1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương “chất khí” vật lí 10 nâng cao trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh

110 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề cập đến chín nhóm nhiệm vụ và giải pháp quan trọng, trong đó có nhóm giải pháp: “ T

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÊ CÔNG TRIÊM

Thừa Thiên Huế, năm 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn này là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Tạ Văn Minh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế và quý Thầy, Cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Lê Công Triêm

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu cùng quý thầy cô giáo tổ Vật lí trường THPT Vĩnh Linh – Quảng Trị đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm.

Xin được cảm ơn toàn thể đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 09 năm 2018

Tác giả

Tạ Văn Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH 5

MỞ ĐẦU 7

1 Lí do chọn đề tài 7

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8

3 Mục tiêu đề tài 10

4 Giả thiết khoa học 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

6 Đối tượng nghiên cứu 11

7 Phạm vi nghiên cứu 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Những đóng góp của đề tài 12

10 Cấu trúc luận văn 12

NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY 13

1.1 Tự học 13

1.1.1 Khái niệm tự học 13

1.1.2 Vai trò tự học 14

1.1.3 Các hình thức của hoạt động tự học 16

1.2 Một số vấn đề về năng lực tự học 17

1.2.1 Khái niệm về năng lực 17

1.2.2 Khái niệm về năng lực tự học 18

Trang 5

1.2.3 Các năng lực thành tố của năng lực tự học 19

1.2.4 Các biểu hiện của năng lực tự học 21

1.3 Sơ đồ tư duy và sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy để tự học các kiến thức vật lý 24

1.3.1 Khái niệm sơ đồ tư duy 24

1.3.2 Vai trò sơ đồ tư duy 26

1.3.3 Cách vẽ sơ đồ tư duy 28

1.3.4 Cách đọc sơ đồ tư duy 30

1.3.5 Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 30

1.3.6 Khả năng sử dụng sơ đồ tư duy để tự học các kiến thức vật lý 35

1.4 Đánh giá năng lực tự học 37

1.4.1 Một số công cụ đánh giá năng lực 37

1.4.2 Một số phương pháp đánh giá năng lực 37

1.4.3 Thiết kế thang đánh giá năng lực tự học cho học sinh 39

1.5 Thực trạng của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy ở các trường THPT hiện nay 40

1.6 Kết luận chương 1 41

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH CHƯƠNG “ CHẤT KHÍ” VẬT LÝ 10 NÂNG CAO THPT VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY 43

2.1 Cấu trúc và đặc điểm nội dung chương “Chất khí ” Vật lý 10 nâng cao THPT 43 2.1.1 Cấu trúc nội dung chương “ Chất khí ” Vật lý 10 nâng cao THPT 43

2.1.2 Đặc điểm kiến thức 43

2.2 Các đơn vị kiến thức sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương “ Chất khí ” Vật lý 10 nâng cao THPT 44

2.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài dạy chương “Chất khí ” Vật lý 10 nâng cao THPT theo hướng tăng cường phát triển năng lực tự học với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 44

2.4 Một số giáo án giảng dạy chương “ Chất khí ” theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 47

Trang 6

2.4.1 Bài 1: Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt 47

2.4.2 Bài 46: “Định luật sác-lơ Nhiệt độ tuyệt đối” 56

2.4.3 Bài 47: “Phương trình trạng thái của khí lí tưởng Định luật Gay Luy - xác 66

2.5 Kết luận chương 2 73

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 74

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 74

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 74

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 74

3.2 Đối tượng, nội dung của thực nghiệm sư phạm 75

3.2.1 Đối tượng của thực nghiệm sư phạm 75

3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 75

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 75

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 75

3.3.2 Phương pháp tiến hành 76

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 77

3.4.1 Đánh giá định tính 77

3.4.2 Đánh giá định lượng 78

3.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 84

3.5 Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Khuyến nghị 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

Trang

BẢNG

Bảng 1.1 Biểu hiện NLTH cấp THPT theo Bộ Giáo dục và Đào tạo 23

Bảng 1.2 Biểu hiện của NLTH 23

Bảng 1.3 Thang đánh giá NLTH cho HS (PHỤ LỤC) 39

Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu TNSP 75

Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 79

Bảng 3.3 Bảng phân phối tần suất 79

Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất lũy tích của hai nhóm ĐC và TNg 80

Bảng 3.5 Các tham số thống kê 81

Bảng 3.6 Kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết nhóm TNg 82

Bảng 3.7 Kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết nhóm ĐC 82

BIỂU ĐỒ Đồ thị 3.1 Thống kê điểm số Xi của bài kiểm tra 80

Đồ thị 3.2 Đồ thị phân bố tần suất 81

Đồ thị 3.3 Đồ thị phân bố tần suất tích lũy 81

Đồ thị 3.4 Đồ thị so sánh kết quả ĐG bài kiểm tra 1 tiết của nhóm TNg và nhóm ĐC 83

HÌNH Hình 1.1 Minh họa Bộ não con người 24

Hình 1.2 Minh họa BĐTD 25

Hình 1.3 Vẽ chủ đề chính .28

Hình 1.4 Vẽ tiêu đề phụ 28

Hình 1.5 Thêm ý chính vào 29

Hình 1.6 Một SĐTD hoàn chỉnh 29

Hình 1.7 Cách đọc bản đồ tư duy 30

Hình 1.8 Đường dẫn ánh mắt khi đọc sách 31

Hình 1.9 SĐTD phần I “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” 32

Hình 1.10 SĐTD so sánh ba định luật “Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” ,“Sác - Lơ” và “ Gay Luy - Xác” 33

Trang 9

Hình 1.11 SĐTD tóm tắt chương trình vật lý 10 nâng cao THPT 35

Hình 1.12 SĐTD tóm tắt chương “Chất khí” vật lý 10 nâng cao THPT 36

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Biểu hiện NLTH theo Candy 21

Sơ đồ 1.2 Biểu hiện NLTH theo Taylor 22

Sơ đồ 1.3 Quy trình thiết kế thang đo năng lực 39

Sơ đồ 2.1 Sơ đồ cấu trúc logic nội dung chương “Chất khí”, Vật lí 10 nâng cao 43

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở nước ta, khả năng, năng lực tự học đã được phát huy qua nhiều thời kì lịch

sử, tuy nhiên vẫn chỉ mang tính cá nhân Hiện nay, với việc mở lớp học thêm tràn lan trong khi kết quả của HS không cao và hoàn toàn phụ thuộc vào GV, qua đó mất hẳn hoặc mai một đi khả năng TH của HS Giáo dục thế kỉ XXI đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn: Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, đang đưa nhân loại bước đầu quá

độ sang nền kinh tế tri thức Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, dân chủ hóa, đại chúng hóa… mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới, tác động đến sự phát triển giáo dục của nước ta Trước bối cảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn, được thể hiện vào tư tưởng chủ đạo là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nền móng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là: học để biết, học để làm, học để chung sống cùng nhau và học để tự khẳng định (Learning to know,learning to do, learning to gether, learning to be), hướng tới xây dựng một “xã hội học tập” Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề cập đến chín nhóm nhiệm vụ và giải pháp quan trọng, trong đó có nhóm giải pháp: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ PP dạy và học theo hướng hiện đại ; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,

kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích TH, tạo cơ sở để người học

tự cập nhật v à đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển NL”

Môn Vật lí là môn học cung cấp cho HS những tri thức vật lí phổ thông tương đối hoàn chỉnh các hiện tượng xảy ra trong đời sống và trong tự nhiên Khi

