Ngược lại, với sự bùng nổ của CNTT và việc xuất hiện các chương trình ứng dụng trên mạng thì việc truyền đạt thuần túy không thể cung cấp cho người học được nguồn kiến thức khổng lồ và n
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ THỊ MINH TRANG
SỬ DỤNG PHẦN MỀM ISPRING SUITE THIẾT KẾ BÀI GIẢNG E-LEARNING
HỖ TRỢ DẠY HỌC ĐẢO NGƯỢC CHƯƠNG 3 MÔN TOÁN LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HUẾ, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ THỊ MINH TRANG
SỬ DỤNG PHẦN MỀM ISPRING SUITE THIẾT KẾ BÀI GIẢNG E-LEARNING
HỖ TRỢ DẠY HỌC ĐẢO NGƯỢC CHƯƠNG 3 MÔN TOÁN LỚP 4
CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC (Giáo dục Tiểu học)
MÃ SỐ: 60140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM THOA
HUẾ, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Huế, ngày 02 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận văn
Hồ Thị Minh Trang
Trang 4Xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thoa - Người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn quý Thầy Cô giáo đã tận tâm giảng dạy lớp Giáo dục học K24 – Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học trong suốt hai năm học vừa qua Nhân dịp này, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô trong khoa Giáo dục Tiểu học đã luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi hoàn thành khóa học
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường và tập thể GV của trường tiểu học Phước Vĩnh đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và các cấp lãnh đạo nơi tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện, động viên và ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Tác giả luận văn
Hồ Thị Minh Trang
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ
CBQL : Cán bộ quản lí CNTT : Công nghệ thông tin
ĐC : Đối chứng
GV : Giáo viên
HS : Học sinh PMDH : Phần mềm dạy học PPDH : Phương pháp dạy học
TN : Thực nghiệm
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quy trình tổ chức lớp học đảo ngược 25
Bảng 2.2: Chuẩn kiến thức, kĩ năng của các bài trong chương 3 41
Bảng 4.1: Mục đích sử dụng các PMDH của GV 60
Bảng 4.2: Khó khăn của GV trong quá trình sử dụng PMDH 61
Bảng 4.3: Điều kiện để sử dụng PMDH vào hoạt động dạy học Toán 62
Bảng 4.4: Cảm xúc và hứng thú của HS khi học giờ Toán có sử dụng máy tính 62
Bảng 4.5: Tác động của các giờ Toán có sử dụng máy tính đối với HS 63
Bảng 4.6: Đánh giá của HS về giờ học Toán có ứng dụng CNTT 63
Bảng 4.7: Mục đích HS truy cập internet 63
Bảng 4.8: Tổng hợp kết quả bài kiểm tra của nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm 69 Bảng 4.9: Bảng phân phối học lực của HS nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm 69
Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả bài kiểm tra của nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 72
Bảng 4.11: Bảng phân phối học lực của HS nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 72
Bảng 4.12: Đánh giá của GV về nội dung bài giảng E-learning 75
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: So sánh tỉ lệ % học lực của HS nhóm TN và ĐC trước thực nghiệm 69
Biểu đồ 4.2: So sánh tỉ lệ % học lực của HS nhóm TN và ĐC sau thực nghiệm 72
HÌNH ẢNH Hình 2.1: Mô hình lớp học đảo ngược (The Flipped Classroom) 12
Hình 2.2: So sánh mô hình lớp học đảo ngược với lớp học truyền thống 13
Hình 2.3: Thang đo tư duy Blooms 15
Hình 2.4: Mô hình E-learning 26
