1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tổ chức dạy học chương “chất rắn và chất lỏng sự chuyển thể” vật lý lớp 10 trung học phổ thông theo hướng tăng cường tính thực tiễn

107 107 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tích cực đưa ra các hiện tượng tự nhiên gần gũi với cuộc sống của người học vào trong bài dạy dưới nhiều hình thức để họ cảm nhận được: “thực tiễn rất rộng lớn, nhưng con người hứng

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ CHIÊU PHƯỚC

TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG

SỰ CHUYỂN THỂ” VẬT LÍ 10 THPT THEO HƯỚNG

TĂNG CƯỜNG TÍNH THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí

Mã số: : 60 14 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ NHỊ

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình khoa học nào

Tác giả

LÊ CHIÊU PHƯỚC

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn sâu sắc đến:

• PGS.TS Nguyễn Thị Nhị - người trực tiếp hướng dẫn tôi để thực hiện hoàn thành đề tài bằng tất cả sự tận tâm và trách nhiệm

• Quý thầy cô trong khoa Vật lí, Phòng Sau Đại Học Trường Đại học Sư Phạm Huế, đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện đề tài

• Ban Giám hiệu, quý thầy cô trường THPT Tố Hữu - Huyện Quảng Điền - Thừa Thiên Huế đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này

Thừa Thiên Huế, tháng 5 năm 2017

LÊ CHIÊU PHƯỚC

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC BẢNG 5

DANH MỤC HÌNH 6

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Mục tiêu nghiên cứu 8

3 Giả thuyết khoa học của đề tài 8

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 8

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 9

7 Phạm vi nghiên cứu 10

8 Đóng góp của luận văn 10

9 Cấu trúc của luận văn 10

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG TÍNH THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 11

1.1 Mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay 11

1.1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay 11

1.1.2 Mục tiêu giáo dục môn học Vật lí THPT hiện nay 12

1.2 Cơ sở tâm lí học của việc dạy học gắn với ứng dụng thực tiễn 13

1.2.1 Mô hình giáo dục hướng vào người học 13

1.2.2 Xu hướng tăng cường ứng dụng thực tiễn cuộc sống vào hoạt động dạy học 16

1.3 Hứng thú và sự cần thiết tạo hứng thú trong dạy học 16

1.3.1 Khái niệm hứng thú 16

1.3.2 Sự cần thiết của việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập 17

Trang 5

1.4 Dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn với việc tạo hứng thú

học tập cho học sinh 18

1.4.1 Khái niệm thực tiễn 18

1.4.2 Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn 19

1.5 Mối quan hệ giữa dạy học vật lí gắn với tính thực tiễn và việc tạo hứng thú học tập cho HS 21

1.6 Các nguyên tắc cần thực hiện khi dạy học một bài học vật lí gắn với tính thực tiễn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS 21

1.7 Thực trạng việc dạy học Vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn ở một số trường THPT trên địa bàn Huyện Quảng Điền – Thừa Thiên Huế 22

1.8 Các biện pháp để dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn 24

1.8.1 Dùng dụng cụ trực quan mang tính ứng dụng thực tiễn 24

1.8.2 Trình bày những ứng dụng kỹ thuật của Vật lí 24

1.8.3 Hướng dẫn HS tìm các ứng dụng của các kiến thức Vật lí trong đời sống 25

1.8.4 Liên hệ kiến thức vật lí qua các bài tập mang tính ứng dụng thực tiễn 25

1.8.5 Tổ chức các cuộc thi “Thiết kế mô hình thí nghiệm, thiết bị vật lí” 26

Kết luận chương 1 27

Chương 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG SỰ CHUYỂN THỂ” VẬT LÍ 10 THPT THEO HƯỚNG TĂNG CƯỜNG TÍNH THỰC TIỄN 28

2.1 Đặc điểm, cấu trúc, nội dung của chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” 28

2.1.1 Vị trí, đặc điểm 28

2.1.2 Cấu trúc và nội dung của chương 28

2.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu các ứng dụng vật lí trong dạy học chương “ Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể ” 30

2.2.1 Xây dựng hệ thống bài tập mang tính thực tiễn và các ứng dụng của các kiến thức trong đời sống 30

2.2.2 Các phương tiện trực quang hỗ trợ dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT 33

Trang 6

2.3.Thiết kế các tiến trình dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển

thể ” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường tính thực tiễn 48

Kết luận chương 2 62

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 64

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 64

3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 64

3.3 Phương pháp thực nghiệm 64

3.4 Kết quả thực nghiệm 64

3.4.1.Đánh giá định tính 64

3.4.2.Đánh giá định lượng 65

Kết luận chương 3 70

KẾT LUẬN 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT trung học phổ thông TNSP thực nghiệm sư phạm

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Bảng cấu trúc nội dung kiến thức chương “ Chất rắn và chất lỏng Sự

chuyển thể” Vật lí 10 THPT 28

Bảng 3.1 Bảng thống kê số HS đạt điểm Xi 66

Bảng 3.2 Bảng thống kê số HS đạt điểm từ Xi trở xuống 66

Bảng 3.3 Bảng tần suất 66

Bảng 3.4 Bảng tần suất tích lũy 66

Bảng 3.5 Các thông số thống kê điểm kiểm tra nhóm thực nghiệm 67

Bảng 3.6 Các thông số thống kê điểm kiểm tra nhóm đối chứng 67

Bảng 3.7 : Các tham số đặc trưng thống kê của nhóm ĐC và TN 67

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn phân bố tần suất điểm số 68 Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn phân bố tần suất tích lũy 68

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH và hội nhập quốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Việc này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, phẩm chất và năng lực được hình thành trên một nền tảng kiến thức, kỹ năng đầy đủ và chắc chắn

Nghị quyết số 29- NQ/TW “về đổi mới căn bản , toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được hội nghị trung ương 8 (khóa XI ) thông qua khẳng định “ Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ

năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”[29]

Việc đổi mới phương pháp dạy học không những chỉ có ở GV mà cả người học cũng phải nỗ lực rất nhiều trong quá trình học tập, vận dụng và chiếm lĩnh kiến thức GV và HS phải xóa bỏ những thói quen thầy dạy, trò thụ động chờ đến giờ lên lớp lúc đó mới học những kiến thức mới, mà không có sự suy nghĩ tìm tòi để giải quyết một nhiệm vụ trước đó đã đặt ra Cách đánh giá kết quả học tập của HS còn mang tính truyền thống bằng cách kiểm tra miệng để trả bài cũ cùng một số kiểm tra giấy mà không dựa trên những sáng kiến và khả năng liên hệ thực tiễn của HS

Môn Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, phần lớn các kiến thức Vật lí trong chương trình phổ thông gắn liền với các hiện tượng, quá trình trong tự nhiên

và đời sống Tuy nhiên, thực trạng dạy học vật lí ở phổ thông hiện nay chủ yếu chú trọng các kiến thức trong sách giáo khoa mà ít chú trọng vào việc vận dụng các kiến thức đó vào kĩ thuật và đời sống HS chỉ có thể áp dụng kiến thức đã học vào việc giải các bài tập theo yêu cầu của SGK và theo yêu cầu của GV mà thôi, nên những

Trang 11

kiến thức đã học không những không được phát huy mà đôi lúc làm cho HS cảm thấy mệt mỏi vì các kiến thức đã học quá xa rời với thực tiễn của cuộc sống Nếu

HS biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống thì các em sẽ thích thú học tập hơn, có nhu cầu tìm tòi khám phá thế giới xung quanh, qua đó các

em sẽ say mê yêu thích học tập và thấy rằng việc học tập rất có ích cho bản thân

Do vậy, quá trình dạy học vật lí với việc khai thác, vận dụng mối liên hệ giữa Vật lí, Kĩ thuật và đời sống là một trong những vấn đề đang được quan tâm, nhằm góp phần làm cho HS không rời xa thực tiễn kĩ thuật và đời sống khi học tập vật lí

Trong chương trình vật lí phổ thông, phần kiến thức chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” liên quan đến nhiều hiện tượng vật lí trong thực tế và những ứng dụng của nó được áp dụng dụng rộng rãi trong đời sống

Với những lý do trên tôi chọn đề tài:“Tổ chức dạy học chương “Chất rắn

và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường tính thực tiễn” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Tổ chức dạy học chương “ Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường tính thực tiễn nhằm làm cho học sinh có hứng thú học tập môn Vật lí và nâng cao kết quả học tập

