ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN ÁNH LOAN THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11 Chuyên ngành: L
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN ÁNH LOAN
THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC
PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Sinh học
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Trần Ánh Loan
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Thị Dạ Thủy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh trường Đại học sư phạm Huế đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Cảm ơn ban giám hiệu và tập thể thầy cô giáo trường Phổ thông iSchool Long Xuyên, trường THPT chuyên Thoại Ngọc Thầu, trường THPT Long Xuyên, trường THPT Thực hành Sư phạm, tỉnh An Giang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ 5
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Giả thuyết khoa học 8
4 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Đối tượng nghiên cứu 8
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
8 Cấu trúc của luận văn 10
9 Những đóng góp mới của đề tài 11
10 Lược sử vấn đề nghiên cứu 11
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 16
1.1.1 Kỹ năng và kỹ năng tự học 16
1.1.1.1 Kỹ năng 16
1.1.1.2 Tự học 17
1.1.1.3 Kỹ năng tự học 21
1.1.1.4 Vai trò của KNTH 25
1.1.2 Hoạt động học tập để rèn luyện cho học sinhKNTH 26
1.1.2.1 Hoạt động học tập 26
1.1.2.2 Hoạt động học tập rèn luyện KNTH cho học sinh 27
Trang 51.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 31
1.2.1 Thực trạng về rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học Sinh học của giáo viên ở một số trường THPT ở tỉnh An Giang 31
1.2.2 Thực trạng học Sinh học của học sinh ở một số trường THPT ở tỉnh An Giang 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP ĐỂ RÈN LUYỆN CHO HỌC SINH KỸ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ, SINH HỌC 11 43
2.1 Mục tiêu, cấu trúc nội dung phần SHCT, Sinh học 11 43
2.1.1 Mục tiêu của phần SHCT, Sinh học 11 43
2.1.1.1 Kiến thức 43
2.1.1.2 Kỹ năng 43
2.1.1.3 Thái độ 44
2.1.1.4 Năng lực 44
2.1.2 Cấu trúc nội dung của phần SHCT, Sinh học 11 44
2.1.3 Nhận xét về nội dung, cấu trúc Sinh học 11 48
2.2 Thiết kế và tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 50
2.2.1 Nguyên tắc thiết kế và tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 50
2.2.2 Thiết kế các HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 50
2.2.2.1 Quy trình thiết kế các HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 50
2.2.2.2 Các dạng HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 53
2.2.3 Tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 64
2.2.3.1 Quy trình tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 64
Trang 62.2.3.2 Vận dụng quy trình tổ chức HĐHT để rèn luyện cho học sinh KNTH
trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 66
2.3 Tiêu chí đánh giá KNTH của học sinh trong dạy học Sinh học 11 69
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 72
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 73
3.1 Mục đích thực nghiệm 73
3.2 Nội dung thực nghiệm 73
3.3 Phương pháp thực nghiệm 73
3.3.1 Chọn trường, lớp thực nghiệm 73
3.3.2 Bố trí tiến hành thực nghiệm 74
3.4 Xử lý kết quả thực nghiệm 74
3.5 Kết quả thực nghiệm 75
3.5.1 Phân tích định lượng 75
3.5.2 Phân tích định tính 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
1 Kết luận 81
2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ
BTTN Bài tập thí nghiệm BTTH Bài tập tình huống
SHCT Sinh học Cơ thể
THPT Trung học phổ thông THTN Thực hành thí nghiệm
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang
BẢNG
Bảng 1.1 Cấu trúc của KNTH 24
Bảng 1.2 Kết quả điều tra nhận thức của GV về việc rèn luyện KNTH của HS 32
Bảng 1.3 Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các HĐHT được GV thiết kế để rèn luyện KNTH cho HS 33
Bảng 1.4 Kết quả điều tra mức độ sử dụng các HĐHT được GV thiết kế để rèn luyện KNTH trong các khâu của quá trình dạy học Sinh học ở trường THPT 35
Bảng 1.5 Kết quả điều tra mức độ rèn luyện các KN thành phần của KNTH trong dạy học Sinh học ở trường THPT 36
Bảng 1.6 Kết quả điều tra về thực trạng GV sử dụng các hình thức để rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học Sinh học ở trường THPT 37
Bảng 1.7 Kết quả điều tra về thuận lợi và khó khăn khi thiết kế các HĐHT để rèn luyện KNTH cho HS trong dạy phần SHCT nói riêng và dạy Sinh học nói chung ở trường THPT 38
Bảng 1.8 Kết quả điều tra về việc tự học trong học tập môn Sinh học của HS ở trường THPT hiện nay 40
Bảng 2.1 Hệ thống kiến thức phần SHCT, Sinh học 11 45
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá việc rèn luyện KNTH (Nhóm KN thực hiện kế hoạch học tập) của HS trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 70
Bảng 2.3 Đánh giá việc rèn luyện KNTH (Nhóm KN thực hiện kế hoạch học tập) cho HS trong dạy học phần SHCT,Sinh học 11 71
Bảng 2.4 Các mức độ đạt được của KNTH trong thực nghiệm 72
Bảng 3.1 Bảng thống kê các bài thực nghiệm 73
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp kết quả các lần kiểm tra KNTH của HS 75
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp đánh giá tiêu chí mức độ qua 3 lần kiểm tra 76
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Biểu đồ biểu diễn các mức độ đạt được về KNTH của HS qua các lần kiểm tra 75
Trang 9Biểu đồ 3.2 Biểu đồ biểu diễn mức độ đạt được của tiêu chí 1 qua 3 lần kiểm tra 77
Biểu đồ 3.3 Biểu đồ biểu diễn mức độ đạt được của tiêu chí 2 qua 3 lần kiểm tra 77
Biểu đồ 3.4 Biểu đồ biểu diễn mức độ đạt được của tiêu chí 3 qua 3 lần kiểm tra 78
HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ các hình thức tự học 19
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của KN thực hiện kế hoạch học tập 25
Hình 2.1 Quy trình thiết kế HĐHT để rèn luyện KNTH 51
Hình 2.2 Cơ chế của hướng sáng 53
Hình 2.3 Chu kì sinh trưởng và phát triển ở cây một năm 54
Hình 2.4 Cung phản xạ đầu gối 55
Hình 2.5 Sơ đồ Sinh trưởng ở thực vật 56
Hình 2.6 Sinh trưởng và phát triển ở thực vật 58
Hình 2.7 Sinh trưởng và phát triển ở động vật (ếch) 58
Hình 2.8 TN về cảm ứng của cây đậu 59
Hình 2.9 TN ở củ hành tây 59
Hình 2.10 Thí nghiệm về sự sinh trưởng của cây ngô 59
Hình 2.11 Thí nghiệm ở cây đậu 60
Hình 2.12 Thí nghiệm ở cây ngô 60
Hình 2.13 Cảm ứng ở thực vật 62
Hình 2.14 Chong đèn cho vườn cúc 63
Hình 2.15 Cá lóc “biết bay” 64
Hình 2.16 Quy trình tổ chức HĐHT để rèn luyện KNTH 65
