1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tổ chức hoạt động trải nghiệm với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật trong dạy học chương “cảm ứng điện từ”, vật lí 11

92 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMLÊ THIÊN Ý ANH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM VỚI HÌNH THỨC ỨNG DỤNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”, VẬT LÍ 11 Chuyên ngành: Lí

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THIÊN Ý ANH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

VỚI HÌNH THỨC ỨNG DỤNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”,

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THIÊN Ý ANH

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

VỚI HÌNH THỨC ỨNG DỤNG KHOA HỌC KĨ THUẬT TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”,

VẬT LÍ 11

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

Mã số: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS QUÁCH NGUYỄN BẢO NGUYÊN

Thừa Thiên Huế, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào khác

Huế, tháng 8 năm 2018

Tác giả

LÊ THIÊN Ý ANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo hướng dẫn: TS Quách Nguyễn Bảo Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm, quý thầy, cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư Phạm, Đại học Huế và quý thầy, cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý thầy, cô tổ Vật lítrường THPT An Lương Đông đã tạo điều kiện trong thời gian thực nghiệm và hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Huế, tháng 8 năm 2018

Tác giả

LÊ THIÊN Ý ANH

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 8

4 Đối tượng nghiên cứu 8

5 Giả thuyết khoa học 8

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

7 Phương pháp nghiên cứu 9

8 Phạm vi nghiên cứu 10

9 Những đóng góp của đề tài 10

10 Cấu trúc luận văn 10

B NỘI DUNG 11

Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 11

1.1 Hoạt động trải nghiệm 11

1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm 11

1.1.2 Nội dung hoạt đông trải nghiệm 12

1.1.3 Hình thức hoạt động trải nghiệm 13

1.2 Thực trạng dạy học chương “Cảm ứng điện từ”, Vật lí 11 ở một số trường THPT của tỉnh Thừa Thiên Huế 16

1.2.1 Mục đích điều tra 16

1.2.2 Phương pháp điều tra 16

1.2.3 Đối tượng điều tra 16

1.2.4 Kết quả điều tra 16

1.3 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí 19

1.3.1 Nội dung hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí 19

1.3.2 Hình thức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí 19

1.3.3 Năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của học sinh 21

Trang 6

1.4 Đánh giá năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của học sinh trong hoạt động

trải nghiệm 22

1.4.1 Biểu hiện năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của học sinh 22

1.4.2 Hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật củahọc sinh 23

1.5 Biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật 24

1.5.1 Biện pháp 1: Tăng cường tính thực tiễn của bài học trong dạy học vật lí24 1.5.2 Biện pháp 2: Tăng cường hoạt động thực hành, sử dụng thí nghiệm 25

1.5.3 Biện pháp 3: Thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 26

1.6 Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật 27

1.6.1 Xác định mục tiêu, nội dung hoạt động 27

1.6.2 Xác định đối tượng học sinh tham gia hoạt động 28

1.6.3 Xác định hình thức tổ chức hoạt động 28

1.6.4 Xác định biện pháp rèn luyện kĩ năng sẽ sử dụng 29

1.6.5 Thiết kế giáo án 29

1.6.6 Thực hiện giờ dạy học 30

1.6.7 Đánh giá kết quả hoạt động 30

1.7 Kết luận chương 1 32

Chương 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”, VẬT LÍ 11 33

2.1 Đặc điểm cấu trúc, nội dung chương “Cảm ứng điện từ”, Vật lí 11 33

2.1.1 Đặc điểm của chương “Cảm ứng điện từ” 33

2.1.2 Mục tiêu chương “Cảm ứng điện từ” vật lí lớp 11 33

2.1.3 Phân tích nội dung chương cảm ứng điện từ vật lí lớp 11 34

2.2 Định hướng tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ”, Vật lí 11 35 2.3 Dạy học theo hướng ứng dụng khoa học kĩ thuật trong dạy học chương “Cảm

Trang 7

ứng điện từ”, Vật lí 11 37

2.3.1 Thiết kế tiến trình dạy học bài 23: Từ thông Cảm ứng điện từ (tiết 1) 37 2.3.2 Thiết kế tiến trình dạy học bài 23: Từ thông Cảm ứng điện từ (tiết 2) 45 2.3.3 Thiết kế tiến trình dạy học bài 24: suất điện động cảm ứng 50

2.3.4 Thiết kế tiến trình dạy học bài 25 Tự cảm 55

2.4 Kết luận chương 2 59

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 61

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 61

3.3 Đối tượng, nội dung và thời gian thực nghiệm sư phạm 62

3.3.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 62

3.3.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 62

3.3.3 Thời gian thực nghiệm sư phạm 62

3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 62

3.4.1 Chọn mẫu thực nghiệm 62

3.4.2 Quan sát giờ học 63

3.4.3 Kiểm tra đánh giá 63

3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 64

3.5.1 Những thuận lợi trong thực nghiệm sư phạm 64

3.5.2 Một số khó khăn trong thực nghiệm sư phạm 64

3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 65

3.6.1 Đánh giá định tính 65

3.6.2 Đánh giá định lượng 65

3.6.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 69

3.7 Kết luận chương 3 70

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức độ biểu hiện năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của HS thông qua

các hành vi cá nhân 23

Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu TNSP 63

Bảng 3.2: Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 66

Bảng 3.3: Bảng phân phối tần suất 67

Bảng 3.4: Bảng phân phối tần suất tích luỹ 67

Bảng 3.5 Bảng tổng hợp các tham số thống kê 69

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 2.1 Sơ đồ cấu tạo của máy phát điện xoay chiều một pha 44

Hình 2.2 Sơ đồ cấu tạo của máy phát điện xoay chiều một pha đơn giản có NC quay 44

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ Đồ thị 3.1: Thống kê điểm số Xi của bài kiểm tra 67

Đồ thị 3.2 Đồ thị phân phối tần suất Error! Bookmark not defined Đồ thị 3.2: Phân bố tần suất Error! Bookmark not defined. Đồ thị 3.3 Đồ thị phân phối tần suất tích lũy 68

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Qui trình tổ chức HĐTN trong dạy học vật lí với hình thức ứng dụng KHKT 31

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Mỗi quốc gia, muốn phát triển kinh tế - xã hội, cần các nguồn lực gồm: Tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người… Trong đó nguồn lực con người là yếu tố quan trọng và có tính chất quyết định nhất Nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận không tách rời nguồn nhân lực quốc gia, khi quốc gia đó chuyển dần sang nền kinh tế dựa trên tri thức là chủ yếu Cộng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế, nguồn nhân lực chất lượng cao có vai trò quyết định, và để có nguồn nhân lực phát triển về cả số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí cao thì cần phải được bắt đầu từ giáo dục phổ thông.Như vậy, ngành giáo dục đào tạo cũng phải đổi mới nhằm đào tạo những con người có đủ kiến thức, kỹ năng, thái độ, trí tuệ sáng tạo và phẩm chất đạo đức tốt làm chủ đất nước

Đổi mới trong giáo dục đã và đang được toàn xã hội quan tâm Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay vấn đề đổi mới nội dung và phương pháp dạy học rất được chú trọng Nghị quyết số 29, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã chỉ rõ: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể,mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giảm, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn…”; “Phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tựhọc, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…” [5]

Như vậy, vai trò của nền giáo dục hiện đại không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho HS những tri thức, kinh nghiệm đã có của nhân loại mà còn có nhiệm vụ bồi dưỡng cho họ khả năng tư duy, năng lực sáng tạo và cung cấp các kiến thức, kỹ năng lao động kĩ thuật tổng hợp nhằm tích cực chuẩn bị cho HS bước vào thực tếcuộc sống lao động sản xuất Nhiệm vụ đó đòi hỏi nền giáo dục phải có những đổi mới căn bản về mọi mặt, trong đó cần đặc biệt chú ý tới đổi mới nội dung và phương pháp dạy học

Trang 11

Phương pháp dạy học cần đổi mới sao cho phù hợp với con đường nhận thức khoa học, rèn luyện cho HS năng lực giải quyết vấn đề, tạo điều kiện cho HS tham gia vào các hoạt động tìm tòi, sáng tạo, tiếp thu tri thức mới Một trong những mục tiêu của giáo dục phổ thông là trang bị cho HS các kiến thức, kỹ năng, phát triểnnhân cách người lao động mới năng động, sáng tạo tích cực chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống xã hội, lao động sản xuất, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Vật lí học nằm trong hệ thống các môn học ở nhà trường phổ thông nên việc đổi mới phương pháp dạy và học đối với môn vật lí là điều tất yếu Do đặc thù của môn vật lí là môn khoa học TNg, các kiến thức vật lí đóng vai trò nguyên tắc hoạtđộng của các ứng dụng kĩ thuật nên một trong các khâu quan trọng của quá trình đổimới phương pháp dạy học vật lí là tăng cường hoạt động TNg, nghiên cứu và tìmhiểu các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí của HS trong quá trình học tập đồng thời giúp HS vận dụng những tri thức, kiến thức, kỹ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiêm của bản thân vào thực tiễn cuộc sống.