Hình 2.5: Sơ đồ cấu trúc bài giảng E-learning 30
Hình 2.6: Giao diện Ispring Suite 7 tích hợp trong PowerPoint 35
Hình 2.7: Giao diện soạn thảo câu hỏi trong QuizMarker 36
Trang 7Hình 2.8: Giao diện soạn thảo câu hỏi trong QuizMarker 36
Hình 2.9: Giao diện ghi âm lời giảng 36
Hình 2.10: Chèn video trong nội dung bài giảng 37
Hình 2.11: Giao diện tạo cấu trúc bài giảng 37
Hình 2.12: Giao diện thiết lập thông tin GV 38
Hình 2.13: Giao diện đồng bộ bài giảng 38
Hình 2.14: Giao diện xuất bản bài giảng 39
Hình 4.1: Bài làm của em Ngọc Hà lớp 4/3 70
Hình 4.2: Bài làm của em Thụy Uyên lớp 4/2 70
Hình 4.3: Bài làm của em Đức Phú lớp 4/3 71
Hình 4.4: Bài làm của em Minh Thi lớp 4/3 71
Hình 4.5: Bài làm của em Thu Phương lớp 4/3 73
Hình 4.6: Bài làm của em Diệu Hà lớp 4/3 73
Hình 4.7: Hình ảnh cắt ghép hình bình hành của HS 74
Hình 4.8: Hình ảnh HS thảo luận nhóm trên lớp 74
Trang 8MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH v
MỤC LỤC 1
Chương 1 MỞ ĐẦU 4
1.1 Lí do chọn đề tài 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 6
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
1.5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 7
1.6 Phương pháp nghiên cứu 7
1.7 Giả thuyết khoa học 7
1.8 Cấu trúc đề tài 7
Tiểu kết chương 1 8
Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
2.2 Mô hình lớp học đảo ngược 12
2.2.1 Giới thiệu về mô hình lớp học đảo ngược 12
2.2.2 Cơ sở khoa học của PPDH đảo ngược 15
2.2.3 Những ưu điểm, hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược 17
2.2.4 Tình hình ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học 20
2.3 Quy trình tổ chức lớp học đảo ngược 25
2.4 Khái lược về bài giảng E-learning 26
2.4.1 Khái niệm về bài giảng E-learning 26
2.4.2 Ưu điểm và hạn chế của bài giảng E-learning trong dạy học 27
2.4.3 Cấu trúc của bài giảng E-learning 29
Trang 92.4.4 Nguyên tắc lựa chọn và thiết kế bài giảng bằng phần mềm Ispring Suite 30
2.5 Quy trình thiết kế bài giảng E-learning 32
2.5.1 Xác định mục tiêu bài học 32
2.5.2 Xác định kiến thức trọng tâm, cơ bản và viết kế hoạch bài dạy 32
2.5.3 Xây dựng thư viện tư liệu 33
2.5.5 Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói 34
2.6 Phần mềm Ispring Suite 34
2.6.1 Khái quát về phần mềm 34
2.6.2 Chức năng và các thuộc tính, hiệu ứng tương tác đặc trưng trong Ispring Suite 35
2.7 Nội dung Chương 3 “Dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 9, 3 Giới thiệu hình bình hành” trong chương trình Toán 4 39
2.7.1 Mục tiêu 39
2.7.2 Nội dung 40
2.7.3 Chuẩn kiến thức và kĩ năng 40
Tiểu kết chương 2 42
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
3.1 Thiết kế nghiên cứu 43
3.1.1 Mục tiêu và ngữ cảnh 43
3.1.2 Quan sát lớp học 43
3.1.3 Đối tượng khảo sát 43
3.2 Công cụ nghiên cứu 43
3.3 Quy trình thu thập và xử lí dữ liệu 57
3.3.1 Quy trình thu thập dữ liệu 57
3.3.2 Quy trình xử lí dữ liệu 57
Tiểu kết chương 3 58
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
4.1 Thực trạng sử dụng các phần mềm trong thiết kế và tổ chức hoạt động dạy học Toán ở trường tiểu học hiện nay 59
4.1.1 Kết quả điều tra từ cán bộ quản lí 59
Trang 104.1.2 Kết quả điều tra từ GV giảng dạy 59
4.1.3 Kết quả điều tra từ HS lớp 4 62
4.1.4 Đánh giá thực trạng Nguyên nhân 63
4.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm các thiết kế bài giảng E-learning trên phần mềm Ispring Suite hỗ trợ dạy học đảo ngược chương 3 ở Toán lớp 4 67
4.2.1 Tổ chức thực nghiệm 67
