã sử dụng SĐTD như một công cụ hữu hiệu trong sự nghiệp của mình và tích cực cộng tác với Tony Buzan trong việc phát triển kỹ thuật lập SĐTD [9]

Đến giữa thập niên 70, Peter Russel đã làm việc chung với Tony Buzan và họ

đã truyền bá kỹ xảo về SĐTD cho nhiều cơ quan quốc tế cũng như các học viện

Giáo dục SĐTD được mệnh danh ―công cụ vạn năng cho não bộ‖, là phương pháp

ghi chú đầy sáng tạo, đã và đang đem lại những hiệu quả thật sự đáng kinh ngạc nhất là trong lĩnh vực giáo dục và kinh doanh [1]

Joyce Wycoff [51] đã cho thấy khả năng ứng dụng rộng rãi của SĐTD vào nhiều lĩnh vực Tác giả nhấn mạnh: ―Lập SĐTD là hình thức ghi chép hiệu quả‖ vì

1 Tony Buzan sinh năm 1942 tại London, tốt nghiệp Đại học British Columbia năm 1964 Tony Buzan đã từng nhận bằng danh dự về Tâm lí học, Văn chương văn minh Anh, Toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường đại học British Columbia Tony Buzan là nhà văn, nhà diễn thuyết đồng thời là nhà cố vấn hàng đầu thế giới cho các chính phủ, doanh nghiệp, ngành nghề, các trường đại học cũng như các trường học

về não bộ, kiến thức và những kĩ năng tư duy Ngoài ra, ông còn là Chủ tịch Quỹ nghiên cứu về Não bộ (Brain Foundation), nhà sáng lập tổ chức Brain Trust và các giải vô địch thế giới về Trí nhớ và Tư duy [12]

Trang 26

nó cho phép người sử dụng ―nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải‖

Đặc biệt trong những năm gần đây, trên thế giới xuất hiện khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về SĐTD và ứng dụng nó vào trong lĩnh vực giáo dục: Adam Khoo đã khái quát những vấn đề cốt lõi của lý thuyết SĐTD, qua đó ông đã khẳng

định giá trị của SĐTD trong học tập là “Một công cụ ghi chú hiệu quả tận dụng

được những từ khóa cũng như những nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng” [33, tr.82 ]

Bên cạnh các công trình tiêu biểu kể trên, còn có các công trình khác của các

tác giả cũng đề cập đến việc ứng dụng SĐTD Đó là: “Học khôn ngoan mà không

gian nan” của Kevin Paul, “Phương pháp học tập siêu tốc” và “Phương pháp tư duy siêu tốc” của Bobbie Deporter, “Một tư duy hoàn toàn mới” của Daniel Pink,

“Cú đánh thức tỉnh trí sáng tạo‖ của Roger Von Dech, ―Kỹ năng học tập siêu tốc‖

của Colin Rose và Malcolm Nicholl [12]

Riêng đối với lĩnh vực giáo dục, đa số các nghiên cứu tập trung theo hướng phân tích, khai thác SĐTD để phát triển năng lực tư duy trong việc học tập nói chung SĐTD là công cụ đắc lực cho quá trình ghi nhớ, hệ thống kiến thức, lập kế hoạch, soạn bài học, xây dựng ý tưởng sáng tạo Tất cả những điều này tạo thành nền tảng chung đối với kỹ năng học tập của người học

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Cùng với trào lưu tiếp nhận và ứng dụng lý thuyết SĐTD của hai tác giả Tony

và Barry Buzan, ở Việt Nam trong những năm trở lại đây, nhiều tổ chức và cá nhân

đã phát triển ứng dụng SĐTD trong một số lĩnh vực như kinh doanh, hoạt động xã hội và đặc biệt là lĩnh vực giáo dục Có thể sơ lược những công trình nghiên cứu và các thành quả liên quan đến ứng dụng SĐTD ở trong nước như sau:

Tác giả Trần Đình Châu, một trong những người đầu tiên tiến hành nghiên cứu và tìm cách đưa phương pháp SĐTD vào giảng dạy tại các trường phổ thông Việt Nam trong khuôn khổ của dự án phát triển THCS II (Bộ GD và ĐT) [55] Với dự án này, tác giả Trần Đình Châu và Đặng Thị Thu Thuỷ đã viết bộ sách đề cập việc áp dụng SĐTD trong dạy học gồm: Dạy tốt - học tốt các môn học bằng bản đồ tư duy [16]; Thiết kế bản đồ tư duy dạy - học môn Toán [17] và rất nhiều bài báo khoa học liên quan khác [13], [14], [15] Các tài liệu này giúp HS vận dụng được SĐTD vào việc học một

cách hiệu quả, đáp ứng đúng tinh thần của khoa học giáo dục “khi nghiên cứu phải

sâu sắc kĩ lưỡng, nhưng khi phổ biến phải đơn giản, cụ thể, rõ ràng” [16]