Vì vậy, việc tổ chức dạy học theo hướng giao nhiệm vụ liên quan đến việc tìm hiểu nguyên tắc hoạt động và chế tạo các ứng dụng kĩ thuật để HS tiếp cận với con đường nghiên cứu khoa học là hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn Thông qua các nhiệm vụ này, HS sẽ được rèn luyện kỹ năng, kĩ xảo, giáo dục tổng hợp, hình thành tư duy sáng tạo và tinh thần làm việc tập thể Từ đó, HS nắm được các ứng dụng

kĩ thuật trong đời sống và có kiến thức để sử dụng các máy móc thiết bị cơ bản làm cơ

sở cho việc sử dụng những công cụ trong công việc cũng như trong cuộc sống

Hiện nay, ở hầu hết các trường phổ thông, việc dạy học trong chương trình chính khóa vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa vận dụng nhiều lý thuyết vào thực tiễn, chưa kích thích sự hứng thú học vật lí của HS Do vậy, để đem lại sự hứng thú, tích cực học tập của HS cần phải đa dạng hóa các hình thức tổ chức học tập trong

đó cần khẳng định vai trò quan trọng của HĐTN Đây là một hình thức dạy học mang hiệu quả cao nhưng chưa được chú trọng đúng mức ở các trường phổ thông

Trong quá trình người học trải nghiệm và hoạt động, một lượng lớn thông tin có thể được truyền qua lại với nhau trong môi trường kiến tạo xã hội, các học thuyết, lý

Trang 12

của người học hoặc bởi sự truyền thụ kiến thức từ người học hiểu biết hơn sang người học còn chưa biết Như vậy, kiến thức được xây dựng và chiếm lĩnh bởi chính cá nhân người học hoặc được xây dựng và củng cố trong môi trường kiến tạo xã hội.HĐTN giúp HS củng cố các kỹ năng đã có, trên cơ sở đó tiếp tục rèn luyện và phát triển các năng lực tự hoàn thiện, năng lực giao tiếp, ứng xử, năng lực tổ chức quản lí, năng lực hợp tác… cho HS.

Trong chương trình Vật lí 11, kiến thức chương “CƯĐT” có rất nhiều ứng dụng trong đời sống và kĩ thuật GV có thể tổ chức cho các nhóm HS nghiên cứu cấu tạo, công dụng, nguyên tắc hoạt động, tự thiết kế và làm TN ở nhà tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng, thao tác TN, biết ứng dụng kiến thức vào trong đời sống và kĩ thuật, điều này làm cho việc hiểu kiến thức của HS trở nên sâu sắc và bền vững.Chính vì những lí do trên, với mong muốn góp phần vào việc đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Vật lí ở trường THPT, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tổ chức hoạt động trải nghiệm với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật trong dạy học chương “Cảm ứng điện từ”, Vật lí 11”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Lý luận về giáo dục đã được nhiều các nhà tâm lí học, giáo dục học quan tâm nghiên cứu và hoàn thiện từ khá sớm Hệ thống lý luận về HĐTN tuy có nhiều nghiên cứu khác nhau song được trình bày thống nhất với hệ thống lý luận

về hoạt động dạy học

Đầu tiên phải kể đến Lý thuyết Hoạt động nghiên cứu về bản chất quá trình

hình thành con người Luận điểm cơ bản của Lý thuyết Hoạt động, đã trở thành nguyên tắc nghiên cứu bản chất người và quá trình hình thành con người, đó là

“Tâm lí hình thành thông qua hoạt động” Điều này có nghĩa là, chỉ thông qua hoạt động của chính bản thân con người, thì bản chất người, nhân cách người đó mới được hình thành và phát triển Hoạt động là phương thức tồn tại của con người Không có hoạt động, không có con người, do vậy cũng không có xã hội loài người Nguyên tắc “Tâm lí hình thành thông qua hoạt động” có ý nghĩa chỉ đạo, tổ chức các hoạt động giáo dục con người trong nhà trường trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kĩ xảo là hoạt động của chính người học Con

Trang 13

người có tự lực hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân.

Cùng với Lý thuyết Hoạt động, Lý thuyết tương tác xã hội đã chỉ ra rằng môi

trường xã hội – lịch sử không chỉ là đối tượng, là điều kiện, phương tiện mà còn là môi trường hình thành tâm lý mỗi cá nhân Con người tương tác với những người xung quanh, tương tác trong môi trường xã hội, đã giúp hình thành tâm lý người.Vận dụng nguyên lý trên trong giáo dục, L.X Vưgôtxki, nhà Tâm lí học Hoạt

động nổi tiếng trong nghiên cứu của mình đã chỉ ra rằng: “trong giáo dục, trong một lớp học, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp (assisted discovery) hơn là sự tự khám phá Ông cho rằng sự khuyến khích bằng ngôn ngữ của GV và sự cộng tác của các bạn cùng tuổi trong học tập là rất quan trọng” [10] Điều này cho thấy để

hình thành tri thức, kỹ năng, kĩ xảo có hiệu quả cao, không chỉ coi trọng sự chỉ dẫn, hướng dẫn của GV mà phải coi trọng hoạt động cùng nhau, coi trọng sự hợp tác, làm việc cùng nhau giữa những người học

Còn nhà Tâm lí học Nhận thức hàng đầu là Jean Piaget chuyên nghiên cứu bản chất nhận thức từ góc độ cá nhân, cũng đã có những kết luận trùng hợp với L.X Vưgôtxki khi nghiên cứu nhận thức ở người Lí thuyết của J Piaget về sự giải quyết

mâu thuẫn trong quá trình phát triển nhận thức đã cho rằng: “các cá nhân, trong trường hợp tương tác cùng nhau, khi có những mâu thuẫn nhận thức xuất hiện đã tạo ra sự mất cân bằng về nhận thức, do đó đã thúc đẩy khả năng và hoạt động nhận thức, thúc đẩy sự phát triển nhận thức của mỗi người” [9].

Trong những năm 80 – 90 của thế kỉ XX Lý thuyết Kiến tạo ra đời và phát

triển, hoạt động học là quá trình người học tự kiến tạo, tự xây dựng tri thức cho chính mình Người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng về nội dung học, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin trên cơ sở vốn kinh nghiệm (tri thức đã có) và nhu cầu hiện tại, bổ sung những thông tin mới để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới Như vậy, hoạt động học là quá trình người học tự kiến tạo tri thức cho chính mình chứ không phải GV mang sẵn lời giải đến cho họ, Ngoài ra, Lý thuyết Kiến tạo còn cho rằng: hoạt động học được hiểu không phải là hoạt động nhận thức cá nhân thuần túy mà là hoạt động cá nhân trong sự tương tác, giao lưu

Trang 14

với các cá nhân khác, chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh cụ thể Từ quan niệm trên vềhoạt động học, Lý thuyết Kiến tạo quan niệm hoạt động dạy là hoạt động của GV nhằm tổ chức và hướng dẫn hoạt động học người học Người học là chủ thể tích cực của hoạt động học.

Một trong những lý thuyết nghiên cứu trực tiếp đến HĐTN trong dạy học là Lý thuyết Học từ trải nghiệm của David A Kolb Ông đã phát triển một mô hình toàn diện

về quá trình học từ trải nghiệm, lý thuyết học tập mô tả một chu trình học tập bằng việc giải quyết hai phép biện chứng gồm: Thử nghiệm/ Phản ánh và Kinh nghiệm cụ thể/ Khái niệm hóa trừu tượng để giúp con người thích nghi toàn diện với môi trường Mô hình Kolb mô tả một quá trình học tập gồm 4 giai đoạn: người học bắt đầu với kinh nghiệm cụ thể, sau đó thực hiện quan sát – phản ánh để đưa ra các quan điểm cá nhân trước các vấn đề cần giải quyết, từ đó tham gia vào quá trình kiến tạo khái niệm hóa trừu tượng, qua đó sử dụng những kiến thức khái quát này để thử nghiệm hoạt động nhằm kiểm tra những gì đã học [11]

Tại Hàn Quốc (một trong những quốc gia có nền giáo dục phát triển nhất của

khu vực), trong cuốn “HĐTN sáng tạo” – Bộ KH - KT và GD Hàn Quốc, 2009, đã

nói tới một trong những chương trình đổi mới của giáo dục Hàn Quốc là HĐTN HĐTN là những hoạt động nằm ngoài các hệ thống các môn học trong nhà trường,

đó là những hoạt động tự chủ, hoạt động câu lạc bộ, hoạt động từ thiện và hoạt động định hướng HĐTN sáng tạo tại Hàn Quốc không tách rời hệ thống các môn học trong nhà trường mà có quan hệ tương tác, bổ trợ nhau để hình thành và phát triển những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, kỹ năng sống và năng lực cần có trong xã hội hiện đại Hoạt động này mang tính thực tiễn rất cao, gắn bó với đời sống và cộng đồng, có tính tổng hợp nhiều lĩnh vực giáo dục

Ở nước Anh, việc học được chia sẻ bởi nhà trường và nhiều tổ chức, cá nhân,

xã hội cùng chung tay gánh vác Trong “Chương trình giáo dục phổ thông Anh Quốc” (2013) Trung tâm Widehorizon thành lập năm 2004 (Chân trời rộng mở)

như là niềm hi vọng của giáo dục ngoài trời trong đó có dạy học phiêu lưu - mạo hiểm - một hình thức của HĐTN Tầm nhìn sứ mạng của tổ chức này đơn giản là:

“Chúng tôi tin rằng mỗi đứa trẻ đều có cơ hội trải nghiệm những tri thức về phiêu lưu mạo hiểm như là một phần được giáo dục trong cuộc đời chúng” Tầm nhìn

Trang 15

chiến lược ấy bắt đầu từ một hiện thực được cho là khó tin: Hơn 50% trẻ con nước Anh chưa từng biết đến nông thôn, miền quê là gì, riêng thủ đô London con số này

là 35% Việc nhiều trẻ em chưa biết đến nông thôn là gì, cùng với sự suy giảm đáng

kể cơ hội giáo dục thông qua các tổ chức tham quan cho trẻ con ở các trường phổthông là nguyên nhân lớn của sự lo lắng tương lại trẻ nhỏ, về quyền được kết nối với thiên nhiên giảm sút và vô số nhưng lợi ích liên quan đến “giáo dục ngoài trời” -một hình thức của tổ chức HĐTN

Xác định tầm quan trọng của HĐTN trong dạy học, Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có đề cập đến

vấn đề tổ chức HĐTN cho HS như là một phương pháp dạy học tích cực trong quá trình dạy học HĐTN bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho HS phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị và kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại Nội dung của HĐTN được thiết kế theo hướng tích nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng…để HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm và phát huy tối đa khả năng sáng tạo của các em

Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Việt Nam được thông qua ngày 28/7/2017,Chương trình tổng thể nêu lên 5 phẩm chất chủ yếu cần hình thành,

phát triển ở HS là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Về năng

lực, chương trình hướng đến 10 năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần có

để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm: Những năng lực chung được tất cả

các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một

số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất [2] Bên cạnh việc hình thành, phát triển các

năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi

dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của HS.