4.2.2 Mức độ nhận thức, thái độ học tập của HS lớp 4 trước thực nghiệm 69
4.2.3 Mức độ nhận thức, thái độ học tập của HS lớp 4 sau thực nghiệm 71
4.2.4 Nhận định của cán bộ quản lí và GV tiểu học về các thiết kế bài giảng E-learning trên phần mềm Ispring Suite hỗ trợ dạy học đảo ngược trong chương 3 ở Toán lớp 4 75
Tiểu kết chương 4 76
Chương 5 LÍ GIẢI VÀ KẾT LUẬN 77
5.1 Lí giải và kết luận câu hỏi 1 77
5.2 Lí giải và kết luận câu hỏi 2 78
5.3 Lí giải và kết luận câu hỏi 3 80
Tiểu kết chương 5 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 11Chương 1 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp giảng dạy ngày càng trở thành một yêu cầu tất yếu trong giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam nhằm hướng đến mục tiêu giáo dục trong thời kì đổi mới là đào tạo một con người toàn diện về năng lực và phẩm chất, một công dân toàn cầu với những kĩ năng tự học suốt đời, tư duy phê phán, kỹ năng làm việc trong môi trường hợp tác Trong lĩnh vực đào tạo, việc cải tiến phương pháp dạy học sẽ có tác động kép: trước tiên là đối với người GV và
hướng quan trọng trong giáo dục và đào tạo hiện nay, tạo ra những thay đổi lớn lao
trong hoạt động dạy và học Ở nước ta, trong những năm gần đây, E-learning thu
hút sự quan tâm của các tổ chức giáo dục, các đơn vị nghiên cứu triển khai CNTT
E-learning như một phương thức dạy học mới, bổ sung và bổ trợ cho các phương
thức đào tạo truyền thống, tạo thêm cơ hội học tập cho đông đảo tầng lớp dân chúng, đặc biệt góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng dạy học
Hiện nay, có nhiều phần mềm dùng để soạn bài giảng E-learning Tuy nhiên, phần mềm Ispring Suite giúp chuyển đổi các bài trình chiếu PowerPoint sang dạng tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có câu hỏi tương tác (quizze) Sau khi cài đặt phần mềm này sẽ tích hợp vào PowerPoint, hỗ trợ cho PowerPoint
có tính năng biên soạn bài giảng nâng cao để tạo ra các bài giảng điện tử tuân thủ
các chuẩn về E-learning Đây cũng là một phần mềm có nhiều tiện lợi và được
nhiều người sử dụng hiện nay
Trang 12Tuy nhiên, có thể thấy rằng, E-learning vẫn chưa thể phủ nhận vai trò chủ đạo
của các hình thức dạy học truyền thống, máy tính vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn phấn trắng bảng đen CNTT mang lại sự tiện nghi, nhanh gọn và tiết kiệm chi phí, tuy nhiên lại làm người học dễ dàng mất đi động cơ học tập và mất đi cơ hội giao tiếp liên nhân như trong lớp học truyền thống Chính vì thế mà các buổi học trực tiếp vẫn giữ được nhiều giá trị mà việc tự học với máy tính không thể nào bù đắp được Ngược lại, với sự bùng nổ của CNTT và việc xuất hiện các chương trình ứng dụng trên mạng thì việc truyền đạt thuần túy không thể cung cấp cho người học được nguồn kiến thức khổng lồ và những thông tin thức thời Vì vậy, việc tìm ra
giải pháp kết hợp học truyền thống với các giải pháp E-learning là điều hết sức cần
thiết trong giáo dục hiện nay Lớp học đảo ngược là một phương thức thiết kế dạy học theo mô hình kết hợp này
Trong ngành giáo dục Việt Nam hiện nay, đặc biệt là ở tiểu học, những giải
pháp học trên mạng Internet thông qua các hình thức như Website, e-mail, blog,
đang dần hình thành và phát triển, có thể thấy được những kết quả hết sức khả quan