Trang 27

Góp phần nhân rộng việc ứng dụng SĐTD trong lĩnh vực giáo dục, tác giả

Hoàng Đức Huy với Đổi mới dạy học bằng Bản đồ tư duy [29] đã hướng dẫn sử

dụng kỹ thuật tư duy 5W1H (cách đặt câu hỏi với các từ để hỏi như When, What, Why, Who, Where và How) kết hợp công cụ SĐTD để nâng cao hiệu quả ghi chép cũng như phân tích thông tin một cách nhanh chóng và dễ dàng

Những năm gần đây, việc nghiên cứu vận dụng SĐTD vào dạy học rất được quan tâm đối với mọi cấp học từ mầm non, tiểu học đến đại học, đối với mọi môn học và ngành học Điều này được thể hiện qua sản phẩm nghiên cứu ở các môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên: [1], [30], [49] hoặc các môn học thuộc lĩnh vực xã hội có các nghiên cứu: [21], [23], [25], [39] Riêng với việc dạy học bộ môn Sinh học có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu về SĐTD của các tác giả Trần Khánh Ngọc [38]; Lý Hải Đường [22] Nhìn chung, các nghiên cứu này phần lớn tập trung theo hướng khai thác vận dụng SĐTD như một phương tiện hay biện pháp để tổ chức dạy học bài mới,

ôn tập và hệ thống hóa kiến thức, để phát triển kỹ năng tư duy cho HS, nâng cao khả năng nhận thức của HS thông qua thiết kế SĐTD

Từ những phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu và sử dụng SĐTD trong quá trình dạy học cũng như tổng quan nghiên cứu về sự hình thành và phát triển NLTH trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng là những gợi ý quý báu cho chúng tôi tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng vừa kết hợp khai thác vận dụng giá trị của SĐTD trong dạy học, vừa đáp ứng theo định hướng dạy học phát triển năng lực hiện nay Mặt khác, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về phát triển NLTH thông qua tổ chức HS thiết kế SĐTD trong quá trình dạy học phần Sinh học cơ thể, Sinh học 11 Do đó, đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm góp phần đa dạng các hướng nghiên cứu theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học hiện nay

1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Cơ sở lý luận về phát triển NLTH trong quá trình dạy học

1.2.1.1 Cơ sở lý luận về phát triển năng lực trong quá trình dạy học

 Khái niệm năng lực

Năng lực (Competency) có nguồn gốc tiếng Latinh ―Competentia” Ngày nay,

khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau [49]

Trang 28

Trong Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2002), khái niệm năng lực được xác định là: ―1 Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2 Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao‖ [41, tr.660-661] Tác giả Vũ Xuân Thái cho rằng: ―Năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh; năng lực là sức mạnh làm nổi việc nào đó‖ [44, tr.576]

Tùy theo cách tiếp cận mà khái niệm năng lực có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau:

(1) Khi định nghĩa năng lực, một số tác giả đã quy năng lực về “khả năng” như:

―Năng lực là khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực như kỹ năng, thái độ và sự hứng thú‖ [46, tr.22]; ―Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức,

kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, ‖[8, tr.5]

(2) Có tác giả quy năng lực về ―thuộc tính‖, chẳng hạn: ―Năng lực là thuộc

tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể‖ [8, tr.5]

(3) Cũng có trường hợp quy năng lực về “phẩm chất”, chẳng hạn: ―Năng lực là

tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định‖ [18, tr.499] Các khái niệm về năng lực ở trên, dù diễn đạt theo cách nào thì năng lực đều

có một số đặc điểm chung, cơ bản là:

+ Năng lực là kết quả của sự phối hợp nhiều nguồn lực khác nhau (tư chất sẵn

có, kiến thức, động cơ, thái độ, ý chí, kỹ năng ) trong hoạt động của con người + Năng lực chỉ được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động Khi con người chưa hoạt động thì năng lực vẫn còn tiềm ẩn Do đó, chỉ có thể quan sát được năng lực qua hoạt động của cá nhân ở các tình huống nhất định

+ Năng lực thể hiện qua mức độ ―thành công‖, tính hiệu quả của hoạt động, đó chính là thước đo để đánh giá năng lực

+ Năng lực được hình thành và phát triển trong suốt đời Một năng lực nào đó

có thể sẽ bị yếu hoặc mất đi nếu không được sử dụng, rèn luyện thường xuyên

Tiếp thu những quan điểm trên, theo chúng tôi, ―Năng lực là khả năng con

người huy động tổng hợp mọi nguồn lực (bao gồm những tố chất sẵn có, kinh

Trang 29

nghiệm, kiến thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí, ) để thực hiện thành công hoạt động trong bối cảnh nhất định‖