3 Giả thuyết khoa học của đề tài

Nếu tổ chức dạy học chương “ Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường ứng dụng vật lí vào thực tiễn cuộc sống phù hợp về mặt khoa học, sư phạm và với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học thì sẽ làm cho học sinh có hứng thú trong học tập môn Vật lí, đồng thời nâng cao kết quả học tập

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

- Hoạt động dạy học Vật lí ở trường phổ thông

- Dạy học Vật lí tăng cường tính thực tiễn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu cở sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học trên cơ sở khai thác, tăng cường tính thực tiễn trong dạy học Vật lí ở trường THPT

- Đề xuất các biện pháp dạy học Vật lí tăng cường tính thực tiễn

Trang 12

- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lí phổ thông, đặc biệt là chương

“Chất rắn và chất lỏng, Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT

- Sưu tầm xây dựng cơ sở dữ liệu trong dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường tính thực tiễn

- Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Chất rắn và chất lỏng

Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường tính thực tiễn

- Thực nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để hoàn thành các nội dung nghiên cứu đã nêu ở trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, các chỉ thị của Bộ giáo dục và đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục

- Nghiên cứu tài liệu về cơ sở lí luận dạy học nhằm tổ chức cho học sinh học tập

- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật Lí 10 THPT

- Nghiên cứu, điều tra thực trạng dạy và học của chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật Lí 10 THPT ở trường THPT Tố Hữu, Huyện Quảng Điền,Thừa Thiên Huế Dựa trên thực trạng đã biết để từ đó vận dụng lí luận để xây dựng tiến trình dạy học cụ thể

- Sưu tầm các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực mà đề tài cần nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Thăm dò, trao đổi ý kiến với giáo viên các trường THPT để từ đó nghiên cứu thực trạng và các vấn đề còn tồn tại khi dạy học kiến thức có liên quan tới ứng dụng vật lí vào thực tiễn trong chương trình vật lí phổ thông hiện nay

- Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức trong chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” theo hướng tăng cường tính thực tiễn

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực hiện các bài dạy đã thiết kế, so sánh với lớp đối chứng để rút ra những

Trang 13

6.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai lớp đối chứng và thực nghiệm

• Bài tập gắn với thực tiễn : 37 bài

• Các phương pháp trực quan: 35.hình ảnh động, tĩnh, 9 video

+ Thiết kế 6 tiến trình dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” theo hướng tăng cường tính thực tiễn

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có nội dung gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học theo hướng tăng cường tính thực tiễn trong dạy học Vật lí ở trường THPT

Chương 2: Tổ chức dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT theo hướng tăng cường tính thực tiễn

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

1.1 Mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay

1.1.1 Mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay

Mục tiêu giáo dục là tiêu chí cần phải được xác định, nó định hướng cho toàn bộ các hoạt động trong quá trình giảng dạy, từ việc xác định nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học cũng như các hình thức kiểm tra, đánh giá trong quá trình giảng dạy Mục tiêu giáo dục phải phù hợp với từng đối tượng, từng giai đoạn xác định của đất nước Nếu xác định mục tiêu quá cao sẽ

là duy ý chí, còn nếu xác định mục tiêu quá thấp sẽ không tạo điều kiện cho sự phát triển một cách toàn diện.[22 ]

Ở điều 27, mục tiêu giáo dục phổ thông, khóa XI kỳ họp thứ 7 từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 14 tháng 6 năm 2005 có chỉ rõ: "Mục tiêu của giáo dục phổ thông

là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng

cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc".[ 31]

Mục tiêu giáo dục luôn giữ vững quan điểm giáo dục toàn diện, chú trọng cả bốn mặt trí, đức, thể, mỹ nhằm đào tạo ra những con người lao động mới có khả

Trang 15

hội nhập với cộng đồng quốc tế rộng lớn, mục tiêu giáo dục đã cụ thể hóa thêm một

số điểm cho phù hợp với tình hình mới:

+ Coi trọng giáo dục tư tưởng, đạo đức, coi đó là nền tảng nhân cách của con người mới

+ Bên cạnh việc bồi dưỡng năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phải chú trọng gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc

+ Một mặt phải học để nắm vững và làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại mà nhân loại đã tích lũy được, mặt khác lại phải có tư duy sáng tạo, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, tìm ra những cách làm mới phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước để đưa đất nước tiến lên

+ Người lao động mới vừa phải có ý thức cộng đồng, tinh thần tập thể vì sự nghiệp chung hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, vừa phải phát huy tính tích cực cá nhân, năng động, chủ động, đem hết tài năng, trí tuệ, sức lực của mình cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[24]

Như vậy mục tiêu giáo dục ở nước ta không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức, bồi dưỡng năng lực sáng tạo ra tri thức mới mà còn rèn luyện cho HS những kỹ năng sống để có thể đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạn

1.1.2 Mục tiêu giáo dục môn học Vật lí THPT hiện nay

Mục tiêu giáo dục thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất nước nên mục tiêu giáo dục ở nhà trường cũng phải bám sát và có những điều chỉnh cho phù hợp Nên dạy học vật lí ở cấp THPT hiện nay nhằm giúp HS [7]

- Đạt được một hệ thống kiến thức vật lí phổ thông, cơ bản và phù hợp với những quan điểm hiện đại, bao gồm:

+ Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lí thường gặp trong đời sống và sản xuất

+ Các đại lượng, các định luật và nguyên lí vật lí cơ bản

+ Những nội dung chính của một số thuyết vật lí quan trọng nhất

+ Những ứng dụng phổ biến của Vật lí trong đời sống và sản xuất

+ Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của Vật lí, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình

- Rèn luyện và phát triển các kỹ năng

Trang 16

+ Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hàng ngày hoặc trong các thí nghiệm; điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập môn Vật lí

+ Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của Vật lí, Kỹ thuật lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lí đơn giản

+ Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các

dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hoặc quá trình Vật lí cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra

+ Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình Vật

lí, giải các bài tập Vật lí và giải quyết những vấn đề đơn giản của cuộc sống và sản xuất ở mức độ phổ thông

+ Sử dụng các thuật ngữ Vật lí, các biểu, bảng, đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin

- Hình thành và rèn luyện thái độ tình cảm

+ Có hứng thú học môn Vật lí, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của Vật lí học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học

+ Có thái độ khách quan, trung thực; có tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác

và có tinh thần hợp tác trong việc học tập môn Vật lí, cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được

+ Có ý thức vận dụng những hiểu biết Vật lí vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường

sống tự nhiên

1.2 Cơ sở tâm lí học của việc dạy học gắn với ứng dụng thực tiễn

1.2.1 Mô hình giáo dục hướng vào người học

1.2.1.1 Dạy học lấy người học làm trung tâm

Thời đại trước mắt chúng ta, xã hội chúng ta đang hướng đến là một xã hội tri thức Một xã hội mà sự đầu tư thiếu tỉnh táo cho bất cứ một hệ thống nào cũng có thể gây bất ổn, thậm chí tạo khủng hoảng cho cả một xã hội Một xã hội mà tri thức

Trang 17

năm tốc độ ấy lại gấp đôi Sự tăng về khối lượng kiến thức đó nhất thiết phải kéo theo sự thay đổi về chất tri thức của con người

Con người của thời đại hiện tại không chỉ có nhiệm vụ nhớ các kiến thức sẳn

có mà đòi hỏi phải có khả năng từ khối lượng tri thức đó sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần mới Xã hội tri thức không chỉ có nhiệm vụ tích hợp các kiến thức của con người đã đạt được mà còn có nhiệm vụ từ đó nhân lên, tạo thành các kiến thức mới có chất lượng cao hơn nữa

Với thời đại đó dạy học không còn là quá trình truyền thụ, chuyển giao kiến thức mà phải là một quá trình tổ chức, định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động nhằm chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa; trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học Đó chính là lí

do và cũng là mục đích của quan điểm "Lấy người học làm trung tâm"

Tư tưởng xem người học là trung tâm, là chủ thể của quá trình học tập đã được đề xướng từ lâu Ở thế kỉ XVII A.Kômenski đã viết: "Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn" Cách đây khoảng 30 năm (1991), R.R.Singh cũng đã viết: "Làm thế nào cá thể hóa quá trình học tập để cho tiềm năng của mỗi cá nhân được phát triển đầy đủ đang là một thách thức chủ yếu đối với giáo dục" Ở nước ta, với khẩu hiệu "Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo", HSTT đã được đặt ra trong ngành giáo dục từ những năm 1960 Tuy nhiên, thuật ngữ "Dạy học lấy người học làm trung tâm" chỉ mới xuất hiện và được sử dụng phổ biến trong những năm gần đây Theo đó, bên cạnh xu hướng truyền thống thiết kế chương trình giảng dạy lấy logic nội dung môn học làm trung tâm đã xuất hiện xu hướng thiết kế chương trình học tập lấy nhu cầu, lợi ích của người học làm trung tâm.[22]