từ các mô hình này Tuy nhiên, tất cả mới chỉ dừng lại ở mức hỗ trợ người học tự do trong việc ôn luyện, củng cố kiến thức, kiểm tra đánh giá, luyện tập cho các kỳ thi hay cung cấp kiến thức mới chứ chưa có một mô hình mang tính dạy học thực sự áp dụng trong nhà trường phổ thông Nhiều nhà trường, GV còn lúng túng trong việc
làm thế nào để kết hợp nguồn tài nguyên bài giảng E-learning vào trong dạy học để
đem lại hiệu quả dạy học cao nhất theo xu hướng dạy học có ứng dụng CNTT như hiện nay
Chương trình Toán ở tiểu học gồm bốn chủ đề kiến thức: số học; đại lượng và
đo đại lượng; các yếu tố hình học và giải toán có lời văn Các mạch kiến thức này gắn bó, hỗ trợ lẫn nhau, tạo nên sự thống nhất của toàn bộ nội dung Toán ở tiểu học với mục tiêu cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản ban đầu, hình thành các kĩ năng thực hành tính toán, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong đời sống Nội dung chương 3 “Dấu hiệu chia hết cho 2, 5, 9, 3 Giới thiệu hình bình hành” trong chương trình Toán 4 có đầy đủ các bài học về cả bốn chủ đề kiến thức trên Đây cũng là chương có nội dung kiến thức khá mới đối với HS, vì vậy khi
Trang 13giảng dạy hay đổi mới phương pháp, GV cần tìm hiểu, nghiên cứu kĩ nội dung để chuẩn bị và tổ chức hoạt động dạy học hiệu quả Bên cạnh đó, chúng tôi lựa chọn nội dung chương này để nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra tính khả thi của mô hình lớp học đảo ngược khi vận dụng vào dạy học trên cả bốn chủ đề kiến thức Toán tiểu học
Xuất phát từ những lí do thiết yếu và hữu ích trên, chúng tôi lựa chọn đề tài:
Sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế bài giảng E-learning hỗ trợ dạy học
đảo ngược Chương 3 môn Toán lớp 4
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và điều tra thực trạng về mô hình lớp học đảo
ngược và ứng dụng bài giảng E-learning trong dạy học, đề tài sử dụng phần mềm
Ispring Suite để thiết kế bài giảng E-learning thuộc nội dung chương 3 môn Toán
lớp 4; sử dụng các sản phẩm thiết kế vào tổ chức hoạt động dạy học đảo ngược chương 3 trong môn Toán 4, góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả dạy – học
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Vai trò của phần mềm Ispring Suite dùng trong thiết kế bài giảng E-learning ở tiểu học như thế nào?
Câu hỏi 2: Quy trình sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế bài giảng learning phục vụ dạy học nội dung chương 3 ở lớp 4 như thế nào?
E-Câu hỏi 3: Bằng cách nào để tổ chức quá trình dạy học đảo ngược nội dung
chương 3 ở lớp 4 với sự hỗ trợ của bài giảng E-learning được thiết kế trên phần mềm Ispring Suite?
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến đổi mới phương pháp dạy học
và phương pháp dạy học đảo ngược
Nghiên cứu việc sử dụng công nghệ thông tin nói chung và việc sử dụng phần
mềm Ispring Suite để thiết kế bài giảng E-learning cho môn Toán
Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của HS trong giờ học có sử dụng bài giảng
E-learning
Trang 14Sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế một số bài giảng E-learning trong
chương 3 ở Toán lớp 4
Tiến hành thực nghiệm sư phạm
1.5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:
+ Quy trình sử dụng phần mềm Ispring Suite vào thiết kế bài giảng E-learning
+ Mô hình lớp học đảo ngược
- Khách thể: Quá trình dạy và học nội dung chương 3 trong môn Toán lớp 4
- Phạm vi nghiên cứu: Sách giáo khoa Toán 4 hiện hành
