1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Thiết kế bài giảng trực tuyến môn khoa học lớp 5

108 117 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài hình thức giáo dục trực tiếp trên lớp học, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp..v..v thì học trực tuyến đang là một hình thức mới và được nhiều người hưởng ứng và áp dụng bởi

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Thị Tường Vi Tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Trần Thị Thùy Phương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Tường Vi đã giúp

đỡ, hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin cảm ơn quý thầy cô giáo tại Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã đóng góp những ý kiến quý báu cho luận văn

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giáo viên và học sinh lớp 5 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (thành phố Đà Nẵng) đã tham gia và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thực nghiệm luận văn

Cuối cùng xin được cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã dành cho tôi những lời động viên, những tình cảm quý báu, là chỗ dựa vững chắc giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Huế, ngày 15 tháng 9 năm 2016

Tác giả

Trần Thị Thùy Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục các bảng trong luận văn 3

Danh mục các sơ đồ, hình vẽ 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Giả thuyết khoa học 12

8 Cấu trúc của đề tài 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN VÀO DẠY VÀ HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 13

1.1 Bài giảng trực tuyến 13

1.1.1 Khái niệm 13

1.1.2 Đánh giá ưu điểm và hạn chế của bài giảng trực tuyến 14

1.1.3 Quy trình sử dụng bài giảng trực tuyến 16

1.2 Chương trình Khoa học lớp 5 18

1.2.1 Mục đích và nội dung theo sách giáo khoa hiện hành 18

1.2.2 Mục đích và nội dung chương trình sau 2015 22

1.2.3 Nội dung phù hợp với dạy học bằng bài giảng trực tuyến 26

1.3 Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 5 29

1.3.1 Những đặc điểm chung 29

1.3.2 Những đặc điểm cần lưu ý khi thiết kế bài giảng trực tuyến 31

1.4 Thực trạng của việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào dạy học môn Khoa học lớp 5 32

Chương 2 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN MÔN KHOA HỌC

LỚP 5 37

Trang 5

2.1 Nguyên tắc thiết kế bài giảng trực tuyến 37

2.1.1 Đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung bài học 37

2.1.2 Đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục 37

2.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh 38

2.2 Quy trình thiết kế bài giảng trực tuyến 38

2.2.1 Quy trình thiết kế 38

2.2.2 Ví dụ minh họa 41

2.3 Hệ thống bài giảng trực tuyến dạy học khoa học lớp 5 50

2.3.1 Chủ đề Con người và sức khỏe 50

2.3.2 Chủ đề Vật chất và năng lượng 50

2.3.3 Chủ đề Thực vật và động vật 51

2.4 Hướng dẫn sử dụng 51

2.4.1 Giáo viên 51

2.4.2 Phụ huynh, học sinh 53

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61

3.1 Mục đích, yêu cầu thực nghiệm 61

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 61

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 61

3.2 Địa bàn thực nghiệm 61

3.3 Thời gian, nội dung, phương pháp thực nghiệm 61

3.3.1 Thời gian thực nghiệm 61

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 62

3.4 Tổ chức thực nghiệm 62

3.4.1 Tiến hành thực nghiệm 62

3.4.2 Tiêu chuẩn và thang đo trong thực nghiệm 62

3.4.3 Kết quả thực nghiệm 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

1 Kết luận 68

2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 3.2 Tiêu chuẩn và thang đo trong thực

nghiệm

62

Trang 7

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1.2 Quy trình sử dụng bài giảng trực tuyến 16

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngày nay công nghệ thông tin đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống con người, trong đó có lĩnh vực giáo dục Nhu cầu học tập, tiếp cận với công nghệ thông tin ngày càng phát triển để các em học sinh tiếp thu được những kiến thức mới, những khoa học mới và trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước Ngoài hình thức giáo dục trực tiếp trên lớp học, các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp v v thì học trực tuyến đang là một hình thức mới và được nhiều người hưởng ứng và áp dụng bởi tính chủ động về mặt thời gian và phong phú hình thức học tập, học sinh tự học, tự nghiên cứu và nắm được nội dung kiến thức của bài tốt

Đáp ứng nhu cầu cần thiết cho việc học tập của các em học sinh trong giai đoạn này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khuyến khích mọi giáo viên ở các cấp học mở rộng hình thức dạy – học cho học sinh bằng khả năng đào tạo áp dụng cách ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, đặc biệt là áp dụng những tính năng vượt trội của một số phần mềm vào việc thiết kế bài giảng trực tuyến Bài giảng trực tuyến có khả năng tích hợp đa phương tiện gồm: phim (video), hình ảnh, âm thanh, tạo không khí học tập sinh động, tích cực, tránh được tâm lý nhàm chán của người học Bài giảng trực tuyến có thể dùng để học ngoại tuyến (offline) hoặc trực tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học mọi lúc mọi nơi

Thực tế việc vận dụng bài giảng trực tuyến vào quá trình dạy học ở tiểu học còn khá mới đối với đại đa số giáo viên Người dạy còn có tâm lí e ngại vận dụng hình thức dạy học mới dù họ nhận thức được sự cần thiết phải áp dụng những kiểu dạy học hiện đại trong đó có dạy học trực tuyến nhưng lại ngại mất thời gian đầu tư cho cái mới Bên cạnh đó khả năng áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy của một bộ phận giáo viên còn hạn chế mặc dù đã có các dự án và công cụ hỗ trợ cho giáo viên soạn bài giảng Mặt khác để tổ chức một lớp học trực tuyến đòi hỏi giáo viên tốn nhiều thời gian và công sức hơn cách dạy học truyền thống

Ở lớp 5, môn Khoa học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu và thiết thực về sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự lớn lên của cơ thể

Trang 9

người; Cách phòng tránh một số bệnh thông thường, bệnh truyền nhiễm; Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật và thực vật; Đặc điểm ứng dụng của một số chất, một

số vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất Trên cơ sở

hệ thống tri thức đó hình thành và phát triển ở học sinh những kỹ năng như: Ứng xử thích hợp với các tình huống có liên quan đến vấn đề sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; Quan sát và làm một số thí nghiệm thực hành khoa học đơn giản gần gũi với đời sống, sản xuất Qua đó hình thành và phát triển những thái độ và thói quen như: Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình

và cộng đồng; Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp, có ý thức hành động bảo vệ môi trường xung quanh Lượng kiến thức đó được trình bày theo các mạch chủ đề trong nội dung chương trình Mỗi chủ đề mang đến cho học sinh những lĩnh vực khác nhau như : chủ đề “Con người và sức khỏe”, “Vật chất và năng lượng”, “Thực vật và động vật” và chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên”

Bên cạnh đó, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 5 đó là thích khám phá, tìm tòi, ham học hỏi nhưng nhận thức của các em còn mang tính trực quan, gắn với các hình ảnh cụ thể Lượng kiến thức của môn Khoa học là không quá cao, không quá nhiều đối với các em nhưng luôn ở dạng tĩnh nên thiếu sức hấp dẫn với học sinh Muốn khắc phục nhược điểm này thì phải tạo ra giờ học Khoa học sinh động, lôi cuốn

Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài

“Thiết kế bài giảng trực tuyến môn Khoa học lớp 5”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Ở Việt Nam