Phát triển các phương pháp dạy học tích cực, học tập hợp tác có ý nghĩa không chỉ trong quá trình học tập ở nhà trường mà còn chuẩn bị cho các em tâm thế tốt để chuẩn bị cho tiền đồ của chính các em và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước sau này

Trang 18

Như vậy, lí thuyết “lấy người học làm trung tâm” là một khuynh hướng tiến

bộ, lành mạnh nhằm phát triển năng lực học tập của HS, giúp cho họ rèn luyện khả năng tư duy, sáng tạo, sẵn sàng giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống

1.2.1.2 Cơ sở sinh học và tâm lí học

* Cơ sở sinh học [24]

Theo học thuyết của Pavlov: Dạy học là thành lập những phản xạ có điều kiện, hình thành cho đối tượng những kinh nghiệm hành động Còn học là hình thành những phản xạ trả lời mới chưa có trong vốn phản xạ không điều kiện được di truyền

Cách tăng hiệu quả giảng dạy là củng cố, ôn luyện thường xuyên, tăng cường

độ kích thích, thưởng hoặc phạt để thúc đẩy học tập (đây chính là cơ sở của mô hình dạy học truyền thống)

Theo học thuyết của Skinner : Học là tự điều chỉnh hành vi để dẫn tới hành

vi mong muốn Dạy là tạo cơ hội cho học Học thông qua hành động, làm để học, hiểu biết là hành động có kết quả Học thông qua thử và sai, thông qua hành vi đem lại hiệu quả, khen thưởng kịp thời

Như vậy sự khác biệt giữa hai quan điểm trên là:

+ Pavlov nhấn mạnh mặt dạy: Dạy là thành lập phản xạ có điều kiện, hình thành kinh nghiệm hành động, mục đích nội dung do người dạy quyết định, phương pháp truyền đạt được coi trọng Cách học do người dạy áp đặt Hiệu quả do kinh nghiệm người dạy quyết định Trong quá trình học, HS học tập một cách thụ động

+ Skinner nhấn mạnh mặt học: Bài học đặt ra vì lợi ích của người học, người học tự mò mẫm, tự lựa chọn cách học có hiệu quả, tiến độ học tùy thuộc vào năng lực của người học, con người không thụ động trả lời kiến thức bằng phản xạ mà còn phản ánh có ý thức hành động cụ thể tùy thuộc môi trường

Quan điểm của Pavlov và Skinner được vận dụng bổ sung cho nhau Quan niệm của Skinner gần với cách hiểu “lấy người học làm trung tâm” hơn, tuy nhiên rất khó vận dụng vào những nhiệm vụ học tập phức tạp Vì dạy học là một quá trình phức tạp, khó có một học thuyết nào được áp dụng đúng nhất

* Cơ sở tâm lí học

Nhà trường với những yêu cầu chặt chẽ, hoạt động tự nhiên, xây dựng cho

Trang 19

cưỡng ép Trường học đổi mới hiện đại thì các hoạt động đó bổ sung cho nhau, có

sự cưỡng ép của người lớn và sự hợp tác của trẻ em Nếu đáp ứng được tâm lí hưng phấn tự nhiên của trẻ thì sự cưỡng ép sẽ có kết quả tích cực hơn

Trong quá trình học tập động cơ học tập ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình học tập Động cơ ảnh hưởng đến thái độ, niềm tin, tình cảm, của việc học của HS, mặc khác động cơ và tình cảm còn ảnh hưởng đến chất lượng trong quá trình tư duy Tình cảm ảnh hưởng đến hứng thú học tập và quyết định đến động cơ cũng như quá trình học tập của HS

1.2.2 Xu hướng tăng cường ứng dụng thực tiễn cuộc sống vào hoạt động dạy học

Mọi vấn đề thực tiễn trong cuộc sống điều liên quan đến tất cả các lĩnh vực, cũng khó có vấn đề nào chỉ giải quyết trọn vẹn bằng kiến thức của một lĩnh vực

Sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, xã hội càng phát triển, yêu cầu phải đào tạo những con người không những biết mà còn phải có kỹ năng sống

HS chỉ thật sự tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học tập khi vấn đề học tập có mối quan hệ thực sự với thực tiễn đích thực mà họ đang sống và chỉ có những vấn đề như thế mới làm họ hứng thú tham gia giải quyết và cố gắng phát huy hết khả năng của mình giải quyết

Quan tâm đến sự phát triển hiểu biết, phát triển tư duy bậc cao, rèn luyện kỹ năng sống, và làm việc thông qua giải quyết các vấn đề thực tiễn Do đó hầu hết các chương trình hiện nay cũng đã chú ý đến việc liên hệ giữa các lĩnh vực khác nhau và với thực tiễn của xã hội nhằm giúp HS phát triển những ý tưởng trọng yếu và toàn diện

1.3 Hứng thú và sự cần thiết tạo hứng thú trong dạy học

1.3.1 Khái niệm hứng thú

Theo quan niệm duy vật biện chứng, hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả hình thành và phát triển nhân cách, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại của con người.[26]

Một cách khái quát có thể hiểu: Hứng thú là thái độ con người đối với sự vật, hiện tượng nào đó Hứng thú là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức của cá nhân với hiện thực khách quan, biểu hiện sự ham thích của con người về sự vật, hiện tượng nào đó

Trang 20

Thông thường, nhu cầu tạo ra hứng thú Hứng thú là biểu hiện cảm xúc dương tính trong nhu cầu Hứng thú giúp con người hành động năng động và sáng tạo hơn

Một sự vật, hiện tượng nào đó chỉ có thể trở thành đối tượng của hứng thú khi chúng thỏa mãn 2 điều kiện sau đây:

Điều kiện cần: Sự vật và hiện tượng đó phải có ý nghĩa với cuộc sống của cá nhân, điều kiện này Muốn hình thành hứng thú, chủ thể phải nhận thức rõ ý nghĩa của sự vật và hiện tượng với cuộc sống của mình Nhận thức càng sâu sắc và đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của hứng thú

Điều kiện đủ: Khi nhận thực và thực hiện được “sự vật và hiện tượng” đó phải có khả năng mang lại khoái cảm cho chủ thể

Hứng thú của cá nhân được hình thành trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn Hứng thú tạo nên ở cá nhân những khát vọng tiếp cận và đi sâu vào đối tượng

Người có hứng thú với công việc hoàn toàn khác với người làm việc tùy hứng, thiếu hứng thú với công việc

Như vậy hứng thú là thái độ của cá nhân đối với một đối tượng hay một quá trình nào đó đã đem lại khoái cảm, thích thú và tác động tích cực đến mỗi cá nhân đòi hỏi họ phải tìm mọi cách để thực hiện Chính vì thế gây hứng thú học tập cho

HS là một việc làm cần được GV quan tâm giúp HS yêu thích, say mê với môn học

là một việc làm rất quan trọng, nó góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học

1.3.2 Sự cần thiết của việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo

Hứng thú là tiền đề của hoạt động có tính tự giác, điều này có nghĩa là không hứng thú thì không tự giác Không có hứng thú, không có sự chủ động hay hoạt động sẽ thụ động, là bắt chước Khi người học không tham gia vào hoạt động hay tham gia một cách thụ động, không hứng thú thì kết quả học tập nghèo nàn, thường là những kiến thức được ghi nhớ máy móc, không mục đích rõ ràng (nhiều

Trang 21

học, kiến thức như thế sẽ không vững bền nhanh quên, có tính công cụ thấp) Điều quan trọng hơn là nó không mang lại sự chuyển biến tích cực nào về tâm lí và nhận thức người học, người học không tiếp thu được phương thức hành động (tư duy hay thực hành) khi không hứng thú tham gia các hoạt động”[21], trong dạy học việc hứng thú trong học tập là một việc làm hết sức cần thiết

Nếu như GV không khơi gợi sự hứng thú, say mê cho HS thì họ sẽ tiếp nhận tri thức mang tính ép buộc, kiến thức mà GV truyền đạt chưa biến thành động cơ học tập cho HS Việc tích cực đưa ra các hiện tượng tự nhiên gần gũi với cuộc sống của người học vào trong bài dạy dưới nhiều hình thức để họ cảm nhận được: “thực tiễn rất rộng lớn, nhưng con người hứng thú những cái gì cần thiết, quan trọng gắn liền với kinh nghiệm và sự phát triển trong tương lai của họ”[27], cụ thể như là các thí dụ về ứng dụng vật lí trong cuộc sống, cũng có thể là vận dụng các kiến thức vừa học để giải thích các hiện tượng tự nhiên