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập, tìm kiếm, xử lý thông tin từ các văn kiện, chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà Nước về giáo dục, đào tạo; các sách báo, tạp chí và các tài liệu liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Tìm hiểu về việc ứng dụng CNTT và bài giảng E-learning trong dạy học ở
các trường TH
+ Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học chương 3 ở Toán lớp 4
Phương pháp phân tích, tổng hợp: đánh giá tình hình ứng dụng CNTT, bài
giảng E-learning vào giảng dạy ở trường TH
1.7 Giả thuyết khoa học
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo xu hướng dạy học có ứng dụng CNTT, thúc đẩy vận dụng mô hình lớp học đảo
ngược trong dạy học môn Toán ở tiểu học với sự hỗ trợ của các bài giảng
E-learning được thiết kế trên phần mềm Ispring Suite
1.8 Cấu trúc đề tài
Cấu trúc đề tài này được trình bày thành 5 chương:
Chương 1: Mở đầu
Trang 15Chương 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Lí giải và kết luận
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã nêu lên lí do cần thiết để tiến hành nghiên cứu
đề tài này, trình bày vấn đề lựa chọn nghiên cứu để từ đó xác định rõ mục đích, đối tượng và khách thể của nghiên cứu Đồng thời, chúng tôi cũng đã đặt ra các nhiệm
vụ cần phải thực hiện nhằm giải quyết vấn đề trọng tâm của đề tài, lựa chọn các phương pháp nghiên cứu phù hợp để khẳng định tính khả thi của đề tài Phần cuối chương vạch ra rõ cấu trúc của luận văn
Trang 16Chương 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Năm 1993, Alison King xuất bản công trình “From sage on the stage to guide
on the side” (Từ nhà thông thái trên các tượng đài thành người đồng hành bên cạnh
bạn) Trong đó, King đặc biệt chú trọng vào việc GV cần sử dụng thời gian ở lớp để
tổ chức cho HS tìm hiểu ý nghĩa của bài học hơn là truyền đạt thông tin Mặc dù
chưa đưa ra khái niệm Flipped Classroom nhưng công trình của King thường được
các nhà giáo dục trích dẫn như là sự thúc đẩy và cách tân cho phép dành không gian lớp học vào các hoạt động học tập tích cực [26]
Đến năm 2000, thuật ngữ “lớp học đảo ngược” được đặt ra bởi một nhóm các giáo sư kinh tế tại Đại học Miami (Ohio) là: Lage, Platt và Treglia để mô tả việc sử
dụng các kĩ thuật Các tác giả đã xuất bản công trình “Inverting the classroom: A
gateway to creating an inclusive learning environment” (Đảo ngược lớp học- cánh
cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn), trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng Các nhà nghiên cứu cho rằng “lớp học đảo ngược là một môi trường đào tạo để sử dụng cả hai hoạt động giáo dục truyền thống và bài giảng” [26]
Đặc biệt, người có công lớn cho mô hình Flipped Classroom (lớp học đảo ngược)
là Salman Khan Năm 2004, Khan bắt đầu ghi hình bài giảng của mình thành các video
để phụ đạo cho em họ sống ở một bang khác Những video này được đưa lên YouTube
và rất được yêu thích Năm 2009, Salman Khan thành lập học viện Khan, cho đến tháng 1/2013 học viện Khan đã có trên 213 triệu bài giảng bao gồm tất cả các môn học,
từ những kiến thức đơn giản nhất như thực hiện phép toán số học của tiểu học đến các bài giải tích vector trong chương trình đại học Học viện Khan đã đến với hơn 100 triệu
người có tinh thần học hỏi trên toàn cầu mỗi năm Các video của học viện Khan (Khan
Academy) được sử dụng như một phần chiến thuật dạy học của các nhà giáo dục Khẩu
hiệu mà học viện Khan đưa ra đầy hấp dẫn “Bạn chỉ cần biết một điều: bạn có thể học
mọi thứ, miễn phí, cho tất cả mọi người, mãi mãi!”