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, sự xuất hiện nền kinh tế toàn cầu và nền kinh tế tri thức đã đưa xã hội loài người sang tới những kỉ nguyên mới, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên chặng đường tranh đua trí tuệ ở thế kỷ XXI đã và đang đòi hỏi sự đổi mới của giáo dục, trong đó có sự đổi mới cơ bản về phương pháp dạy và học Theo quyết số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ cũng đã nêu rõ chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh (HS) học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái
gì qua việc học Để đảm bảo điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháo dạy học (PPDH) theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng (KN), hình thành năng lực (NL) và phẩm chất
Đổi mới PPDH là nhiệm vụ quan trọng, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tạo ra những con người mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay đổi mới PPDH được triển khai theo hướng phát triển NL Theo định hướng này, giáo dục không chỉ trang bị cho học sinh kiến thức, KN các môn học mà còn chú ý tới những NL chung cần thiết cho nhiều lĩnh vực như NL hợp tác, giao tiếp, giải quyết vấn đề, NL tự học Trong đó NL tự học là một trong những NL quan trọng
và cốt lõi cần phải có ở mỗi cá nhân Việc rèn luyện kỹ năng tự học (KNTH) là nền tảng để hình thành và phát triển NL tự học
Chương trình Sinh học 11 ở trung học phổ thông (THPT) nghiên cứu Sinh học cơ thể (SHCT), một cấp độ tổ chức trong hệ thống sống Nội dung chủ yếu của phần này đề cập đến các hoạt động sống, các quá trình sinh học cơ bản ở mức cơ thể như chuyển hóa vật chất và năng lượng, tính cảm ứng, sinh trưởng và phát triển,
Trang 11sinh sản trong cơ thể động vật, thực vật; ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái lên các quá trình đó và các nguyên tắc ứng dụng vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống Thành phần kiến thức chủ yếu là kiến thức sinh lý, sinh thái, kiến thức ứng dụng Để phát huy tính tích cực của HS trong học tập, sách giáo khoa (SGK) có những câu lệnh để
tổ chức các hoạt động học tập (HĐHT) cho HS Tuy nhiên, các HĐHT trong SGK còn mang tính đơn giản, chưa có tính hệ thống, chưa phát huy được sự hứng thú học tập;vì vậy, việc rèn luyện KNTH còn hạn chế Do đó, việc nghiên cứu thiết kế và tổ chức các HĐHT để rèn luyện các KN cho HS, đặc biệt là KNTH là vấn đề thiết thực, đáp ứng được chủ trương đổi mới dạy học của Bộ GD & ĐT
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thiết kế các hoạt động học tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong dạy học phần Sinh học Cơ thể, Sinh học 11”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thiết kế và tổ chức các HĐHT trong dạy học phần SHCT nhằm rèn luyện cho HS KNTH, góp phần nâng cao chất lượng dạy học phần SHCT, Sinh học 11
3 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế các HĐHT theo định hướng rèn luyện KNTH có chất lượng và
tổ chức sử dụng theo một quy trình hợp lý thì sẽ phát triển KNTH của HS trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thiết kế và sử dụng các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH (chủ yếu rèn luyện nhóm KN thực hiện kế hoạch học tập) trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, khâu củng cố và hoàn thiện kiến thức trong dạy học chương 2, 3 và 4 phần SHCT, Sinh học 11 cơ bản
5 Đối tượng nghiên cứu
Các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, khâu củng cố và hoàn thiện kiến thức trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
Trang 126 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan tới dạy học để rèn luyện cho HS KN, các
HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH
6.2 Điều tra thực trạng về phương pháp và các biện pháp dạy học để rèn luyện cho
HS KN nói chung và rèn luyện KNTH nói riêng trong dạy học Sinh học ở THPT
6.3 Phân tích mục tiêu, cấu trúc, nội dung phần SHCT, Sinh học 11 làm cơ sở cho
việc thiết kế các dạng HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH
6.4 Nghiên cứu quy trình thiết kế các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy
học phần SHCT, Sinh học 11 Vận dụng quy trình để thiết kế các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
6.5 Nghiên cứu quy trình tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy
học phần SHCT, Sinh học 11 Vận dụng quy trình để tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
6.6 Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá mức độ để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy
học phần SHCT, Sinh học 11
6.7 Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả việc sử dụng các HĐHT để rèn
luyện cho HS KNTH đã xây dựng được trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Nhà nước về công tác giáo dục
- Nghiên cứu các tài liệu về đổi mới giáo dục như: dạy học theo tiếp cận NL, HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến rèn luyện KN nói chung và KNTH nói riêng
- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học phần SHCT, Sinh học 11 ở trường THPT
7.2 Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực mình đang nghiên cứu, lắng nghe sự tư vấn của các chuyên gia để định hướng cho việc triển khai đề tài
Trang 137.3 Phương pháp điều tra
- Đối với giáo viên (GV): Phỏng vấn, sử dụng phiếu điều tra, dự giờ nhằm tìm hiểu thực trạng về nhận thức và thực trạng tổ chức hoạt động để rèn luyện cho
HS KNTH trong các khâu của quá trình dạy học
- Đối với HS: Phỏng vấn, sử dụng phiếu điều tra nhằm tìm hiểu về nhận thức
và thực trạng sử dụng các hình thức tự học của HS
7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để đánh giá KNTH ở HS, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ tiêu chí Căn cứ vào các tiêu chí được đặt ra để tiến hành đo mức độ đạt được của KN theo thời gian Tiến hành thực nghiệm theo mục tiêu (không có lớp đối chứng) trên 4 lớp 11 ở 2 trường THPT trên địa bàn tỉnh An Giang
7.5 Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng một số công cụ toán học để xử lý các kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm Tham số sử dụng để xử lý: phần trăm (%)
- Thu thập và thống kê số liệu từ kết quả của tất cả các lần tổ chức thực nghiệm
Tỉ lệ phần trăm số HS
Số HS đạt được ở các mức độ thực nghiệm Tổng số HS được thực nghiệm
Trong đó số HS đạt được ở các mức độ thực nghiệm có thể là:
+ Số HS chưa đạt
+ Số HS đạt ở mức thấp
+ Số HS đạt ở mức cao
+ Số HS đạt ở các tiêu chí (mứcA, mức B hoặc mức C)
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thiết kế và tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 149 Những đóng góp mới của đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về KNTH và HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH
- Xác định quy trình thiết kế các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