2.1.1 Bài giảng trực tuyến

Theo tác giả Bùi Việt Phú trong “Ứng dụng E-learning trong dạy học” đã

chỉ ra:

Từ năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-Learning không nhiều Từ 2003-2004, việc nghiên cứu E-Learning được quan tâm hơn Các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn

đề E-Learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam Trong đó

Trang 10

phải kể đến hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách Khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3 năm 2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam [11]

Việt Nam đã gia nhập mạng E-Learning châu Á (Asia E-Learning Network - AEN, www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học - Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Bộ Bưu chính Viễn Thông Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, E-Learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu, còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước

Ở bậc giáo dục Tiểu học, E-learning mới chỉ thật sự được quan tâm trong những năm gần đây xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước như Chỉ thị số 55/2008 CT - BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo

về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo

dục giai đoạn 2008 - 2012 Đặc biệt trong Chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo đến năm 2020 đã nêu rõ mục tiêu: Đến năm 2020, nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức; đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân, từng bước hình thành xã hội học tập[14]

Với đề tài Luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu về E-learning và đề xuất giải pháp triển khai E-learning trong trường phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Lệ, Học viện

Công nghệ bưu chính viễn thông, 2012 đã xây dựng hệ thống lí luận về chuẩn Learning Từ đó đề xuất giải pháp triển khai E-Learning trong trường phổ thông ở

E-Hà Nội

Trang 11

Qua bài viết: “Ứng dụng E-Learning trong dạy học” của tác giả Bùi Việt

Phú đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 84 tháng 9 năm 2012, đã nghiên cứu tình hình phát triển E-Learning trên thế giới và Việt Nam, đồng thời đưa ra được các ưu điểm của E-Learning trong quá trình dạy học

Với đề tài Luận văn thạc sĩ: “Thiết kế dạy học trực tuyến chương phương pháp tọa độ trong mặt phẳng – hình học 10THPT” của tác giả Phạm Hồng Hạnh,

Đại học Thái Nguyên, 2009 đã có những nghiên cứu tổng quan về bài giảng learning, tác giả cũng đã đưa ra biện pháp nâng cao hiệu quả tương tác trực tuyến Tác giả cũng đề xuất kết hợp dạy học trực tuyến với dạy học lớp học truyền thống

E-Như vậy các đề tài nghiên cứu trên chưa thật sự đi sâu vào quá trình thiết kế

hệ thống bài giảng trực tuyến phục vụ cho việc khám phá khoa học của học sinh lớp 5

2.1.2 Dạy học về khoa học lớp 5

Ở bậc Tiểu học cùng với môn Tiếng Việt và Toán học, các môn học về Tự nhiên và Xã hội được xem là các môn học cơ bản Dạy học tốt các môn học về Tự nhiên và Xã hội góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở bậc Tiểu học Chính vì vậy có rất nhiều đề tài nghiên cứu về dạy học các môn Tự nhiên và xã hội, trong đó có môn Khoa học lớp 5 Như :

- Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4; 5 vận dụng

sơ đồ tư duy để học tốt môn Khoa học” của Trần Thị Thùy Phương và Phan Thị

Tuyết Ánh (2014), trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ

- Khóa luận tốt nghiệp: „„Thiết kế và sử dụng một số truyện kể có nội dung học tập trong môn Khoa học lớp 5” của Nguyễn Thị Vân (2010), Đại học Sư phạm Huế

Hay bài báo “Xây dựng một số tình huống có vấn đề trong dạy học môn khoa học lớp 5 thông qua sử dụng đa phương tiện” của tác giả Dương Giáng Thiên

Hương (2007) trên Tạp chí Giáo dục số 157 đã đề cập đến lợi ích của việc sử dụng

đa phương tiện trong xây dựng một số tình huống có vấn đề giúp học sinh hứng thú, tìm kiếm giải quyết vấn đề

Tuy nhiên các đề tài này chưa đề cập đến vấn đề dạy học khoa học lớp 5 thông qua bài giảng trực tuyến

Trang 12

2.2 Trên thế giới

Bài giảng trực tuyến hiện nay không còn xa lạ đối với nền giáo dục các nước tiên tiến trên thế giới Tuy nhiên bài giảng trực tuyến phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới Bài giảng trực tuyến phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc

Mỹ Ở châu Âu nó cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn

Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90 Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian

1999 - 2004 E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ Có rất nhiều công

ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống

và đã mang lại hiệu quả cao Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force

E-Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc

mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục

Tại châu Á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á, vấn đề ngôn ngữ không đồng

Trang 13

nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu Á Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu Á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,

Với bài báo „„ Is e-learning the solution for individual learning” của nhóm

tác giả Djamshid Tavangarian, Markus E.Leypold, Kristin Nolting, Marc Roser, Denny Voigt đến từ trường đại học Rostock, Đức đã đưa ra định nghĩa về E-learning là dựa trên các mô hình học tập kiến tạo Bài viết đã nói về việc tổng hợp các tài liệu từ các thành phần nhỏ hơn và tái sử dụng, tương tác với các thành phần trong quá trình học tập cho các cá nhân

Qua bài báo „„Can E-learning replace classroom learning?” của nhóm tác

giả Dongsong Zhang, J Leon Zhao, Lina Zhou and Jay F Nunamaker đã đưa ra sự

so sánh những ưu khuyết điểm của bài giảng trực tuyến so với học tập trong lớp học truyền thống Để giải quyết một số vấn đề tồn tại và phát triển hệ thống bài giảng trực tuyến tương tác và linh hoạt, bài báo cũng đã đề xuất một khái niệm gọi là máy

ảo – một môi trường học tập điện tử đa phương tiện dựa trên cấu trúc tốt, đồng bộ

và có hướng dẫn tương tác Các tác giả tin rằng bài giảng trực tuyến là một lựa chọn đầy hứa hẹn để giúp học sinh học tập

Hiện nay có nhiều trang Web cung cấp những bài giảng trực tuyến hay, hấp dẫn dành cho mọi lứa tuổi học sinh, đối với học sinh tiểu học-mầm non thì có trang

Web: www.e-learningforkids.org/

Qua đó có thể thấy rằng bài giảng trực tuyến chính là xu thế mới của thời đại

học tập ngày nay và trong tương lại Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài : “Thiết kế bài giảng trực tuyến môn Khoa học lớp 5” tiến hành nghiên cứu Qua việc xây

dựng cơ sở lí luận, chúng tôi sẽ thiết kế các bài giảng trực tuyến giúp học sinh khám

phá các chủ đề trong môn Khoa học lớp 5

Trang 14

3 Mục đích nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:

- Xác định vai trò, quy trình để tạo ra một bài giảng trực tuyến

- Thiết kế hệ thống bài giảng trực tuyến trong chương trình Khoa học lớp 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề:

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào quá trình dạy học

- Xác định quy trình thiết kế bài giảng trực tuyến bằng phần mềm Violet 1.9

- Điều tra, khảo sát thực trạng của việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào dạy học

- Xây dựng hệ thống bài giảng trực tuyến phục vụ dạy môn Khoa học lớp 5

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường tiểu học để đánh giá hiệu quả của

đề tài

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

- Quy trình thiết kế bài giảng trực tuyến

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn nội dung: Môn Khoa học lớp 5