1.4 Dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn với việc tạo hứng thú học tập cho học sinh

1.4.1 Khái niệm thực tiễn

“Thực tiễn” là những hoạt động của con nguời, trước hết là lao động sản xuất, nhằm tạo điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội [23]

Chủ nghĩa Mác Lê-nin cho rằng thực tiễn là cơ sở của nhận thức, cơ sở của

sự phát triển những kiến thức khoa học trong quá trình kinh nghiệm xã hội – lịch sử của loài người

Ở đây chúng ta có thể hiểu “thực tiễn” chính là hoạt động của GV và HS, những kiến thức được cụ thể hóa bằng những hiện tượng, vận dụng những kiến thức được học để giải thích hiện tượng, những số liệu mang tính thực tiễn, ứng dụng của kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn, nhằm tạo điều kiện cho HS học tốt môn học, thích thú với môn học

Trong quá trình dạy học, thực tiễn là điều kiện tất yếu để hình thành ở HS kỹ năng và kỹ xảo, thông qua việc tham gia vào hoạt động sáng tạo dưới những hình thức vừa sức, HS tiếp thu kinh nghiệm xã hội, góp phần vào sự tiến bộ của xã hội

Trang 22

1.4.2 Mục đích và ý nghĩa của việc dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn

Vật lí, một môn khoa học tự nhiên gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của mọi nguời; đồng thời góp phần vào sự phát triển của khoa học và công nghệ Những kiến thức vật lí luôn được áp dụng trong những hoạt động của con người, dựa trên những nguyên lí, những định luật con người có thể phát minh, tìm tòi, khám phá và cho ra đời nhiều sản phẩm phục vụ cho đời sống, cũng như những sản phẩm có chất lượng và công nghệ cao Ngay từ còn ở bậc THPT vấn đề giảng dạy để làm sao gắn với thực tiễn và đưa những kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn, để

HS thấy rõ sự liên hệ của kiến thức với thực tiễn từ đó HS hiểu được ý nghĩa của bài học, các định luật, định lí, cũng như vận dụng chúng một cách dễ dàng Nhưng thực tế trong quá trình giảng dạy, đa số GV chỉ cung cấp và giảng dạy theo kiến thức của SGK để đảm bảo đủ, đúng nội dung, và đúng thời gian quy định , chính vì thế làm cho HS đôi lúc không biết học nó để làm gì, cú nghĩ rằng học là phải học.Chính vì vậy càng ngày môn Vật lí trở nên nặng nề với những kiến thức hàn lâm mà GV truyền đạt lại, HS khi còn chưa biết ứng dụng như thế nào thì ngay lập tức sẽ cảm thấy nặng nề và nhanh chóng quên ngay những kiến thức ấy

Những kiến thức đã học, HS cảm thấy khô khan, thay vì với tình huống có vấn đề mang tính chất là những ứng dụng hay những câu hỏi thực tế sẽ kích thích óc tìm tòi của HS, để giải quyết các câu hỏi thực tế ấy không những HS cảm thấy mình phải tìm tòi để trả lời những câu hỏi mà từ đó những kiến thức đã học họ cảm thấy có ích cho bản thân, cho đời sống của họ nhiều hơn Một khi HS nhìn thấy tầm quan trọng của môn học, thì việc học tập trở nên dễ dàng hơn, họ tìm kiếm những kiến thức để giải quyết các vấn đề của cuộc sống xung quanh và biết được các kiến thức ảnh hưởng đến cuộc sống của mình vì thế nhu cầu tìm hiểu cũng tăng lên

Ngày nay, quá trình dạy học phải hướng tới quá trình lĩnh hội kiến thức mới,

và cũng chính là quá trình sử dụng kiến thức mới vào giải quyết vấn đề thực tiễn đích thực đang có trong cuộc sống Có như vậy thì kiến thức HS học được không những có ích cho bản thân các em mà còn có thể tăng lên rất nhiều, nó còn là cơ sở quan trọng hơn việc thực hiện các thí nghiệm kiểm chứng, HS sẽ có niềm tin vào

Trang 23

của HS được áp dụng không những để giải quyết nhiệm vụ học tập mà còn hình thành ở HS nhiều vấn đề khác Qua việc giải quyết các vấn dề, các nhiệm vụ học tập, tìm hiểu những ứng dụng của kiến thức đã học trong đời sống, trong khoa học, sự hiểu biết của HS sẽ vượt qua khỏi phạm vi hạn hẹp mà trước đây họ đã từng có, kiến thức học vượt qua khuôn khổ của chương trình, nội dung của bài học, HS thấy được sự gắn kết của các môn học cũng như những môn khoa học khác Dạy học theo hướng tăng cường các ứng dụng vật lí gắn với thực tiễn không những GV làm cho HS thấy được các ứng dụng của kiến thức mình đã học, những ứng dụng khoa học kỹ thuật, ứng dụng vào đời sống mà nó còn hình thành ở HS một niềm say mê khoa học, một sự hứng thú để tìm tòi, giải thích những sự thay đổi xung quanh mình, hình thành một động cơ học tập đúng đắn

Dạy học theo hướng tăng cường các ứng dụng vật lí gắn với thực tiễn sẽ góp phần làm phát triển nhân cách của HS thông qua việc khuyến khích các cách tư duy ngẫu hứng ngay trong quá trình lĩnh hội kiến thức, hình thành ở HS rất nhiều đức tính quan trọng và rất cần thiết cho việc học tập của các em cũng như trong đời sống sau này của các em, để HS học tập thoải mái hơn, tinh thần và thái độ học tập tốt hơn Trong quá trình giảng dạy, GV không những kích thích hứng thú học tập cho

HS mà các hình thức và cách tổ chức học tập gắn với thực tiễn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập của HS

Trong quá trình dạy học theo hướng tăng cường các ứng dụng vật lí gắn với thực tiễn HS có thể tiếp cận với các vấn đề có nội dung rất thực tế “mang hơi thở của thời đại”

Mặt khác, “HS chỉ thực sự tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học tập khi vấn đề học tập cần giải quyết có mối liên hệ thực sự với thực tiễn đích thực mà

họ đang sống và chỉ có những vấn đề như thế mới thực sự làm cho họ hứng thú tham gia giải quyết và cố gắng phát huy hết khả năng của mình để giải quyết Chính

vì vậy, với ngay cả những kiến thức cổ điển cũng cần phải đạt chúng và các vấn đề của thực tiễn đích thực hôm nay”[ 21 ]

Trang 24

1.5 Mối quan hệ giữa dạy học vật lí gắn với tính thực tiễn và việc tạo hứng thú học tập cho HS

Có nhiều cách để tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập Vật lí, nhưng qua quá trình tìm hiểu về hứng thú cũng như việc dạy học gắn liền với thực tiễn chúng tôi nhận thấy việc dạy học gắn với thực tiễn và tạo hứng thú học tập cho HS

có mối liên hệ sau đây:

+ HS có thể hứng thú trong quá trình học tập bằng các dụng cụ học tập thì ở dạy học gắn với thực tiễn với những dụng cụ học tập tương đối đơn giản, HS tự chuẩn bị thì có được sự phấn khởi khi trong quá trình chuẩn bị, những dụng cụ được

tự tay chuẩn bị, tự tay làm dù tương đối đơn giản cũng giúp HS thấy thoải mái, dễ chịu hơn trong học tập, bên cạnh đó những dụng cụ trực quan khác, cũng như các

mô hình tật làm kích thích sự tò mò và tư duy

+ GV có thể khai thác yếu tố tâm lí để tạo sự thích thú cho HS, thì ở đây, những bài tập định tính sẽ giúp cho HS thấy được ứng dụng của kiến thức Mặt khác, qua quá trình giảng dạy, chúng tôi có trao đổi với HS và nhận thấy rắng đa số HS rất thích khi được giải thích các hiện tượng, điều đó làm không khí lớp học thay đổi hẳn lên

+ Dạy học vật lí theo hướng tăng cường các ứng dụng gắn với thực tiễn, HS được ứng dụng nhiều, kiến thức vượt qua khỏi chương trình, SGK nên nó cũng là nguồn tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập

Mặt khác, việc tổ chức dạy học HS gắn với thực tiễn, HS cảm thấy thoải mái trong việc tranh luận, cũng như trao đổi, tham khảo ý kiến của các bạn cũng như

GV , từ đó HS có cái nhìn thiện cảm hơn đối với môn học vốn được coi là khô khan trong chương trình

1.6 Các nguyên tắc cần thực hiện khi dạy học một bài học vật lí gắn với tính thực tiễn nhằm tạo hứng thú học tập cho HS

Khi dạy một bài học vật lí gắn với thực tiễn chúng ta cần :

+ Xác định rõ mục tiêu bài, nội dung kiến thức

+ Xác định hệ thống các bài tập có nội dung phù hợp với bài giảng

+ Xác định vấn đề thực tiễn đồng thời có tác dụng giáo dục tư tưởng, đạo đức, thế giới quan khoa học cho HS ở từng bài học

Trang 25

+ Xác định những ứng dụng kĩ thuật của từng bài cũng như những ứng dụng của vật lí trong đời sống để xây dựng hệ thống bài tập định tính

+ Xác định dụng cụ học tập cần thiết, cũng như các dụng cụ thí nghiệm, các phương tiện trực quan, công cụ hỗ trợ trong quá trình giảng dạy và học tập

+ Xác định tư liệu hỗ trợ học tập cho HS

Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy GV cần chú ý đến các nguyên tắc sau: + Phải có khả năng thực hiện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế

+ Những dụng cụ đưa ra phải hấp dẫn, có chọn lọc, đảm bảo tính chính xác, khoa học phù hợp với trình độ HS

+ Mang tính phổ biến, mang tính thời sự

+ Bố trí thời gian hợp lí, trong quá trình giảng dạy

1.7 Thực trạng việc dạy học Vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn

ở một số trường THPT trên địa bàn Huyện Quảng Điền – Thừa Thiên Huế

- Mục đích điều tra

Tìm hiểu mức độ quan tâm của GV đến việc dạy học Vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn, đồng thời tìm hiểu việc sử dụng các hình thức dạy học Vật lí gắn với thực tiễn ở trường THPT hiện nay trên địa bàn Huyện Quảng Điền,Thừa Thiên Huế

Rút ra kết luận cần thiết và tìm hiểu những biện pháp dạy học Vật lí gắn với thực tiễn hiện nay

- Đối tượng điều tra

Chúng tôi tiến hành điều tra 25 GV đang dạy Vật lí ở các trường THPT trên địa bàn

- Kết quả:

GV sử dụng rất phong phú các hình thức để dạy học gắn liền với thực tiễn đặc biệt là ở mức độ rất thường xuyên và thường xuyên với các hình thức trực quan có 70 %, hướng dẫn HS tìm hiểu các ứng dụng kỹ thuật 46%, trình bày ứng dụng kỹ thuật 43,33

%, liên hệ kiến thức vật lí qua các bài tập vật lí và thiết kế các mô hình 40 %, qua thực

tế giảng dạy GV chọn các hình thức này vì chúng phù hợp với điều kiện cũng như tình hình thực tế ở các trường THPT Những hình thức trên dễ thực hiện, ít chịu ảnh hưởng bởi thời gian mà vẫn thu hút lôi cuốn HS vào bài học

Trang 26

Việc dạy học gắn với thực tiễn có thể làm bài giảng phong phú, thu hút hơn gây được hứng thú học tập cho HS Áp dụng biện pháp này nhưng chúng tôi thiết nghĩ khi bắt đầu giảng bài GV lấy ngay những hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày sẽ tạo ra được sự gần gủi , dễ hiểu, HS cũng thấy được ích lợi của kiến thức mình đang học, tạo cho các em luôn nghĩ đến những ứng dụng thiết thực của môn học mà từ đó tìm được cảm hứng, kích thích và thu hút HS vào bài giảng đồng thời làm bài giảng GV sinh động hơn

Bên cạnh đó vẫn còn nhều GV gặp khó khăn trong việc gắn kết bài giảng với thực tiễn Ngoài ra các bài học trong chương này chủ yếu là xây dựng kiến thức mới bằng con đường thực nghiệm, dựa trên nền tảng từ kiến thức của THCS được phát triển rộng, sâu sắc, bản chất vật lý đầy đủ hơn, do đó nếu GV đến giảng dạy theo kiểu truyền thụ tri thức mà không quan tâm đến việc tổ chức cho HS xây dựng tìm kiếm tri thức mới thì HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc, kiến thức tiếp thu được sẽ không sâu sắc vững chắc.Vì vậy việc tổ chức, điều khiển quá trình dạy học sẽ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học không cao, chưa tạo ra được hứng thú ở bộ phận HS trung bình yếu

Mặc dù Bộ giáo dục và đào tạo đã hoàn thành việc thay sách giáo khoa cho các cấp từ tiểu học đến THPT, tập huấn việc đổi mới PPDH, nhưng nhìn chung PPDH của GV không thay đổi nhiều nguyên nhân tình trạng này có nhiều, nhưng có

lẽ có hai nguyên nhân chủ yếu:

- Do sức ép của thi cử

- Do chưa tác động đến lợi ích người thầy như một động lực xã hội

Tóm lại , qua kết quả thu được, cũng như việc phân tích, tuy số lượng khảo sát cũng khiêm tốn nhưng chúng tôi cũng nhận thấy được mức độ quan tâm của GV đến việc dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn, đồng thời cũng thấy được một

số khó khăn mà GV đang gặp phải Từ kết quả thu được cùng với việc nghiên cứu lí luận dạy học theo hướng tăng cường tính thực tiễn ,chúng tôi đưa ra các biện pháp dạy học nhằm tăng cường tính thực tiễn một cách hiệu quả

Trang 27

1.8 Các biện pháp để dạy học vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn 1.8.1 Dùng dụng cụ trực quan mang tính ứng dụng thực tiễn

Có thể nói sử dụng các công cụ hỗ trợ như phim khoa học, tranh ảnh, hình vẽ trực tiếp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dạy học vật lí gắn liền với thực tiễn, đặc biệt đối với các quận vùng ven còn nhiều khó khăn, còn thiếu các thiết bị dạy học chưa được cập nhật và hiện đại

1.8.2 Trình bày những ứng dụng kỹ thuật của Vật lí

Việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của Vật lí là thiết lập mối quan hệ giữa lí thuyết và thực tiễn, giữa cái trừu tượng (các khái niệm, định luật Vật lí) và cái cụ thể (các hiện tượng xảy ra trong máy móc, thiết bị) nhờ đó làm cho việc nhận thức các kiến thức vật lí trừu tượng trở nên sâu sắc, mềm dẻo hơn

Việc nghiên cứu các ứng dụng kỹ thuật của Vật lí góp phần phát triển tư duy Vật lí kỹ thuật của HS, làm cho HS thấy được vai trò quan trọng của kiến thức vật lí đối với đời sống và sản xuất, qua đó kích thích hứng thú, nhu cầu học tập của HS

GV trình bày những ứng dụng của kiến thức Vật lí là hình thức đơn giản nhất Tùy theo điều kiện của GV, HS cũng như điều kiện của nhà trường, việc trình bày những ứng dụng kỹ thuật này có thể trình bày sau bài học hoặc có điều kiện thì cho

HS tìm hiểu rồi báo cáo cho cả lớp, đồng thời các bạn khác trong lớp nhận xét.Quá trình trình bày có thể mở rộng khá nhiều ra ngoài chương trình nhưng mục tiêu chủ yếu là cung cấp thông tin, minh chứng mối liên hệ giữa kiến thức và vận dụng kiến thức của con người trong khoa học và đời sống Việc làm này sẽ mang lại hiệu quả học tập nhân đôi nếu GV có sử dụng hình minh họa, phim ảnh hoặc đề cập được các ứng dụng, những phát minh mới nhất có liên quan đến kiến thức bài đang học

Chúng ta đang sống trong thời đại công nghệ thông tin, với những phát minh khoa học của nhân loại đang nở rộ với tốc độ chóng mặt, vốn hiểu biết của nhân loại từng ngày, từng giờ được bổ sung thêm những bằng chứng mới về các quy luật diễn

ra trong thực tế quanh ta Nếu trong giảng dạy, ta chỉ dừng lại ở các kiến thức kinh điển, không đề cập đến những phát minh, những ứng dụng mới nhất của các kiến thức thì điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta không tạo điều kiện để HS thâm nhập thực tế và làm mất đi khả năng sáng tạo