 Cấu trúc năng lực

Theo tác giả Đặng Thành Hưng: Năng lực gồm ba thành tố cơ bản là tri thức,

kỹ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), trong đó ―yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực

cụ thể nào đều là kỹ năng‖ [31, tr.27]

Tác giả Nguyễn Lan Phương cho rằng cấu trúc của năng lực gồm ba thành phần chính sau đây: 1) Hợp phần (components of competency) là các lĩnh vực chuyên môn tạo nên NL; 2) Thành tố (element) là các năng lực hoặc kỹ năng bộ phận tạo nên mỗi hợp phần; 3) Hành vi (behaviour): Bộ phận được chia tách từ mỗi thành tố [6, tr.6]

Kết hợp các cách tiếp cận trên sẽ cho chúng ta hình dung một cách đầy đủ về cấu trúc của năng lực, vừa xác định được các nguồn lực (các yếu tố đầu vào) về kiến thức,

kỹ năng, thái độ để hình thành, phát triển năng lực, vừa xác định được đầy đủ các năng lực bộ phận, hành vi biểu hiện của năng lực Qua đó, giúp GV thiết kế, tổ chức các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng PTNL một cách hiệu quả hơn

1.2.1.2 Năng lực tự học

 Khái niệm tự học

Về tự học, có nhiều định nghĩa khác nhau:

Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: ―Tự học là người học tích cực, chủ động tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học‖ [26]

Theo Malcolm Shepherd Knowles: ―Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự đoán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện‖ [47, tr.26]

Tiếp thu các quan niệm của các tác giả đã nêu, chúng tôi cho rằng: “Tự học là

tự thực hiện hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác để tìm tòi, khám phá lĩnh hội kiến thức mới; vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập, rèn luyện và phát triển kỹ năng”

Trang 30

 Vai trò của tự học

Có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học [55]

Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập

Tự học trong khâu học bài mới giúp HS có những hiểu biết ban đầu về tri thức, nảy sinh thắc mắc để có thể học hỏi tốt hơn; tự học trong khâu ôn tập củng cố là lần thứ hai lĩnh hội tri thức bằng sự tái tạo lại của bản thân Bước tái tạo này giúp HS nắm chắc hơn điều đã được học, hệ thống hoá lại bài học trên lớp; tự học trong khâu vận dụng kiến thức giúp HS hiểu rõ tri thức và ý nghĩa thực tiễn của nó Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kỹ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao

Tự học là nhân tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực cho HS

Khi tự học các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành kỹ năng, kỹ xảo, năng lực cần thiết (năng lực hợp tác, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực nghiên cứu khoa học)

Tự học có vai trò trong rèn luyện tư duy

Tự học không chỉ giúp HS mở rộng đào sâu kiến thức mà còn giúp HS hình thành những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của mình: Phát triển khả năng độc lập, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức và trong hoạt động Tạo cho HS có nếp sống và làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập

Tự học có vai trò to lớn trong sự phát triển toàn diện ở mỗi cá nhân

Tự học là điều kiện quyết định sự thành công của mỗi người, giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực, phẩm chất Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vai trò của giáo viên Lực lượng này có vai trò to lớn trong việc động viên, hướng dẫn HS tự học đúng hướng

và hiệu quả Có thể nói hoạt động tự học của HS là một khâu quan trọng của quá trình dạy học, là quá trình gia công, chế biến và điều khiển của GV và HS theo đúng mục tiêu giáo dục quy định

 Năng lực tự học

Theo Nguyễn Ngọc Duy (2014): ―NLTH là khả năng tự thu nhận tri thức và vận dụng nó một cách có hiệu quả trong hoạt động học tập tích cực ở mức độ độc

Trang 31

lập cao nhất có thể NLTH được thể hiện bởi khả năng làm chủ quá trình học tập, thu nhận, nắm vững hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và kết nối chúng một cách hợp lí trong việc thực hiện thành công nhiệm vụ học tập và vận dụng chúng để giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn‖ [19]

Theo Phan Thị Thanh Hội, Kiều Thu Giang: ―NLTH là khả năng người học độc lập, tự giác từ việc xác định mục tiêu học tập, thiết kế và thực hiện kế hoạch học tập đến việc tự đánh giá và điều chỉnh việc học nhằm tối ưu hóa việc lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng, năng lực‖ [27]

Từ các khái niệm trên, chúng tôi cho rằng: ―NLTH là khả năng chủ thể thực

hiện có hiệu quả các hoạt động học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kỹ năng

và vận dụng kiến thức học được trong các tình huống khác nhau”