Trang 16

Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về lí luận dạy học cũng đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm sáng tạo Người đầu tiên nghiên cứu phát triển ứng dụng Lý thuyết Hoạt động vào nhà trường chính là Phạm Minh Hạc Theo ông, thông qua hoạt động của chính cá nhân, bản thân mới được hình thành và phát triển Như vậy, trong học tập và giáo dục, rèn luyện, việc lĩnh hội tri thức, kỹnăng, kĩ xảo, lĩnh hội các giá trị xã hội là hoạt động của người học Con người có tựhoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức

của bản thân “Hoạt động không chỉ rèn luyện trí thông minh bằng hoạt động, mà còn thu hẹp sự cưỡng bức của nhà giáo thành sự hợp tác bậc cao” [18].

Trong nước, thời gian qua cũng có nhiều bài báo, bài nghiên cứu khoa học vềtình hình học tập trải nghiệm sáng tạo như:

Kỉ yếu hội thảo: “Tổ chức hoạt đông trải nghiệm sáng tạo cho HS phổ thông

và mô hình phổ thông gắn với sản xuất kinh doanh tại địa phương” của Bộ Giáo

dục và Đào tạo, đã thu hút rất nhiều bài viết của các tác giả trong cả nước Đã có 19 bài của 21 tác giả gửi đến hội thảo, trong số đó có một số bài viết hay, đã đề cập ởmức độ nóng vấn đề tổ chức HĐTN cho HS như:

Trong bài viết “Một số vấn đề về HĐTN sáng tạo trong chương trình giáo dục phổ thông mới”, Lê Huy Hoàng, trường Đại học Sư phạm Hà Nội có đề cập tới quan niệm về HĐTN là “hoạt động mang xã hội, thực tiễn đến với môi trường giáo dục trong nhà trường để HS tự trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện được phẩm chất, năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê; bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị; nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ cho và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục” [12] Tác giả cũng đề cập đến nội dung, đặc điểm

của HĐTN Từ kinh nghiệm hoạt động sáng tạo ở Hàn Quốc tác giả đưa ra vấn đề trải nghiệm sáng tạo thông qua nghiên cứu khoa học kĩ thuật và giáo dục STEM

Bài viết của Đỗ Ngọc Thống nghiên cứu “HĐTN sáng tạo – kinh nghiệm quốc

tế và vấn đề của Việt Nam” Trong đó, tác giả giới thiệu kinh nghiệm tổ chức

HĐTN trong giáo dục phổ thông nước Anh và Hàn Quốc Đây đều là những nước

đã đưa HĐTN vào chương trình đào tạo từ sớm và đạt được những kết quả to lớn

Từ đó tác giả đưa ra kết luận: “Lâu nay chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam

đã có hoạt động giáo dục nhưng chưa được chú ý đúng mức; chưa hiểu đúng vị trí, vai trò và tính chất của các hoạt động giáo dục Chưa xây dựng được một chương

Trang 17

trình hoạt động giáo dục đa dạng, phong phú và chi tiết với đầy đủ các thành tố của một chương trình giáo dục Chưa có hình thức đánh giá và sử dụng kết quả các hoạt động giáo dục một cách phù hợp” [7].

Bùi Ngọc Diệp trong bài viết “Hình thức tổ chức các HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông”, cũng đưa ra quan niệm về HĐTN trong nhà trường phổ thông Theo đó “Các em được chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân; các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng; được đánh giá và lựa chọn ý tưởng hoạt động, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…” [4].HĐTN diễn ra với

nhiều hình thức như: hoạt động câu lạc bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, hội thi, tổ chức sự kiện, hoạt động giao lưu hay hoạt động chiến dịch, hoạt động nhân đạo…

Bài viết của Đinh Thị Kim Thoa, ĐHGD - ĐHQGHN “HĐTN sáng tạo góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm” có đề cập đến sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm Trong đó, “học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân” [6] Tác giả cũng đưa ra mô hình và chu trình học

từ trải nghiệm của David Kolb và vận dụng lý thuyết “Học từ trải nghiệm” của Kolb vào việc dạy học và giáo dục trong trường học Theo tác giả, để phát triển

sự hiểu biết khoa học, chúng ta có thể tác động vào nhận thức của người học; nhưng để phát triển và hình thành năng lực (phẩm chất) thì người học phải trải nghiệm HĐTN là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống, nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực…3 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng được biện pháp và quy trình tổ chức HĐTN với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật trong dạy học chương “CƯĐT”, Vật lí 11

4 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học chương “CƯĐT”, Vật lí 11 theo hướng tổ chức HĐTN

5 Giả thuyết khoa học

Trang 18

Nếu tổ chức HĐTN cho HS theo các biện pháp và quy trình đã xây dựng trong dạy học chương “CƯĐT”, Vật lí 11 thì sẽ bồi dưỡng được năng lực ứng dụng KHKT của HS.

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

-Nghiên cứu cơ sở lý luận về HĐTN

-Nghiên cứu đặc điểm nội dung kiến thức

-Xây dựng nhiệm vụ học tập gồm các HĐTN của HS

-Soạn thảo tiến trình dạy học có sử dụng nhiệm vụ HĐTN của HS

-Công cụ đánh giá và TNg sư phạm để đánh giá sự phát triển năng lực sáng tạo của HS trong dạy học Vật lí 11

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận:

+ Nghiên cứu văn kiện của Đảng, chỉ thị của Bộ giáo dục và Đào tạo

+ Nghiên cứu các tài liệu về phương pháp dạy học Vật lí và giáo dục học,chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách GV, sách bài tập Vật lí…

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận của HĐTN của HS trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận dạy học các ứng dụng kĩ thuật của Vật lí

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về tính sáng tạo của HS trong HĐTN

+ Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ

TN đơn giản

- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn:

+ Nghiên cứu thực tiễn HĐTN ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

+ Tiến hành khảo sát bằng phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn và đàm thoại với HS và GV; tham quan phòng TN Vật lí, tham khảo kế hoạch sử dụng các thiết bị Vật lí ở các trường THPT

- Phương pháp TNg sư phạm

+ Tiến hành TNSP đánh giá tính khả thi và hiệu quả của chuyên đề HĐTN

Trang 19

của HS bao gồm nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học về chương

“CƯĐT”, Vật lí 11

8 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu, tổ chức “HĐTN trong dạy học chương “CƯĐT”, Vật lí 11” theo hướng bồi dưỡng năng lực ứng dụng KHKT của HS THPT Tổ chức TNSP trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

9 Những đóng góp của đề tài

-Bổ sung cơ sơ lí luận và tổ chức HĐTN trong dạy học vật lí

-Đề xuất được quy trình dạy học theo hướng trải nghiệm sáng tạo cho HS trong dạy học vật lí

-Thiết kế được một số bài dạy học chương “CƯĐT” Vật lí 11 THPT theo hướng HĐTN

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, nội dung luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI

NGHIỆM CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

Chương 2: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ”, VẬT LÍ 11

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

KẾT LUẬN

Trang 20

B NỘI DUNG Chương I:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ

1.1 Hoạt động trải nghiệm

1.1.1 Khái niệm hoạt động trải nghiệm

Theo Từ điển Tiếng việt , "Trải có nghĩa là đã từng qua, từng biết, từng chịu đựng; còn nghiệm có nghĩa là kinh qua thực tế nhận thấy điều nào đó là đúng" [8] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, "Trải nghiệm theo nghĩa chung nhất là bất kì một trạng thái có màu sắc xúc cảm nào được chủ thể cảm nhận, trải qua, đọng lại thành bộ phận (cùng với tri thức, ý thức…) trong đời sống tâm lí của từng người Theo nghĩa hẹp hơn, chuyên biệt hơn của tâm lí học, là những tín hiệu bên trong, nhờ đó nghĩa của các sự kiện đang diễn ra đối với cá nhân được ý thức, chuyển thành ý riêng của cá nhân, góp phần lựa chọn tự giác các động cơ cần thiết, điều chỉnh hành vi của cá nhân" [18].