HS học tốt môn Vật Lí, HS có thể phát triển được nhiều NL cá nhân cần thiết như

NL quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, thực hành, dự đoán, lập kếhoạch, hợp tác làm việc, lập luận, thuyết trình và ngược lại, khi HS có được những

NL cần thiết, các em có thể học tập tốt không chỉ môn Vật Lí mà hầu hết các môn học khác Tuy nhiên, với lượng kiến thức tương đối nhiều mà thời gian học tập trên

Trang 11

lớp lại có hạn, HS không thể hoàn thành mục tiêu học tập nếu không tích cực chủđộng học tập và nâng cao NLTH Chính thế nên có thể khẳng định việc hình thành

và phát triển NLTH cho HS là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục TH cũng là một phương thức học tập có hiệu quả và song song với sự đổi mới của nền giáo dục của các nước trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Tuy nhiên trong nhiều năm gần đây, việc đổi mới PP để nâng cao hiệu quả DH nói chung, DH Vật lí nói riêng đã được chú ý, đầu tư nhiều, nhưng chưa thật chú trọng nâng cao NLTH, tự nghiên cứu cho HS Làm thế nào để học sinh có thể hứng thú trong học tập, có thể nắm vững kiến thức một cách nhanh chóng? Bằng cách nào rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo cho học sinh trong học tập, tự tin trình bày bài thuyết trình, có khả năng làm việc nhóm một cách hiệu quả

và đặc biệt sử dụng những kỹ năng ấy vào cuộc sống hiện tại và trong tương lai?

Ngày nay học tập chăm chỉ cũng chưa phải là một giải pháp tối ưu mà sẽ là

ta học được gì trong quá trình học tập, ta tạo ra giá trị gì, tạo ra sản phẩm gì từ kiến thức được học Có nhiều phương pháp dạy học được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên hầu như những phương pháp dạy học hiện nay phần lớn là làm chức năng truyền thụ kiến thức cho học sinh hơn là rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sống và làm việc cần thiết trong hiện tại và tương lai Tôi xin mạnh dạn thêm vào nhữngphương pháp dạy học trên một công cụ giúp học sinh tư duy sáng tạo, có một cách nhìn tổng quát cho công việc, tiếp nhận và gia tăng giá trị từ kiến thức đó là Sơ đồ

tư duy (Mind maps)

Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ Sử dụng sơ đồ tư duy

trong dạy học chương "Chất khí" Vật lý 10 nâng cao trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh”

Trang 12

Nguyễn Thị Thiên Nga với đề tài “ Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lý ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của học sinh”, Nguyễn Phú Đồng với đề tài “ Nghiên cứu sử dụng bài tập Vật lý theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần dòng điện không đổi, Vật lý 11 THPT”, Võ Thị Cẩm Quyên với đề tài “ Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương “Động học chất điểm”, Vật lý 10 qua khai thác và sử dụng bài tập Vật lý ”, Võ Lê Phương Dung với đề tài “Hình thành năng lực tự học Vật lý cho học sinh THPT thông qua việc sử dụng sách giáo khoa” Nhìn chung, các tác giảnày đã hệ thống khá đầy đủ cơ sở lý luận về tự học và đã chỉ ra được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho HS qua hoạt động tự học.

Về vấn đề ứng dụng bản đồ tư duy (Mind Map) trong dạy học mới được quan tâm đến vào năm 2006 khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy – Sơ đồ

tư duy” của nhóm tư duy mới (New Thinking Group – NTG) thuộc Đại học quốc gia Hà Nội triển khai thực hiện Dự án đã cung cấp công cụ phát triển tư duy cho hơn 150 sinh viên là thành viên của 11 câu lạc bộ của các Khoa, Trường thuộc Đại học quốc gia Hà Nội Các đề tài nghiên cứu khoa học như “ Ứng dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm ” của tác giả Nguyễn Thị Hiền (Khoa Sư phạm, ĐHQGHN); “ Ứng dụng Sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh ” của tác giả Đặng Thị Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên (ĐHSPHN), đã đề cập đến việc ứng dụng BĐTD và ý nghĩa của nó trong dạy học Năm 2007 tại hội thảo “ Ứng dụng CNTT vào đào tạo GV tiểu học và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh ”, Thạc sĩ Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “ Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ tư duy ”

Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng SĐTD vào quá trình dạy học đã có một

số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “ Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của Mind Map chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao ”, Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “ Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của Mind Map và máy vi tính ”, Lê Thị Hà với đề tài “ Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS trong dạy giải bài tập Vật lý chương Động học chất điểm và Động lực học chất

Trang 13

điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của Mind Map ”, Nguyễn Văn Quang với đềtài “ Bồi Dưỡng NLTH Vật lý cho HS THPT thông qua việc sử dụng SGK với sự

hỗ trợ của bản đồ tư duy ” Nhìn chung các đề tài trên đã trình bày khá đầy đủ và cụthể về vấn đề sử dụng SĐTD trong dạy học vật lý

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực tự học cũng như vấn

đề sử dụng sơ đồ tư duy trong DHVL nhưng chúng tôi chưa phát hiện công trình nào đề xuất được phương án sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học chương "Chất khí" Vật lý 10 nâng cao THPT theo định hướng phát triển NLTH cho HS

3 Mục tiêu đề tài

Đề xuất được quy trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học thông qua việc sử dụng SĐTD cho HS chương “Chất khí” Vật lý 10 nâng cao THPT

4 Giả thiết khoa học

Nếu các giờ học thuộc chương “ Chất khí” Vật lí 10 nâng cao THPT thực hiện theo đúng tiến trình đã đề xuất thì sẽ phát triển được năng lực tự học cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu đề ra, đề tài thực hiện những nhiệm vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề tự học ở trường THPT;

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng SĐTD trong dạy học vật lý;

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về PPDH Vật lý, chương trình SGK Vật lý lớp 10 THPT (chương Chất khí);

- Nghiên cứu và xác định hệ thống KNTH của HS;

- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp rèn luyện các KNTH cho HS với sự

hỗ trợ của SĐTD trong dạy học chương “Chất khí” VL 10 nâng cao THPT;

- Xây dựng tiến trình dạy học rèn luyện KNTH cho HS với sự hỗ trợ của SĐTD Soạn thảo tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong chương “Chất khí” VL10THPT theo hướng rèn luyện kĩ năng tự học cho HS với sự hỗ trợ của SĐTD;

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm với HS trường THPT Vĩnh Linh- Quảng Trị để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đề xuất và rút ra kết luận

Trang 14

6 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học chương “Chất khí” Vật lý 10 nâng cao THPT theo định hướng phát triển năng lực tự học cho HS với sự hỗ trợ của SĐTD

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông, phát triển NLTH của HS;

- Nghiên cứu các sách, bài báo, luận văn, luận án, tạp chí chuyên ngành liên quan;

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tâm lí học, giáo dục học và lý luận dạy học vật

lý của vấn đề tự học, SĐTD trong dạy học VL;

- Nghiên cứu nội dung và chương trình sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo chương “ Chất khí” thuộc chương trình Vật lý 10 nâng cao THPT

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong giờ học vật lý

ở trường THPT Vĩnh Linh- Quảng Trị Trao đổi trực tiếp với giáo viên và học sinh;

- Dùng phiếu điều tra để tìm hiểu về thực trạng NLTH vật lý của HS.