- Xây dựng các dạng HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH phần SHCT, Sinh học 11
- Xác định quy trình tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
- Xây dựng bảng tiêu chí đánh giá các mức độ rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11
10 Lược sử vấn đề nghiên cứu
10.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Từ thời cổ đại, vai trò của tự học đã bắt đầu được quan tâm
Khổng tử (551-479 trước Công nguyên), nhà tư tưởng nổi tiếng và là nhà sư phạm vĩ đại của Trung quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc tự học, tự luyện, tu nhân, chú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh Đề cập đến việc học, Khổng Tử xác định “Học nhi thời tập chí”, việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt những điều đã học Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duy trong học tập, ông cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấn đề “Học nhi bất tư vong, tử nhi bất học tất đãi” ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau
Môntênhơ (1553 – 1592) được xem là “Ông tổ sư phạm” ở châu Âu, đã quan niệm người thầy giáo phải rèn luyện cho HS thói quen biết phán đoán, chứ không phải cứ nhận lấy những ý kiến sai lầm của người ta, học trò phải dựa trên những điều đã học để xây dựng ý tưởng riêng
Đến thế kỉ XVII, J.A.Comeski – nhà giáo dục học vĩ đại của thế giới đã nghiên cứu phương pháp cho phép GV giảng ít hơn, HS hoạt động nhiều hơn, bồi
Trang 15dưỡng tinh thần độc lập trong quan sát, đàm thoại và ứng dụng kiến thức vào thực tiễn Ông đề ra một số nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực của HS mà tới nay vẫn còn nguyên giá trị như đảm bảo tính trực quan trong dạy học, đi từ cái chung đến cái riêng, tôn trọng đặc điểm đối tượng
Đến thế kỉ XIX, Krupxcaia (1869 – 1939) đã quan tâm rất nhiều đến việc giúp đỡ mọi người phương pháp tự học Đặc biệt, bà đã chỉ ra phương pháp giúp việc tự đọc sách hiệu quả nhất
Từ những năm 30 của thế kỉ XX, vấn đề tự học cũng được quan tâm ở châu
Á, T.Makiguchi – nhà sư phạm nổi tiếng của Nhật Bản cho rằng: “Giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt đến hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng”
Các nghiên cứu trên cho thấy mặc dù quan điểm về tự học đã được hình thành rất sớm, tuy nhiên khi xét về phương hướng giáo dục của các nước trên thế giới về rèn luyện KNTH cho HS thì PPDH tích cực có mầm mống từ thế kỉ XIX và được phát triển từ những năm 20 ở Anh, Liên Xô (cũ), Pháp, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cộng hòa dân chủ Đức và phát triển mạnh từ những năm 70 của thế kỉ XX như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc…
Vào những năm 1920, ở Anh “PPDH tích cực” bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và sử dụng trong trường học Pháp các “nhà trường mới” được hình thành với mục tiêu dạy học phát triển NL ở tr em và học tập tự quản Tương tự, đổi mới PPDH cũng diễn ra ở Ba Lan, Đức, Liên Xô (cũ), Pháp, Tiệp Khắc… Như vậy, PPDH thời kỳ này đã chú ý tới vai trò tích cực của HS và GV có vai trò cố vấn trong hoạt động tích lũy tri thức, phát triển NL tư duy của HS
Vào những năm 1970, Mỹ đã vận dụng phương pháp học tập theo nhóm kết hợp với việc cung cấp các phiếu hướng dẫn để HS tiến hành HĐHT tự lực, theo nhịp độ phù hợp với NL
Hàn quốc từ thập niên 90 đến nay, giáo dục hướng vào xã hội công nghiệp luôn tập trung vào phát triển NL tư duy, NL giải quyết vấn đề và tính sáng tạo Chính vì vậy, Hàn Quốc có quyền tự hào là một trong những quốc gia có nền giáo dục phát triển mạnh trên thế giới về cả chất lượng lẫn số lượng
Trang 16Nhật, Thái Lan cũng đang tiến hành cải cách giáo dục với mục tiêu là giảm giờ lên lớp, sách giáo khoa (SGK) viết theo lối chú trọng vào giải quyết vấn
đề, chú trọng thực hành, giảm thời lượng dành cho các môn chính, các trường tự chọn nội dung và phương pháp dạy cho “môn học tổng hợp” nhằm giảm bớt căng thẳng, tạo không khí học tập nghiên cứu tự nguyện, thoải mái không gò bó cho HS
Gần đây trong khuyến cáo của Unesco về “Giáo dục cho thế kỷ XX1” đã khẳng định bốn trụ cột của giáo dục: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình Trên cơ sơ này, một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra những
NL học tập cần thiết là NL sáng tạo, NL hợp tác, NL tự khẳng định mình, tự lập trong học tập và trong cuộc sống
Như vậy, vấn đề đổi mới PPDH phát huy tính tích cực của HS, trong đó nhấn mạnh đến để rèn luyện cho HS KNTH là xu hướng phát triển giáo dục của nhiều nước trên thế giới Với những PPDH mới này đã góp phần nâng cao khả năng lĩnh hội kiến thức của HS, đồng thời góp phần đào tạo con người có đủ trình độ NL tham gia vào các hoạt động xã hội và lao động sản xuất
10.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tự học Ngày 21-7-1956, nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân Học trong nhà trường cũng như học ở ngoài đời phải “Lấy tự học làm cốt”, khi đã có niềm đam mê thì tự mình sẽ chủ động học hỏi, nghiên cứu không ngừng nghỉ.”
Trong những năm cuối của thập niên 1960, Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn là người đề xuất phong trào "Dạy tốt - học tốt" tại các khoa trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội, xây dựng phong cách giảng dạy mới, phong cách học tập mới, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Trong tuyển tập "Bàn về giáo dục Việt Nam", ông đã viết một số quan điểm của mình, ông quan niệm " Tư duy và nhân
Trang 17cách quan trọng hơn kiến thức Người thầy dở là người chỉ đem kiến thức cho học trò, người thầy giỏi là người biết đem đến cho họ cách tự tìm ra kiến thức "
Từ đó đến nay, vai trò của phương pháp tổ chức tự học được quan tâm nghiên cứu Các tác giả như Nguyễn Kỳ, Lưu Xuân Mới, Trần Bá Hoành, Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lê Công Triêm, Lê Đình, Trần Huy Hoàng,… đã xây dựng được một cơ sở lí luận khá hoàn chỉnh về tự học, xem tự học là một hình thức, một phương pháp học tập cơ bản và cốt lõi đối với người học
Những năm gần đây vấn đề tự học được nghiên cứu sâu hơn và có nhiều tác giả tiếp cận, điển hình có các đề tài liên quan như:
Võ Ngọc Bình (2013) với đề tài nghiên cứu “Thiết kế và sử dụng phiếu học tập
để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong dạy học phần Di truyền học – Sinh học
12, trung học phổ thông” đã đề xuất quy trình rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học thông qua phiếu học tập trong dạy học phần Di truyền học – Sinh học 12 [2]
Trần Thị Thúy Hoanh (2014), “Sử dụng phiếu học tập để tổ chức học sinh
tự học phần Sinh thái học, Sinh học 12” đã đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng phiếu học tập để rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự học trong dạy học phần Sinh thái học [14]