Đinh Thị Kim Thoa cho rằng, “HĐTN sáng tạo là hoạt động giáo dục thông qua sự trải nghiệm và sáng tạo của cá nhân trong việc kết nối kinh nghiệm học được trong nhà trường với thực tiễn đời sống mà nhờ đó các kinh nghiệm được tích lũy thêm và dần chuyển hóa thành năng lực” [6].

Trong nghiên cứu của mình, Ngô Thu Dung đã xác nhận, “HĐTN sáng tạo là thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động giáo dục trong nhà trường được tổ chức phù hợp với bản chất hoạt động của con người, tính từ trải nghiệm sáng tạo để nhấn mạnh bản chất hoạt động chứ không phải một dạng hoạt động mới” [13].

Theo Lê Huy Hoàng, “HĐTN sáng tạo là hoạt động xã hội, thực tiễn giúp HS

tự chủ trải nghiệm trong tập thể, qua đó hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực; nhận ra năng khiếu, sở thích, đam mê, bộc lộ và điều chỉnh cá tính, giá trị, nhận ra chính mình cũng như khuynh hướng phát triển của bản thân; bổ trợ và cùng với các hoạt động dạy học trong chương trình giáo dục thực hiện tốt nhất mục tiêu giáo dục Hoạt động này nhấn mạnh sự trải nghiệm, thúc đẩy năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo” [12].

Trang 21

Các khái niệm trên điều đề cập đến cá nhân người học tự trải nghiệm dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục để hình thành và phát triển năng lực nhưng yêu cầu ở một mức độ cao hơn không chỉ trải nghiệm mà còn phải có sự sáng tạo Như vậy, HĐTN là hình thức hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của HS, được thực hiện trong thực tế dưới sự định hướng, hướng dẫn của nhà giáo dục giúp HS phát hiện, hình thành kiến thức, vận dụng kiến thức đã học

và áp dụng trong thực tế đời sống Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn, người học hình thành và thể hiện phẩm chất năng lực

1.1.2 Nội dung hoạt đông trải nghiệm

Trong cuốn “Tổ chức HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông” (Nguyễn Thị Liên chủ biên) [16], để xác định nội dung của HĐTN cho các cấp học và cho các vùng miền khác nhau cần căn cứ: Đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi, đặc điểm hoạt động chủ đạo của lứa tuổi HS, mục tiêu giáo dục, đặc điểm vùng miền và các yếu tốkhách quan khác Có thể phân chia nội dung HĐTN thành các nội dung chính sau:

-Chính trị - xã hội: là những hoạt động giúp HS tiếp cận với các vấn đề về chính trị, xã hội của cộng đồng, dân tộc, đất nước

-Khoa học - kĩ thuật: là những hoạt động giúp HS bước đầu tiếp cận với các ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kĩ thuật và thiết kế các sản phẩm trong

đó có ứng dụng các kiến thức của các môn khoa học vào thực tiễn đời sống

-Văn hóa - nghệ thuật: là những HĐTN bao gồm lối sống, học thức, phong tục, những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra

-Vui chơi - giải trí: là một trong các yếu tố để duy trì, phát triển các phong trào

và đoàn thể thanh thiếu niên Vui chơi - giải trí mang tính chất tự do hơn các lĩnh vực nội dung khác, là hoạt động giúp các em thư giãn sau những giờ học mệt mỏi

-Lao động công ích: là việc cá nhân đóng góp một phần sức lao động của mình

để tham gia xây dựng, tu bổ các công trình công cộng vì lợi ích chung của cộng đồng;

-Thể dục thể thao: là những hoạt động giúp các em nâng cao sức khỏe, rèn luyện bản thân, đồng thời cũng rèn luyện cho các em tinh thần đoàn kết, kỹ năng hợp tác

-Định hướng nghề nghiệp: thông qua hoạt động định hướng nghề nghiệp giúp HS có những trải nghiệm thực tiễn về nghề nghiệp, giúp các em có cơ sở để

Trang 22

nhìn lại khả năng của bản thân từ đó điều chỉnh việc chọn nghề cho phù hợp với năng lực, nguyện vọng bản thân và phù hợp với nhu cầu lao động của địa phương và xã hội.

1.1.3 Hình thức hoạt động trải nghiệm

HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như hoạt động câu lạc

bộ, tổ chức trò chơi, diễn đàn, sân khấu tương tác, tham quan dã ngoại, các hội thi, hoạt động giao lưu, hoạt động nhân đạo, hoạt động tình nguyện, hoạt động cộng đồng, sinh hoạt tập thể, lao động công ích, sân khấu hóa (kịch, thơ, hát, múa rối, tiểu phẩm, kịch tham gia,…), thể dục thể thao, tổ chức các ngày hội,… Mỗi hình thức hoạt động trên đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một số hình thức tổ chức của HĐTN trong nhà trường phổ thông:

Hoạt động câu lạc bộ (CLB)

Câu lạc bộ là hình thức sinh hoạt ngoại khóa của những nhóm HS cùng sởthích, nhu cầu, năng khiếu,… dưới sự định hướng của những nhà giáo dục nhằm tạo môi trường giao lưu thân thiện, tích cực giữa các HS với nhau và giữa HS với thầy

cô giáo, với những người lớn khác Hoạt động của CLB tạo cơ hội để HS được chia

sẻ những kiến thức, hiểu biết của mình về các lĩnh vực mà các em quan tâm, qua đó phát triển các kĩ năng của HS như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe và biểu đạt

ý kiến, kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng, kĩ năng viết bài, kĩ năng chụp ảnh, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,…

Tổ chức trò chơi

Trò chơi là một loại hình hoạt động giải trí, thư giãn, là món ăn tinh thần nhiều

bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống con người nói chung, đối với HS nói riêng Trò chơi là hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi với nội dung kiến thức

thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác dụng giáo dục “chơi mà học, học mà chơi”.

Trò chơi có thể được sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐTN như làm quen, khởi động, dẫn nhập vào nội dung học tập, cung cấp và tiếp nhận tri thức; đánh giá kết quả, rèn luyện các kĩ năng và củng cố những tri thức đã được tiếp nhận,… Trò chơi giúp phát huy tính sáng tạo, hấp dẫn và gây hứng thú cho HS; giúp

HS dễ tiếp thu kiến thức mới; giúp chuyển tải nhiều tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau; tạo được bầu không khí thân thiện; tạo cho các em tác phong nhanh nhẹn,…

Trang 23

Tổ chức diễn đàn

Diễn đàn là một hình thức tổ chức hoạt động được sử dụng để thúc đẩy sự tham gia của HS thông qua việc các em trực tiếp, chủ động bày tỏ ý kiến của mình với đông đảo bạn bè, nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và những người lớn khác có liên quan Diễn đàn là một trong những hình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực Thông qua diễn đàn, HS có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em Đây cũng là dịp để các em biết lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau

Sân khấu tương tác

Sân khấu tương tác (hay sân khấu diễn đàn) là một hình thức nghệ thuật tương tác dựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễn chính

là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả, trong đó đềcao tính tương tác hay sự tham gia của khán giả Mục đích của hoạt động này là nhằm tăng cường nhận thức, thúc đẩy để HS đưa ra quan điểm, suy nghĩ và cách xử

lí tình huống thực tế gặp phải trong bất kì nội dung nào của cuộc sống Thông qua sân khấu tương tác, sự tham gia của HS được tăng cường và thúc đẩy, tạo cơ hội cho HS rèn luyện những kĩ năng như: kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, khả năng sáng tạo khi giải quyết t́nh huống và khả năng ứng phó với những thay đổi của cuộc sống,…

Tham quan, dã ngoại

Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp dẫn đối với

HS Mục đích của tham quan, dã ngoại là để các em HS được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa, công trình, nhà máy… ở

xa nơi các em đang sống, học tập, giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế,

từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em

Nội dung tham quan, dã ngoại có tính giáo dục tổng hợp đối với HS như: giáo dục lòng yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước, giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống lịch sử, truyền thống của Đảng, của Đoàn, của Đội Thiếu niên Tiền

Trang 24

phong Hồ Chí Minh Các lĩnh vực tham quan, dã ngoại có thể được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: Tham quan các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa; Tham quan các công trình công cộng, nhà máy, xí nghiệp; Tham quan các cơ sở sản xuất, làng nghề; Tham quan các Viện bảo tàng; Dã ngoại theo các chủ đề học tập;

Dã ngoại theo các hoạt động nhân đạo…

Hội thi / cuộc thi

Hội thi/cuộc thi là một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn HS và đạt hiệu quả cao trong việc tập hợp, giáo dục, rèn luyện và định hướng giá trị cho tuổi trẻ Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm hoặc tập thể luôn hoạt động tích cực để vươn lên đạt được mục tiêu mong muốn thông qua việc tìm ra người/đội thắng cuộc

Tổ chức sự kiện

Tổ chức sự kiện trong nhà trường phổ thông là một hoạt động tạo cơ hội cho

HS được thể hiện những ý tưởng, khả năng sáng tạo của mình, thể hiện năng lực tổchức hoạt động, thực hiện và kiểm tra giám sát hoạt động Thông qua hoạt động tổchức sự kiện HS được rèn luyện tính tỉ mỉ, chi tiết, đầu óc tổ chức, tính năng động, nhanh nhẹn, kiên nhẫn, có khả năng thiết lập mối quan hệ tốt, có khả năng làm việc theo nhóm, có sức khỏe và niềm đam mê Khi tham gia tổ chức sự kiện HS sẽ thểhiện được sức bền cũng như khả năng chịu được áp lực cao của mình Ngoài ra, các

em còn phải biết cách xoay xở và ứng phó trong mọi tình huống bất kì xảy đến Các

sự kiện HS có thể tổ chức trong nhà trường như: Lễ khai mạc, lễ nhập học, lễ tốt nghiệp, lễ kỉ niệm, lễ chúc mừng,…; Các buổi triển lãm, buổi giới thiệu, hội thảo khoa học, hội diễn nghệ thuật; Các hoạt động đánh giá thể lực, kiểm tra thể hình, thể chất của HS; Đại hội thể dục thể thao, hội thi đấu giao hữu…