- Địa bàn nghiên cứu:

+ Sáu lớp 5 trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng

+ Bài học trên lớp

6 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, sách báo, các đề tài nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài Trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, rút ra những nội dung cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

Trang 15

6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

- Tìm hiểu thực trạng của việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào dạy học ở một số trường Tiểu học thông qua trao đổi với giáo viên

- Điều tra thái độ của học sinh khi được học những tiết thông qua bài giảng trực tuyến

6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành dạy học dựa trên bài giảng trực tuyến đã được thiết kế sẵn nhằm đánh giá kết quả của quá trình thực hiện đề tài

6.4 Phương pháp thống kê toán học

- Phương pháp này được sử dụng để thống kê kết quả điều tra cũng như kết quả thực nghiệm sư phạm

6.5 Phương pháp quan sát

- Quan sát hoạt động của học sinh qua một số tiết học để tìm hiểu hiệu quả của tiết dạy

7 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên khai thác các ưu thế của công nghệ thông tin thông qua các bài giảng trực tuyến để dạy học môn Khoa học lớp 5 thì sẽ tạo môi trường học tập tích cực, phát triển kĩ năng học tập khám phá, góp phần nâng cao kết quả học tập

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào dạy và học môn Khoa học lớp 5

Chương 2: Thiết kế hệ thống bài giảng trực tuyến môn Khoa học lớp 5 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN VÀO DẠY VÀ HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 5 1.1 Bài giảng trực tuyến

1.1.1 Khái niệm

Bài giảng trực tuyến có tên tiếng Anh là E-Learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-Learning

Theo William Horton: E-learning là sử dụng các công nghệ web và internet trong học tập

Theo Compare Infobase Inc: E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông

Theo MASIE Center: E-learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn

bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục

Theo Sun Microsystem, Inc: E-learning là việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, Tivi, các hệ thống giảng dạy thông minh và việc đào tạo dựa trên máy tính Theo Resta and Patru (2010) in the UNESCO publication: E-learning là hình thức học tập truyền thông qua mạng internet, theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học

Tóm lại, bài giảng trực tuyến được hiểu một cách chung nhất là quá trình học thông qua các phương tiện điện tử, thông qua mạng Internet và công nghệ Web

Hình 1.1 Mô hình Bài giảng trực tuyến

Trang 17

Trong đó:

- Nội dung: Các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng các phương tiện truyền thông điện tử, đa phương tiện Ví dụ các bài giảng được tạo bởi các phần mềm như Reload, EXE…

- Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Ví dụ tài liệu được gửi cho học sinh bằng e-mail, học sinh học trên website, học qua đĩa CD - Rom multimedia…

- Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh) được thực hiện qua mạng Internet

- Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luận thông qua chat, Forum trên mạng,…

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng: Bài giảng trực tuyến là hệ thống các bài giảng giúp người học có thể học tập mọi lúc mọi nơi thông qua các phương tiện điện tử, thông qua mạng Internet và công nghệ Web

1.1.2 Đánh giá ưu điểm và hạn chế của bài giảng trực tuyến

1.1.2.1 Ưu điểm

- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian: sự phổ cập rộng rãi của internet đã dần xóa đi khoảng cách về thời gian và không gian cho bài giảng trực tuyến Người học có thể chủ động học tập, thảo luận bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu

- Bài giảng trực tuyến làm biến đổi cách học cũng như vai trò của người học, người học đóng vai trò trung tâm và chủ động của quá trình đào tạo, có thể học mọi lúc, mọi nơi nhờ có phương tiện trợ giúp việc học

- Người học có thể học theo thời gian biểu cá nhân, với nhịp độ tuỳ theo khả năng và có thể chọn các nội dung học, do đó nó sẽ mở rộng đối tượng đào tạo rất nhiều Tuy không thể hoàn toàn thay thế được phương thức đào tạo truyền thống, bài giảng trực tuyến cho phép giải quyết một vấn đề nan giải trong lĩnh vực giáo dục đó

là nhu cầu đào tạo của người lao động và số lượng sinh viên tăng lên quá tải so với khả năng của các cơ sở đào tạo

Trang 18

- Bài giảng trực tuyến sẽ có sức lôi cuốn rất nhiều người học kể cả những người trước đây chưa bao giờ bị hấp dẫn bởi lối giáo dục kiểu cũ và rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đang đi làm nhưng vẫn muốn nâng cao trình độ

- Các chương trình đào tạo từ xa trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ phong phú về giao diện, sử dụng rất nhiều hiệu ứng đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động ba chiều, kĩ xảo hoạt hình,… có độ tương tác cao giữa người sử dụng và chương trình, đàm thoại trực tiếp qua mạng Điều này đem đến cho học viên sự thú vị, say mê trong quá trình tiếp thu kiến thức cũng như hiệu quả trong học tập

- Bài giảng trực tuyến cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao

Do đó, khi đến với bài giảng trực tuyến, mọi thành phần, không phân biệt trình độ, giới tính tuổi tác đều có thể tìm cho mình một hướng tiếp cận khác nhau với vấn đề mà không bị ràng buộc trong một khuôn khổ cụ thể nào (cá nhân hoặc người học)

Trang 19

- Đối với bài học, không phải bất kì nội dung học nào cũng dễ dàng chuyển đổi sang bài giảng trực tuyến, có rất nhiều môn học, ngành học phần nội dung có tính thực hành, tính thực tế cao thì khó có thể dùng bài giảng trực tuyến để giảng dạy, ví dụ: các ngành liên quan đến chế tạo, y khoa, múa, nhạc, hội hoạ…; nhưng đối với những môn học thiên về rèn luyện kĩ năng và hoạt động theo quy trình, có

sự thay đổi nhanh về nội dung học tập, có yêu cầu cập nhật kịp thời, sẽ là những nội dung thích hợp của bài giảng trực tuyến

Đối với những môn học mang tính thực nghiệm, bài giảng trực tuyến không thể đáp ứng yêu cầu môn học, không rèn được cho người học thao tác thực hành thí nghiệm, kĩ năng nghiên cứu thực nghiệm

Bài giảng trực tuyến hiện nay và trong tương lai gần vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn cách học truyền thống, mà cần phải có sự kết hợp với nhau để đem lại kết quả tốt nhất cho quá trình dạy - học Một khoá học sử dụng thành công phương pháp dạy học bài giảng trực tuyến đòi hỏi người dạy phải biết kết hợp cả hai phương pháp: dạy học bài giảng trực tuyến và dạy học truyền thống để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học

Bài giảng trực tuyến mà chúng tôi thiết kế nhằm giúp học sinh hình thành kĩ năng tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động mọi lúc mọi nơi

1.1.3 Quy trình sử dụng bài giảng trực tuyến

Hình 1.2 Quy trình sử dụng bài giảng trực tuyến

Tìm hiểu về khóa học (bài học)

Chuẩn bị các thiết bị phần cứng, phần mềm

Học

Xem xét nội dung bài học

Tìm hiểu

thuật ngữ

Làm bài tập củng cố kiến thức

Tham khảo tài liệu liên quan

Tham gia diễn đàn

Trang 20

Bước 1: Tìm hiểu về khóa học (bài học)

Xác định mục tiêu: Học để làm gì?