Nguyễn Thị Thanh Thảo (2015) với nghiên cứu ”Sử dụng phiếu học tập để rèn luyện kỹ năng tự học cho học viên giáo dục thường xuyên trong phần sinh học
vi sinh vật, sinh học 10” đã xác định cấu trúc của kỹ năng tự học và đề xuất các dạng phiếu học tập để rèn luyện KNTH cho học viên giáo dục thường xuyên trong phần sinh học vi sinh vật [22]
Đặng Thị Dạ Thủy, Hà Thị Thanh Nhàn (2017) với nghiên cứu “Tổ chức các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học phần sinh học tế bào, sinh học 10” đã đưa ra các dạng hoạt động học tập, quy trình thiết kế các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học phần sinh học tế bào [26]
Đặng Thị Dạ Thủy, Nguyễn Quỳnh Trang (2016) với nghiên cứu “Thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học phần sinh vật và môi trường, sinh học 9” đã xây dựng các dạng hoạt động
Trang 18học tập và tổ chức dạy học các dạng hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề của học sinh [27]
Đặng Thị Dạ Thủy, Phan Thị Hồng Liên (2018), với nghiên cứu “ Thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học Sinh học 6” đã đề xuất các dạng hoạt động học tập và tổ chức dạy học các dạng hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh [25]
Như vậy, việc sử dụng và tổ chức các HĐHT để rèn luyện cho HS KNTH đã được nghiên cứu nhiều nhưng việc nghiên cứu thiết kế các HĐHT rèn luyện cho HS KNTH trong dạy học phần SHCT, Sinh học 11 vẫn chưa được nghiên cứu Trong phạm vi đề tài của mình, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, đồng thời sẽ tập trung khai thác và thiết kế các hoạt động rèn luyện cho HS KNTH khi dạy học phần SHCT nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Sinh học của HS ở trường THPT hiện nay
Trang 19NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Theo nghiên cứu của Trần Bá Hoành (1996): “KN là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn KN đạt tới mức hết sức thành thạo khéo léo trở thành kỹ xảo” [16]
Theo Phạm Viết Vượng (2000), KN là khả năng hành động, khả năng thực hiện thành công các loại công việc đã được học tập Trình độ chất lượng của KN được đánh giá bằng chính sản phẩm mà HS làm ra [33]
Nguyễn Quang Uẩn (2007) cho rằng: “KN là hệ thống những hành động đảm bảo cho con người sẵn sàng và có NL hoàn thành công việc có kết quả.” [31]
Theo Nguyễn Đình Chỉnh: “KN là một thao tác đơn giản hoặc phức tạp mang tính nhận thức hoặc mang tính hoạt động chân tay, nhằm thu được một kết quả”
Theo quan niệm của A.V Pêtrôvxki, KN là cách thức hành động dựa trên cơ
sở tri thức KN được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện thay đổi
Như vậy, KN ở đây được biểu hiện như một hoạt động trí tuệ, là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được vào thực tiễn Trong KN có cả những KN nhận thức và những KN hoạt động chân tay
KN nhận thức: là những hoạt động đòi hỏi công việc biến đổi một thông tin được cung cấp hoặc không được cung cấp
KN hoạt động chân tay: là hoạt động chủ yếu bằng động tác và đòi hỏi sự làm chủ cảm giác vận động (KN viết, vẽ, làm đồ dùng dạy học,…)
Trang 20b Vai trò của kỹ năng
KN là một trong ba tiêu chí để đo thành quả của quá trình giáo dục và chất lượng đào tạo Trong khi thực hiện nhiệm vụ dạy học cần thông suốt quan điểm: dạy học không chỉ trang bị cho HS vốn kiến thức mà còn phải rèn luyện cho các em
KN cơ bản tức là rèn luyện KN được xem như một nhiệm vụ được ưu tiên song hành với việc trang bị kiến thức Kiến thức là cơ sở để thực hiện hai nhiệm vụ còn lại Ngược lại sự hình thành KN, kỹ xảo là cơ sở của việc nắm tri thức và cũng là điều kiện để nắm tri thức sâu hơn, tiếp tục lĩnh hội những tri thức, KN mới Xét về khía cạnh tâm lý học tri thức, KN, kỹ xảo chính là chất liệu để tạo ra các NL tương ứng Nên KN là yếu tố không thể tách rời trong mục tiêu đào tạo Vì vậy rèn luyện
KN có vai trò quyết định rất lớn đến chất lượng dạy học
Trong dạy học Sinh học, việc rèn luyện KN cho HS có tầm quan trọng rất lớn Nó vừa đáp ứng tính đặc thù của môn học vừa là công cụ để người học đi sâu khám phá bản chất của hiện tượng, quá trình sinh học Có thể nói: KN là chìa khóa vạn năng giúp cho người học mở được cánh cửa tri thức và tự chiếm lĩnh nó theo cách riêng của mình
1.1.1.2 Tự học
a Khái niệm
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm tự học
Từ điển giáo dục học đã định nghĩa:“Tự học là quá trình tự mình lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện KN thực hành không có sự hướng dẫn của giáo viên và
sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo” theo từ điển giáo dục [12]
Theo Nguyễn Cảnh Toàn (1997), “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các NL trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học muốn hiểu biết một kiến thức nào đó và bằng nổ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức nào đó” [29]
Nguyễn Kỳ (1998) đã đưa ra khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện
Trang 21mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [19]
Theo Đặng Vũ Hoạt: “Tự học là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và KN do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, hoặc không theo chương trình và SGK đã quy định Tự học có quan hệ chặt chẽ với quá trình dạy học, nhưng nó có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân”
Như vậy, tự học ở đây không chỉ được hiểu là việc người học tự nghiên cứu tài liệu mà còn được hiểu là việc người học biến những kiến thức thu nhận được thành của mình Do đó, để tự học đạt hiệu quả, người học cần phải tự giác, tích cực,
nỗ lực tối đa để chiếm lĩnh và làm chủ kiến thức Tự học sẽ là biện pháp tối ưu để duy trì độ bền kiến thức của người học
Từ đó, chúng tôi rút ra rằng tự học có các đặc tính cơ bản sau:
- Tính cá nhân cao: Nội dung, phương pháp, hình thức tự học của mỗi người
là khác nhau
- Tính độc lập cao: Người học luôn giữ vai trò chủ đạo
- Tính tự giác cao: vì động cơ tự học được sinh ra từ chính bản thân người học
có nhiều kiến thức mới, dễ chán nản hoặc không có kế hoạch học phù hợp…
Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Người học tự tìm hiểu thông tin qua sách, báo, giáo trình, từ đó hình thành tư duy và KN Đây là cách học mà chúng ta cần chú ý vì cách học này giúp ta xây dựng cách học tập suốt đời Cách học này cũng
Trang 22gặp phải nhược điểm là trong lúc tự nghiên cứu gặp khó khăn, vướng mắc bản thân không tự giải quyết được
Tự học có GV ở xa hướng dẫn qua phương tiện truyền thông: Đây là cách học mà người học có sự trao đổi, hướng dẫn của GV từ xa trong việc giải quyết tình huống, làm bài, kiểm tra, đánh giá Tuy nhiên, người học cũng gặp khó khăn là không tiếp xúc trực tiếp với GV để trao đổi những thông tin, kiến thức vướng mắc