Hoạt động giao lưu

Giao lưu là một hình thức tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết

để cho HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những nhân vật điển hình trong các lĩnh vực hoạt động nào đó Qua đó, giúp các em có tình cảm và thái

độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách

Trang 25

1.2 Thực trạng dạy học chương “Cảm ứng điện từ”, Vật lí 11 ở một số trường THPT của tỉnh Thừa Thiên Huế

1.2.1 Mục đích điều tra

Tìm hiểu tình hình dạy học về “CƯĐT” ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đối chiếu với mục tiêu dạy học các kiến thức này trong chương trình vật lí lớp 11 để phát hiện ra những điểm còn hạn chế cả về phương pháp và phương tiện dạy học; phát hiện những sai lầm, hạn chế của cả GV và HS khi dạy và học phần kiến thức này Những kết quả tìm hiểu được về tình hình dạy

và học là một cơ sở để xác định nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức HĐTN

về chương “CƯĐT” trong chương trình vật lí 11

1.2.2 Phương pháp điều tra

-Điều tra GV (thông qua trao đổi trực tiếp, thông qua phiếu điều tra, tham khảo giáo án, dự giờ dạy trên lớp)

-Điều tra HS (thông qua trao đổi trực tiếp, thông qua phiếu điều tra, tìm hiểu thông qua các bài kiểm tra của HS, quan sát HS trong các giờ học trên lớp)

-Phỏng vấn lãnh đạo các THPT, tham quan phòng TN vật lí, kho dụng cụ TNphục vụ cho dạy học về “CƯĐT "

1.2.3 Đối tượng điều tra

Để việc tổ chức HĐTN trong trường phổ thông một cách khoa học và mang lại hiệu quả thiết thực theo hướng nghiên cứu của đề tài, cần tiến hành điều tra khảo sát thực trạng dạy học cũng như sự quan tâm của nhà trường và GV đối với vấn đề dạy học HĐTN cho HS ở các trường THPT khác nhau trong địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

1.2.4 Kết quả điều tra

a) Tình hình giáo viên và phương pháp dạy của giáo viên

- Tình hình GV: Tất cả GV vật lí của trường đều được đào tạo chính quy Tất cả GV vật lí đều giảng dạy đúng chuyên môn, nhiệt tình với công việc

- Phương pháp dạy của GV

+ Phương pháp giảng dạy chủ yếu của GV là thuyết trình, thông báo, ít tiến hành TN, hầu như không sử dụng thiết bị trực quan Do đó, HS khó có thể hiểu

Trang 26

sâu được kiến thức, khả năng tư duy, sáng tạo, chế tạo, vận dụng lí thuyết vào thực tế còn hạn chế.

+ Các giáo án của GV chủ yếu là tóm tắt lại kiến thức sách giáo khoa, không hoạch định hoặc hoạch định không rõ ràng các hoạt động của GV và HS trong mỗi giờ học, vai trò tổ chức, định hướng của GV chưa được thể hiện rõ

+ Trong giờ dạy, một số GV đã tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS bằng những câu hỏi vấn đáp nhưng phần lớn những câu hỏi đó ít đòi hỏi ở HS sự suy luận, phân tích, tìm tòi mà chỉ chủ yếu yêu cầu ở HS sự tái hiện nên chưa phát huy được tính tích cực của HS cũng như ít có tác dụng đối với sự phát triển tư duy của

+ Một số HS đã biết đến ứng dụng kĩ thuật của chương vào thực tiễn như máy biến áp, máy phát điện xoay chiều…

-Mặt còn hạn chế:

+ Do giờ học trên lớp còn nặng về lí thuyết, không gây được hứng thú học tập cho HS cho nên nhiều HS còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức: Lười suy nghĩ, lười hoạt động, chỉ ngồi nghe thầy giảng rồi chép lại, ít hứng thú, rất ít HS mạnh dạn đặt câu hỏi cho GV về vấn đề đã được học, thậm chí cả vấn đề mà các em chưa hiểu.+ Những khái niệm mà HS thấy khó hiểu và hiểu sai: Khái niệm “ĐST”: HS khó hình dung được khi số đường sức qua vòng dây thay đổi thế nào thì sẽ có DĐCƯ Khái

Trang 27

niệm “từ thông” còn trừu tượng đối với HS Khi xác định chiều DĐ cảm ứng, các em hay nhầm lẫn giữa “chống lại sự biến thiên của từ trường” với “chống lại từ trường” dẫn đến HS thường hiểu: Từ trường DĐ cảm ứng là ngược chiều với từ trường sinh ra

DĐ cảm ứng Các em không giải thích được tại sao khi KD quay trong từ trường thì chiều DĐ lại thay đổi và không biết thay đổi bao nhiêu lần

+ Kĩ năng vận dụng kiến thức vật lí đã học vào giải thích các hiện tượng vật lí trong đời sống và ứng dụng kĩ thuật còn kém

+ Hoạt động chủ yếu của HS là học thuộc lí thuyết, viết đúng công thức và giải bài tập HS ít được quan sát TN cũng như trực tiếp làm TN Do đó, cơ hội đểcác em hiểu sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng là không nhiều

+ HS chưa từng được GV giao nhiệm vụ làm dụng cụ TN vật lí cũng như rất ít được tham gia các hoạt động mang tính chất vừa học vừa chơi về vật lí nên kiến thức mà các em đạt được còn hời hợt, không chắc chắn và còn lúng túng, rập khuôn khi áp dụng kiến thức

+ Đa số các em không có khả năng ứng dụng, thiết kế, chế tạo các thiết bị vềứng dụng “CƯĐT”

+ Khả năng làm việc tự lực, sinh hoạt nhóm, diễn đạt về một vấn đề của HS còn rất kém, thường lúng túng khi diễn đạt ý tưởng của mình hoặc điều muốn hỏi,

do các em ít được trao đổi, tranh luận với bạn bè và thầy cô

c) Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm

Về cơ sở vật chất:

+ Nhìn chung các trường THPT đều có cơ sở trường lớp tương đối rộng, có khu lớp học, khu hiệu bộ, sân chơi, phòng TN…tất cả đều được quy hoạch thống nhất trong khuôn viên khép kín rất thuận tiện cho nhiệm vụ dạy và học

+ Các trường có đủ số phòng học, đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất trong phòng.+ Chưa có phòng bộ môn riêng

Về phương tiện, thiết bị TN phục vụ cho việc dạy học vật lí: Việc trang bịphương tiện, thiết bị TN đã được quan tâm, đầu tư theo quy định tối thiểu của bộGiáo dục và Đào tạo xong chưa đồng bộ, theo thời gian dụng cụ TN bị han gỉ, hỏng hóc nhiều nên hiệu quả sử dụng không cao

Trang 28

1.3 Hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí

1.3.1 Nội dung hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí

Một số nội dung HĐTN trong dạy học vật lí mà HS có thể thực hiện như sau:-Tìm hiểu các kiến thức về vật lí và kĩ thuật qua việc tiến hành TN: Trong dạy học Vật lí, thông qua việc tiến hành TN kiến thức các em thu nhận được sẽ vững vàng hơn, rèn luyện được cho các em sự khéo léo chân tay, khả năng quan sát tinh

tế, tỉ mỉ hơn và chính xác hơn, khả năng hoạt động thực tiễn của HS sẽ được nâng cao Ngoài ra việc tiến hành TN HS có cơ hội trong việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực hành, góp phần thiết thực vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS

-Nghiên cứu các lĩnh vực riêng biệt của vật lí học, tìm hiểu những ứng dụng KHKT của vật lí trong đời sống như: vận dụng kiến thức để giải thích những hiện tượng trong cuộc sống

-Thiết kế, chế tạo và sử dụng các dụng cụ TN vật lí hoặc máy móc đơn giản

1.3.2 Hình thức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí

Để lựa chọn nội dung tổ chức HĐTN về vật lí phù hợp thì GV cần phải căn cứvào nội dung kiến thức mà HS đã học trên lớp và tầm quan trọng của nội dung nàytrong đời sống và trong kĩ thuật cũng như mục tiêu dạy học về phần kiến thức đó mà

HS cần phải đạt được

HĐTN được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức hoạt động đều mang ý nghĩa giáo dục nhất định Dưới đây là một số hình thức tổ chứccủa HĐTN trong nhà trường phổ thông:

a) Tham quan, dã ngoại

Tham quan, dã ngoại là một hình thức tổ chức dạy học trong thực tế nhờ quan sát trực tiếp của HS dưới sự hướng dẫn của GV và cơ sở tham quan nhằm nghiên cứu sự vât, hiện tượng cần tìm hiểu trong nội dung dạy học Hình thức tham quan, dã ngoại có thể

tổ chức trước, trong và sau khi học một nội dung kiến thức nào đó

Tham quan, dã ngoại giúp HS nâng cao hứng thú học tập, phát triển óc quan sát, tính tò mò khoa học; bồi dưỡng khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp tư liệu thu thập được trong quá trình tham quan; mở rộng, nâng cao tầm hiểu biết giúp, các

em có được những kinh nghiệm thực tế, tìm hiểu những ứng dụng khoa học kĩ thuật,

từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em

Trang 29

Nội dung tham quan, dã ngoại vật lí: Tham quan tìm hiểu máy móc, thiết bị dụng trong sản xuất, thiết bị công, nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc; tham quan cơ sở sản xuất, nhà máy; tham quan cơ quan khoa học kĩ thuật; xem triển lãmthiết bị, máy móc ở bảo tàng.