Trang 28

1.8.3 Hướng dẫn HS tìm các ứng dụng của các kiến thức Vật lí trong đời sống

GV có thể yêu cầu HS tìm những ví dụ cụ thể mà các em thường gặp trong đời sống để minh họa cho bài học Trong quá trình tìm ví dụ minh họa sẽ nảy sinh hai chiều hướng nhận thức sau:

- Một là, HS đưa ra những ví dụ sát với kiến thức bài học, chứng tỏ rằng HS hiểu nội dung , biết vận dụng kiến thức bài học vào thực tiễn

- Hai là, HS đưa ra những ví dụ không đúng hoặc không sát với kiến thức bài học, khi đó HS bộc lộ được những sự nhầm lẫn hoặc hiểu sai kiến thức bài học Qua đây, GV sẽ kịp thời bổ sung, hiểu chỉnh lại những nhầm lẫn của các em đồng thời cũng rút ra được kinh nghiệm trong việc hướng dẫn và truyền đạt kiến thức mới cho HS

Như vậy, dù quá trình nhận thức có xảy ra theo chiều hướng nào thì cũng có lợi về mặt giáo dục, GV cũng nên khuyến khích HS tự tìm những ứng dụng của kiến thức đã học, xem họ phát hiện và giải quyết như thế nào, từ đó khơi gợi và rèn luyện cho HS tự tìm hiểu và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt

1.8.4 Liên hệ kiến thức vật lí qua các bài tập mang tính ứng dụng thực tiễn

Trong giáo trình về phương pháp dạy học vật lí cũng như trong SGK vật lí, những bài tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng vật lí, hình thành các khái niệm, phát triển năng lực tư duy vật lí cho HS và rèn luyện kĩ năng vận dụng các kiến thức của HS vào thực tiễn

Việc sử dụng cũng như giảng dạy bài tập Vật lí trong trường PT có tác dụng giúp HS hiểu và vận dụng một cách sâu sắc những kiến thức đã học, đồng thời là một trong những phương tiện giúp HS phát huy tính tích cực, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn Kỹ năng vận dụng kiến thức trong việc giải bài tập

và trong thực tiễn đời sống chính là thể hiện khả năng tiếp thu, hiểu biết và vận dụng những kiến thức mà HS đã thu nhận được Bài tập Vật lí với chức năng là một phương pháp dạy học có một ví trí đặc biệt trong dạy học Vật lí

Thông qua bài tập, HS nắm được quy luật vận động của thế giới vật chất, nó còn giúp HS hiểu rõ những qui luật, biết phân tích và vận dụng những qui luật ấy

Trang 29

vào thực tiễn Việc giải các bài tập còn tạo điều kiện cho HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống cụ thể thì kiến thức đó mới trở nên hoàn thiện

Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể mà các bài tập đặt ra, HS phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa để giải quyết vấn đề, do đó tư duy của HS có điều kiện để phát triển Có thể nói bài tập Vật lí là một phương tiện rất tốt để phát triển tư duy, óc tưởng tượng, khả năng độc lập trong suy nghĩ và hành động, tính kiên trì trong việc khắc phục những khó khăn trong đời sống của HS

Bài tập còn cung cấp thêm kiến thức, mở rộng hiểu biết của HS về các vấn

đề đời sống và sản xuất đồng thời phát triển tư duy cho HS

Do vậy, việc xây dựng bài tập mang tính thực tiễn để sử dụng trong quá trình dạy học cũng như trong học tập của HS cũng là vấn đề cần được GV quan tâm

1.8.5 Tổ chức các cuộc thi “Thiết kế mô hình thí nghiệm, thiết bị vật lí”

Thiết kế mô hình thí nghiệm hoặc các thiết bị Vật lí là một biện pháp để phát huy sự sáng tạo, khéo léo của HS cũng như GV, đồng thời hỗ trợ đắc lực cho GV trong qua trình giảng dạy

GV có thể phát động cho HS thiết kế các mô hình thí nghiệm có tác dụng minh họa những kiến thức đã và đang học trong chương trình hoặc các mô hình, các thiết bị Vật lí có ứng dụng và ý nghĩa khoa học

Thông qua các cuộc thi này, HS sẽ tích cực tìm hiểu kiến thức, việc lôi cuốn vào phong trào nhưng mang tính học tập, HS rất năng động trong học tập, phát triển tư duy cho HS, từ chổ mở rộng hiểu biết cho HS về ứng dụng những khoa học kỹ thuật của Vật lí để bồi dưỡng tình cảm yêu thích bộ môn, đồng thời giáo dục hướng nghiệp cho những ngành nghề sau này cho HS bên cạnh việc tổ chức này có thể tiến tới góp phần vào việc tiến đến thành lập câu lạc bộ Vật lí trong nhà trường – là mô hình học tập thoải mái, kiến thức không bó gọn trong chương trình học mà nó sẽ vượt ra ngoại kiến thức đã học, đồng thời kích thích sự tò mò, sáng tạo trong quá trình học tập của HS

1.8.6 Tham quan

Tham quan là một phương pháp được tiến hành bằng cách đưa HS đi thăm,

đi xem những sự vật hiện tượng có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống Đây là một hình thức củng cố kiến thức và giáo dục tư tưởng cho HS

Trang 30

Trong quá trình tham quan, HS được tận mắt chứng kiến các thiết bị, mô hình, nhà máy, được nghe các chuyên gia kỹ thuật kể chuyện, mô tả cách vận hành của máy móc, được tận mắt thấy được sự vận hành của các thiết bị máy móc, bên cạnh đó HS có thể đặt câu hỏi với người hướng dẫn Chính những chuyến tham quan này sẽ để lại trong các em những ấn tượng khó phai, ảnh hưởng đến động cơ chọn nghề của các em, đồng thời các em cũng thấy được tầm quan trọng của Vật lí trong khoa học cũng như trong lao động sản xuất

Tuy nhiên tham quan phải tùy điều kiện của từng trường cũng như những điều kiện thuận với từng vùng miền, từng chương hoặc bài học mới thực hiện được

Kết luận chương 1

Dạy học Vật lí theo hướng tăng cường tính thực tiễn là nhằm đưa thực tiễn vào trong quá trình dạy học Ở đây GV không những hướng dẫn cho HS tìm kiếm kiến thức, xử lí thông tin mà còn hướng dẫn cho HS thấy được tầm quan trọng của kiến thức cũng như những ứng dụng của kiến thức mà mình đã, đang và sẽ sử dụng trên con đường tìm kiếm và học tập, từ đó các kĩ năng của HS được phát triển, HS cảm thấy thoải mái học tập cũng như tiếp thu tri thức

Thay vì áp dụng rập khuôn các mô hình học tập tiên tiến để sử dụng vào giảng dạy, thì ở đây, dạy học Vật lí theo hướng tăng cường các ứng dụng gắn với thực tiễn sẽ phù hợp trong điều kiện mà các trường không đầy đủ cơ sở vật chất cho dạy học; đặc biệt là các trường ở những vùng sâu, vùng xa như hiện nay

Dạy học Vật lí theo hướng tăng cường các ứng dụng gắn với thực tiễn là một hình thức học tập gắn kết được kiến thức đã học với thực tiễn cuộc sống, khơi dậy ở

người học sự sáng tạo, hứng thú trong quá trình khám phá thế giới khoa học

Để minh chứng cho những vấn đề trên, chúng tôi triển khai nghiên cứu việc

tổ chức dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT

theo hướng tăng cường tính thực tiễn

Trang 31

Chương 2

TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG

SỰ CHUYỂN THỂ” VẬT LÍ 10 THPT THEO HƯỚNG

TĂNG CƯỜNG TÍNH THỰC TIỄN

2.1 Đặc điểm, cấu trúc, nội dung của chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể”

2.1.1 Vị trí, đặc điểm

“Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” là một chương có rất nhiều ứng dụng thực tiễn Vật lí lớp10 Đây là chủ để khó đối với nhiều học sinh do có rất nhiều khái niệm mới Trong chương này HS cần nắm vững các khái niệm: Tinh thể, chất rắn kết tinh, chất rắn vô định hình, vật rắn đơn tinh thể, vật rắn đa tinh thể, tính dị hướng, tính đẳng hướng, sự dãn nở vì nhiệt của vật rắn, hiện tượng căng mặt ngoài, hiện tượng mao dẫn, sự hóa hơi và sự ngưng tụ, sự sôi, sự nóng chảy và sự đông đặc, nhiệt hóa hơi, nhiệt nóng chảy, hơi khô, hơi bảo hòa, độ ẩm không khí GV giảng dạy để đáp ứng nhu cầu trang bị kiến thức cho HS, còn những ứng dụng thì chỉ được đề cập rất hạn chế, nếu có thì chỉ được phân tích vai trò của chúng mà thôi, và vẫn còn nhiều ứng dụng vẫn chưa được đề cập