 Cấu trúc của NLTH

Tác giả Lương Thế Mạnh (2010), NLTH gồm một số năng lực thành phần sau: Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực tư duy; năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn; năng lực đánh giá và tự đánh giá [35] Theo Phan Thị Thanh Hội, Kiều Thu Giang, cấu trúc của NLTH bao gồm các kỹ năng thành phần như sau: Kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng lập kế hoạch học chủ đề, kỹ năng thực hiện học tập chủ đề, kỹ năng tự thể hiện, tự đánh giá và điều chỉnh việc học [27] Sau khi tham khảo những ý kiến của các tác giả, chúng tôi kế thừa, hệ thống

và xây dựng lại cấu trúc NLTH như sau (hình 1.1 ):

Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc NLTH

Trang 32

Vai trò của việc rèn luyện NLTH cho HS trong dạy học

Rèn luyện NLTH cho HS là phương pháp tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ

cho quá trình học tập

Tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học là một trong những phẩm chất quan trọng, góp phần phát triển giáo dục Có thể xem tính tích cực (hình thành từ NLTH) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách con người Trong

đó, hoạt động tự học là biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức tạo nên hứng thú học tập để người học có sự tự giác, say mê tìm tòi khám phá Qua đó, tạo động lực mạnh mẽ để HS có thể hoàn thành nhiệm vụ và đạt kết quả cao trong học tập

Rèn luyện NLTH giúp cho HS có thể học tập suốt đời

Học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường

tự học, mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học NLTH sẽ tạo lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao

1.2.1.3 Dạy học theo chủ đề

 Khái niệm chủ đề học tập

Có nhiều định nghĩa khác nhau về chủ đề như:

Theo Hoàng Phê (2000) [41]: Chủ đề là vấn đề chủ yếu được đặt ra trong tác phẩm, toát lên từ nội dung và theo một hướng tư tưởng nhất định Chủ đề gắn bó với đề tài, nói lên cách tiếp cận, khai thác và khám phá vấn đề trong phạm vi đề tài đó

Theo Nguyễn Kì Loan (2016) [34], chủ đề là những nội dung chính chứa đựng những yếu tố phổ biến và điển hình (chủ chốt) xuyên suốt một đề tài nhất định Trong dạy học, chủ đề là một đơn vị nội dung kiến thức tương đối trọn vẹn mà khi học xong người học có thể vận dụng kiến thức đã học được để giải quyết một vấn

đề thực tiễn hoặc giải quyết một vấn đề trong bối cảnh mới Chủ đề đòi hỏi phải đảm bảo chứa đựng được những nội dung tri thức chủ chốt mang tính phổ biến, điển hình; đồng thời phải có khả năng mở ra và kết hợp với những lĩnh vực hay các chủ đề khác

Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, đơn vị kiến thức, nội dung bài học,…có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về

Trang 33

lý luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của môn học

đó làm thành nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó người học có thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn [53]

Mối quan hệ giữa dạy học theo chủ đề và dạy học phát triển NLTH cho HS

Trong dạy học theo chủ đề, kiến thức mới được lĩnh hội cùng lúc với việc giải quyết nhiệm vụ học tập, đó là kiến thức tổ chức theo một tổng thể mới, có thể khác với trình tự logic của SGK Nên HS phải tự học, tự nghiên cứu để tìm ra những vấn

đề cốt lõi, trọng tâm, cơ bản và mối quan hệ giữa chúng trong cùng một chủ đề Chủ đề có bản chất tích hợp nên dạy học theo chủ đề sẽ được phát huy tối đa tính tích cực học tập của HS Thông qua đó, HS chủ động xây dựng cho mình một

hệ thống kiến thức mang tính chặt chẽ, sâu sắc, bản chất, thiết thực và hệ thống; đồng thời rèn luyện và phát triển được năng lực, đặc biệt là NLTH

1.2.2 Cơ sở lý luận về SĐTD

1.2.2.1 Khái niệm SĐTD

 Khái niệm

Theo Tony Buzan, SĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh,

để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa sơ đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm

Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý tưởng trung tâm [11, tr.20-21] Từ đó, T.Buzan

khái quát: “SĐTD là bước kế tiếp giúp chúng ta chuyển từ lối tư duy tuần tự (một chiều)

sang tư duy song phương (hai chiều) để đạt đến tư duy mở rộng (đa chiều)‖ [11]

Theo Trần Đình Châu, SĐTD là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc

sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực [14]

Như vậy, hiểu một cách khái quát nhất, ―SĐTD là hình thức ghi chép phi tuyến

tính dưới dạng sơ đồ mở rộng; sử dụng màu sắc, đường nét và hình ảnh biểu thị, phát triển hay đào sâu một ý tưởng nào đó Nó phản ánh quá trình tư duy diễn ra bên trong đầu óc con người; có tác dụng hệ thống hóa nội dung tri thức, thúc đẩy hoạt động ghi nhớ và phát huy tiềm năng sáng tạo vô biên”