8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Tiến hành giảng dạy TNg ở lớp 10.

- Quan sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của HS trong giờ học TNg 8.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thử nghiệm sư

Trang 15

phạm và kết quả điều tra để rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm: nhóm ĐC và nhóm TNg.

9 Những đóng góp của đề tài

- Về mặt lí luận, luận văn bổ sung thêm về cơ sở lí luận của việc phát triển

NLTH cho HS, đồng thời làm rõ hơn vai trò của việc sử dụng SĐTD trong DHVL ởtrường THPT;

- Về mặt thực tiễn, luận văn đề xuất các biện pháp và xây dựng tiến trình DH

theo hướng phát triển NLTH cho HS

10 Cấu trúc luận văn

Cấu trúc luận văn gồm:

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học với

sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

Chương 2 Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học của học

sinh chương “ Chất khí ” Vật lí 10 nâng cao THPT với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA SƠ ĐỒ TƯ DUY

1.1 Tự học

1.1.1 Khái niệm tự học

Xét theo nhiều góc độ khác nhau ta có thể thấy có những hoạt động học tập được diễn ra dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển trực tiếp của GV trên lớp Tuy nhiên, hoạt động học tập cũng có thể diễn ra nhưng không chịu sự điều khiển trực tiếp của GV ở trên lớp học mà có thể được diễn ra một cách độc lập, tự lực, do chính người học tự tổ chức tự điều khiển tự kiểm soát ở ngoài lớp học, ở ngoài bài giảng Trong bối cảnh khoa học, kỹ thuật phát triển vượt bậc như hiện nay, nhà trường dầu tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng của cuộc sống

Vì vậy, thúc đẩy HS tự tìm tòi, tự bồi dưỡng, tự học hỏi mỗi ngày mới có thể bù đắp được cho mình những lỗ hổng về kiến thức để thích ứng với yêu cầu cuộc sống đang phát triển Đây là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trường hiện đại cần trang bị cho HS, vì nó có ích không chỉ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi đã bước vào cuộc sống Để hiểu rõ điều đó, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra một số quan điểm về tự học như sau:

Theo Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp v.v…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ tình cảm,

cả nhân sinh quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành luận lợi v.v…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [1]

Tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng, tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị

Trang 17

trí của người tự nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lí thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải

quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp [2].

Tác giả Thái Duy Tuyên viết, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng kỹ xảo… và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học [3]

Tác giả Võ Quang Phúc cho rằng, tự học là một bộ phận của học, nó được tạo thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nội dung học tập nhất định [4]

Từ những nhận định trên, theo quan điểm của chúng tôi: “Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lí, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định Tự học là “nội lực” quyết định chất lượng học tập, sáng tạo cho hôm nay và mai sau”.

1.1.2 Vai trò tự học

Trước sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội, hội nhập kinh tế ngày càng mở rộng đánh dấu thế kỷ XXI là thế kỷ của sự cạnh tranh về mặt trình độ của nguồn nhân lực thì tự học được xem là “chìa khóa vàng” giúp con người không ngừng nâng cao hiểu biết, cập nhật tri thức nghề nghiệp, phát huy được năng lực của bản thân trong lao động và sáng tạo Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và cùng với nó là sự bùng nổ thông tin, việc tự học có vai trò vô cùng quan trọng [5]

Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệu quả học tập

Khi tự học, người học phải vận dụng các năng lực trí tuệ tới mức tối đa để tự mình giải quyết vấn đề Vì vậy, trong quá trình dạy học, người học không chỉ là

Trang 18

khách thể chịu sự tác động của các hoạt động giáo dục mà còn là chủ thể của quá trình nhận thức Điều này đòi hỏi người học phải tự tìm tòi, đào sâu suy nghĩ, động não…từ đó tạo điều kiện cho việc thấu hiểu kiến thức sâu sắc hơn.

Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học

Trong hoạt động dạy học, việc tạo ra kiến thức cho người học gắn liền với nhận thức của chính họ, kiến thức chỉ có được qua hoạt động tư duy của người học Kết quả của tự học cũng là sự chiếm lĩnh kiến thức, biến kiến thức chung của nhân loại thành kiến thức riêng của mình Người học không thể nhớ lâu và cũng không thể vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn nếu như kiến thức đó chưa phải là của họ Vì thế tự học là một hoạt động cốt lõi của việc học

Tự học là con đường tự hoàn thiện cá nhân

Khi tự học, các thao tác tư duy và thao tác chân tay được lặp đi lặp lại nhiều lần góp phần hình thành kĩ năng, phương pháp cho người học Trước cùng một tình huống xảy ra, một vấn đề được nêu lên thì khả năng tự lí giải sự vật, hiện tượng của từng người sẽ đạt các mức độ không bằng nhau Rõ ràng, trong hoạt động học tập, chất lượng và hiệu quả phụ thuộc vào mức độ tích cực tham gia (thái độ) và khả năng xử lí (kĩ năng, phương pháp) của người học

Như vậy, tự học là cách để tiếp nhận tri thức mới, so sánh với kiến thức sẵn

có trước đó, tự đúc rút kinh nghiệm để dần dần hoàn thiện bản thân mình

Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy

Trong quá trình tự học, người học phải sử dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, quy nạp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để giải quyết vấn đề một cách sáng tạo, vì vậy các thao tác tư duy cần được rèn luyện thường xuyên Với cùng một lượng kiến thức nhưng các nhiệm vụ học tập đặt ra ngày càng cao, điều này sẽ giúp cho HS rèn luyện được những kĩ năng, hình thành năng lực giải quyết vấn đề Từ đó sẽ góp phần nâng cao dần khả năng tư duy của HS

Tự học có vai trò to lớn trong sự phát triển toàn diện ở mỗi cá nhân

Ngày nay, nguồn cung cấp thông tin rất đa dạng và phong phú từ sách, mạng internet, băng, đĩa CD… nên nếu có NLTH tốt thì sẽ tận dụng được nguồn thông tin phong phú, đa dạng đó trong việc thu nhận kiến thức cho mỗi cá nhân Trong thời

Trang 19

đại bùng nổ thông tin như hiện nay, tự học có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, tự học là điều kiện quyết định sự thành công của mỗi người Một triết gia đã từng nói:

“Anh đang tư duy nghĩa là anh đang tồn tại” Vì thế con người muốn tồn tại đúng nghĩa thì phải tự học, tự học là tự khẳng định mình

Tự học có vai trò, ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển trí tuệ và phát triển toàn diện con người Tự học giúp người học tìm ra phương pháp học tập phù hợp với mình, biết cách tư duy sáng tạo, biện luận một vấn đề nào đó, năng động linh hoạt trong vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tế Đồng thời, tự học giúp bổ sung, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa những điều đã học, có tác dụng quyết định đến kết quả học tập, phát triển và củng cố năng lực nhận thức, sức mạnh ý chí, nghị lực và những phẩm chất cần thiết của việc tổ chức lao động học tập Ngoài ra, tự học còn giúp người học rèn luyện tính độc lập, rèn luyện trí nhớ và

tư duy Chính vì vậy, giáo dục-đào tạo theo hướng phát triển tự học sẽ tạo ra được những con người năng động, sáng tạo, có khả năng công tác và có thể đưa ra nhiều

ý tưởng phát triển tốt cho mỗi ngành nghề góp phần vào sự phát triển của xã hội

1.1.3 Các hình thức của hoạt động tự học

Xét về mức độ, cách thức biểu hiện sự giao tiếp giữa người học và tài liệu học tập, GV, trường học … mà có thể có các hình thức tự học cơ bản sau.[6]

Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của GV: Trên lớp

học, ngoài những thời gian GV hướng dẫn, giảng giải thì có những hoạt động HS tự nghiên cứu, tìm tòi kiến thức Với hình thức tự học này thì GV đã biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của mỗi HS

Tự học trong một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập: Sau giờ

học trên lớp thì HS hoàn thành nhiệm vụ GV giao về nhà chẳng hạn như học thuộc bài và làm bài tập về nhà HS khá, giỏi có thể làm bài tập thêm trong sách tham khảo, sách nâng cao

Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp với

GV mà chủ yếu nghe GV giảng qua phương tiện truyền thông (đào tạo trực tuyến)

Tự học có hướng dẫn qua tài liệu: Người học trực tiếp làm việc với tài liệu

hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xây dựng kiến

Trang 20

thức, chỉ dẫn cách tra cứu để người học tìm kiếm, bổ sung kiến thức.

Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học không

đến trường, không cần sự hướng dẫn trực tiếp của GV, người học tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn nội dung học, cách học, các hoạt động tự học

và các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm cao Hình thức

tự học này gắn với quá trình tự hoàn thiện của cá nhân người học

1.2 Một số vấn đề về năng lực tự học

1.2.1 Khái niệm về năng lực

Đã có nhiều tác giả đưa ra các định nghĩa về năng lực, dựa vào những dấu hiệu khác nhau có thể phân làm hai nhóm chính:

Dựa trên cơ sở lấy tố chất về tâm lý làm dấu hiệu:

“Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí”, John Erpenbeck 1998.

“Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” ,OECD, 2002.

Dựa trên cơ sở lấy các yếu tố tạo thành khả năng hành động làm dấu hiệu:

Theo Đinh Quang Báo, 2012: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và

có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống.”

Theo Nguyễn Công Khanh, 2012: “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống.”

Mặc dù diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nhưng tất cả các cách diễn đạt trên đều cho thấy năng lực gắn với khả năng thực hiện – nghĩa là phải biết làm chứkhông chỉ dừng lại ở hiểu

Từ những nhận định trên, theo quan điểm của chúng tôi, năng lực là khảnăng cá nhân có thể vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ vào các tình huống cụthể trong cuộc sống để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra một cách hiệu quả nhất

Trang 21

Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp Nhìn vào CT thiết kế theo

hướng tiếp cận năng lực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung và năng lực cụ thể, chuyên biệt.

Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và

làm việc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học

Năng lực cụ thể, chuyên biệt là năng lực riêng được hình thành và phát triển

do một lĩnh vực/môn học cụ thể nào đó, do đặc điểm của môn học đó Ngoài ra,

người ta còn gọi là Năng lực đặc thù môn học hay năng lực môn học cụ thể để

phân biệt với năng lực xuyên CT- năng lực chung

Việc xác định hệ thống năng lực chung cho CTGDPT mỗi nước lại hết sức

đa dạng, phong phú Mỗi nước có thể có thêm những năng lực đặc thù và số lượng năng lực chung cũng khác nhau, nhưng nhìn chung đều tập trung vào 8 năng lực sau đây: Tư duy phê phán, tư duy logic; Giao tiếp, làm chủ ngôn ngữ; Tính toán , ứng dụng số; Đọc-viết (literacy); Làm việc nhóm - quan hệ với người khác; Công nghệthông tin- truyền thông (ICT); Sáng tạo, tự chủ; Giải quyết vấn đề

Trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam đã chỉ rõ cần hình thành

và phát triển những các năng lực chung chủ yếu sau đây cho học sinh: Năng lực tự

học; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực ngôn ngữ và giao tiếp; Năng lực hợp tác; Năng lực tính toán; Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT); Năng lực thẩm mỹ [7]

1.2.2 Khái niệm về năng lực tự học

Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì có một yêu cầu đặt ra là: cần phải hình thành được ở người học năng lực tự học Chỉ khi đã có được năng lực tự học trong bản thân mình, người học mới tự mình tiến hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo ngày nay

Theo tác giả Lê Công Triêm, năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao [8]

Theo quan điểm của chúng tôi, năng lực tự học được hiểu là khả năng tự mình tìm kiếm, thu thập thông tin, xử lý thông tin và vận dụng kiến thức vào tình

Trang 22

huống cụ thể để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, mang đến sự phát triển cho bản thân người học.

1.2.3 Các năng lực thành tố của năng lực tự học

Có thể thấy để hình thành và phát triển NLTH thì bản thân người học cần phải có các năng lực thành tố sau:

1.2.3.1 Năng lực xây dựng kế hoạch tự học

Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một số điểm sau:

- Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Kế hoạch

phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình

- Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác

định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó

1.2.3.2 Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

Năng lực này đòi hỏi người học phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ

sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng rõ…

1.2.3.3 Năng lực giải quyết vấn đề

Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập

kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đềxuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận Kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụnhận thức đồng thời là mục tiêu của việc dạy cho người học phương pháp tự học

1.2.3.4 Năng lực nghe giảng và ghi chép

Khi học tập trên lớp, HS phải biết vận dụng nhiều thao tác như nghe giảng, ghi chép, suy nghĩ, trả lời câu hỏi, trao đổi, thảo luận, hoạt động nhóm… Trong những hoạt động đó HS cần phải biết kết hợp các thao tác nghe, ghi chép và suy

Trang 23

nghĩ trả lời câu hỏi Phát triển được năng lực này sẽ giúp HS học tập hiệu quả hơn, linh hoạt hơn trong tư duy, giáo dục ý thức tự giác, kiên nhẫn và khả năng tư duy nhanh Vì vậy trong quá trình nghe giảng hay nghe phần thuyết trình, HS phải biết chọn lọc kiến thức để ghi chép theo ý hiểu của cá nhân.

1.2.3.5 Năng lực làm việc nhóm

Việc hoạt động nhóm dựa vào tính độc lập, tích cực của các thành viên trong nhóm Mục tiêu học tập được cấu trúc sao cho mọi thành viên quan tâm tới kết quả chung của toàn nhóm cũng như của mỗi cá nhân

Trong mỗi nhóm phải có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng, trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên được xác định cụ thể khi giao nhiệm vụ và khi đánh giá kết quả

Mỗi thành viên trong nhóm phải trực tiếp tham gia các hoạt động, tích cực, chủ động tìm kiếm, thu thập và xử lí thông tin để giải quyết các nhiệm vụ học tập được đặt ra Đồng thời, trong quá trình hoạt động nhóm các thành viên phải có trách nhiệm giúp đỡ, động viên lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung

HS học được những kĩ năng hợp tác: cùng nhau hợp tác trong công việc, kĩ năng giao tiếp, giải quyết các mâu thuẫn hoặc bất đồng phát sinh trong nhóm làm cho nhóm thành một tập thể thống nhất

1.2.3.6 Năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn

Sau khi thu nhận kiến thức, người học có thêm những tri thức mới, tuy nhiên nếu không được sử dụng thì những tri thức đó sẽ bị lãng quên hoặc mai một Vì thế, việc vận dụng tri thức vào thực tiễn vừa là mục đích tự thân của việc học, vừa là quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức Đồng thời cũng sẽ vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn sản xuất đời sống, sinh hoạt hàng ngày

1.2.3.7 Năng lực tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh

Tự kiểm tra, đánh giá là một kỹ năng quan trọng trong tự học Chỉ khi qua tự kiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt đến mức

độ nào Từ đó, đề ra biện pháp điều chỉnh phương pháp tự học để đạt hiệu quả cao

Trang 24

hơn Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình tự học bằng nhiều hình thức khác nhau qua hệ thống các câu hỏi và bài tập nhận thức cụ thể.