Trong quá trình chuẩn bị tham quan, dã ngoại, GV cần đặt ra kế hoạch cụ thể: Mục đích, yêu cầu, nội dung, địa điểm tham quan, đối tượng sẽ tham gia, thời gian

tổ chức, kinh phí tham quan Khi đã xác định địa điểm tham quan, dã ngoại thì phải xác định trình tự các phần cần quan sát, phân phối thời gian tham quan, tổ chức quản lí HS, những tài liệu HS cần thu thập

Trong quá trình tham quan, dã ngoại cần bám sát mục đích yêu cầu của buổi tham quan, giữ gìn trật tự, kỹ luật và phải duy trì hứng thú của HS trong quá trình tham quan, dã ngoại

Sau buổi tham quan, dã ngoại tiến hành tổ chức tổng kết bằng các hình thức như thuyết trình, đàm thoại để HS có thể trình bày những báo cáo tổng kết về kết quả đạt được từ buổi tham quan, dã ngoại

b) Hội thi / cuộc thi

Việc tổ chức hội thi/cuộc thi nhằm lôi cuốn HS chủ động, tích cực tham gia, tạo động cơ học tập, kích thích hứng thú học tập; thu hút tài năng và sự sáng tạo cho HS; phát triển khả năng hoạt động tích cực và tương tác của HS Hội thi/cuộc thi là dịp để mỗi cá nhân hoặc tập thể thể hiện khả năng của mình, khẳng định thàng tích, kết quả rèn luyện, phấn đấu trong học tập và trong các hoạt động tập thể

Quy mô hội của hội thi/cuộc thi có thể tổ chức trong phạm vi một lớp, một khối hoặc toàn trường Đối tượng tham gia hội thi/cuộc thi là từng cá nhân HS hoặc là nhóm HS Hội thi/cuộc thi có thể tổ chức vào các thời gian khác nhau của năm học.Một số hình thức của hội thi/cuộc thi vật lí:

- Thi giải thích hiện tượng: Sau khi đưa ra một hiện tượng thực tế hoặc làm

một TN, yêu cầu HS giải thích hiện tượng hoặc diễn biến, kết quả của TN Trong thời gian ấn định, các đội chơi sẽ cùng trả lời ra giấy hoặc lên một bảng, giám khảo

sẽ căn cứ vào câu trả lời để cho điểm

- Thi thực hành, làm TN: Phát dụng cụ cho các đội chơi, yêu cầu trình bày

cách làm một TN bằng những dụng cụ đã cho, sau đó thực hành TN Giám khảo căn

cứ vào phần trình bày và phần thực hành (thời gian thực hiện, cách làm, cách bố trí

Trang 30

- Thi chế tạo dụng cụ TN hoặc máy móc đơn giản: Phát các dụng cụ cho đội

chơi và đưa ra yêu cầu về dụng cụ TN hoặc máy móc đơn giản cần chế tạo Các đội chơi đưa ra ý tưởng và chế tạo sản phẩm Giám khảo chấm điểm dựa trên sản phẩm

c) Câu lạc bộ

Câu lạc bộ được tổ chức nhằm mở rộng nhận thức, hiểu biết về văn hóa, khoa học kĩ thuật, giáo dục lòng yêu lao động, ý thức đạo đức, giúp phát triển toàn diện các khả năng sang tạo và năng khiếu của con người

Tùy điều kiện mà câu lạc bộ có thể tổ chức ở phạm vi toàn trường hoặc các khối lớp Sinh hoạt câu lạc bộ theo tuần, theo tháng hoặc các khoảng thời gian phù hợp.Các hoạt động của câu lạc bộ bao gồm: Tổ chức các buổi thảo luận, nói chuyện chuyên đề về các vấn đề của vật lí học gắn liền với cuộc sống thực tiễn; giới thiệu ứng dụng của vật lí vào KHKT; hướng dẫn làm TN; tổ chức các cuộc thi giữa các nhóm hay các lớp về làm dụng cụ TN hoặc máy móc đơn giản

1.3.3 Năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của học sinh

Trong chương trình giáo dục phổ thông định nghĩa: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể

Khái niệm khoa học

Hiện nay, người ta đề cập đến khái niệm khoa học ở ba khía cạnh sau:

- Khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về tự nhiên - xã hội - tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, tiền đề

- Khoa học là một hình thái ý thức - xã hội thể hiện tồn tại xã hội trong nội dung, mục đích và các chuẩn mực giá trị, các nguyên lý thế giới quan trong triết học

và bức tranh chung về thế giới

- Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trong quá trình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của con người Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức

Từ ba khía cạnh trên, có thể định nghĩa, khoa học là hệ thống các kiến thức

về các quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhận kiến thức

Khái niệm kĩ thuật

Trang 31

Kĩ thuật được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt thông dụng là: Tổng thể nói chung những phương tiện và tư liệu hoạt động của con người, được tạo ra để thực hiện quá trình sản xuất và phục vụ các nhu cầu phi sản xuất của xã hội.

Kĩ thuật thông thường được hiểu là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, máy móc

và công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo quản và chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời sống xã hội.Năng lực ứng dụng KHKT của HS trong HĐTN là hoạt động thuộc lĩnh vực KHKT giúp HS bước đầu tiếp cận với các ngành khoa học tự nhiên liên quan tới việc phát triển kĩ thuật và thiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức của các môn khoa học vào thực tiễn cuộc sống

1.4 Đánh giá năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của học sinh trong hoạt động trải nghiệm

1.4.1 Biểu hiện năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của học sinh

Nhà tâm lý giáo dục Benjamin Bloom đã đưa ra lối phân loại mục tiêu giáo dục theo lĩnh vực tri thức năm 1956 Theo ông, lĩnh vực tri thức được chia thành sáu phạm trù chủ yếu, sắp xếp theo mức độ tăng dần gồm Biết, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng hợp và Đánh giá

Dreyfus cho rằng, kĩ năng sẽ trải qua năm mức độ trưởng thành: Ngây thơ > Nhập môn > Có năng lực > Thành thạo > Chuyên gia Theo đó, mức thấp nhất thường thấy ở người bắt đầu từ con số không, trước khi học là ngây thơ; mức cuối cùng có thể thấy ở những chuyên gia – những người đạt đến trình độ thuần thục về

kĩ năng tới mức trực giác Mô hình này chỉ ra rằng, để đạt được mức độ “Chuyên gia” thì cần phải tích cực luyện tập, tích lũy kinh nghiệm và không ngừng tiếp nhận

và tiêu hóa các tri thức mới Khác với “Phân loại Bloom” là một phương pháp khoa học, mô hình Dreyfus không quan tâm tới yếu tố “khoa học” mà tập trung vào

“TNg” – tức là những quan sát thực tiễn để rút ra các điều bổ ích Có thể Mô hình Dreyfus không mang lại nhiều giá trị học thuật, nhưng nó lại mang nhiều ý nghĩa thực tiễn và dễ áp dụng theo lối “tư duy thông thường”

Với việc xác định các mức độ học tập với các thành phần như trên, cần thiết phải xây dựng thang đo để xác định mức độ đạt được các kỹ năng ứng dụng KHKTcủa HS sau khi rèn luyện Để phù hợp với điều kiện hiện tại, các nhiệm vụ học tập

Trang 32

của HS đã được xác định, mức độ thành thạo kỹ năng ứng dụng KHKT thông qua các hành vi bên ngoài trong quá trình học tập của HS được xây dựng với 4 mức độ.