Đầu năm 2007, Jonathan Bergmann và Aaron Sams, hai GVdạy hóa học của trường THPT Woodland Park đã ghi lại những bài giảng của mình và cung
Trang 17cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chương trình, qua đó họ đã xây dựng mô hình lớp học đảo ngược, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS Jonathan và Aaron đã nhận được phần thưởng của tổng thống Hoa Kì vì những thành công trong mô hình lớp học đảo ngược
Cũng vào năm 2007, Jeremy Strayer công bố một nghiên cứu thực hiện tại Đại
học bang Ohio với nhan đề “The effects of the classroom flip on the learning
environment: A comparison of learning activity in a traditional classroom and a flip classroom that used an intelligent tutoring system” (Những ảnh hưởng của lớp học
đảo ngược đối với môi trường học: so sánh hoạt động giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo lộn có sử dụng một hệ thống thông minh) Nghiên cứu nêu bật lên tầm quan trọng của việc chú trọng tới sự liên kết của hoạt động trên lớp và ngoài lớp học
có thể tiêu cực hoặc tích cực ảnh hưởng tới việc tham gia học của HS [25]
Một nghiên cứu gần đây nhất của nhóm tác giả gồm Means, Toyama, Murphy, Bakia, Jones (2010) đánh giá tổng kết hiệu quả của mô hình dạy học kết hợp Nhóm tác giả đã tổng hợp 46 nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh phổ thông và đại học tại Mỹ và kết luận rằng mô hình dạy học kết hợp mang lại hiệu quả học tập Khi so sánh giữa dạy học kết hợp và dạy học theo kiểu truyền thống, nghiên cứu cho thấy
sự khác biệt lớn về kết quả học tập của người học Kết quả này là do mô hình dạy
học kết hợp đã tạo ra được môi trường học thực học (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng như phát triển tư duy phê phán và hình thức học cấp
cao, nó cũng tạo ra môi trường làm việc độc lập và tự kiểm soát việc học như Garrison và Kanuka (2004) đã khẳng định [9]
Với số lượng lớn các nghiên cứu trên thế giới về tổ chức lớp học đảo ngược
với sự hỗ trợ của bài giảng E-learning cho thấy đây là một vấn đề đã được rất nhiều
nhà khoa học, giáo dục ở nước ngoài quan tâm, nghiên cứu và áp dụng Tuy nhiên ở Việt Nam, các nhà khoa học giáo dục hình như vẫn đang đứng ngoài cuộc Chúng tôi vẫn chưa đọc được những khảo cứu công phu về dạy học đảo ngược mà chỉ thấy những bài viết mang tính giới thiệu, biên dịch một cách sơ lược
Tác giả Tô Nguyên Cương (2012, [2]) nghiên cứu về “Dạy học kết hợp - một
hình thức tổ chức dạy học tất yếu của một nền giáo dục hiện đại” đã phân tích các
Trang 18hình thức tổ chức dạy học truyền thống, dạy học trực tuyến và dạy học kết hợp nhằm tối ưu hóa quá trình học tập của HS, nâng cao chất lượng dạy và học
Tác giả Nguyễn Văn Lợi (2014, [9]) nghiên cứu về “Lớp học nghịch đảo – mô
hình dạy học kết hợp trực tiếp và trực tuyến” Trong bài viết của mình, tác giả đã
trình bày cơ sở lí luận và nghiên cứu về mô hình dạy học kết hợp, đặc biệt là phương thức lớp học nghịch đảo cũng như những điều cần lưu ý khi sử dụng phương thức lớp học nghịch đảo, từ đó đề xuất cân nhắc ứng dụng trong hoàn cảnh dạy học của Việt Nam
Một trong những công cụ để thực hiện lớp học đảo ngược là bài giảng
learning Hiện nay có khá nhiều phần mềm được tạo ra để thiết kế bài giảng learning như: Adobe Presenter, Ispring Suite, Lecture Maker,… Trong đó phần
E-mềm Ispring Suite tuy mới xuất hiện trong vài năm gần đây nhưng được đánh giá là
một phần mềm hữu ích, ưu việt và ít gặp sự cố khi thiết kế bài giảng Chính vì thế,
phần mềm Ispring Suite đang được ứng dụng khá phổ biến trong thiết kế bài giảng
E-learning để dạy học