1.2.4 Các biểu hiện của năng lực tự học

Tác giả Candy đã liệt kê 12 biểu hiện của người có NLTH Ông chia thành hai nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập Theo ông NLTH có những biểu hiện sau:[25]

Sơ đồ 1.1 Biểu hiện NLTH theo Candy

Nhóm đặc điểm bên ngoài (phương pháp học) chứa đựng các kỹ năng học

tập cần phải có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương pháp dạy của GV sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều kiện để hình thành, phát triển và duy trì NLTH

Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu

thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bởi yếu tố tâm lý Chính vì điều đó mà GV nên tạo môi trường để HS được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học

NLTH

PHƯƠNG PHÁP TÍNH CÁCH

1.Có kỹ năng tìm kiếm và thu hồi thông tin

2.Có kiến thức để thực hiện các hoạt động học tập3.Có năng lực đánh giá, kỹ năng xử lý thông tin và giải quyết vấn đề

6.Có năng lực giao tiếp xã hội

7.Mạo hiểm, sáng tạo

8.Tự tin, tích cực

9.Có khả năng tự học

Trang 25

thông đã xác định người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độclập, kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp Tácgiả đã phân tích có ba yếu tố cơ bản của người tự học đó là thái độ, tính cách và kỹ năng Theo ông NLTH có những biểu hiện sau:[26]

\

Sơ đồ 1.2 Biểu hiện NLTH theo Taylor

Theo chương trình giáo dục phổ thông mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã công

bố vào năm 2017 và xác định có 10 năng lực của học sinh đó là: Năng lực tự chủ và

tự học, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực tính toán, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp và hợp tác Trong đó, biểu hiện của năng lực tự chủ và tự học cấp THPT như sau: [9]

TÍNH CÁCH

NGƯỜI CÓ NLTH

KỸ NĂNGTHÁI ĐỘ

1.Có kỹ năng thực hiện các hoạt động của học tập

2.Có kỹ năng quản lý thời gian học tập

2.Chủ động thể hiện kết quả học tập

3 Độc lập 4.Có Tính kỹ luật5.Tự tin

6.Hoạt động có mục đính

7.Thích học8.Tò mò ở mức độ cao9.Kiên nhẫn

Trang 26

Bảng 1.1 Biểu hiện NLTH cấp THPT theo Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác

- Thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân

Từ những quan điểm trên , theo chúng tôi có thể xác định được các biểu hiện của NLTH như sau:

Bảng 1.2 Biểu hiện của NLTH

TA Năng lực xây dựng kế hoạch

tự học

TA1 Xác định mục tiêu THTA2 Đề xuất phương án THTA3 Xây dựng tiến trình THTA4 Lập bảng biểu TH

TB Năng lực nhận biết tìm tòi và

phát hiện vấn đề

TB1 Quan sát tình huống thực tiễnTB2 Đọc sách, tài liệu, tìm kiếm thông tin trên Internet

TB3 Phát hiện tìm ra bản chất vấn đề

TC Năng lực giải quyết vấn đề

TC1 Phân tích thông tin vấn đềTC2 Đề xuất phương án giải quyết vấn đềTC3 Trình bày cách giải quyết vấn đề

Trang 27

TD Năng lực nghe giảng và ghi

chép

TD1.Sự tập trung chú ý khi nghe giảngTD2 Đặt câu hỏi cho GV những vấn đềchưa hiểu hoặc phát hiện ra chỗ sai trong trường hợp GV bị nhầm lẫn khi dạy

TD3 Cách ghi chép bài học

TE Năng lực làm việc theo nhóm

TE1 Sự tham gia làm việc nhómTE2 Góp ý kiến thảo luậnTE3 Thực hiện nhiệm vụ các nhân

TF Năng lực vận dụng kiến thức

vào thực tiễn

TF1 Sử dụng kiến thức vật lí để thực hiện các nhiệm vụ học tập

TF2 Vận dụng kiến thức vật lí vào các trường hợp thực tiễn

TG Năng lực tự kiểm tra, đánh giá

và tự điều chỉnh

TG1 Tái hiện những kiến thức đã họcTG2 Đưa ra các vấn đề và tự giải chúngTG.3 Rút kinh nghiệm và tự điều chỉnh

1.3 Sơ đồ tư duy và sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy để tự học các kiến thức vật lý 1.3.1 Khái niệm sơ đồ tư duy

Theo nghiên cứu của Roger Sperry vào thế kỷ XX, hai vỏ bán cầu não có xu hướng phân chia thành hai nhóm tư duy chính khác nhau, ở những vùng tư duy khác nhau, có thể tóm tắt như sau: “Hai bên não tức hai vỏ não của chúng ta, được kết nối bằng một mạng lưới cực kì phức tạp gồm những dây thần kinh Corpus Callossum, có chức năng chính là xử lí các loại hoạt động tư duy khác nhau”

Hình 1.1 Minh họa Bộ não con người

Trang 28

Đa số người, vỏ não trái xử lí các vấn đề về suy luận, ngôn từ, liệt kê, con số,quan hệ tuần tự, phân tích,… nói chung những hoạt động mang tính khoa học Còn

vỏ não phải thiên về hình ảnh, nhịp điệu, trí tưởng tượng, màu sắc, mơ mộng, nhận thức về không gian, kích thước, cảm xúc,… nói chung thiên về nghệ thuật [10],[11]

Hãy thử tưởng tượng, não con người như một kho sách khổng lồ, mà các quyển sách này nằm lộn xộn, không theo một trật tự nào cả Lúc đó, việc tìm kiếm

và xử lí thông tin sẽ bị hạn chế, não phải làm việc nhiều hơn Điều này đòi hỏi chúng ta cần có cách thức “sắp xếp” lại bộ não để các thông tin lưu trữ “có hệ thống”, một trong các phương pháp đó là dùng SĐTD

SĐTD là một hình thức ghi chép sử

dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào

sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ

này được gọi là Mind Mapping và được phát

triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960

SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy

Đây là phương pháp chuyển tải thông tin vào

bộ não con người rồi đưa thông tin ra ngoài Nó

là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và hiệu quả theo đúng nghĩa của nó, “sắp xếp” ý nghĩ của con người

Những yếu tố đã làm cho SĐTD có tính hiệu quả cao là:

- SĐTD đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động, đó

là các liên kết, liên kết ở SĐTD có vai trò như các liên kết của các nơron thần kinh Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để

có thể được tìm thấy và sử dụng

- Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một công dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết hợp này

sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ

và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não

SĐTD giúp cho con người tận dụng các chức năng của não trái lẫn não phải khi học Nếu vận dụng đúng cách nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lực tiềm

Hình 1.2 Minh họa BĐTD

Trang 29

ẩn bên trong người học và giúp người học phát huy những năng lực tư duy một cách thực sự hiệu quả.