Tự học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV (hay còn gọi là tự học có hướng dẫn): Người học học theo tài liệu hướng dẫn GV đưa trước và có sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp của GV Hình thức tự học có hướng dẫn GV có thể tổ chức dạy học ở hai hình thức (hình 1.1):
- Tự học ở nhà: GV định hướng một cách gián tiếp về phương pháp tự học và nội dung kiến thức nghiên cứu HS chủ động sắp xếp kế hoạch, phát huy tính chủ động, tích cực để hoàn thành những yêu cầu mà GV yêu cầu
- Tự học trên lớp: GV hỗ trợ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho nghiên cứu HS
tự chiếm lĩnh tri thức mới HS là chủ thể của quá trình nhận thức, tự giác, tích cực sáng tạo tham gia vào quá trình học tập
Hình 1.1 Sơ đồ các hình thức tự học
Trang 23c Vai trò của tự học
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và cùng với nó là
sự bùng nổ thông tin, thì đối với HS nói riêng và người học nói chung việc tự học
có vai trò vô cùng quan trọng
Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệu quả học tập
Khi tự học, người học phải vận dụng các NL trí tuệ tới mức tối đa để tự mình giải quyết vấn đề Điều này đòi hỏi người học tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động não từ đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu kiến thức sâu sắc hơn Lênin đã viết:
“Không có sự lao động tự lực thì không có thể tìm thấy chân lí trong bất kì vấn đề
hệ trọng nào và ai sợ tốn công sức thì không sao tìm ra sự thật được”
Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học Như đã nói, kết quả tự học bao giờ cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến kiến thức chung của nhân loại thành kiến thức riêng của mình Vì thế người biết tự học là người có khả năng thu nhận và xử lý thông tin, biết vận dụng thông tin và biết tự kiểm tra, đánh giá HĐHT của mình Vì thế người biết tự học là người có khả năng
tự giải quyết vấn đề tốt, có khả tự làm giàu kiến thức cho mình
Tự học góp phần rèn luyện KN, cách học
Khi tự học các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành KN, phương pháp học cho người học Tự học là cốt lõi của cách học Bác Hồ đã từng nói: “Về cách học phải lấy tự học làm cốt”
Tự học có vai trò trong rèn luyện tư duy
Khi tự học, người học phải sử dụng các thao tác tư duy để giải quyết vấn đề,
vì thế tư duy được rèn luyện một cách thường xuyên Các nhiệm vụ đặt ra ngày càng cao với lượng kiến thức, KN, NL thu được ngày càng nhiều sẽ góp phần nâng cao dần khả năng tư duy của HS
Tự học có vai trò to lớn trong sự phát triển toàn diện ở mỗi cá nhân
Ngày nay, nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú từ sách, mạng internet, băng, đĩa CD… nên nếu có KN tự học tốt thì sẽ tận dụng được nguồn thông tin phong phú, đa dạng đó trong việc thu nhận kiến thức cho mỗi cá nhân
Trang 24Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, tự học là điều kiện quyết định sự thành công của mỗi người
Như vậy, việc rèn luyện cho HS KNTH là điều rất cần thiết và vô cùng quan trọng đối với HS trong quá trình học tập ở nhà trường và trong cuộc sống hàng ngày
1.1.1.3 Kỹ năng tự học
1.1.1.3.1 Khái niệm
Theo Nguyễn Cảnh Toàn (2001), “KNTH là khả năng thực hiện một cách có kết quả các hành động tự học, các thao tác tự học bằng cách lựa chọn và thực hiện các phương thức hành động phù hợp với hoàn cảnh nhất định nhằm đạt được mục đích nhiệm vụ học tập đặt ra” [28]
Nguyễn Thị Hà (2008) cho rằng “KNTH là khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống” [11]
Như vậy, có thể hiểu KNTH là khả năng thực hiện một cách có kết quả các hành động tự học, các thao tác tự học nhằm đạt được mục đích nhiệm vụ học tập đặt ra
1.1.1.3.2 Các kỹ năng tự học cần rèn luyện cho HS
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, các KNTH gồm có các KN sau:
KN định hướng
Trước tiên, để quá trình tự học diễn ra thành công người học cần thiết lập cơ
sở định hướng của hành động Đó là hệ thống định hướng và chỉ dẫn mà chủ thể có thể sử dụng nó để thực hiện một hành động xác định nào đó Nó có chức năng nhận thức đối tượng, vạch kế hoạch, kiểm tra và điều chỉnh hành động theo kế hoạch Để
có được cơ sở định hướng, người học phải trả lời được các câu hỏi:
- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao…
- Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt qua loa…
- Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân
KN lập kế hoạch học tập
Trang 25Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ sở bộ khung đã được thiết lập đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách
dễ dàng Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một số điểm sau:
- Thứ nhất: người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể
là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn
cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình
- Thứ hai: khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó
- Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể tiến hành thông qua các KN ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
- Vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch…
- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia s thông tin qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức
KN tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được NL học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì
Trang 26mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có KN này, người học cần:
- Tự trả lời câu hỏi trong SGK bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tài hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục
- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè
- Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập tự bản thân tìm kiếm sau đó tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm [29]
Hoạt động tự học rất đa dạng, dạng phổ biến nhất là hoạt động làm việc độc lập với SGK Có nhiều quan niệm khác nhau về cách phân loại KN làm việc với SGK Theo Đinh Quang Báo và Nguyễn Đức Thành, trong tài liệu phương pháp giảng dạy Sinh học đã nêu ra một số KN cơ bản của HS khi làm việc với SGK:
KN tách nội dung bản chất từ tài liệu đọc được
KN phân loại tài liệu đọc được
KN trả lời câu hỏi dựa trên tài liệu đọc được
ý, KN lập bảng, KN lập sơ đồ
Nhóm KN làm việc với kênh hình trong SGK: KN khai thác thông tin tranh ảnh trong SGK, KN khai thác thông tin sơ đồ trong SGK, KN khai thác thông tin đồ thị trong SGK, KN khai thác thông tin từ bảng trong SGK, KN vận dụng thông tin
từ SGK [5]