Xác định nội dung khóa học: Cần học cái gì?

Tự đánh giá bản thân: Trình độ hiện thời của bản thân

Xác định thời gian và địa điểm học tập: Khi nào thì có thể học và học ở đâu?

Bước 2: Chuẩn bị máy móc, cài đặt các phần mềm cần thiết Trang bị kiến

thức cơ bản về máy tính và mạng

Bước 3: Học

+ Sau khi đã thực hiện các bước trên, người học đã hình dung khá rõ về khóa học (bài học) mình cần về cả thời gian, nội dung, cách thức học tập Việc còn lại là học như thế nào để đạt kết quả tốt nhất? Các bước cần tiến hành như sau:

+ Tìm hiểu các thuật ngữ: Việc không hiểu các thuật ngữ trong một lĩnh vực (hay một môn học nào đó) sẽ khiến cho việc học trở nên khó khăn hơn Xem xét nội dung khóa học (bài học): Lướt nhanh qua nội dung toàn bộ khóa học để xem phần nào cần học kỹ, phần nào đã biết có thể đọc qua để tiết kiệm thời gian Bài giảng điện tử thường được thiết kế để người học dễ dàng truy cập nội dung mà mình mong muốn một cách ngẫu nhiên Khi học bài, kết hợp học lý thuyết với theo dõi các ví dụ minh họa Tự thực hiện với các tương tác trong bài học

+ Làm bài tập – Củng cố kiến thức và kĩ năng: Sau khi đã học lý thuyết, cách tốt nhất để kiểm tra khả năng nắm bắt bài học là làm bài tập Thường thì bài tập được chia thành 2 loại: bài tập trắc nghiệm nhằm củng cố kiến thức lý thuyết, bài tập thực hành giúp người học có thêm kĩ năng trong việc giải quyết các bài toán thực tế liên quan đến bài học Trong mỗi loại, bài tập được sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó Bởi vậy nên tiến hành làm những bài dễ trước, khó sau

Cần chú ý rằng bài tập đưa ra nhằm tạo cho người học một tư duy sâu sắc, không phải hiểu vấn đề một cách nông cạn hoặc chỉ đơn giản là nhắc lại như vẹt những từ đã học thuộc lòng Khi làm bài tập, học sinh cần phải:

Trang 21

Rèn cho mình phương pháp tư duy phân tích để làm những bài tập khó

Có khả năng vận dụng được những kiến thức đã học để giải quyết những tình huống cụ thể trong thực tế đời sống

Đề xuất được những ý tưởng mới hoặc kết hợp ý tưởng của nhiều người để giải quyết vấn đề nào đó

+ Xem thêm các tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dung bài học

1.2 Chương trình Khoa học lớp 5

1.2.1 Mục đích và nội dung theo sách giáo khoa hiện hành

1.2.1.1 Mục đích

a Kiến thức: Có một số kiến thức ban đầu về:

- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sinh sản, cơ thể người, phòng tránh một

số bệnh thông thường

- Sự sinh sản ở động vật và thực vật

- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu, dạng năng lượng thường gặp trong đời sống

b Kĩ năng: Bước đầu hình thành một số kĩ năng

- Ứng xử thích hợp trong một tình huống có liên quan đến sức khỏe bản thân, gia đình, cộng đồng, …

- Quan sát một số thí nghiệm, thực hành đơn giản, gắn liền với đời sống, sản xuất

- Đặt câu hỏi trong quá trình học tập, diễn đạt bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…

- Phân tích, so sánh rút ra dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên

c Thái độ:

- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình và cộng đồng

- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những điều đã học vào trong đời sống

- Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp

- Tích cực tham gia bảo vệ môi trường xung quanh

1.2.1.2 Nội dung

Khoa học lớp 5 tiếp nối quan điểm xây dựng chương trình môn Tự nhiên và

xã hội các lớp 1, 2, 3 và Khoa học lớp 4 trên quan điểm “tích hợp xem xét con người-xã hội là một tổng thể thống nhất” Chương trình được xây dựng gồm những

Trang 22

kiến thức, những vấn đề liên quan với cuộc sống, các sự vật hiện tượng đang xảy ra xung quanh cuộc sống các em

Cấu trúc chương trình Khoa học lớp 5 được phân chia theo 4 chủ đề: Con người và sức khỏe; Vật chất và năng lượng; Thực vật và động vật; Môi trường và tài nguyên thiên nhiên với tên bài cụ thể như sau:

Hình 1.3 Chủ đề “Con người và sức khỏe”

Hình 1.4 Chủ đề “Vật chất và năng lượng”

Trang 23

Hình 1.5 Chủ đề “Thực vật và động vật”

Hình 1.6 Chủ đề “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên

Chủ đề đầu tiên trong môn Khoa học lớp 5 là chủ đề “Con người và sức khỏe” là chủ đề trùng với môn Tự nhiên và xã hội và Khoa học các lớp trước nhưng nội dung đã được mở rộng và nâng cao theo mức độ nhận thức của học sinh lớp 5 Chủ đề này gồm 21 bài trong đó có 19 bài mới và 2 bài ôn tập, kiểm tra Chủ đề này không chỉ cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học mà còn hình thành ở học sinh những kĩ năng và hành vi cụ thể để bảo vệ và giữ gìn sức khỏe Cụ thể là trong chương trình cũ lớp 5 chỉ bao gồm nội dung học tập về sinh sản, một số đặc điểm về phát triển của trẻ sơ sinh và sự lớn lên về chiều cao của cơ thể người Trong khi đó, chủ đề về “Con người và sức khỏe” của chương trình mới, ngoài những nội

Trang 24

dung nêu trên được học một cách kĩ lưỡng hơn trong 8 tiết học còn những bài về cách dùng thuốc, giữ gìn vệ sinh tuổi dậy thì, từ chối các chất gây nghiện, cách phòng tránh những bệnh nguy hiểm thường gặp như : sốt rét, sốt xuất huyết, viêm gan A, viêm não, HIV/AIDS Đặc biệt ngoài cách giữ gìn sức khỏe thể chất như trên còn có thêm nội dung giáo dục về cuộc sống an toàn như: phòng tránh bị xâm hại, phòng tránh tai nạn giao thông đường bộ

Như vậy nội dung giáo dục sức khỏe ở đây bao quát một cách toàn diện và thiết thực hơn đối với học sinh Các em không chỉ nắm được kiến thức về khoa học sức khỏe mà còn được rèn luyện kĩ năng và thái độ giữ gìn sức khỏe thể chất và đảm bảo cuộc sống an toàn Tuy nhiên kiến thức trong các bài học ở chủ đề này tương đối trừu tượng và khó hiểu Do đó giáo viên cần lưu ý để kích thích học sinh tích cực tham gia nhận thức, tránh lạm dụng phương pháp truyền đạt, áp đặt kiến thức gây sự thụ động trong học tập của học sinh