1.3.2 Vai trò sơ đồ tư duy

Một số ứng dụng cụ thể của SĐTD trong dạy học ở trường phổ thông:[11]

Dùng để hỗ trợ trí nhớ thông qua ghi chú

Ghi chú là tiếp nhận ý tưởng của người khác từ bài nói, sách, phương tiện truyền thông rồi sắp xếp chúng thành một kết cấu phản ánh được ý ban đầu hoặc giúp bạn có thể sắp xếp lại cho phù hợp với yêu cầu của mình Dùng SĐTD để ghi chú sẽ không thực hiện tuần tự theo kiểu thông thường mà là một phương pháp có thể tương tác hài hoà với não thông qua hình ảnh

Là công cụ lý tưởng để tư duy sáng tạo

SĐTD tận dụng tất cả những kỹ năng liên quan đến hoạt động sáng tạo, đặc biệt là trí tưởng tượng:

- Kết nối các ý tưởng mới và độc đáo với những ý tưởng đã có, sử dụng nhiều màu sắc, nhiều hình dạng trong tư duy sáng tạo

- Kết hợp các yếu tố khác thường, phóng đại và sử dụng kích thước Điều chỉnh quan điểm nhận thức đã có, đảo ngược những quan điểm nhận thức

- Đáp ứng một đối tượng về mặt thẩm mỹ, cảm xúc Đáp ứng những tác độngđến thị giác, xúc giác, thính giác, khứu giác và vị giác

Trang 30

Với SĐTD, người sử dụng có thể tìm ra gần như vô hạn số lượng các ý tưởng và sắp xếp lại các ý đó một cách có hệ thống Điều này biến SĐTD trở thành công cụ mạnh để soạn đề cương các bài viết Từ đó, các vấn đề sẽ được triển khai ra dựa trên các từ khoá.

Dùng cho hoạt động nhóm nghiên cứu, học tập

Trong thảo luận nhóm, SĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sử dụng SĐTDgiúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào SĐTD, bất kỳthành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học.Các nhánh chính của SĐTD đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định hướng tư duy một cách logic

Dùng tự học, tự nghiên cứu

Vận dụng SĐTD trong quá trình tự học sẽ giúp HS tư duy lôgic, tư duy sáng tạo, kỹ năng phân tích, tổng hợp…phát triển, năng lực làm việc độc lập của HS được nâng cao

Trang 31

Dùng trong kinh doanh

SĐTD giúp cho nhà kinh doanh hoạch định những vấn đề trong kế hoạch một cách tổng thể nhất, chi tiết nhất, từ đó xây dựng những phương án thích hợp

Dùng trong sinh hoạt đời sống

SĐTD có thể áp dụng trong mọi công việc trong đời sống hàng ngày Một SĐTD cũng sẽ rất hữu ích để lên một kế hoạch cho kỳ nghỉ cuối tuần, một cuộc hẹn, một kế hoạch làm việc cho ngày mai…

Tóm lại, sử dụng thành thạo và hiệu quả SĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt và đáng khích lệ trong phương thức học tập của HS và phương pháp giảng dạy của GV HS sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy GV sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp HS nắm được kiến thức thông qua một SĐTD thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức

1.3.3 Cách vẽ sơ đồ tư duy

1.3.3.1 Công cụ vẽ SĐTD

Để vẽ SĐTD có hai cách để vẽ, vẽ bằng tay hoặc bằng máy tính Nếu vẽbằng tay thì cần bút màu, giấy Nếu vẽ bằng máy tính thì cần những phần mềm như: Mind Map, FreeMind, Mindiet MindManager 6,7,8,9, Edraw Max- V4.5,5.0,6.2, ConCeptdraw-7.0, Imindmap V4.0.0, V2.0.8

1.3.3.2 Các bước vẽ SĐTD

Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm:

Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một tờ giấy đặt

nằm ngang để từ đó phát triển ra các ý khác xung

quanh.Tự do sử màu sắc để làm nổi bật chủ đề, nếu

sử dụng hình vẽ mà chủ đề chưa rõ ràng thì cần bổ

sung thêm từ ngữ vào hình vẽ

Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ

Quy tắc ve vẽtiêu đề phụ:

Tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ

in nằm trên các nhánh dày với trung

Hình 1.3 Vẽ chủ đề

Hình 1.4 Vẽ tiêu đề phụ

Trang 32

tâm.Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ toả

ra một cách dễ dàng

Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ

thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ Quy

tắc vẽ ý chính và chi tiết hỗ trợ:

Chỉ nên tận dụng các từ khoá và

hình ảnh, càng ít từ càng tốt Dùng những

biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm

không gian và vẽ thời gian

Mỗi từ khoá, hình ảnh nên vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh Trênmỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khoá Việc này giúp cho nhiều từ khoá mới và những

ý khác được nối thêm vào các từ khoá sẵn có một cách dễ dàng.Tất cả các nhánh của của một ý nên toả ra từ một điểm Tất cả các nhánh toả ra từ một điểm nên có cùng một màu Thay đổi màu sắc khi đi từ một ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn

Bước 4: Hoàn thiện SĐTD

HS có thể thêm nhiều hình ảnh và

sử dụng màu sắc giúp các ý quan trọng

thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết

để hoàn thiện SĐTD

Để sử dụng công cụ SĐTD một

cách có hiệu quả, trong quá trình lập và sử

dụng SĐTD, cần tuân theo các nguyên tắc nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc

1.3.3.3 Phương pháp lập sơ đồ tư duy

Lập SĐTD trong dạy học

- Chuẩn bị lập SĐTD

+ Đọc lướt: Hãy lật hơi nhanh qua những trang sách để cảm nhận chung về

cuốn sách, nhận biết bố cục, cấu trúc, độ khó, vị trí các phần, tóm tắt, kết luận

+ Định thời gian và lượng kiến thức cần học: Giúp chúng ta tập trung vào

vấn đề, tránh lan man, lệch lạc

Hình 1.5 Thêm ý chính vào

Hình 1.6 Một SĐTD hoàn chỉnh

Trang 33

+ SĐTD về kiến thức môn học: Sau khi ấn định lượng thông tin cần đọc, ghi

ra giấy những thông tin về nội dung sắp đọc dưới dạng từ khóa và SĐTD

+ Nêu câu hỏi và xác định mục tiêu: Dưới dạng từ khóa và SĐTD, câu hỏi

và mục tiêu càng được xác lập chính xác bao nhiêu thì việc lĩnh hội kiến thức càng đạt hiệu quả bấy nhiêu

1.3.4 Cách đọc sơ đồ tư duy

Cấu trúc của SĐTD không xuất phát

từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo

kiểu truyền thống Thay vào đó, SĐTD được

vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung

tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo

chiều kim đồng hồ (Hình 1.7)

Do đó, các từ ngữ trên SĐTD nên được đọc từ phải sang trái, bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài Các mũi tên xung quanh SĐTD bên dưới chỉ ra cách đọcthông tin trong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một hướng dẫn khác.[12]

1.3.5 Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của

sơ đồ tư duy

Trong quá trình dạy học, GV nên coi trọng việc rèn luyện kĩ năng cho HS, nhất là KNTH ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức cho HS Nếu như trong nhà trường, GV chỉ dạy HS những nguyên tắc đại cương, thì khi vào đời các em sẽ không ứng xử được những tình huống phức tạp và đa dạng Thực tế đó, đặt ra cho

GV nhiệm vụ phải rèn luyện những KNTH cho HS bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, để các em có cơ hội tự hoàn thiện bản thân mình nhằm đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn

1.3.5.1 Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin

Quá trình tự học chỉ thật sự hiệu quả cao khi người học thu thập thông tin tốt.Thu thập thông tin là một trong những bước khá cơ bản, nó góp phần quyết định đến chất lượng của vấn đề cần nghiên cứu

 Rèn luyện kỹ năng đọc hiệu quả

Để việc đọc sách, tài liệu đạt hiệu quả, đầu tiên phải xác định mục đích,

Hình 1.7 Cách đọc bản đồ tư duy

Trang 34

nhiệm vụ, yêu cầu học tập: Đọc đoạn (mục) này để làm gì?; Đọc để trả lời những câu hỏi nào?; Lựa chọn nội dung nào cần đọc?; Căn cứ vào quỹ thời gian cho phép thì đọc như thế nào?