Các KN này là KN thành phần nằm trong nhóm KN thực hiện kế hoạch học tập, KN tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Trang 27Từ các nghiên cứu trên, cấu trúc của KNTH bao gồm các KN thành phần sau (Bảng 1.1):
Bảng 1.1 Cấu trúc của KNTH Các KN thành phần
- Phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác
KN thực hiện kế hoạch học tập bao gồm:
- Tiếp cận thông tin
- KN tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (SGK, tài liệu hướng dẫn học, tra cứu từ internet, làm thí nghiệm…)
- KN xử lý thông tin: Quá trình này có thể tiến hành thông qua việc HS nghiên cứu tài liệu học tập (kênh hình, kênh chữ) thực hiện các KN tư duy phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa… từ đó rèn luyện các KN làm việc với tài liệu học tập như KN trả lời câu hỏi; KN đọc và phân tích bảng biểu, đồ thị, sơ đồ; KN tóm tắt; KN lập bảng; KN lập sơ đồ; KN lập bản đồ tư duy; KN phân tích lý giải kết quả thí nghiệm (TN); KN thực hành TN…
Trang 28- KN vận dụng tri thức thông tin vào thực tiễn: thể hiện qua việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như KN thực hành
TN, thảo luận, KN xử lí các tình huống trong thực tiễn cuộc sống, viết bài thu hoạch, thực hiện dự án…
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của KN thực hiện kế hoạch học tập
Như vậy, việc rèn luyện cho người học KNTH là điều rất cần thiết và vô cùng quan trọng trong quá trình học tập ở nhà trường và trong cuộc sống hàng ngày
Trang 291.1.2 Hoạt động học tập để rèn luyện cho học sinhKNTH
1.1.2.1 Hoạt động học tập
Theo tâm lý học, HĐHT là hoạt động chuyên hướng vào sự tái tạo lại tri thức
ở người học Sự tái tạo ở đây hiểu theo nghĩa là phát hiện lại Sự thuận lợi cho người học ở đây đó là con đường đi mà để phát hiện lại đã được các nhà khoa học tìm hiểu trước, giờ người học chỉ việc tái tạo lại Và để tái tạo lại, người học không
có cách gì khác đó là phải huy động nội lực của bản thân (động cơ, ý chí,…), càng phát huy cao bao nhiêu thì việc tái tạo lại càng diễn ra tốt bấy nhiêu Do đó hoạt động học làm thay đổi chính người học Ai học thì người đó phát triển, không ai học thay thế được, người học cần phải có trách nhiệm với chính bản thân mình, vì mình trong quá trình học Mặc dù hoạt động học có thể cũng có thể làm thay đổi khách thể [30]
Theo I.B.Intenxon, học tập là loại hoạt động đặc biệt của con người có mục đích nắm vững những tri thức, KN, kỹ xảo và các hình thức nhất định của hành vi
Nó bao gồm cả ý nghĩa nhận thức và thực tiễn Thông qua HĐHT giúp hình thành ở
cá nhân những tri thức khoa học, KN mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn A.N.Leonchiev, P.Iaganperin và N.phataludina lại coi học tập xuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động A.V.petrovxki lại cho rằng HĐHT là vấn đề phẩm chất tư duy và kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập [21]
Lê Văn Hồng (2001) khi nghiên cứu về HĐHT đã cho rằng HĐHT là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác và lĩnh hội những tri thức, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định [17]
Theo Trần Bá Hoành (2006), HĐHT là một chuỗi hành động và thao tác trí tuệ hoặc cơ bắp hướng tới mục tiêu xác định của bài học [15]
Tóm lại có thể khái quát: HĐHT là một hoạt động có chủ đích của chủ thể nhằm lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, KN, kỹ xảo, qua đó giúp chủ thể phát triển
và hoàn thiện bản thân
Trang 301.1.2.2 Hoạt động học tập rèn luyện KNTH cho học sinh
a Khái niệm
Dựa theo định nghĩa về KNTH, có thể hiểu HĐHT rèn luyện KNTH là HĐHT nhằm rèn luyện các KN xác định mục tiêu học tập, KN lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập, KN tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm về việc học của mình
b Các dạng hoạt động học tập rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh
Có thể chia HĐHT thành nhiều dạng khác nhau, tùy theo NL tư duy của người học, tùy theo mục đích dạy học:
* Theo NL tư duy: Theo Trần Bá Hoành (2006), có nhiều dạng HĐHT từ trình độ thấp đến trình độ cao, tùy theo NL tư duy của người học Nhìn chung, các dạng HĐHT để HS tự khám phá tìm tòi kiến thức có thể bao gồm: (1) Hoạt động trả lời câu hỏi, (2) Hoạt động điền từ, điền bảng, điền tranh câm, (3) Hoạt động lập bảng biểu, đồ thị, sơ đồ, bản đồ, đọc và phân tích, (4) Hoạt động làm thí nghiệm: đề xuất giả thuyết, phân tích nguyên nhân, thông báo kết quả, (5) Hoạt động thảo luận, tranh cãi về một vấn đề nêu ra, (6) Hoạt động giải bài toán nhận thức, bài tập tình huống, (7) Hoạt động nghiên cứu ca điển hình, điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp cải thiện thực trạng, thực nghiệm giải pháp mới, (8) Hoạt động làm bài tập lớn, đề
án, luận văn, luận án, [15]
*Theo mục đích dạy học, có thể có các dạng HĐHT dựa vào các khâu của quá trình dạy học Dạng HĐHT sử dụng trong khâu nghiên cứu tài liệu mới Trong khâu này có các dạng hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiến thức, dạng HĐHT sử dụng trong khâu củng cố, nâng cao hoàn thiện kiến thức Trong khâu này
có dạng hoạt động luyện tập, hoạt động vận dụng, hoạt động tìm tòi mở rộng [4]
- Hoạt động khởi động:Mục đích của hoạt động này là tạo tâm thế học tập cho HS, giúp HS ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú học bài mới GV sẽ tạo tình huống học tập nhằm làm bộc lộ "cái" HS đã biết, bổ khuyết những gìcá nhân
HS còn thiếu, giúp HS nhận ra "cái" chưa biết và muốn biết thông qua hoạt động này Từ đó, giúp HS suy nghĩ và xuất hiện những quan niệm ban đầu của mình về vấn đề sắp tìm hiểu, học tập
Trang 31Nhiệm vụ học tập trong hoạt động "Khởi động" cần đảm bảo rằng HS không thể giải quyết trọn vẹn với kiến thức, KN cũ mà cần phải học thêm kiến thức, KN mới
- Hoạt động hình thành kiến thức: Mục đích của hoạt động nàygiúp HS lĩnh hội được kiến thức, KN mới và đưa các kiến thức, KN mới vào hệ thống kiến thức,
KN đã có của bản thân
- Hoạt động luyện tập: Mục đích của hoạt động nàygiúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, KN vừa lĩnh hội được.Từ đó áp dụng trực tiếp kiến thức, KN đã biết để giải quyết các tình huống/vấn đề trong học tập
- Hoạt động vận dụng kiến thức: Mục đích của hoạt động này là giúp HS vận dụng được các kiến thức, KN để giải quyết các tình huống/vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống Khơi gợi khả năng tư duy của HS trước một vấn đề, HS có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau
- Hoạt động tìm tòi mở rộng: Mục đích của hoạt động nàygiúp HS không bao giờ bằng lòng, thỏa mãn với những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trường còn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học tập, học tập suốt đời Vận dụng kiến thức đã học để giải thích các tình huống thực tiễn [4]