2.1.2 Cấu trúc và nội dung của chương

Bảng 2.1 Bảng cấu trúc nội dung kiến thức chương

“ Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT

01 Chất rắn kết tinh Có cấu trúc tinh thể, do đó có dạng hình học và

nhiệt độ nóng chảy xác định

02 Chất rắn vô định hình Không có cấu trúc tinh thể, không có nhiệt độ

nóng chảy (hoặc đông đặc) xác định và có tính đẳng hướng

03 Chất rắn đơn tinh thể Được cấu tạo từ một tinh thể Chất rắn đơn

tinh thể có tính dị hướng

04 Chất rắn đa tinh thể Được cấu tạo từ nhiều tinh thể, có tính đẳng hướng

Trang 32

05 Sự nở vì nhiệt của vật rắn Là sự tăng kích thước của vật rắn khi nhiệt

07 Hiện tượng mao dẫn Hiện tượng mức chất lỏng bên trong các ống có

đường kính nhỏ luôn dâng cao hoặc hạ thấp hơn so với bề mặt chất lỏng ở bên ngoài ống gọi là hiện

tượng mao dẫn

08 Sự nóng chảy Là quá trình các chất biến đổi từ thể rắn sang thể

lỏng Trong quá trình nóng chảy, nhiệt độ của khối chất không thay đổi, đó là nhiệt độ nóng chảy

09 Nhiệt nóng chảy Nhiệt lượng mà vật rắn có khối lượng m nhận

được trong quá trình nóng chảy là

Q = m,nhiệt nóng chảy  , đơn vị J/kg

10 Sự đông đặc Là quá trình các chất chuyển từ thể lỏng sang thể rắn

11 Sự bay hơi

Nhiệt hóa hơi

Quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể khí (hơi) ở bề mặt chất lỏng gọi là sự bay hơi

Nhiệt lượng cần cung cấp để làm hóa hơi một

12 Sự ngưng tụ Quá trình chuyển từ thể khí (hơi) sang thể lỏng

gọi là sự ngưng tụ

13 Sự sôi

Nhiệt độ sôi của chất lỏng

Quá trình chuyển từ thể lỏng sang thể khí (hơi) ở

cả bên trong và trên bề mặt chất lỏng gọi là sự sôi Phụ thuộc vào áp suất của chất khí ở phía trên bề mặt chất lỏng

14 Độ ẩm tuyệt đối Độ ẩm tuyệt đối a của không khí là đại lượng đo

bằng khối lượng hơi nước tính ra gam

Trang 33

15 Độ ẩm cực đại Độ ẩm cực đại A là độ ẩm tuyệt đối của không khí

chứa hơi nước bão hòa, giá trị của

nó tăng theo nhiệt độ Đơn vị đo bằng g/m3

f =

A

a 100%

2.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu các ứng dụng vật lí trong dạy học chương

Bài 34- Chất rắn kết tinh Chất rắn vô định hình

Câu 1 Kim cương và than chì đều được cấu tạo từ nguyên tử cacbon Hãy giải thích tại sao tinh thể kim cương bền vững hơn tinh thể than chì ?

Câu 2 Dựa vào đặc điểm gì mà người ta thường dùng than chì để làm ruột bút chì ?[10]

Câu 3 Người ta thường làm cho đường tan trong nước rồi mới bỏ đá lạnh vào Tại sao không bỏ đá lạnh vào trước rồi bỏ đường sau?

Bài 36 Sự nở vì nhiệt của vật rắn

Câu 4 Tại sao cái đinh ốc bằng thép dễ vặn vào cái đai ốc bằng đồng khi hơ nóng cả hai, còn khi nguội lại rất khó tháo ra?

Câu 5 Để chế tạo các cực của bóng đèn điện, người ta không dùng đồng hoặc thép mà phải dùng hợp kim platint (thép pha plantin) Tại sao?[4]

Trang 34

Câu 6 Tại sao các thầy thuốc khuyên là không nên uống nước lạnh ngay sau khi ăn thức ăn nóng?

Câu 7 Muốn mở nút bấc ở miệng chai nhưng nút bịt quá kín, ta thường lấy miệng chai hơ lửa thì sẽ dễ mở hơn Hãy giải thích cơ sở vật lý của việc làm trên?

Câu 8 Khi lát gỗ làm sàn nhà người ta để hở một bên mà không ghép sát vào tường Tại sao phải làm như vậy ?

Câu 9 Muốn tháo một đinh vít bị gỉ lâu ngày ta nung nó bằng mỏ hàn Khi đinh nguội có thể tháo nó ra một cách dễ dàng Giải thích hiện tượng đó như thế nào?

Câu 10 Tại sao người ta lại đốt nóng đai sắt trước khi lắp nó vào bánh xe gỗ Câu 11 Tại sao những ống dẫn nước hay khí nóng phải có những đoạn uốn cong? Câu 12 Tại sao người ta không làm những thước đo chính xác bằng thép thường mà bằng thép sắt kền (gọi là inva)?

Câu 13 Tại sao những tường bêtông cốt sắt khi bị nóng hay lạnh, bêtông vẫn gắn chặt với sắt ?

Câu 14 Tại sao khi đúc các vật làm bằng kim loại, bao giờ người ta cũng phải làm khuôn lớn hơn vật cần đúc?

Câu 15 Tại sao giữa 2 đầu thanh ray của đường sắt lại phải có một khe hở ?

Độ rộng của khe hở này phụ thuộc vào những yếu tố gì và có thể xác định nó theo công thức như thế nào?[3]

Câu 16 Khi mua cốc thủy tinh, người ta thường chọn cốc mỏng mà không chọn cốc dày Hơn nữa trước khi rót nước sôi vào cốc , thường bỏ vào cốc thủy tinh một chiếc thìa bằng nhôm hoặc bằng thép inôc Tại sao?[4]

Câu 17 Ở 15oC, mỗi thanh ray của đường sắt dài 12 m Hỏi khe hở giữa hai thanh ray phải có độ rộng tối thiểu bằng bao nhiêu để các thanh ray không bị cong khi nhiệt độ tăng tới 50oC? (Cho hệ số nở dài của thanh ray  11.106 (K1))

Bài 37 Các hiện tượng bề mặt của chất lỏng

Câu 18 Tại sao muốn tẩy vết dầu mỡ dính trên mặt vải của quần áo, người ta lại đặt một tờ giấy lên chỗ mặt vải có vết dầu mỡ, rồi là nó bằng bàn là nóng Khi đó phải dùng giấy nhẵn hay giấy nhám ?[4]

Câu 19 Tại sao khi vớt thớt gỗ nếu ta cầm ngữa thớt thì sẽ khó vớt ra hơn so

Trang 35

Câu 20 Hãy giải thích vì sao những người thợ nề chỉ quét vôi lên tường khi tường đã rất khô ?[10]

Câu 21 Tại sao không thể viết bằng mực thông thường trên giấy dầu?

Câu 22 Các loại giấy thấm mực, giấy vệ sinh được chế tạo dựa trên cơ sở vật

Câu 25

a/ Mô tả được thí nghiệm về cách xác định hệ số căng bề mặt chất lỏng b/ Một vòng xuyến có đường kính ngoài là 44mm và đường kính trong là 40mm Trọng lượng của vòng xuyến là 45mN Lực bứt vòng xuyến này ra khỏi bề mặt của glixêrin ở 200C là 64,3mN Tính hệ số căng bề mặt của glixêrin ở nhiệt độ này.[3]

Bài 38 Sự chuyển thể của các chất

Câu 26 Tại sao khi nước chứa trong khay làm đá của tủ lạnh bắt đầu đông cứng thì lớp nước trên mặt bao giờ cũng đóng băng trước tiên ?[4]

Câu 27 Giải thích tại sao tay bạn bị dính vào khay đựng đá bằng kim loại ngay khi bạn lấy nó từ tủ lạnh ra ?

Câu 28 Nếu nước bị đổ ra sàn nhà, muốn cho sàn chóng khô thì ta quét cho nước loang rộng ra Vì sao vậy ?

Câu 29 Tại sao xung quanh ly nước đá có đọng những giọt nước?

Câu 30 Tại sao khi nhiệt độ của không khí thay đổi đột ngột, kim loại không

bị rạn nhưng đá lại bị rạn nứt?