GV hướng dẫn phương pháp đọc này như sau:

- Sử dụng một cây bút chì để dẫn đường khi đọc (hình 2.1)

Hình 1.8 Đường dẫn ánh mắt khi đọc sách

- Tìm hiểu những ý chính và đánh dấu các từ khóa

- Đọc phần tóm tắt chương ở cuối mỗi chương trong SGK, tài liệu trước để xác định được kiến thức trọng tâm của chương mà người đọc cần chú ý

Ví dụ: Khi dạy bài 45 “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” mục 1, trang 233 SGK VL10 nâng cao GV hướng dẫn HS đọc sách và gạch dưới những từ mang nội dung quan trọng như: Áp kế, thước T, Pít – tông

 Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích hình ảnh, hình vẽ

Có thể rèn luyện cho HS kĩ năng này theo các bước như sau:

- Cho HS quan sát hình ảnh, hình vẽ, xác định các đối tượng được thể hiện trong hình

- Hướng dẫn HS quan sát chi tiết hình ảnh đó bằng những câu hỏi gợi ý, tập trung vào những đối tượng đặc trưng nhất của hình đó

- Đối chiếu với bài đọc chính trong SGK để bổ sung thêm những chi tiết của đối tượng trong trường hợp hình ảnh chưa nêu rõ

- Cuối cùng, hướng dẫn HS tổng kết, tóm tắt nội dung hình ảnh và khắc sâu kiến thức

Ví dụ: Khi dạy bài 45 “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” mục 1, trang 223 SGK VL10 nâng cao có thể tiến hành như sau:

GV yêu cầu HS quan sát thí nghiệm về “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt”, nhận xét về sự thay đổi của áp suất và thể tích khi:

Trang 35

a) Khi đẩy Pít – tông xuống

b) Khi kéo Pít – tông lên

Sau khi HS quan sát TN và gạch dưới những từ khóa mô tả TN, GV yêu cầu

HS trả lời hai câu hỏi nêu trên Từ đó, phát biểu được ĐL Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt

Dựa trên những câu hỏi định hướng đó HS sẽ tiến hành thu thập thông tin để

xử lí thông tin Thông qua các hoạt động thu thập thông tin đó thì các kỹ năng thu thập thông tin tương ứng sẽ được hình thành

Việc rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin giúp phát triển được năng lực nhận biết tìm tòi và phát hiện vấn đề cho HS

1.3.5.2 Rèn luyện kỹ năng ghi chép, tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy

Sau khi thu thập thông tin (thông qua việc đọc sách, quan sát hình ảnh ) thì việc tiếp theo của HS là ghi chép lại các thông tin đó bằng công cụ SĐTD GV có thể rèn luyện kĩ năng này cho HS theo từng bước như sau:

- Hướng dẫn cách xây dựng SĐTD cho HS

- Hướng dẫn HS xác định chủ đề, tập hợp các từ khóa, hình ảnh minh họa

- Hướng dẫn HS xác định mối liên hệ giữa chủ đề với các ý chính, các chi tiết phụ trợ

- Tổ chức cho từng HS, từng nhóm HS sử dụng SĐTD để ghi chép, tóm tắt thông tin đó (có thể yêu cầu cá nhân HS thực hiện ở trường lẫn ở nhà)

Ví dụ: Sau khi hướng dẫn HS đánh dấu từ khóa và quan sát thí nghiệm GV có thể hướng dẫn HS tóm tắt kiến thức phần 1, 2 bài 45 “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt”

Hình 1.9 SĐTD phần I “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt”

GV nên thường xuyên sử dụng SĐTD ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức VL sau mỗi bài học, mỗi chương học để HS có cái nhìn có cái nhìn khái quát toàn bộ kiến thức của bài học, chương học

Trang 36

Việc rèn luyện kỹ năng ghi chép, tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy giúpphát triển được năng lực nghe gảng và ghi chép cho HS.

1.3.5.3 Rèn luyện kỹ năng xử lí thông tin ( phân tích, so sánh, tổng hợp) với sự

hỗ trợ của sơ đồ tư duy

Quá trình tự học không phải chỉ thu nhận tri thức mà cần biến những tri thứcnày thành tri thức của riêng bản thân người học GV có thể rèn luyện kĩ năng này cho HS như sau:

- Phân tích những thông tin thu thập được và sắp xếp thông tin phù hợp với từng loại kiến thức cũng như phù hợp với mục đích nghiên cứu

- Lập SĐTD về nội dung cần nghiên cứu

+ Xác định mối liên hệ giữa chủ đề với các ý chính, các chi tiết phụ trợ.+ Vẽ SĐTD theo chủ đề ở trên

Việc xử lí thông tin thu nhận được với sự hỗ trợ của công cụ SĐTD của HS

sẽ gặp nhiều thuận lợi vì khi đó việc phân tích, tổng hợp, so sánh thông tin trở nên

dễ dàng hơn Chẳng hạn như, khi phân tích, so sánh ba định luật “Bôi-Lơ – ốt” “Sác - Lơ”, “ Gay Luy - Xác” thì HS có thể xây dựng SĐTD như sau:

Ma-ri-Hình 1.10 SĐTD so sánh ba định luật “Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” ,“Sác - Lơ”

và “ Gay Luy - Xác”

Nhờ sử dụng nhiều kí hiệu, hình vẽ, màu sắc cùng với sự sắp xếp thông tin hợp lí giúp HS nhớ những thông tin đó tốt hơn hẳn so với kiểu ghi chép truyền thống việc so sánh, phân tích tổng hợp sẽ dễ dàng hơn Nhìn vào SĐTD trên, HS

dễ dàng đối chiếu, so sánh sự giống và khác nhau giữa ba định luật này.Việc rèn luyện kỹ năng xử lí thông tin ( phân tích, so sánh, tổng hợp) với sự

hỗ trợ của sơ đồ tư duy giúp phát triển được năng lực giải quyết vấn đề cho HS

Trang 37

1.3.5.4 Rèn luyện kỹ năng truyền đạt thông tin với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

GV có thể hướng dẫn HS rèn luyện kĩ năng này theo trình tự như sau:

- Đọc SĐTD như hướng dẫn ở mục trước

- Hình thành sự liên kết giữa các chi tiết cần trình bày trong đầu dưới dạng

sơ đồ, sắp xếp thứ tự trình bày của các chi tiết này

- Từ các chi tiết, từ khóa, hình ảnh trong SĐTD diễn đạt thành lời nội dung

đó Từ khóa và hình ảnh thể hiện đầy đủ thông tin cần trình bày vì vậy cần phải khaithác triệt để thông tin trong SĐTD

- Tùy theo thời gian trình bày và yêu cầu của câu hỏi mà xác định những phần nào trình bày, phần nào bỏ qua hay là trình bày tất cả