* Ngoài ra, theo Hoàng Thị Thanh Hoài (2016) nghiên cứu về các dạng HĐHT thể hiện trong SGK môn Sinh học cấp THPT của tổ chức Tú tài Quốc tế, để phát triển phẩm chất và NL người học, có các dạng HĐHT sau:
- Hoạt động làm việc với dữ liệu: Có ưu thế trong việc bồi dưỡng NL xử lý các dữ liệu từ các TN, NL sử dụng thông tin và công nghệ truyền thông cho HS, đồng thời cung cấp thêm cho HS những thông tin mở rộng kiến thức
- Hoạt động tái khám phá Sinh học: Có ưu thế trong việc bồi dưỡng NL tự tổng hợp và lĩnh hội kiến thức thông qua hoạt động học qua “làm và nhìn thấy” Từ
đó phát triển KN thực hành cho HS
- Hoạt động nghiên cứu Sinh học: Có ưu thế trong việc bồi dưỡng NL chuyên môn và nghiên cứu khoa học Sinh học cho HS, thông qua việc tự trải nghiệm sáng tạo như tự đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về vấn đề nghiên cứu, tự tiến hành thiết kế, xây dựng cácbước thí nghiệm để chứng minh cho quan điểm của
Trang 32mình Từ đó phát triển những KN thiết kế các thí nghiệm Sinh học, KN dự đoán và xây dựng mô hình thí nghiệm
- Hoạt động tư duy khoa học: Có ưu thế trong việc bồi dưỡng KN tư duy và quan điểm vận dụng đúng đắn giá trị của tri thức khoa học Sinh học gắn liền với công nghệ Sinh học và đạo đức Sinh học vào phát triển kinh tế- xã hội
- Hoạt động trả lời những câu hỏi dựa vào dữ liệu: Có ưu thế trong việc bồi dưỡng KN vận dụng kiến thức đã lĩnh hội được vào giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống [13]
Trên cơ sở phân tích bản chất của các dạng HĐHT, KNTH và phân tích nội dung chương trình Sinh học Cơ thể, Sinh học 11, chúng tôi xác định các HĐHT để rèn luyện cho HSKN thực hiện kế hoạch học tập (gồm ba KN thành phần: (1) KN tiếp cận thông tin; (2) KN xử lý thông tin; (3) KN vận dụng tri thức thông tin vào thực tiễn) bao gồm các dạng như sau:
a Dạng hoạt động trả lời câu hỏi, hoàn thiện sơ đồ, biểu bảng, tranh câm
HS nghiên cứu đoạn văn bản kết hợp quan sát tranh ảnh, biểu đồ, … sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa để trả lời câu hỏi, hoặc hoàn thành nội dung bảng biểu, sơ đồ thiếu, tranh câm nhằm khám phá kiến thức hay củng cố hoàn thiện nâng cao kiến thức.Đây là dạng HĐHT rèn luyện KNTH ở mức độ thấp nhất, có sự định hướng rõ ràng của GV
b Hoạt động thiết lập sơ đồ, biểu bảng, sơ đồ tư duy
HS nghiên cứu đoạn văn bản kết hợp quan sát tranh ảnh, biểu đồ, … sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa và diễn đạt nội dung kiến thức dưới dạng bảng biểu, sơ đồ, biểu đồ, bản đồ tư duy… nhằm khám phá kiến thức hay củng cố hoàn thiện nâng cao kiến thức Dạng HĐHT này rèn luyện KNTH cao hơn so với dạng trên Khi thực hiện dạng hoạt động này, HS đã biết thu thập thông tin, biết cách xử lý thông tin ở mức độ cao hơn, đã biết chuyển hóa thông tin thu nhận được bằng các cách diễn đạt như bảng biểu, sơ đồ, bản đồ tư duy,…
c Dạng hoạt động giải bài tập thí nghiệm (BTTN)
Theo Nguyễn Đức Thâm, BTTN là bài tập đòi hỏi HS khi giải phải làm TN, qua đó hình thành nên các kiến thức và rèn luyện KN, kĩ xảo Theo Nguyễn Thượng
Trang 33Chung, BTTN là bài tập đòi hỏi HS phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức
lí thuyết và thực nghiệm, các KN hoạt động trí óc và chân tay để tự mình giải quyết vấn đề, đề ra phương án, lựa chọn phương tiện, tiến hành TN… nhằm rút ra kết luận khoa học [23]
Trong dạy học Sinh học, BTTN là dạng bài tập luôn đi kèm với TN mà khi giải bài tập HS không những dựa vào kết quả của TN mà còn vận dụng tổng hợp các kiến thức lý thuyết và thực nghiệm, các KN hoạt động trí óc và thực hành kết hợp với vốn hiểu biết về thực tiễn đời sống của HS Bằng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa giúp các em giải thích được kết quả TN,
từ đó lĩnh hội được các khái niệm, phân tích được cơ chế của các quá trình, quy luật sinh học [10] Có thể chia BTTN trong dạy học Sinh học thành hai dạng:
- BTTN yêu cầu HS phải thực hiện TNtrong quá trình giải bài tập Dạng bài tập này được gọi là bài tập thực hành thí nghiệm (THTN) hay THTN HS tự tiến hành các
TN trong chương trình môn học, để có thể nắm rõ được mục đích thí nghiệm, điều kiện
TN Qua việc tự tiến hành TN; quan sát và lý giải các hiện tượng, kết quả TN; HS xác định được bản chất của hiện tượng, quá trình và tìm được các qui luật sinh học THTN
do HS tự tiến hành theo sự hướng dẫn của GV Hoạt động THTN có thể tổ chức ngay trên lớp học, trong phòng TN hay HS tự tiến hành ở nhà, trên đồng ruộng,
- BTTN có dữ kiện là các TN được biểu diễn gián tiếp (thông qua quan sát đoạn phim quay các thao tác, diễn biến của một TN thật hay TN ảo); hoặc bài tập có
dữ kiện được mô tả bằng các hình vẽ mô phỏng hay các hình ảnh chụp từ TN thật Như vậy, dạng bài tập này chỉ được giải bằng lí thuyết, HS không cần phải tiến hành TN Tuy nhiên, sự phân chia các dạng bài tập như trên chỉ mang tính chất tương đối Ngoài ra, dựa vào mục tiêurèn luyện các KN tư duy TN cho HS, có thể chia thành các dạng: BTTN rèn luyện KN phân tích kết quả TN; BTTN rèn luyện
KN so sánh kết quả TN; BTTN rèn luyện KN phán đoán kết quả TN; BTTN rèn luyện KN thiết kế TN [7], [24]
d Dạng hoạt động giải bài tập tình huống (BTTH)
Bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện Trong bài tập chứa đựng các dữ kiện và yêu cầu cần tìm
Trang 34Tình huống là toàn thể sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian, buộc người ta phải suy nghĩ hành động, đối phó, chịu đựng Theo Nguyễn Ngọc Quang tình huống dạy học là đơn vị của bài lên lớp chứa đựng mối liên hệ giữa mục đích – nội dung và phương pháp theo chiều ngang tại một thời điểm với nội dung là một đơn
vị kiến thức Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ
xã hội cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà HS đó trở thành chủ thể hoạt động với đối tượng nhận thức trong một trường dạy học nhằm một mục đích dạy học cụ thể Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy học chính là trạng thái bên trong được sinh ra do sự tương tác giữa chủ thể với đối tượng nhận thức
BTTH là những tình huống xảy ra trong quá trình dạy học, hoặc xảy ra trong thực tiễn đời sống được cấu trúc dưới dạng bài tập Trong dạy học các môn học, những tình huống được đưa ra là tình huống giả định hay tình huống thực đã xảy ra trong thực tiễn dạy học môn học ở phổ thông HS giải quyết được những tình huống trên, một mặt vừa giúp HS hình thành kiến thức mới, vừa củng cố và khắc sâu kiến thức Trong rèn luyện KNTH, BTTH vừa là phương tiện, vừa là công cụ, đồng thời cũng là cầu nối giữa GV và HS [6], [8]
e Dạng hoạt động thực hành quan sát mô hình, mẫu vật:
HS được trực tiếp thao tác trên đối tượng, HS dùng các giác quan để tri giác