Bảng 1.1 Mức độ biểu hiện năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật của HS thông

qua các hành vi cá nhân

1

(Biết)

- Tái hiện (nhớ lại) những điều đã học theo trí nhớ

- Không phát hiện được vấn đề

- Gặp khó khăn trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập tương tự và vận dụng kiến thức vào thực tiễn

2

(Hiểu)

- Tự xử lý và sắp xếp tri thức đã học, giải thích được các mối quan hệ

- Phát hiện được vấn đề có sự hổ trợ của GV

- Thể hiện thái độ tích cực, chủ động trong việc sử dụng và rèn luyên

kỹ năng

3

(Vận dụng)

- Vận dụng hiểu biết đã có vào những nhiễm vụ tương tự

- Thao tác độc lập, chính xác dựa trên năng lực của bản thân

- Có khả năng lập kế hoạch nhỏ, xác định mục tiêu và triển khai công việc theo kế hoạch để thực hiện mục tiêu đã xác định

- Phát hiện vấn đề, phản ứng nhanh chóng và hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập trong thời gian ngắn

- Có ý thức kĩ luật cao trong việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch

1.4.2 Hình thức tổ chức kiểm tra, đánh giá năng lực ứng dụng khoa học kĩ thuật củahọc sinh

Theo quan điểm phát triển năng lực ứng dụng KHKT, việc đánh giá kết quảhọc tập theo năng lực không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực ứng dụng KHKT là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa

Ngoài phương pháp đánh giá truyền thống như đánh giá chuyên gia (GV đánh giá HS), đánh giá định kì bằng bài kiểm thì GV cần chú ý các hình thức đánh giá

Trang 33

không truyền thống như:

- Đánh giá bằng quan sát;

- Đánh giá bằng phỏng vấn sâu (vấn đáp);

- Đánh giá bằng hồ sơ học tập;

- Đánh giá bằng sản phẩm học tập (powerpoint, tập san, …);

- Đánh giá bằng phiếu hỏi HS

Tuy nhiên tất cả các phương pháp đánh giá trên đều có yêu cầu phải chú trọng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống trong học tập, tình huống trong thực tế và chú trọng việc sáng tạo kiến thức của HS

1.5 Biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật

1.5.1 Biện pháp 1: Tăng cường tính thực tiễn của bài học trong dạy học vật lí

Mô tả biện pháp: Phần lớn kiến thức vật lí trong chương trình THPT đều có

liên hệ với thực tế cuộc sống và là cơ sở vận dụng cho nhiều ngành kĩ thuật Sựphong phú về kiến thức, sự đa dạng về các loại hình TN và mối liên hệ chặt chẽgiữa kiến thức vật lí với thực tế đời sống là những lợi thế không nhỏ để tăng cường tính thực tiễn của bài học Bởi vậy, dạy học vật lí không thể tách rời với thực tiễn cuộc sống mà phải luôn tạo cơ sở với những tình huống xuất phát thực tế và giải thích phù hợp, dựa trên đặc điểm nhận thức của HS

Mục tiêu của biện pháp: Xây dựng mối liên hệ giữa những kiến thức khác

nhau, giữa lý thuyết và thực tế, vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, giúp HStìm tòi khám phá để hiểu biết thế giới xung quanh

Cách thức thực hiện: Tính thực tiễn của bài học phải được xem là một trong

những mục tiêu mà người học sẽ phải đạt được ở mức độ nhất định sau tiết học Bài tập có nội dung thực tế, các ứng dụng kĩ thuật liên quan đến bài học, … cần phải được đưa vào bài học một cách phù hợp

Một số hình thức tăng cường tính thực tiễn của bài học trong dạy học vật lí

 Tích cực hóa hoạt động nhận thức vật lí của HS theo hướng gắn lý thuyết với thực tiễn, vận dụng kiến thức phục vụ cuộc sống: Giải thích các hiện tượng thường gặp trong tự nhiên, qua đó khơi dậy trong HS niềm đam mê tìm hiểu thế

Trang 34

giới tự nhiên; chỉ ra các ứng dụng trong kĩ thuật; giải quyết những vấn đề được đặt

ra từ thực tiễn đời sống liên quan đến bài học, qua đó HS thấy được vai trò của vật

lí đối với kĩ thuật và đời sống

 Tổ chức câu lạc bộ vật lí và các hoạt động ngoại khóa Câu lạc bộ và các hoạt động ngoại khóa giúp mở rộng tầm hiểu biết, giáo dục lòng đam mê khoa học, khuyến khích khả năng sáng tạo và phát triển năng khiếu của HS

Hoạt động của câu lạc bộ thường tập trung vào các vấn đề sau: Giải đáp các câu hỏi và bài tập có nội dung thực tế, giới thiệu các ứng dụng của vật lí trong kỹthuât và đời sống, hướng dẫn HS làm các TN tự tạo

Việc tổ chức các buổi ngoại khóa, tham quan thực tế cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu để tăng cường tính thực tiễn cho bài học Qua hoạt động ngoại khóa, giúp HS hiểu rõ hơn các hiện tượng vật lí, thấy được vai trò to lớn của vật lí trong thực tế đời sống, trong sản xuất và công nghệ Hình thức dạy học ngoại khóa phổ biến nhất hiện nay đối với bộ môn vật lí đó là hình thức làm việc nhóm GV phân công nhiệm vụ cho các nhóm, các nhóm tổ chức phân công nhiệm vụ cụ thểcho từng thành viên để hoàn thành nhiệm vụ Để hoạt động ngoại khóa diễn ra hiệu quả, HS có thể vận dụng những kiến thức đã học kết hợp với kinh nghiệm của bản thân thì nhiệm vụ mà GV đưa ra phải mang tính chất thiết kế, chế tạo HS sẽ vận dụng những hiểu biết của bản thân để tạo ra những sản phẩm mới

1.5.2 Biện pháp 2: Tăng cường hoạt động thực hành, sử dụng thí nghiệm

Mô tả biện pháp: Vật lí là một môn khoa học TNg nên việc hình thành

cũng như kiểm chứng các kiến thức thông qua thực hành, TN là điều vô cùng cần thiết Việc rèn luyện kỹ năng cho HS thông qua các hoạt động thực hành tạo điều kiện cho HS có thể ghi nhớ và vận dụng kiến thức một cách có hệ thống và ghi nhớ kiến thức lâu dài, giúp cho HS chủ động trong việc tiếp cận các phương tiện

kĩ thuật, phương tiện sản xuất hiện đại trong đời sống sinh hoạt và sản xuất sau này, có thái độ đúng đắn trong học tập và lao động sản xuất Bên cạnh đó, trong quá trình thực hành, HS đồng thời phải thực hiện nhiều kỹ năng từ nhận thức nội dung kiến thức, lựa chọn phương án, lựa chọn thiết bị, tiến hành thực hành cho

Trang 35

đến phân tích, so sánh, đánh giá kết quả và cả kỹ năng giao tiếp đối với cá nhân trong nhóm, giao tiếp với GV…

Mục tiêu của biện pháp: biện pháp này được thực hiện để tiến hành rèn

luyện kỹ năng của HS thông qua việc tăng cường sử dụng các hoạt động thực hành,

TN trong quá trình dạy học bộ môn Vật lí Khi thực hành TN HS cần nắm được kiến thức cần tiến hành TN; nắm được nguyên tắc cấu tạo, hoạt động của các dụng

cụ TN; nắm được các kiến thức toán học, vật lí cơ bản để thu thập và xử lý số liệu

Cách thức thực hiện:

 GV tăng cường sử dụng các TN thực hành trong quá trình dạy học GV tiến hành các TN biểu diễn trên lớp để đặt vấn đề, nghiên cứu tài liệu mới hoặc ôn tập, củng cố kiến thức Ngoài ra phải tạo điều kiện để HS có thể tham gia trực tiếp vào các TN trong giờ học, cho phép HS đề xuất những phương án tương tự theo sự định hướng, hướng dẫn của GV

 GV sử dụng thời gian hợp lý trong các giờ lên lớp, giờ tự chọn, hoạt động ngoại khóa để đưa ra các nhiệm vụ mang tính chất chế tạo, thiết kế cho cá nhân HS hoặc nhóm HS thực hiện Trong hoạt động này, HS nghiên cứu, chế tạo, đề xuất phương án mới dựa trên yêu cầu chung mà GV đưa ra TN là phương tiện để vận dụng tri thức vào thực tiễn Với các TN đơn giản, mới lạ và hay thì đó thật sự là phương tiện tốt để GV gây hứng thú, khích thích tính tò mò, ham hiểu biết cho HS Đặc biệt, với những TN đơn giản, dễ thiết kế, dùng các dụng cụ trong đời sống hằng ngày như: vỏ lon bia, vỏ chai nhựa, … thì HS có thể tự tay thực hiện, các em sẽ có

cơ hội rèn luyện các thao tác, từ đó khơi dậy ở các em sự say mê, khám phá những điều mới mẽ, bí ẩn từ TN và cao hơn nữa là hình thành nên những ý tưởng cho những TN mới

1.5.3 Biện pháp 3: Thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

Mô tả biện pháp: Kiểm tra đánh giá kết quả học tập là một công việc quan

trọng của quá trình dạy học Thông qua kết quả thu được, GV đánh giá được mức

độ nhận thức của HS Hiện nay, hoạt động kiểm tra đánh giá chỉ mới thực sự đánh

Trang 36

kiểm tra này không thể đánh giá được mức độ biểu hiện của kỹ năng Do đó, GV phải đổi mới hình thức đánh giá kết quả học tập của HS.