Tiếp theo là chủ đề “Vật chất và năng lượng” Thông qua chủ đề này các em biết được đặc điểm và tính chất của các vật liệu như: Tre, mây, song, tơ sợi, nhôm, đồng, Không những thế, học xong chủ đề này các em có thể giải thích được các hiện tượng xảy ra xung quanh đó là sự biến đổi của chất, sự biến đổi hóa học Cũng trong chủ đề này các em được tìm hiểu về các nguồn năng lượng lớn của nước

ta và công dụng của nó Chủ đề này bao gồm 28 bài trong đó có 4 bài ôn tập, kiểm tra còn lại là bài mới Đặc điểm nổi bật của chủ đề này là rèn cho học sinh kĩ năng thực hành và sử dụng các nguồn năng lượng trong sinh hoạt

Đến với chủ đề “Thực vật và động vật” các em được tiếp tục tìm hiểu sự sinh sản của thực vật và một số loài động vật Đây cũng là chủ đề hấp dẫn các em bởi những kiến thức về thế giới động vật và thực vật qua các bài như : Sự sinh sản của thực vật có hoa; Sự sinh sản và nuôi con của một số loài thú như hổ, hươu

Chương trình Khoa học lớp 5 ngoài sự kế thừa và phát triển ba chủ đề của Khoa học lớp 4 vừa nêu ở trên thì còn một chủ đề mới là “Môi trường và tài nguyên thiên nhiên” Khi dạy chủ đề này, giáo viên cần hình thành cho học sinh những khái niệm ban đầu về môi trường, tài nguyên thiên nhiên Học sinh nêu được một số thành phần của môi trường địa phương và tên một số tài nguyên thiên nhiên nước

Trang 25

ta Đồng thời trình bày các tác động của con người đối với tài nguyên thiên nhiên Học sinh có khả năng xác định và trình bày được những biện pháp bảo vệ môi trường ; gương mẫu thực hiện nếp sống văn minh góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường, yêu thích tìm hiểu khoa học, yêu con người, thiên nhiên, quê hương đất nước

Tóm lại, nội dung môn học là những vấn đề gần gũi và liên quan đến lứa tuổi các em, ta có thể thấy rằng những kiến thức trong chương trình Khoa học lớp 5 là những kiến thức đơn giản trong đó có nhiều kiến thức các em đã được nghe, được biết sơ qua hoặc những kiến thức thường ngày mà các em chưa phát hiện ra nó, chưa liên kết lại để biết về nó … Do vậy trong dạy học Khoa học 5 giáo viên cần chú ý khai thác triệt để vốn hiểu biết của học sinh thông qua việc liên hệ hoặc kiến thức đã có trước đó

1.2.2 Mục đích và nội dung chương trình sau 2015

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Chương trình mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi học sinh làm, vận dụng được gì hơn là học sinh biết những gì Tránh được tình trạng biết rất nhiều nhưng làm, vận dụng không được bao nhiêu, biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc rất thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật…”

Nội dung, cấu trúc của chương trình giáo dục đổi mới, theo thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, xuất phát từ những yêu cầu hình thành các năng lực mà lựa chọn các nội dung dạy học; ưu tiên những kiến thức cơ bản, hiện đại nhưng gắn bó, thiết thực với những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, tránh hàn lâm/kinh viện Ưu tiên thực hành/vận dụng, tránh lý thuyết suông; tăng cường hứng thú, hạn chế quá tải

Những đổi mới này bắt đầu với việc mới về cách tiếp cận: Xây dựng chương trình phát triển năng lực người học Theo Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển, chương trình hiện hành về cơ bản vẫn tiếp cận theo hướng nội dung, chạy theo khối lượng

Trang 26

kiến thức, còn nặng tính hàn lâm… Có chú ý đến cả 3 phương diện kiến thức, kỹ năng và thái độ nhưng vẫn là những yêu cầu rời rạc riêng rẽ, chưa liên kết, thống nhất và vận dụng tổng hợp thành năng lực hành động, năng lực thực hiện… gắn với yêu cầu của cuộc sống

Chương trình mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học, không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày

1.2.2.1 Mục tiêu chương trình môn Khoa học lớp 5 sau 2015

Hình 1.7 Mục tiêu môn Khoa học lớp 5 sau 2015 1.2.2.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5 sau 2015

Trang 27

Hình 1.8 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 5 sau 2015

Trang 28

a Về nội dung

Nội dung chương trình Khoa học mới cũng gồm có 4 chủ đề nhưng với số lượng bài học chỉ còn 36 bài, trong đó mỗi bài học có thời lượng 1-3 tiết Tổng số tiết học là 62 tiết và 8 tiết dành cho ôn tập, tự kiểm tra Cụ thể:

Chủ đề 1: Con người và sức khỏe gồm 11 bài với thời lượng 20 tiết

Chủ đề 2: Vật chất và năng lượng gồm 15 bài với thời lượng 26 tiết

Chủ đề 3: Thực vật và động vật gồm 6 bài với thời lượng 9 tiết

Chủ đề 4: Môi trường và tài nguyên thiên nhiên gồm 4 bài với thời lượng 9 tiết Ngoài ra có phiếu kiểm tra sau mỗi chủ đề và bài ôn tập cuối học kì, cuối năm

5 hiện nay thì sách Khoa học 5 sau 2015 có kênh chữ nhiều hơn để hướng dẫn học sinh tự học

- Trong sách Khoa học 5 mới có các hình (kí hiệu) thể hiện hình thức tổ chức hoạt động học tập: cả lớp, làm việc theo nhóm (trên 3 học sinh), làm việc theo nhóm đôi hoặc hoạt động cá nhân, hoạt động chung cả lớp, thực hành ở nhà với gia đình

và cộng đồng

Trang 29

- Các bài học đều có một cấu trúc chung bao gồm: tên bài học, mục tiêu, hoạt động cơ bản, các hoạt động thực hành, các hoạt động ứng dụng và khung chữ nhắc nhở giáo viên và học sinh đánh giá kết quả học tập của học sinh Các hoạt động cơ bản thường bao gồm các hoạt động chủ yếu để học sinh nắm được những kiến thức,

kĩ năng mới hoặc để kết nối những kiến thức, kĩ năng đã có với những kiến thức, kĩ năng mới Hoạt động thực hành chủ yếu để thực hành những kiến thức, kĩ năng trong nhiều tình huống Hoạt động ứng dụng nghĩa là học sinh vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống như thực hiện một công việc cụ thể, làm ra một sản phẩm hoặc vẽ tranh, …

Mỗi hoạt động được thiết kế chú ý đến quy trình để đưa ra các chỉ dẫn từng bước nhằm giúp học sinh tự học, dẫn đi tới kết quả của bài học là hình thành kiến thức, kĩ năng mới, củng cố những kiến thức, kĩ năng đã có phù hợp với đặc điểm và

trình độ của từng đối tượng

1.2.3 Nội dung phù hợp với dạy học bằng bài giảng trực tuyến

Trong chương trình Khoa học lớp 5 hầu hết nội dung các bài đều có thể soạn giảng bằng bài giảng trực tuyến Tuy nhiên với các bài thuộc nội dung “Đặc điểm

và công dụng của một số vật liệu thường dùng” và “Sự biến đổi của chất” thuộc chủ đề “Vật chất và năng lượng” với nội dung chính là tìm hiểu đặc điểm một số chất và dạng năng lượng thường gặp như đá vôi, cao su, thủy tinh, hỗn hợp, dung