- Khi trình bày cần nhấn mạnh những chi tiết quan trọng, có sự lên xuống giọng hợp lí tránh việc trình bày với giọng đều đều tạo nên sự nhàm chán cho người nghe

GV có thể rèn luyện kỹ năng này trong quá trình dạy học như yêu cầu HS báo cáo kết quả làm việc của nhóm, nêu tóm tắt nội dung bài học dựa trên SĐTD,

Việc rèn luyện kỹ năng truyền đạt thông tin với sự hỗ trợ của SĐTD giúpphát triển được năng lực làm việc theo nhóm và năng lực giải quyết vấn đề cho HS

1.3.5.5 Rèn luyện kỹ năng giải bài tập với sơ đồ tư duy

Bài tập VL có nhiều loại như: bài tập tính toán, bài tập định tính nhưng đều

có thể dùng công cụ SĐTD để hỗ trợ cho việc giải chúng trở nên dễ dàng hơn Chẳng hạn như, với bài tập tính toán HS dùng SĐTD xác định các đại lượng đề bài

đã cho, tìm mối liên hệ giữa chúng thông qua các khái niệm, định luật, thuyết VL

từ đó lập luận đưa ra phương pháp tìm đại lượng mà đề bài yêu cầu Còn đối với bài tập định tính, HS có thể sử dụng SĐTD để phân tích hiện tượng, đưa ra các yếu tốảnh hưởng rồi lựa chọn yếu tố mà là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng đó, từ đó xác định kiến thức VL đã học để giải thích hiện tượng GV có thể hướng dẫn HS rèn luyện kỹ năng này như sau:

- Đọc kĩ đầu bài: Bài tập nói gì? Cái gì là dữ kiện? Cái gì phải tìm? sau đó dùng SĐTD tóm tắt đề bài, rồi dựa vào đó phân tích, xác định mối liên hệ giữa các

dữ kiện, xác định phương pháp, kiến thức cần áp dụng để giải quyết vấn đề

- Tiến hành giải bài tập để tìm kết quả

Trang 38

- Dựa vào SĐTD đã lập, tiến hành biện luận và kiểm tra kết quả.

Việc rèn luyện kỹ năng giải bài tập với sự hỗ trợ của SĐTD giúp phát triển được năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn cho HS

1.3.6 Khả năng sử dụng sơ đồ tư duy để tự học các kiến thức vật lý

1.3.6.1 Sử dụng sơ đồ tư duy để ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức

Trong dạy học VL có thể sử dụng SĐTD để tóm tắt kiến thức theo đề cương, theo chương, theo bài, theo đoạn văn.[10]

Hình 1.11 SĐTD tóm tắt chương trình vật lý 10 nâng cao THPT

Ở từng bài, HS vận dụng SĐTD để làm nổi bật chủ điểm, kiến thức trọng tâm từ đó tìm ra mối liên hệ với các kiến thức khác Khi làm nổi bật sự liên kết, tính khái quát của các kiến thức đã học, HS sẽ tiếp thu tốt hơn, thấy rõ trọng tâm bài học nên sẽ không cảm thấy áp lực nặng nề

Ở mỗi phần, mỗi chương, HS vận dụng SĐTD để hệ thống hoá các bài, các kiến thức trong chương Từ đó, HS có cái nhìn khái quát toàn bộ kiến thức, giúp họnắm vững các vấn đề, ghi nhớ sâu sắc và sắp xếp các kiến thức đã học một cách có

hệ thống, không còn cảm thấy quá nhiều kiến thức rời rạc Do vậy, khả năng ghi nhớ, vận dụng và tái hiện kiến thức cao hơn

Trang 39

Hình 1.12 SĐTD tóm tắt chương “Chất khí” vật lý 10 nâng cao THPT 1.3.6.2 Sử dụng bản đồ tư duy phân tích, giải quyết vấn đề trong SGK Vật lý

Sử dụng SĐTD có thể phân tích, giải quyết vấn đề trong dạy học khái niệm, định luật, thuyết VL, trong dạy học giải bài tập VL và trong dạy học TN VL

Trong dạy học các khái niệm, định luật, thuyết VL; GV có thể tổ chức cho HSdựa vào SGK lập SĐTD để phát hiện vấn đề nghiên cứu, phân tích, đưa ra các ý tưởng và giải pháp để giải quyết vấn đề; từ đó HS có thể chiếm lĩnh tri thức Trong dạy học giải bài tập VL, GV tổ chức cho HS lập SĐTD để tóm tắt đề, xác định mối liên hệ giữa các dữ kiện, giữa dữ kiện với yêu cầu của đề bài; từ đó đưa ra các phương án giải một dạng bài tập hoặc một bài tập cụ thể nào đó Trong dạy học thí nghiệm VL, GV tổ chức cho HS lập SĐTD đề xuất các phương án và tiến hành

TN kiểm tra một nội dung kiến thức nào đó, hoặc phân tích kết quả TN và từ đó rút

ra kết luận

Như vậy, với sự trợ giúp của SĐTD thì trong quá trình tự học của HS sẽ giúp

tư duy lôgic, tư duy sáng tạo, kĩ năng phân tích…được phát triển, năng lực làm việc độc lập của HS được nâng cao

Trang 40

1.4 Đánh giá năng lực tự học

1.4.1 Một số công cụ đánh giá năng lực

1.4.1.1 Thang đo năng lực

Rubrics là một bảng mô tả chi tiết, rõ ràng, có hệ thống các tiêu chí, các mức

độ mà HS nên làm hoặc cần phải làm để đạt mục đích cuối cùng của nhiệm vụ học tập như thuyết trình, làm việc nhóm, bài tập, bài kiểm tra,… để có thể nhận một điểm số hoặc nhận xét tương ứng Rubrics được xem là một công cụ hữu hiệu trong việc thiết lập mối liên hệ giữa đánh giá (ĐG), phản hồi và quá trình dạy học

Một khi những tiêu chí được mô tả chính xác, rubrics có khả năng sử dụng như một công cụ đo lường công bằng, đáng tin cậy, khoa học Tuy nhiên, độ tin cậy

và tính hợp lệ của công cụ này phụ thuộc rất nhiều vào việc GV phải xây dựng thang ĐG như thế nào để có thể xác định các tiêu chí quan trọng và sau đó phân biệt giữa các mức thực hiện một cách khoa học và hợp lý

1.4.1.2 Các bài tập

Xét thấy bài tập có nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn như : Bài tập miệng, bài tập viết, bài tập ngắn hạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệm đóng hay tự luận mở Bài tập có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi

Để đánh giá năng lực (ĐGNL) trong dạy học vật lý, các bài tập vật lý lại càng là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV và cũng là phương tiện để HS phát triển, bộc

lộ NL của mình

1.4.2 Một số phương pháp đánh giá năng lực

1.4.2.1 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm của học sinh

Qua các hoạt động học tập, HS tạo ra các sản phẩm của mình Nghiên cứu sản phẩm của HS là phương pháp đánh giá trong đó GV xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng các sản phẩm do HS tạo ra để nhận định xem HS đạt đến mức nào ở năng lực mà

GV muốn ĐG

Các sản phầm của HS ở đây có thể là: (1) Bài kiểm tra (KT) viết tại lớp; (2) Bài tập về nhà; (3) Báo cáo TN, thực hành; (4) Sản phẩm hoạt động nhóm: sơ đồ, báo cáo nhóm, chế tạo dụng cụ học tập,…

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w