Mục tiêu của biện pháp: Biện pháp này hướng đến việc tổ chức các hoạt

động kiểm tra đánh giá một cách toàn diện về cả kiến thức và kỹ năng Thông qua các hoạt động kiểm tra đánh giá, GV thúc đẩy HS tham gia tích cực vào hoạt động học tập Bên cạch đó, biện pháp này còn hướng đến việc rèn luyện cho HS những

kỹ năng cơ bản nhằm có thể tự kiểm tra, tự đánh giá bản thân

Cách thức thực hiện: Các bài kiểm tra thông thường hiện nay thường chỉ

đánh giá được chủ yếu về mặt kiến thức của HS Các hình thức để có thể tăng cường khả năng đánh giá về của HS:

 Kết hợp bài kiểm tra trắc nghiệm với kiểm tra tự luận, bài tập có nội dung thực tế, bài tập TN, lồng ghép các bài tập thực hành, TN dạng viết vào hoạt động kiểm tra đánh giá, các bài tập này có thể là đề xuất phương án tiến hành TN, trình bày cách thức lựa chọn và sử dụng thiết bị, cách thức tiến hành TN

 Đưa ra các bài kiểm tra mang tính chất khám phá, thiết kế và chế tạo Muốn thực hiện các bài kiểm tra này, HS phải tự xây dựng kế hoạch thực hiện, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, trách nhiệm của từng cá nhân và tiến hành thực hiện kế hoạch Kết quả của bài kiểm tra này được đánh giá thông qua sản phẩm mà HS làm được

và báo cáo của HS trước tập thể

1.6 Quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm trong dạy học vật lí với hình thức ứng dụng khoa học kĩ thuật

1.6.1 Xác định mục tiêu, nội dung hoạt động

Về mục tiêu, GV phải xác định rõ những gì HS cần biết, hiểu, có thể làm được sau khi hoàn thành một bài học, một chương Xác định mục tiêu giúp GV đảm bảo hướng đi đúng cho HS tập trung vào những kiến thức và kĩ năng cơ bản, cần thiết.Căn cứ vào từng chủ đề, các mục tiêu đã xác định, các điều kiện hoàn cảnh cụthể và khả năng của HS để xác định các nội dung phù hợp cho các hoạt động Từ đó xác định nội dung của HĐTN

Nội dung của bài học ảnh hưởng chi phối đến việc lựa chọn phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động Do đó, đối với từng hoạt động cụ thể GV căn cứchương trình, sách giáo khoa và các tài liệu liên quan để hiểu rõ một cách sâu sắc

Trang 37

nội dung của hoạt động Việc xác định nội dung, mục tiêu của hoạt động là GV phải thực hiện được những công việc sau đây:

- Hoạt động này có thể hình thành cho HS những kiến thức gì? Trong các nội dung đó nội dung nào là quan trọng, là chính yếu cần phải tập trung thời gian nghiên cứu, tìm hiểu kĩ, nội dung nào là phụ, nội dung nào là tham khảo

- Với những nội dung kiến thức đã được xác định thì con đường hình thành các nội dung kiến thức đó như thế nào? Thứ tự các bước để hình thành kiến thức đó ra sao?

- Sau mỗi hoạt động kết quả HS cần phải đạt được là gì? Mức độ như thế nào?

1.6.2 Xác định đối tượng học sinh tham gia hoạt động

Việc xác định đối tượng HS ảnh hưởng trực tiếp và có tác động rất lớn đối với việc xác định hình thức tổ chức hoạt đông Để xác định đối tượng HS, GV phải xác định được những đặc điểm sau đây:

- Đặc điểm tâm sinh lý của HS, điều kiện kinh tế xã hội của địa phương nơi

HS sinh sống Những vấn đề này ảnh hưởng đến động cơ, nhu cầu của HS trong hoạt động học tập

- Xác định những kiến thức, những kinh nghiệm mà HS đã được học tập và tiếp thu trong những năm học trước Những kiến thức, kinh nghiệm này chính là nền tảng cho HS hình thành những kiến thức mới

- Đặc điểm về năng lực nhận thức của HS Năng lực nhận thức ảnh hưởng đến khả năng tiếp nhận kiến thức và vận dụng kiến thức của HS GV phải biết được trình độ hiện tại của HS để từ đó lựa chọn những hình thức tổ chức và tổ chức tiến hành hoạt động một cách hợp lý

1.6.3 Xác định hình thức tổ chức hoạt động

Từ nội dung, xác định cụ thể phương pháp tiến hành, xác định những phương tiện cần có để tiến hành hoạt động Từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng Xác định hình thức hoạt động là một vấn đề mới mà GV sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng Để giải quyết vấn đề này, GV phải đầu tư nhiều công sức trong việc nghiên cứu cơ sở lý luận về các hinh thức tổ chức hoạt động, tìm hiểu về các nội dung kiến thức liên quan Từ đó GV mới có thể phối hợp tốt giữa hình thức hoạt động và các biện pháp rèn luyện

Trang 38

Trong HĐTN môn Vật lí có các hình thức như là: tham quan dã ngoại, hội thi/ cuộc thi, câu lạc bộ, Có thể một hoạt động nhưng có nhiều hình thức khác nhau được thực hiện đan xen hoặc trong đó có một hình thức nào đó là chủ đạo, còn hình thức khác là phụ trợ.

1.6.4 Xác định biện pháp rèn luyện kĩ năng sẽ sử dụng

Với ba biện pháp đã được xây dựng để tổ chức rèn luyện kỹ năng ứng dụng KHKT cho HS phối hợp những hình thức tổ chức HĐTN Việc phối hợp phải đảm bảo được việc hình thành kiến thức và rèn luyện được kỹ năng ở HS Muốn thực hiện được vấn đề, GV phải quan tâm, nghiên cứu và trả lời những câu hỏi sau đây:

- Nội dung hoạt động phù hợp với hình thức hoạt động nào? Những biện pháp nào để tổ chức rèn luyện và rèn luyện đến mức độ nào?

- Hình thức hoạt động nào sẽ phù hợp với biện pháp nào? Với biện pháp rèn luyện đã xác định thì những hoạt động của HS là gì? HS phải chuẩn bị những gì? Sau quá trình rèn luyện thì kết quả mà HS đạt được là gì?

- Việc kết hợp giữa hình thức hoạt động và biện pháp rèn luyện thì GV phải thực hiện những công việc gì? Hoạt động của GV là gì? GV phải chuẩn bị những gì?

- Hình thức hoạt động và biện pháp rèn luyện đã được lựa chọn sẽ được tiến hành vào lúc nào? Ở đâu và các phương tiện hỗ trợ như thế nào?

Với việc trả lời những câu hỏi trên, GV tiến hành phối hợp các hình thức hoạt động và các biện pháp rèn luyện với nhau trong việc tổ chức HĐTN cho HS

1.6.5 Thiết kế giáo án

Sau khi đã chuẩn bị được đầy đủ các vấn đề trên, đây là bước người GV bắt tay vào thiết kế giáo án Giáo án là kế hoạch và dàn ý giờ lên lớp của GV, bao gồm đề tài của giờ lên lớp, mục tiêu bài học (nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ), nội dung bài học, phương pháp dạy học, dụng cụ, thiết bị cần thiết phải dùng, tiến trình tổ chức dạy học, các hoạt động dự kiến để hình thành kiến thức, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động, năng lực định hướng hình thành và phát triển cho HS,khâu kiểm tra đánh giá Tất cả được ghi ngắn gọn theo trình tự thực tế sẽ diễn ra trong giờ lên lớp Giáo án được GV biên soạn trong giai đoạn chuẩn bị lên lớp và quyết định phần lớn sự thành công của bài học Nói một cách khác, giáo án là bản thiết kế cho tiến trình một tiết học, là bản kế hoạch mà người GV dự định sẽ thực hiện giảng dạy trên lớp trên nhóm đối tượng HS nào đó Với một bài học cụ thể, với những đối tượng HS,

Trang 39

điều kiện cơ sở vật chất khác nhau thì sẽ có những bản kế hoạch dạy học (giáo án) khác nhau Một giáo án chuẩn bị tốt đảm bảo cho giờ dạy thành công.

1.6.6 Thực hiện giờ dạy học

Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau:

-Kiểm tra sự chuẩn bị của HS: Trước khi vào dạy một kiến thức mới GV cần phải iểm tra tình hình nắm vững bài học cũ, những kiến thức, kỹ năng đã học có liên quan đến bài mới, kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn

bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết) Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thểthực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới

-Tổ chức các hoạt động học tập của HS: Việc đầu tiên GV cần giới thiệu bài mới, đặt vấn đề để tạo động cơ, hứng thú học tập cho HS HS sẽ tự tiến hành các hoạt động học tập (tiến hành TN, vận dụng, đề xuất các ý tưởng chế tạo) dưới sựhướng dẫn của GV để hình thành kiến thức mới, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học

-Luyện tập, củng cố: Sau khi hình thành kiến thức mới, GV hướng dẫn HS củng

cố, khắc sâu những kiến thức, kỹ năng, thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập theo những hình thức khác nhau (thông qua làm bài tập, thực hành, TN, )

-Tổng kết và hướng dẫn HS học tập: GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờhọc, hướng dẫn HS luyện tập, giao nhiệm vụ học tập về nhà để HS thực hiện

1.6.7 Đánh giá kết quả hoạt động

Việc đánh giá kết quả hoạt động nhằm đánh giá mức độ đạt được về kiến thức,

kĩ năng, thái độ, sản phẩm HĐTN HS đạt được so với mục tiêu đặt ra GV sẽ căn cứvào kết quả đánh giá, từ đó sẽ có những điều chỉnh nội dung, thay đổi hình thức, phương pháp tổ chức để nâng cao chất lượng HĐTN

Đánh giá kết quả hoạt động dựa vào:

+ HS tự đánh giá: HS tự nhận xét, đánh giá về những trải nghiệm các em

đã trải qua

+ GV đánh giá HS: GV có thể đánh giá mức độ HS hiểu và nắm vững nội dung kiến thức, kỹ năng, sự trải nghiệm của HS qua bài kiểm tra, bài thực hành, …Qui trình tổ chức HĐTN trong dạy học vật lí với hình thức ứng dụng khoa học

kĩ thuật đã được mô hình hóa như sau:

Trang 40

Sơ đồ 1.1 Qui trình tổ chức HĐTN trong dạy học vật lí với hình thức ứng

dụng KHKT

Nghiên cứu SGK và tài liệu tham khảo

Xác định mục tiêu, nội dung

kiến thức hoạt động Xác định đặc điểm của đối tượng HS

Thiết kế giáo án

Thực hiện giờ dạy học

Đánh giá kết quả

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w