Một số sinh viên của các trường đại học tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về vấn đề này trong dạy học các bộ môn Hóa học, Sinh học cho HS
trung học phổ thông: “Nghiên cứu sử dụng phần mềm Ispring Suite thiết kế bài
giảng E-learning nhằm hỗ trợ kĩ thuật dạy học đảo ngược chương oxi – lưu huỳnh sách giáo khoa hóa học lớp 10, chương trình cơ bản” (Nguyễn Thị Sang, 2016) hay
“Nghiên cứu sử dụng phần mềm Ispring Suie thiết kế bài giảng điện tử E-learning
nhằm hỗ trợ kĩ thuật dạy học đảo ngược chương 5 nhóm halogen sách giáo khoa hóa học lớp 10 chương trình cơ bản” (Lê Thị Ngọc, 2016) Cả 2 đề tài này đều đã
trình bày cơ sở lí luận và nghiên cứu sử dụng phần mềm Ispring Suite vào thiết kế
một số bài giảng điện tử trong chương trình môn Hóa học lớp 10 cơ bản Ngoài ra, trong nghiên cứu của mình, các tác giả cũng đã tạo được một số câu hỏi tương tác nhằm giúp cho HS có thể tự làm trên máy tính trong quá trình học tập
Như vậy có thể thấy rằng vấn đề xây dựng mô hình lớp học đảo ngược với sự hỗ
trợ của bài giảng E-learning đã được nhiều nhà giáo dục, nhà nghiên cứu quan tâm tìm
Trang 19hiểu Tuy nhiên chưa một đề tài nào đi sâu tìm hiểu việc ứng dụng bài giảng E-learning
để tổ chức lớp học đảo ngược ở tiểu học nói chung và môn Toán lớp 4 nói riêng Vì vậy chúng tôi cho rằng đề tài này còn nhiều vấn đề cần đi sâu khai thác, tìm hiểu
2.2 Mô hình lớp học đảo ngược
2.2.1 Giới thiệu về mô hình lớp học đảo ngược
Thuật ngữ lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) đã được các GV Araron
Sam và Jon Bergman phổ biến từ trường trung học Woodland Park, Colorado vào năm 2007
Hình 2.1:Mô hình lớp học đảo ngược (The Flipped Classroom)
Theo Flipped Learning Network: Học tập đảo ngược (Flipped Learning) là
một phương pháp sư phạm, ở đó việc hướng dẫn trực tiếp chuyển từ không gian học theo nhóm sang không gian học cá nhân và do đó không gian nhóm trở thành môi trường học tập năng động và tương tác, nơi nhà giáo hướng dẫn sinh viên áp dụng các khái niệm và tham gia một cách sáng tạo vào các vấn đề
Lớp học lộn ngược mô tả sự đảo chiều của phương pháp giảng dạy truyền thống, nơi HS được tiếp xúc với vật liệu mới ngoài lớp, thường là qua các bài đọc hoặc video bài giảng và sau đó thời gian học được sử dụng để làm công việc khó nhọc hơn thông qua các chiến lược như giải quyết vấn đề, thảo luận hoặc tranh luận (Đại học Vanderbilt, Trung tâm giảng dạy)
Lớp học đảo ngược là một hình thức thiết kế dạy học theo mô hình kết hợp (Strayer, 2012) đã và đang phát triển tại nhiều quốc gia Khái niệm này nghe có
vẻ mới, nhưng thực chất nó là một mô hình lớp học đảo ngược so với lớp học truyền thống [9]
Trang 20Tóm lại, định nghĩa về lớp học đảo ngược đơn giản nhất là “đảo ngược lớp
học là chuyển đổi những hoạt động trong lớp ra ngoài lớp và ngược lại” [18]
Khái niệm này đã được Lage và cộng sự đề xuất vào năm 2000 nhằm đáp ứng các nhu cầu học tập khác nhau của người học Như vậy đặc trưng của lớp học đảo ngược là sự đảo ngược tiến trình học tập: người học được giao nhiệm vụ tự tìm hiểu, tự nghiên cứu nội dung học tập, tài liệu thông qua các bài tập gợi mở, các video bài giảng (học tập trực tuyến) trước khi được giải đáp ở trên lớp học truyền thống (học tập giáp mặt)
Từ đó có thể thấy mô hình lớp học đảo ngược đã có sự thay đổi trong vai trò và mối quan hệ giữa người học – người dạy: người học đóng vai trò trung tâm của quá trình học tập (tự tìm tòi, khai phá tri thức) Người dạy đóng vai trò
là người hướng dẫn, giải đáp và tổ chức các hoạt động Người dạy và người học đều được tham gia vào quá trình đánh giá và tự đánh giá
Hình 2.2: So sánh mô hình lớp học đảo ngược với lớp học truyền thống