Trang 30

dịch, sự biến đổi hóa học thì học sinh nên được thực hành thí nghiệm trực tiếp (hoặc thí nghiệm ảo) để tìm hiểu kiến thức mới sẽ giúp cho học sinh hứng thú trong học tập và hình thành kiến thức mới tốt hơn

Bên cạnh đó có những bài nội dung phù hợp với dạy học bằng bài giảng trực tuyến như các bài thuộc chủ đề: Con người và sức khỏe; Sử dụng năng lượng (Chủ

đề “Vật chất và năng lượng” ); Thực vật và động vật; Môi trường và tài nguyên thiên nhiên Đây là những bài có nội dung hấp dẫn, cung cấp cho các em nhiều kiến thức, kĩ năng cần thiết trong đời sống

Chúng tôi lựa chọn thiết kế bài giảng trực tuyến mà không phải là một hình thức khác trong môn Khoa học 5 bởi yêu cầu về sự đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục trong đó đề cao việc tự học, tự khám phá kiến thức mới của học sinh Bài giảng trực tuyến là hình thức giúp học sinh tự học mọi lúc mọi nơi, học sinh hoàn toàn tự tìm hiểu kiến thức mới thông qua sự hướng dẫn của giáo viên

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chọn thiết kế 20 bài có nội dung phù hợp với dạy học bằng bài giảng trực tuyến như sau:

Con người

và sức

khỏe

Bài 4: Cơ thể chúng ta được hình thành như thế nào?

Biết cơ thể chúng ta được hình thành từ sự kết hợp giữa tinh trùng của bố và trứng của mẹ

Bài 8: Vệ sinh ở tuổi dậy thì

- Nêu được những việc nên làm và không nên làm để giữ vệ sinh, bảo vệ sức khỏe ở tuổi dậy thì

- Thực hiện vệ sinh cá nhân ở tuổi dậy thì Bài 16: Phòng tránh

HIV/AIDS

Biết nguyên nhân và cách phòng tránh HIV/AIDS

Bài 18: Phòng tránh bị xâm hại

- Nêu được một số nguyên tắc an toàn cá nhân để phòng tránh bị xâm hại

- Nhận biết được nguy cơ khi bản thân có thể bị xâm hại

- Biết cách phòng tránh và ứng phó khi có nguy cơ bị xâm hại

Bài 19: Phòng tránh tai Nêu được một số việc nên làm và không

Trang 31

nạn giao thông đường bộ nên làm để đảm bảo an toàn khi tham gia

Nêu ví dụ về việc sử dụng năng lượng mặt trời trong đời sống và sản xuất: chiếu sáng, sưởi ấm, phơi khô, phát điện, … Bài 42-43: Sử dụng năng

lượng chất đốt

- Kể tên một số loại chất đốt

- Nêu ví dụ về việc sử dụng năng lượng chất đốt trong đời sống và sản xuất: sử dụng than đá, dầu mỏ, khí đốt trong nấu

ăn, thắp sáng, chạy máy,…

Bài 44: Sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy

- Nêu ví dụ về việc sử dụng năng lượng gió và năng lượng nước chảy trong đời sống và trong sản xuất

- Sử dụng năng lượng gió: điều hòa khí hậu, làm khô, chạy động cơ gió, …

- Sử dụng năng lượng nước chảy: quay guồng nước, chạy máy phát điện, … Bài 48: An toàn và tránh

lãng phí khi sử dụng điện

- Nêu được một số quy tắc cơ bản sử dụng

an toàn, tiết kiệm điện

- Có ý thức tiết kiệm năng lượng điện Bài 49-50: Ôn tập: Vật

chất và năng lượng

- Ôn tập về các kiến thức phần vật chất và năng lượng Những kĩ năng về bảo vệ môi trường, giữ gìn sức khỏe liên quan đến nội dung phần vật chất và năng lượng

Bài 52: Sự sinh sản của thực vật có hoa

Kể tên được một số hoa thụ phấn nhờ côn trùng, hoa thụ phấn nhờ gió

Bài 56: Sự sinh sản của côn trùng

Viết sơ đồ chu trình sinh sản của côn trùng

Bài 57: Sự sinh sản của ếch

Viết sơ đồ chu trình sinh sản của ếch Bài 60: Sự nuôi và dạy Nêu được ví dụ về sự nuôi và dạy con của

Trang 32

con của một số loài thú một số loài thú (hổ, hươu)

- Nêu những nguyên nhân dẫn đến rừng bị tàn phá

- Nêu tác hại của việc phá rừng

Bài 66: Tác động của con người đến môi trường đất

Nêu một số nguyên nhân dẫn đến việc đất trồng ngày càng bị thu hẹp và suy thoái

Bài 67: Tác động của con người đến môi trường không khí và nước

- Nêu những nguyên nhân dẫn đến môi trường không khí và nước bị ô nhiễm

- Nêu tác hại của việc ô nhiễm không khí

và nước

Bài 68: Một số biện pháp bảo vệ môi trường

- Nêu được một số biện pháp bảo vệ môi trường

- Thực hiện một số biện pháp bảo vệ môi trường

Chúng tôi đã thiết kế được 20 bài trên và đăng tải công khai trên trang web:

http://violet.vn/th-huynhngochue-danang Trong tương lai, chúng tôi sẽ thiết kế,

thực nghiệm và đăng tải toàn bộ các bài của môn Khoa học lớp 5 Khi có sách giáo khoa mới, chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật

1.3 Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 5

Trang 33

Đặc điểm tư duy của trè còn mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở

tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang

tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn đơn giản ở phần đông học sinh tiểu học

Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm nhiều hơn Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các

em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt

ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo và bắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ

có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản thân thông qua các kênh thông tin khác nhau

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính

và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng như vậy nên các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ cho trẻ trong giai đoạn này bằng cách hướng hứng thú của trẻ

Trang 34

vào các loại sách báo có lời và không lời, có thể là sách văn học, truyện tranh, truyện cổ tích, báo nhi đồng, đồng thời cũng có thể kể cho trẻ nghe hoặc tổ chức các cuộc thi kể truyện đọc thơ, viết báo, viết truyện, dạy trẻ cách viết nhật kí, Tất

cả đều có thể giúp trẻ có được một vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng

Ở cuối tuổi tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức, điều chỉnh chú ý của mình Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập như học thuộc một bài thơ, một công thức toán hay một bài hát dài, Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời gian cho phép để làm một việc nào đó và

cố gắng hoàn thành công việc trong khoảng thời gian quy định

Biết được điều này các nhà giáo dục nên giao cho trẻ những công việc hay bài tập đòi hỏi sự chú ý của trẻ và nên giới hạn về mặt thời gian Chú ý áp dụng linh động theo từng độ tuổi đầu hay cuối tuổi tiểu học và chú ý đến tính cá thể của trẻ, điều này là vô cùng quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục trẻ

Loại trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic Đến cuối tuổi tiểu học các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành mục đích hành động của mình, tuy vậy năng lực ý chí còn thiếu bền vững, chưa thể trở thành nét tính cách của các em Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu phụ thuộc vào hứng thú nhất thời