 Cấu trúc của SĐTD

Ở giữa SĐTD là một ý tưởng trung tâm hay hình ảnh trung tâm; từ ý tưởng trung tâm này sẽ được phát triển các nhánh chính để thể hiện rõ ý tưởng trung tâm;

Trang 34

các nhánh chính lại được phân chia thành các nhánh nhỏ hơn nhằm thể hiện chủ đề

ở mức độ sâu hơn Cứ như thế sự phân nhánh tiếp tục và chính sự liên kết này sẽ tạo

ra một bức tranh tổng thể mô tả ý tưởng trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Hình 1.2 Cấu trúc của SĐTD

Từ cấu trúc của SĐTD, các nhánh chính của SĐTD được đọc theo chiều kim đồng

hồ, bắt nguồn từ nhánh I tới nhánh II, rồi nhánh III và cuối cùng là nhánh IV Các từ khóa được viết và đọc theo hướng từ trên xuống dưới trong cùng một nhánh chính [33]

Hình 1.3 Hướng dẫn cách đọc SĐTD

1.2.2.2 SĐTD với các cơ sở hoạt động của não bộ

Theo T.Buzan, SĐTD được nghiên cứu dựa vào bản chất, cơ chế của hoạt động trí nhớ và các chức năng chính của não bộ xuất phát từ những cơ sở sau [12]:

(1) Chức năng của vỏ não với các kỹ năng tư duy

Hình 1.4 Cấu tạo và hoạt động của bộ não

Hai bán cầu não phân chia thành hai nhóm chức năng như sau: Bán cầu não trái trội hơn những kỹ năng tư duy về: Con số, lời nói, suy luận, liệt kê, quan hệ tuần tự, xâu chuỗi, phân tích Bán cầu não phải trội hơn về các hoạt động tư duy về: Màu sắc, kích thước, nhịp điệu, nhận thức về không gian, tưởng tượng Nếu chúng

ta sử dụng càng nhiều chức năng tối ưu của hai bán cầu não thì quá trình ghi nhớ, nhận thức và sáng tạo càng có hiệu quả cao hơn

Trang 35

(2) Tính toàn thể trong hoạt động của não bộ

Bộ não chúng ta có khuynh hướng đi tìm mô hình và bổ sung vào chỗ khuyết Chẳng hạn phần lớn chúng ta khi đọc những từ một, hai, ba…thì khó cưỡng lại cảm giác phải đọc thêm bốn Khuynh hướng bổ sung vào chỗ khuyết của não bộ được đáp ứng bởi cấu trúc SĐTD SĐTD có khả năng tạo thành một chuỗi vô tận những ―bộ dò‖ liên kết để tìm hiểu một cách toàn diện mọi ý tưởng hay vấn đề chúng ta quan tâm

(3) Não bộ là bộ máy liên kết tư duy mở rộng

Bộ não là bộ máy kỳ diệu có 5 chức năng chính: Tiếp nhận thông tin (qua các giác quan), lưu giữ (lưu giữ và truy xuất thông tin), phân tích (nhận dạng và xử lý thông tin), tác xuất (giao tiếp hay hoạt động sáng tạo, kể cả tư duy) và kiểm soát (mọi chức năng tư duy và thể chất) Cả 5 chức năng này của não bộ hỗ trợ và củng cố lẫn nhau để thực hiện hoạt động tư duy Các chức năng 1, 2 và 3 sẽ dẫn đến chức năng thứ 4 là tác xuất và được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau mà SĐTD là một trong những cách tối ưu

(4) Cách ghi chép thông thường khiến bộ não bị kìm hãm

Với các lối ghi chép thông thường: Dùng câu tường thuật, liệt kê, dùng dàn ý gần như không có các yếu tố thiết yếu trong hoạt động tư duy toàn diện SĐTD được sử dụng để thay thế cách ghi chép đó và đem lại cho người học những tiềm năng to lớn: Khả năng ghi nhớ, tìm thấy mối liên hệ giữa các ý tưởng, tối ưu hóa và đơn giản hóa thông tin, nắm thông tin chính nhanh chóng, tăng khả năng sáng tạo

(5) Quá trình học và ghi nhớ dưới góc độ tâm lý học

Các nghiên cứu cho thấy trong quá trình học, não bộ chủ yếu ghi nhớ các thông tin trong phần đầu hay cuối buổi học; thông tin nổi bật được nhấn mạnh; thông tin có

sự thu hút 5 giác quan; thông tin mà cá nhân đặc biệt quan tâm Từ quan điểm tâm lý học, sử dụng SĐTD là công cụ có thể đáp ứng được khả năng ghi nhớ trong học tập