có mục đích đối tượng nghiên cứu, để từ đó rút ra kiến thức, KN Bằng cách này,
HS nắm vững kiến thức hơn, đồng thời phát triển tư duy, phát triển KN, chuẩn bị khả năng vận dụng kiến thức học vào thực tiễn
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Thực trạng về rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học Sinh học của giáo viên ở một số trường THPT ở tỉnh An Giang
Chúng tôi đã sử dụng phiếu thăm dò ý kiến về việc rèn luyện KNTH cho HS trong quá trình dạy học của 19 GV thuộc trường THPT chuyên Thoại Ngọc Thầu, trường THPT Long Xuyên, trường PT Thực Hành Sư Phạm trên địa bàn thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nhằm thu thập các số liệu cụ thể về thực trạng rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Trang 35* Nhận thức của GV về rèn luyện KNTH của HS trong dạy học Sinh học
ở THPT
Bảng 1.2 Kết quả điều tra nhận thức của GV về việc rèn luyện KNTH của HS
Nội dung trả lời SL % Câu 1 Với xu hướng đổi mới đồng
bộ phương pháp dạy học, kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực của HS, đặc biệt là năng lực
tự học, theo Thầy (Cô) việc rèn luyện
KNTH cho HS trong quá trình dạy
HS tự lực tìm ra kiến thức mà không cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của GV
3 15.79
HS tích cực, chủ động, độc lập nhận thức dưới
sự hướng dẫn của GV
13 68.42
Ý kiến khác
Câu 3 Theo Thầy (Cô), cấu trúc kỹ
năng tự học của HS bao gồm các kỹ
19 100
Trang 36Qua kết quả điều tra ở bảng 1.2 chúng tôi nhận thấy rằng, đa số GV đều nhận thức được trong việc đổi mới đồng bộ PPDH, kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển NL, đặc biệt là NL tự học của Bộ GD & ĐT đề ra, thì việc rèn luyện KNTH cho HS là cần thiết (rất cần thiết 84.21%, cần thiết là 15.79%)
Phần lớn GV đều khẳng định được khả năng tự học của HS là HS tích cực, chủ động, độc lập nhận thức dưới sự hướng dẫn của GV (68.42%) Bên cạnh đó, đa phần GV đều xác định được cấu trúc KNTH của HS, điều đó chứng tỏ GV nắm khá vững về KNTH Điều này rất thuận lợi cho việc nghiên cứu việc thiết kế và tổ chức các HĐHT nhằm rèn luyện KNTH cho HS ở phần Sinh học Cơ thể
* Thực trạng sử dụng các HĐHT được GV thiết kế để rèn luyện KNTH trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Bảng 1.3 Kết quả điều tra về mức độ sử dụng các HĐHT được GV thiết kế
xuyên
Không thường xuyên
Tỷ lệ (%)
1
Hoạt động trả lời câu hỏi,
hoàn thiện sơ đồ, biểu
bảng, tranh câm
4 21.05 5 26.32 10 52.63
2 Hoạt động thiết lập sơ đồ,
biểu bảng, sơ đồ tư duy 0 0.00 7 36.84 12 63.16
Trang 37GV không thường xuyên sử dụng dạng hoạt động này Chỉ có 21.05% GV sử dụng dạng hoạt động giải BTTN, trong khi đó có tới 57.89% GV không sử dụng dạng hoạt động này Dạng hoạt động thực hành quan sát mô hình, mẫu vật có 57.89%
GV không sử dụng, chỉ có 15.79% GV là sử dụng thường xuyên Dạng hoạt động vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống trong thực tiễn, đời sống có 31.58%
GV thường xuyên sử dụng, 31.58% GV không sử dụng HĐHT này 100% GV không sử dụng dạng hoạt động trải nghiệm Qua đó, cho thấy đa phần GV không tự mình thiết kế các HĐHT để rèn luyện KNTH cho HS, một số ít có thiết kế và sử dụng Qua trao đổi, chúng tôi nhận thấy GV chỉ sử dụng các câu lệnh, các bài tập có sẵn ở SGK
* Thực trạng sử dụng các HĐHT được GV thiết kế để rèn luyện KNTH trong các khâu của quá trình dạy học Sinh học ở trường THPT
Trang 38Bảng 1.4 Kết quả điều tra mức độ sử dụng các HĐHT được GV thiết kế
để rèn luyện KNTH trong các khâu của quá trình dạy học Sinh học ở trường THPT
STT Các khâu của quá
trình dạy học
Mức độ rèn luyện Thường
xuyên
Không thường xuyên
Không sử dụng
có đến 63.16% GV không sử dụng các HĐHT rèn luyện được GV thiết kế cho HS KNTH Qua đó cho thấy, GV chỉ chú trọng thiết kế và sử dụng các HĐHT ở khâu củng cố ôn tập Qua trao đổi, đa số GV cho rằng họ ngại thiết kế các HĐHT rèn luyện cho HS KNTH trong khâu hình thành kiến thức mới và khâu kiểm tra – đánh giá (Hướng dẫn HS tự kiểm tra đánh giá) do không có thời gian, không có tư liệu, không nắm vững kỹ thuật thiết kế HĐHT
* Thực trạng rèn luyện các KN thành phần của KNTH trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Trang 39Bảng 1.5 Kết quả điều tra mức độ rèn luyện các KN thành phần của KNTH
trong dạy học Sinh học ở trường THPT
STT Các kỹ năng tự học
của HS
Mức độ rèn luyện
Thường xuyên
Không thường xuyên
Tỷ lệ (%)
4 Kỹ năng tự kiểm tra, đánh
giá và điều chỉnh việc học 10 52.63 5 26.32 4 21.05 Qua bảng 1.5, chúng tôi nhận thấy: Đa số GV 63.16% đều không rèn luyện cho HS KN xác định mục tiêu học tập 100% GV đều không rèn luyện cho HS KN lập kế hoạch Có 52.63% GV thường xuyên rèn luyện cho HS KN tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc học Trong khi đó có đến 63.16% GV không chú trọng rèn luyện cho HS KN lập kế hoạch Qua trao đổi, chúng tôi nhận thấy rằng, GV quan niệm việc xác định mục tiêu học tập được GV định hướng ngay từ đầu tiết học, HS chỉ cần biết là được rồi; cũng không cần rèn luyện KN lập kế hoạch học tập vì GV
đã định hướng cho HS kế hoạch học tập trong một tiết học
Đa phần GV 63.16% chú trọng rèn luyện cho HS KN thực hiện kế hoạch học tập mà GV đã định hướng trong tiết dạy Ngoài ra, GV cũng chú trọng nhiều đến việc rèn luyện KN tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc học của HS
Như vậy, trong việc thực hiện rèn luyện KNTH cho HS hiện nay, với nội dung của chương trình và SGK hiện hành đa phần GV đều chú trọng rèn luyện cho
Trang 40HS KN thực hiện kế hoạch học tập; KN tự kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh việc học của HS
* Thực trạng GV sử dụng các hình thức để rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Bảng 1.6 Kết quả điều tra về thực trạng GV sử dụng các hình thức
để rèn luyện KNTH cho HS trong dạy học Sinh học ở trường THPT
Cho HS tìm hiểu và soạn bài trước ở nhà bằng
Cho HS tìm hiểu bài mới trên lớp bằng các
Cho HS tự ôn tập, củng cố kiến thức sau mỗi bài
học, chương hoặc phần kiến thức bằng cách trả
lời các câu hỏi, bài tập ở SGK
12 63.16 7 36.84
Cho HS tự ôn tập, củng cố kiến thức sau mỗi bài
học, chương hoặc phần kiến thức bằng các
HĐHT được thiết kế
8 42.11 11 57.89
Qua kết quả điều tra về hình thức tổ chức rèn luyện KNTH cho HS, chúng tôi nhận thấy rằng đa số GV (100%) đều sử dụng hình thức cho HS tìm hiểu và soạn bài trước ở nhà hoặc tự ôn tập bằng cách trả lời các câu hỏi SGK; 63.16% GV cho
HS tự ôn tập, củng cố kiến thức sau mỗi bài học, chương hoặc phần kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi, bài tập ở SGK Đa phần GV (78.95%) không cho HS tìm hiểu và soạn bài trước ở nhà bằng các HĐHT mà được thiết kế; 68.42% GV không cho HS tìm hiểu bài mới trên lớp bằng các HĐHT được thiết kế Từ đó, cho thấy