Để bồi dưỡng năng lực ý chí cho học sinh tiểu học đòi hỏi ở nhà giáo dục sự kiên trì bền bỉ trong công tác giáo dục, muốn vậy thì trước hết mỗi bậc cha mẹ, thầy

cô phải trở thành tấm gương về nghị lực trong mắt trẻ

1.3.2 Những đặc điểm cần lưu ý khi thiết kế bài giảng trực tuyến

Muốn vận dụng các phương pháp dạy học hiệu quả, việc nắm vững mục tiêu, nội dung môn học là hết sức quan trọng Song bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng dạy học thì cần phải hiểu một số đặc điểm tâm lí của học sinh Có thể nói đặc điểm tâm lí trẻ là cơ sở khoa học của việc xác định mục tiêu, nội dung bài dạy và là điều kiện để giáo viên lựa chọn ngôn ngữ cũng như hình thức trình bày bài giảng thu hút học sinh giúp học sinh nắm nội dung bài học tốt hơn Do vậy khi thiết kế bài giảng trực tuyến giáo viên cần lưu ý một số đặc điểm tâm lí sau của trẻ

Trang 35

Tri giác của học sinh lớp 5 đã có sự phát triển nổi bật hơn so với các lớp đầu cấp Khi quan sát các sự vật, hiện tượng các em đã biết so sánh, đối chiếu và tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa chúng Quá trình quan sát của các em không chỉ dừng lại ở góc độ nhận biết sự vật, hiện tượng xung quanh mà nó được các em quan sát theo nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thiết kế các hoạt động thu hút trẻ bằng các đoạn phim, hình ảnh mới hấp dẫn hơn so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác

Tư duy và tưởng tượng của các em đã phát triển phong phú hơn Do đó trong dạy học bài giảng trực tuyến giáo viên nên hình thành biểu tượng cho học sinh thông qua sự mô tả bằng lời nói, thiết kế hệ thống bài tập, câu hỏi gợi mở thu hút các em vào các hoạt động học tập

Giai đoạn lớp 4, 5 ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường Ghi nhớ có chủ định đã phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em

Nắm được điều này, khi thiết kế bài dạy, giáo viên phải giúp các em biết cách khái quát hóa và đơn giản mọi vấn đề, giúp các em xác định đâu là nội dung quan trọng cần ghi nhớ, các từ ngữ dùng để diễn đạt nội dung cần ghi nhớ phải đơn giản dễ hiểu, dễ nắm bắt, dễ thuộc và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui vẻ khi ghi nhớ kiến thức

1.4 Thực trạng của việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào dạy học môn Khoa học lớp 5

Để biết thực trạng việc ứng dụng bài giảng trực tuyến vào dạy học môn Khoa học lớp 5, chúng tôi tiến hành khảo sát qua phiếu điều tra (phần Phụ lục) dành cho

16 giáo viên và cán bộ quản lý ở các trường tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng gồm: trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ (6 giáo viên và 3 cán bộ quản lý), trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm (5 giáo viên và 2 cán bộ quản lý)

1) Nhận thức của giáo viên về bản chất của bài giảng trực tuyến

Khi đánh giá sự hiểu biết về bài giảng trực tuyến trong dạy học môn Khoa

Trang 36

học có 98,7% giáo viên và cán bộ quản lý hiểu đúng và đầy đủ về bản chất của bài giảng trực tuyến, có 1,3% giáo viên hiểu chưa đầy đủ và không có giáo viên nào chưa hiểu gì hay hiểu sai về bản chất của bài giảng trực tuyến

Số liệu trên cho thấy phần lớn giáo viên và cán bộ quản lý đã có sự nhận thức đúng về bản chất của bài giảng trực tuyến Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên (1,3%) còn dừng ở hiểu biết đúng nhưng chưa đầy đủ về bài giảng trực tuyến.Vì vậy

để đưa bài giảng trực tuyến vào thực tiễn và phát huy hết hiệu quả của nó cần nâng cao hiểu biết của giáo viên về kiểu dạy học này

2) Nhận thức về mục đích, ý nghĩa của việc sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học môn Khoa học lớp 5 (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1 Thực trạng nhận thức về mục đích sử dụng bài giảng trực tuyến

1 Làm tăng tính ham hiểu biết và hứng thú học tập của

học sinh

62,5

3 Tạo điểu kiện để học sinh tìm tòi, phát hiện kiến thức và

hình thành phương pháp học tập

37,5

4 Khuyến khích tính chủ động, sáng tạo của học sinh 50,0

5 Giúp học sinh tự tin hơn trong việc đưa ra quan điểm 56,25

6 Học sinh có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn

cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình

31,25

Số liệu ở bảng 1.1 cho thấy:

- Các giáo viên và cán bộ quản lý được điều tra đã nhận thức được các mục đích quan trọng khi sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Được quan tâm nhiều nhất là mục đích “làm tăng tính ham hiểu biết và hứng thú học tập của học sinh” (62,5%) Các mục đích ít quan trọng hơn như: “học sinh có thể tự điều chỉnh quá trình học, lựa chọn cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh của mình” (31,25%),

“giúp giáo viên không phải làm việc nhiều” (18,75%) xếp ở vị trí cuối cùng trong bảng xếp hạng Tuy nhiên, một số mục đích quan trọng có tính chất cốt lõi của việc

Trang 37

sử dụng bài giảng trực tuyến như: “tạo điểu kiện để học sinh tìm tòi, phát hiện kiến thức và hình thành phương pháp học tập” (37,5%), “giúp học sinh hiểu bài dễ hơn, chính xác hơn” (43,75%) thì lại ít được giáo viên quan tâm Điều này khẳng định các giáo viên đã có những hiểu biết nhất định về bài giảng trực tuyến, nhưng vẫn còn một tỉ lệ đáng kể giáo viên hiểu về mục đích sử dụng bài giảng trực tuyến chưa đầy đủ, chưa sâu sắc

3) Thực trạng sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học môn Khoa học hiện nay Kết quả thống kê cho thấy chỉ có 1,25% giáo viên sử dụng rất thường xuyên, 25% sử dụng thường xuyên, có 56,25% giáo viên thỉnh thoảng sử dụng và 6,25% giáo viên chưa bao giờ sử dụng Như vậy có sự chênh lệch đáng kể giữa nhận thức

về tác dụng của bài giảng trực tuyến với thực tế sử dụng trong dạy học Bài giảng trực tuyến đã được sử dụng nhưng chưa thường xuyên trong nhà trường tiểu học hiện nay

4) Nhận thức của giáo viên về ưu điểm khi sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Khoa học lớp 5

Chúng tôi đã tiến hành hỏi ý kiến giáo viên về ưu điểm khi sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Khoa học lớp 5 Kết quả thu được cho thấy:

Phần lớn số giáo viên được hỏi ý kiến (75%) nhận thức chưa đầy đủ về các

ưu điểm; số giáo viên nhận thức đúng và đầy đủ chỉ chiếm 25% Nhiều giáo viên khẳng định ưu điểm sử dụng bài giảng trực tuyến là giáo viên không phải mất nhiều thời gian công sức Cũng có giáo viên cho rằng sử dụng bài giảng trực tuyến để giáo viên có cơ hội sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại Đây là những nhận xét chưa đầy đủ và chưa mang tính bản chất Sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Khoa học lớp 5 ưu điểm, thuận lợi chính là dành cho học sinh Học sinh được nâng cao ý thức tự giác, tích cực, độc lập nhận thức, nâng cao hứng thú và có nhiều

cơ hội tìm tòi, phát hiện kiến thức hơn

Từ những số liệu và phân tích trên cho thấy: Nhìn chung giáo viên ở các trường được điều tra chưa thực sự hiểu rõ những ưu điểm khi sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Khoa học lớp 5 Một số nhận định còn mang tính chất cảm tính