1.2.2.3 Quy tắc thiết kế SĐTD và quy trình rèn luyện kỹ năng thiết kế SĐTD trong dạy học

 Quy tắc thiết kế SĐTD

Theo T.Buzan, để thiết kế SĐTD cần đảm bảo các quy tắc [19], [21]: Nhóm quy tắc kỹ thuật: Nhấn mạnh, liên kết, mạch lạc, tạo phong cách riêng Nhóm quy tắc này có tác dụng làm tăng trí nhớ và đẩy mạnh sáng tạo Nhóm quy tắc bố trí: Sử dụng trình tự phân cấp và trình tự đánh số nhằm sắp xếp các ý tưởng tùy theo mục đích khác nhau, tăng cường khả năng ghi nhớ

Trang 36

Từ những kỹ thuật chi tiết về nguyên tắc thiết kế SĐTD, có thể chọn lọc và vận dụng một số nguyên tắc cơ bản sau để thiết kế SĐTD trong dạy học:

- Bắt đầu từ trung tâm với một hình ảnh hay một tên một chủ đề Tên chủ đề

có thể là tên bài học, tên chương, khái niệm…

- Vẽ các nhánh chính (cấp 1) từ hình ảnh trung tâm, vẽ tiếp các nhánh phụ (cấp 2, cấp 3, ) từ các nhánh cấp 1 bằng các đường cong với màu sắc khác nhau

- Nên dùng các đường cong thay cho các đường thẳng vì các đường cong sẽ thu hút sự chú ý của mắt hơn và mắt cảm thấy dễ chịu

- Bố trí thông tin đều quanh các hình ảnh trung tâm

- Chỉnh sửa, điều chỉnh sao cho hình thức SĐTD cân đối

 Quy trình rèn luyện kỹ năng thiết kế SĐTD trong dạy học [15]

Để vận dụng SĐTD vào dạy học, hướng dẫn HS thiết kế và sử dụng nó sao cho có hiệu quả nhất cần tiến hành thiết kế qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Làm quen với SĐTD

Trước hết GV cần hướng dẫn HS tìm hiểu những lý thuyết cơ bản về vai trò,

sự cần thiết của SĐTD trong dạy học GV có thể cho HS làm quen, đọc hiểu SĐTD bằng cách giới thiệu cho HS một số SĐTD có nội dung dễ hiểu hoặc SĐTD có nội dung kiến thức các em đang học hoặc đã học HS tập đọc hiểu SĐTD

Giai đoạn 2: Tập vẽ SĐTD

Có thể tập cho HS vẽ SĐTD bằng cách hoàn thiện các SĐTD do GV đã vẽ sẵn HS dùng bút chì, bút màu để vẽ hoàn thiện SĐTD đó

Giai đoạn 3: Thực hành thiết kế SĐTD trên giấy

HS có thể tự thiết kế một SĐTD về chủ đề tự chọn, về một bài, một chương của SGK mà vừa được học xong Khi thiết kế tuân theo trình tự các bước sau: Bước 1: Chọn từ trung tâm

Bước 2: Vẽ thêm các nhánh chính (nhánh cấp 1)

Bước 3: Phát triển nội dung của các nhánh chính (nhánh cấp 2,3, )

Bước 4: Hoàn thiện SĐTD

Giai đoạn 4 Luyện tập và phát triển kỹ năng thiết kế SĐTD

Khi HS đã thiết kế SĐTD thành thạo trên giấy, tùy điều kiện cho phép, các em

có thể sử dụng các phần mềm thiết kế SĐTD trên máy tính để luyện tập với nhiều chức năng và công cụ hỗ trợ tối ưu

Trang 37

1.2.2.4 Vai trò của SĐTD đối với quá trình nhận thức trong học tập

 Đối với GV

Trong dạy học, SĐTD là một công cụ để GV sử dụng giảng dạy trong nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực của bài học SĐTD làm cho bài dạy học cũng như cách trình bày bài dạy ngẫu hứng, sáng tạo và lý thú Với SĐTD là một công cụ để tổ chức phát triển tư duy, trí tuệ, năng lực, khả năng sáng tạo của HS thì GV dựa vào

đó để triển khai bài dạy học của mình một cách thuận lợi, có thể dùng SĐTD trong nhiều khâu, nhiều hình thức, nhiều phương pháp của quá trình dạy học Là một phương tiện trực quan vừa gắn với hình ảnh, vừa gắn với kiến thức cơ bản của bài học, GV sẽ khái quát bài học, nội dung chính của bài học lên SĐTD khá dễ dàng

 Đối với HS

Thiết kế SĐTD sẽ tiết kiệm thời gian do tận dụng cách ghi chép với các từ khóa ngắn gọn, hình ảnh đơn giản Từ đó giúp ghi nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức SĐTD thể hiện sự liên kết giữa các ý tưởng bằng các nhánh giúp mở rộng và kết nối các ý tưởng dễ dàng, từ đó đào sâu kiến thức học tập một cách logic, mạch lạc SĐTD giúp nhìn thấy bức tranh tổng thể mà lại chi tiết nội dung học tập Đồng thời, điểm mạnh của SĐTD là phát triển và không bỏ sót ý tưởng, giúp HS hệ thống hóa, ôn tập kiến thức thuận lợi