Bài 39 Độ ẩm của không khí

Câu 31 Tại sao trong những ngày hè nóng bức thì vào ban đêm lại có nhiều sương hơn?[4]

Câu 32 Tại sao khi trời nóng ở nơi có nhiều đầm lầy ta cảm thấy khó chịu hơn là ở nơi khô ráo?

Trang 36

Câu 33 Buổi sáng sớm ta thường thấy nhiều sương, nhưng vào những ngày trời nóng nực thì buổi sáng hôm sau sẽ có nhiều sương hơn Hãy giải thích vì sao ?[10]

Câu 34 Khi trời nóng ta ngâm mình trong nước lại thấy nước mát hơn không khí Nhưng khi bước ra khỏi nước ta lại thấy không khí mát hơn nước Tại sao có điều lạ như vậy ?

Câu 35 Đối với cơ thể sống, sự ra mồ hôi có ý nghĩa gì ?

Câu 36 Vào những đêm trời đầy mây thì buổi sáng hôm sau, trời có sương không? Tại sao ?[10]

Câu 37 Căn cứ các số đo dưới dây của trạm quan sát khí tưởng, hãy cho biết không khí buổi sáng hay buổi trưa mang nhiều hơi nước hơn? Giải thích tại sao?

-Buổi sáng: Nhiệt độ 20oC, độ ẩm tỉ đối 85%

-Buổi trưa: Nhiệt độ 30oC, độ ẩm tỉ đối 65%

Khối lượng riêng của hơi nước bão hòa ở 20oC là 17,3 g/m3 và ở 30oC là 20,29 g/m3

2.2.2 Các phương tiện trực quang hỗ trợ dạy học chương “Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể” Vật lí 10 THPT

Tùy theo kiến thức của mỗi chương, GV cần xác định rõ các phương tiện, thiết bị thí nghiệm, tài liệu học tập cho HS, GV cần xác định những phương tiện nào cần thiết cho việc dạy học, ví dụ như tranh, máy chiếu, video… tùy theo điều kiện của từng trường

Thiết bị thí nghiệm cần thiết, dụng cụ thí nghiệm trong chương này ngoài các dụng cụ trang thiết bị sẵn có ở đây chúng tôi còn muốn cho HS làm quen và thấy được kiến thức vật lí rất gần gũi với đời sống hằng này, nên các bài học được xây dựng với một loạt các thí nghiệm nhỏ và đơn giản, các nhóm HS tự chuẩn bị dụng cụ học tập cho nhóm mình, rồi từng nhóm sẽ thực hiện trong việc tìm hiểu các kiến thức mới

Các tài liệu do GV cung cấp , hướng dẫn HS tìm tài liệu trên mạng, ở thư viện, sách, báo

Trang 37

Bài 34 CHẤT RẮN KẾT TINH CHẤT RẮN VÔ ĐỊNH HÌNH

Kim cương ngoài việc được dùng làm đồ trang sức, do tính chất vật lí rất cứng nên được dùng mà mũi khoan, dao cắt, đá mài

Các chất rắn đơn tinh thể như Si, Ge được ứng dụng trong các link kiện bán dẫn Các kim loại như vàng, bạc, đồng được dùng trong các bảng mạch điện tử của ngành công nghiệp hiện đại

Các kim loại và hợp kim được sử dụng phổ biến trong xây dựng, công nghiệp luyện kim, chế tạo máy

Trang 38

Các chất vô định hình như thuỷ tinh, các loại nhựa, cao su, … được dùng phổ biến trong nhiều ngành công nghệ khác nhau, do có nhiều đặc tính rất quý ( dễ tạo hình, không bị gỉ…

Đường (sugar) là chất rắn có thể tồn tại ở dạng tinh thể hoặc vô định hình Ví

dụ ở nhiệt độ vừa đủ đường chuyển sang trạng thái chất rắn vô định hình nhờ đó mà

ta có kể làm kẹo

Trang 39

Bài 36 SỰ NỞ VÌ NHIỆT CỦA VẬT RẮN

Trong xây dựng người ta luôn phải tính đến trường hợp giãn nở vì nhiệt, nếu không các công trình xây dựng có thể bị cong, vênh, nứt, phá hủy do sự giãn nở không đồng đều của các vật rắn khác nhau Trong ngành giao thông vận tải đường sắt, khi làm đường ray cho tàu chạy trong thời gian đầu các kỹ sư xây dựng đã bỏ qua tính chất vật lí biến dạng nhiệt của vật rắn, khiến cho các đoạn đường ray bị cong vênh làm mất an toàn và dẫn đến tai nạn tàu trệch bánh

Để khắc phục hiện tượng biến dạng nhiệt của vật rắn theo thời tiết, trên các đường ray thường bố trí các khe hở để thanh ray có thể giãn nở vì nhiệt mà không làm cong vênh đường ray

Trang 40

Không chỉ có các kim loại, vật liệu bê tông cốt thép cũng bị giãn nở vì nhiệt nên trên các nhịp cầu đường bộ người ta cũng phải tạo ra các khe hở trên cầu để cho cầu giãn nở vì nhiệt khi thời tiết thay đổi tránh bị cong, vênh và gãy

Bài 37 CÁC HIỆN TƯỢNG BỀ MẶT CỦA CHẤT LỎNG

Lực căng bề mặt của chất lỏng có xu hướng giữ cho diện tích mặt ngoài của chất lỏng là nhỏ nhất nên chất lỏng thường có dạng hình cầu nếu như không chịu tác dụng của trọng lực làm nó bẹp xuống

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Ngọc Hưng, PGS.TS. Phạm Xuân Quế, Nguyễn Xuân Thành ,Giáo trình điện tử “Sử dụng thí nghiệm mô phỏng trong dạy học vật lý ở trường phổ thông” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng thí nghiệm mô phỏng trong dạy học vật lý ở trường phổ thông
30. Thư viện pháp luật(2013), “Nghị quyết 29 NQ/TW khóa XI”, thuvienphapluat.vn,04/11/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 29 NQ/TW khóa XI”, "thuvienphapluat.vn
Tác giả: Thư viện pháp luật
Năm: 2013
31. Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp(2005), “Luật giáo dục” , moj.gov.vn,25/03/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục” , "moj.gov.vn
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp
Năm: 2005
1.Bộ Giáo dục và Đào tạo ( 2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 11 THPT môn vật lí, NXB Giáo dục Khác
2. Dương Trọng Bái, Tô Giang, Nguyễn Đức Thâm, Bùi Gia Thịnh (1994), Vật lý 10 (CCGD), NXB Giáo dục Khác
3. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang (2009), Vật lí 10, NXB Giáo dục Khác
4. Lương Duyên Bình, Nguyễn Xuân Chi, Tô Giang(2006), Bài tập Vật lí 10, NXB Giáo dục Khác
5. Nguyễn Hữu Châu ( 2006), Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học, NXB Giáo dục Khác
6. Hoàng Chúng ( 1983), Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục, NXB Giáo dục, Hà nội Khác
7. Phạm Đình Chương ( 2005), Thí nghiệm vật lí ở trường trung học phổ thông, NXB Giáo dục Khác
8.Phạm Thế Dân ( 2004), Phân tích chương trình vật lí phổ thông, Bài giảng chuyên đề cao học, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Khác
9.Thái Khắc Định( 2001 ). Xác suất và thống kê Toán, NXb Thống kê Khác
10. Nguyễn Thanh Hải ( 2006), Bài tập định tính và câu hỏi thực tế vật lí 10, NXB Giáo dục Khác
12. Nguyễn Đức Hiệp, Lê Cao Phan ( 2006 ), Bài tập cơ bản và nâng cao vật lí 10, NXB Giáo dục Khác
13. Trần Bá Hoành ( 2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học sư phạm Khác
14. Trần Ngọc Hợi ( chủ biên ), Phạm Gia Thiều ( 2006), Vật lí đại cương các nguyên lí và ứng dụng, tập 1: Cơ học và nhiệt học, NXB Giáo dục Khác
15.Nguyễn Mạnh Hùng ( 2001), Phương pháp giảng dạy vật lí trong trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Khác
16. Vũ Thanh Khiết, Ths Mai Trọng Ý, Vũ Thị Thanh Mai, Nguyễn Hoàng Kim ( 2006), Các bài toán chọn lọc vật lí 10 , NXB Giáo dục Khác
17. Lê Nguyên Long( 2000), Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả, NXB Giáo dục Khác
18.Lê Nguyên Long , Nguyễn Khắc Mão(2003), Vật lí, công nghệ đời sống, tập 1, NXB Giáo dục Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w