5) Khó khăn khi dạy học bằng bài giảng trực tuyến trong môn Khoa học lớp 5

Trang 38

Bảng 1.2 Khó khăn khi sử dụng bài giảng trực tuyến

2 Chưa nắm được quy trình thiết kế bài giảng trực tuyến 62,5

3 Chưa có đủ điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 37,5

5 Không phù hợp với thói quen học tập của học sinh 25

6 Trình độ tin học của giáo viên và học sinh còn yếu 43,75

Bảng 1.2 cho thấy khó khăn lớn nhất giáo viên gặp phải khi sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Khoa học lớp 5 là “khả năng thiết kế bài giảng còn hạn chế” (75%), “chưa nắm được quy trình thiết kế bài giảng trực tuyến” (62,5%) Một tỉ lệ đáng kể giáo viên lựa chọn khó khăn là: “trình độ tin học của giáo viên và học sinh còn yếu” (43,75%), “chưa có đủ điều kiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học” (37,5%) 31,25% giáo viên cho rằng mất nhiều thời gian công sức chuẩn bị bài Một số giáo viên khác (25%) lại cho rằng bài giảng trực tuyến không phù hợp với thói quen học tập của học sinh Theo họ, bài giảng trực tuyến cần ý thức tự giác rất cao ở học sinh Không thể dạy học bằng bài giảng trực tuyến nếu học sinh không

có thói quen tự giác học tập tìm tòi 18,75% giáo viên cho rằng bài giảng trực tuyến không hiệu quả bằng cách dạy truyền thống Đây là một số ít các giáo viên lớn tuổi muốn dạy theo kinh nghiệm, không muốn có sự thay đổi

Như vậy có nhiều khó khăn xuất phát từ nguyên nhân chủ quan và khách quan làm cho bài giảng trực tuyến chưa thực sự được phổ biến nhưng chủ yếu nhất vẫn là do giáo viên chưa nắm được quy trình thiết kế Đây là lí do để chúng tôi chọn

đề tài này với mong muốn đưa ra một quy trình thiết kế cụ thể, dễ thực hiện đối với tất cả giáo viên

6) Trong quá trình thiết kế bài giảng, thầy cô giáo thường xuyên kết hợp với việc sử dụng các tài liệu sách, báo có liên quan đến bài giảng Một trong những cách làm của giáo viên hiện nay là tham khảo các bài soạn từ mạng internet sau đó chỉnh sửa cho phù hợp với ý tưởng của mình, ít có sự tìm tòi nghiên cứu để thiết kế

Trang 39

một bài dạy Riêng đối với các giáo viên trẻ đã có sự tìm tòi để thiết kế các bài giảng hay hấp dẫn học sinh

7) Khi đánh giá về sự cần thiết của bài giảng trực tuyến trong dạy học môn Khoa học lớp 5, chúng tôi nhận được 62,5% ý kiến cho rằng đây là việc làm rất cần thiết, 37,5% cho đây là việc làm cần thiết Qua đó chúng tôi nhận thấy rằng việc lựa chọn đề tài này là vấn đề cần thiết

8) Khi tìm hiểu về ý kiến đề xuất của giáo viên để dạy học bằng bài giảng trực tuyến đạt hiệu quả cao hơn thì các giáo viên đều có ý kiến chung là cần có quy trình thiết kế bài giảng trực tuyến để giáo viên tham khảo đồng thời cần sự hỗ trợ về

cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học như máy tính

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của Luận văn đã tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:

1 Làm rõ hơn cơ sở lí luận về bài giảng trực tuyến, đưa ra các khái niệm và những vấn đề liên quan như ưu điểm và hạn chế của bài giảng trực tuyến, quy trình

sử dụng bài giảng trực tuyến

2 Phân tích chương trình môn Khoa học lớp 5, đưa ra nội dung phù hợp với dạy học bằng bài giảng trực tuyến Bên cạnh đó nêu được đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 5 cho thấy dạy học bằng bài giảng trực tuyến là phù hợp với sự phát triển nhận thức, kĩ năng và góp phần hoàn thiện nhân cách học sinh

3 Tìm hiểu thực trạng cũng như nhận thức của giáo viên trong việc sử dụng bài giảng trực tuyến để dạy học môn Khoa học lớp 5 Qua điều tra thực trạng chúng tôi nhận thấy việc sử dụng bài giảng trực tuyến trong dạy học Khoa học lớp 5 là vấn

đề cần thiết góp phần giúp các em chủ động trong việc chiếm lĩnh tri thức, có thể tự học mọi lúc mọi nơi

Những cơ sở lí luận và thực tiễn vừa nêu trên là những tiền đề vững chắc cho chúng tôi trong việc thiết kế bài giảng trực tuyến môn Khoa học lớp 5

Trang 40

Chương 2 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN

MÔN KHOA HỌC LỚP 5 2.1 Nguyên tắc thiết kế bài giảng trực tuyến

2.1.1 Đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung bài học

Nội dung bài giảng trực tuyến phải phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt sau bài học

Vì vậy khi xây dựng bài giảng trực tuyến giáo viên cần bám sát nội dung bài học để thiết kế nội dung bài học thông qua tranh ảnh, đoạn phim hay những tình huống bằng văn bản

2.1.2 Đảm bảo tính khoa học và tính giáo dục

Tính khoa học thể hiện qua khối lượng kiến thức trong bài giảng của giáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực và khoa học Các kiến thức khoa học cung cấp cho học sinh phải đảm bảo tính chính xác, hợp lí và không tùy tiện Điều này đòi hỏi người giáo viên không chỉ uyên bác về lĩnh vực môn học – môn Khoa học

mà cần có hiểu biết rộng về các môn khoa học liên quan để là nguồn cung cấp tri thức chính xác và trung thực cho học sinh Đồng thời người giáo viên phải thường xuyên nghiên cứu tài liệu, đọc nhiều sách và cập nhật thông tin Kiến thức phải có tính hiện đại vì đôi khi chỉ đúng tại một thời điểm nào đó Tính giáo dục bao hàm tính không phản giáo dục, không đi ngược với lợi ích dân tộc và không ủng hộ cái xấu Đây là tính chất vô cùng quan trọng vì nó giúp định hình nhân cách và đạo đức cho người học sau này khi các em bước vào đời Mục tiêu chính của nền giáo dục nước ta là đào tạo ra nguồn nhân lực vừa hồng vừa chuyên phục vụ công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Nghĩa là con người được đào tạo ra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng tốt và trình độ chuyên môn tốt vì thế tính giáo dục cần được đề cao trong quá trình dạy học Một lý do nữa là giáo dục làm nhiệm vụ chuyển giao những tinh hoa văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của nhân loại cho thế hệ sau, là cơ sở giúp các thế hệ sau nối tiếp nhau sáng tạo, nâng cao và phát huy để làm phong phú kho tàng văn hóa nhân loại

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w