SĐTD kích thích hứng thú học tập, phát huy tối đa năng lực sáng tạo của HS Như vậy, việc thiết kế SĐTD sẽ mang lại những lợi ích về các mặt: Ghi nhớ; phát triển nhận thức, tư duy, khả năng sáng tạo Nghĩa là cùng với việc hình thành kiến thức, kỹ năng tư duy của HS cũng được phát triển

1.2.2.5 Đặc trưng của SĐTD

 Cách thức biểu hiện của tư duy bằng sơ đồ [42]

Khi SĐTD được xem là bản vẽ ghi lại những nhận thức của con người về sự vật hiện tượng nào đó, thì tư duy bằng sơ đồ chính là dùng hình ảnh, đường nét, màu sắc, ngôn ngữ ghi lại nhận thức về sự vật hiện tượng cũng như định hướng phát triển của sự vật hiện tượng theo cách nhìn nhận của mỗi cá nhân

Trang 38

Bảng 1.1 Cách biểu hiện của tư duy bằng sơ đồ

 Cách thức thể hiện của SĐTD so với Graph

Về cơ bản giữa SĐTD và Graph có một số điểm giống nhau như sau: SĐTD

và Graph đều có một ý tưởng chính làm điểm xuất phát của các ý tưởng liên quan (với SĐTD là ý tưởng trung tâm, với Graph là đỉnh xuất phát) Với mỗi ý tưởng chính này đều có sự triển khai các nhánh chính, nhánh phụ với các cấp độ chi tiết hơn và thường có sự liên kết với nhau

Như vậy, SĐTD và Graph đều là sự triển khai một ý tưởng chính nào đó thành

hệ thống các ý tưởng nhỏ hơn, cụ thể hơn Cả hai công cụ này đều được xem là một dạng ngôn ngữ biểu đạt kết quả một quá trình tư duy, cụ thể hóa những suy nghĩ trong bộ não con người về các yếu tố cũng như những mối liên hệ giữa chúng Tuy nhiên, dựa trên cơ sở lý thuyết có thể thấy những đặc trưng riêng của SĐTD so với Graph thông qua một số điểm sau:

(1) Khi xây dựng Graph cần xác định một cách rõ ràng, cụ thể các cung, đỉnh được đưa vào trong Graph Trước hết, người tạo lập phải xem xét sẽ kiến tạo Graph như thế nào cho phù hợp để thể hiện chính xác nội dung đã có

Với SĐTD là dạng sơ đồ tương đối tự do, cho phép người thiết kế được sáng tạo theo ý định chủ quan của mình mà không bị gò bó vào các cung, đỉnh như ở Graph Như vậy, người sử dụng không nhất thiết phải hình dung trước kết cấu SĐTD cần thiết kế mà chính sau khi hoàn thành xong SĐTD, những gì được thiết kế ở SĐTD sẽ xuất hiện và nhờ đó người sử dụng nhận thức vấn đề rõ ràng hơn

(2) Hai là, ở Graph các nhánh chính và nhánh phụ luôn được chú ý phân cấp theo một trình tự rất chặt chẽ, phán ánh đúng logic khoa học của kiến thức Do đó Graph thường có tính khuôn mẫu nhất định

Đối với SĐTD, yêu cầu tính chặt chẽ về sự phân cấp các nhánh chính và

Trang 39

nhánh phụ vẫn có nhưng không nhất thiết phải theo đúng sự chặt chẽ duy nhất về logic khoa học Có thể nói, với SĐTD sự chặt chẽ theo logic tư duy của mỗi cá nhân miễn là không sai về mặt logic khoa học, nó thể hiện ý tưởng riêng của mỗi người

Rõ ràng SĐTD nhấn mạnh nhiều hơn đến vấn đề ý tưởng và sáng tạo SĐTD cho phép người thiết kế có thể tự do và linh hoạt hơn trong quá trình phát triển ý tưởng Chính vì thế sự thay đổi vị trí của một số yếu tố trong SĐTD nhiều khi không gây ảnh hưởng tới sự phát triển vấn đề mà chỉ phản ánh một hướng tư duy khác (3) Về hình thức thể hiện, SĐTD luôn chú ý sử dụng hình ảnh, màu sắc, đường nét, kí hiệu…để phát huy tối đa yếu tố trực quan và tạo phong cách riêng đối với từng cá nhân Điều này đối với Graph rất ít hoặc không được đề cập đến

Tóm lại, về bản chất SĐTD và Graph đều là những công cụ tư duy hiệu quả, kích thích bộ não hoạt động và liên kết các ý tưởng với nhau Tuy nhiên, giữa chúng vẫn có một số nét khác biệt đặc trưng về bản chất và hình thức thể hiện như đã nêu trên

1.2.3 Mối quan hệ giữa SĐTD với việc phát triển NLTH cho HS trong dạy học

Các nghiên cứu lí luận dạy học cho thấy SĐTD là phương tiện, là công cụ tổ chức hoạt động tự lực, rèn luyện kỹ năng, NLTH cho HS ở các khâu của quá trình dạy học vì:

(1) Thiết kế SĐTD phù hợp với các thao tác tư duy logic để hình thành và phát triển các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để phát triển NLTH

Trong dạy học, SĐTD mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: Ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo… Thiết kế SĐTD giúp HS tăng độ bền kiến thức, cá thể hóa việc học một cách tối ưu bởi vì kiến thức đến với HS không phải qua kênh độc thoại của GV mà qua kênh hoạt động tư duy, sáng tạo của HS Trong quá trình thiết kế SĐTD, HS sử dụng ngôn ngữ của SĐTD để ghi lại nhận thức, tư duy, sáng tạo mang tính cá nhân và SĐTD được tái thiết lập để có một sản phẩm hoàn chỉnh Do đó, HS có thể được luyện tập để sắp xếp các ý tưởng giúp phát triển được các kỹ năng, kỹ xảo, năng lực tương ứng trong quá trình dạy học

(2) SĐTD phù hợp với các thao tác thu thập thông tin, xử lý và diễn đạt thông tin để hình thành kiến thức trong quá trình tự học

Lý thuyết SĐTD cho thấy, thiết kế SĐTD phải vận dụng linh hoạt các chức năng của não bộ để thu thập thông tin, xử lý và diễn đạt thông tin dưới dạng các kênh hình, kênh chữ để cho ra ―hình ảnh‖ SĐTD hoàn chỉnh về mặt kiến thức NLTH của HS được

Trang 40

hình thành thông qua các hành động, thao tác bộ phận Mỗi thao tác là một thành tố kỹ năng hình thành NLTH Trong số các kỹ năng thành tố đó gồm có kỹ năng thu thập nguồn thông tin, kỹ năng xử lý thông tin và xây dựng sản phẩm, kỹ năng báo cáo sản phẩm và thảo luận… Điều này, phần nào cho thấy sự tương thích, phù hợp giữa tư duy, logic hình thành và phát triển NLTH cho HS với những chức năng của não bộ khi thiết

kế SĐTD Do đó, việc sử dụng SĐTD trong dạy học sẽ phát triển NLTH cho HS

(3) SĐTD phù hợp cho việc diễn đạt, báo cáo sản phẩm của quá trình học tập một cách rõ ràng, logic

SĐTD là sản phẩm mang tính cá nhân, mỗi người có một cách diễn đạt theo tư duy logic khác nhau Thông qua việc thiết kế SĐTD, HS có thể rèn luyện các kỹ năng diễn đạt, kỹ năng báo cáo sản phẩm quá trình học tập của mình trước tập thể

SĐTD gợi hứng thú cho người học một cách tự nhiên, giúp HS tiếp thu tích cực, chủ động hơn Do đó, việc sử dụng SĐTD vào dạy học sẽ phát triển và hoàn thiện năng lực nhận thức cho HS Có thể nói, SĐTD là phương pháp hữu hiệu trong việc rèn luyện cho HS NLTH, vì thiết kế SĐTD là một hoạt động mang tính tự lực cao trong suy nghĩ cũng như trong hành động học tập của HS

1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Mục đích, đối tượng, phương pháp và nội dung điều tra thực trạng

 Mục đích điều tra

Để có thông tin thực trạng về các vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu, trên cơ sở

đó thực hiện các nội dung nghiên cứu phù hợp đáp ứng nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

 Đối tượng điều tra

Chúng tôi tiến hành điều tra trên 2 nhóm đối tượng:

- 29 GV dạy Sinh học của các trường THPT tại tỉnh Thừa Thiên Huế (THPT

Thuận Hóa, THPT An Lương Đông, THPT Phan Đăng Lưu, THPT Quốc Học, THPT Nguyễn Huệ, THPT Thuận An, THPT Phú Bài)

- 440 HS lớp 11 của các trường THPT tại tỉnh Thừa Thiên Huế (THPT Thuận

Hóa, THPT An Lương Đông, THPT Phan Đăng Lưu, THPT Hai Bà Trưng)

 Phương pháp điều tra

Chúng tôi đã thiết kế và sử dụng phiếu điều tra đối với GV (Phụ lục số 1) và phiếu điều tra đối với HS (Phụ lục số 2) Bên cạnh đó, để có thêm thông tin đảm bảo cho việc đánh giá chính xác, khách quan và để kiểm nghiệm các kết quả điều

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w