Tại lớp học truyền thống, trước tiên người học sẽ được nghe GV giảng bài và sau đó làm bài tập thực hành tại lớp hoặc ở nhà để xử lí thông tin và thu nhận, khẳng định kiến thức Ngược lại, theo Brame (2013), đối với lớp học nghịch đảo, người học sẽ phải tự mình làm việc với nội dung bài giảng trước khi đến lớp thông qua việc xem các video bài giảng, băng hình, đọc tài liệu, tóm tắt tài liệu và khai thác thêm tài liệu trên mạng Bài giảng trở thành bài tập ở nhà mà người học phải chuẩn bị trước khi lên lớp Toàn bộ thời gian trên lớp sẽ dành cho giải đáp các thắc
Trang 21mắc của người học về nội dung bài giảng, giải bài tập, ứng dụng lí thuyết bài giảng vào giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm để xây dựng kiến thức dưới sự hỗ trợ, hướng dẫn của GV
Với mô hình này hoạt động dạy học sẽ lấy HS làm trung tâm, thay vì thuyết giảng như thường lệ, GV bây giờ đóng vai trò là người điều tiết hỗ trợ, giúp HS giải quyết những khó khăn trong học tập; còn HS là người giữ vai trò trung tâm, thay vì tiếp thu kiến thức thụ động từ GV sẽ phải chủ động, tích cực tiếp thu kiến thức, hợp tác và chia sẻ với bạn học
Ví dụ: Khi dạy bài “Diện tích hình thang” (Toán 5)
Quy trình tổ chức theo mô hình lớp học truyền thống:
- GV đưa ra tình huống tính diện tích hình thang
- GV yêu cầu HS cắt ghép hình thang để được 1 hình tam giác
- GV hướng dẫn HS so sánh hình thang và hình tam giác, kết hợp với cách tính diện tích hình tam giác đã học để rút ra quy tắc và công thức tính diện tích hình thang
- HS thực hành luyện tập để củng cố kiến thức vừa học
Quy trình tổ chức theo mô hình lớp học đảo ngược:
- Trước khi dạy bài này, GV đưa ra tình huống sau: Ba bạn Hùng vừa làm một mặt bàn bằng gỗ hình thang với chiều cao của mặt bàn là 25cm, đáy lớn 50cm, đáy
bé 35cm Hỏi ba bạn Hùng đã dùng bao nhiêu mét vuông gỗ để làm mặt bàn đó?
GV giao nhiệm vụ cho HS về nhà tìm hiểu cách tính diện tích hình thang để giải quyết tình huống nêu trên
- Qua việc xem video bài giảng ở nhà kết hợp với kiến thức của bài cũ, HS sẽ nêu ra nhiều phương án giải quyết khác nhau cho bài toán trên Các em sẽ tự nghiên cứu để đưa hình thang về các hình đã biết cách tính diện tích (hình chữ nhật, hình bình hành, hình tam giác)
- HS dựa vào đó để tìm ra cách tính diện tích hình thang và giải quyết được tình huống trên, đồng thời hình thành cho mình kiến thức mới
- Sau quá trình tự học ở nhà, HS tham gia vào lớp học truyền thống Tại đây,
GV sẽ tổng hợp tất cả các hướng giải quyết của HS và tổ chức, hướng dẫn cho các
em thảo luận để chốt lại phương án giải quyết đúng; khẳng định lại cách tính diện tích hình thang cho HS
Trang 22- HS thực hành luyện tập để củng cố kiến thức
- GV hướng dẫn cho HS nhiệm vụ của bài học sau
Như vậy, có thể thấy mô hình lớp học đảo ngược đã chú trọng hơn về thay đổi vai trò của người dạy và ngược học: thay vì GV đưa ra tình huống ở lớp học và GV giải quyết hoặc hướng dẫn HS giải quyết để hình thành kiến thức mới cho các em thì ở lớp học đảo ngược tình huống được đưa ra bên ngoài lớp học để HS giải quyết trước khi GV giải đáp, cung cấp kiến thức mới
2.2.2 Cơ sở khoa học của PPDH đảo ngược
Lớp học nghịch đảo là một mô hình dạy học kết hợp do đó về mặt lí luận
mô hình này dựa trên cơ sở lí thuyết về học tập tích cực Cụ thể là quan điểm dạy học chủ động khám phá, tiếp cận kiến thức thông qua quá trình tương tác (Vygotsky, 1978) [9]
Nhìn từ góc độ nhận thức, cơ sở khoa học của phương pháp dạy học đảo ngược dựa trên thang đo cấp độ nhận thức của Bloom (2011) [9] Sáu bậc thang đo nhận thức của Bloom, từ thấp đến cao là: ghi nhớ, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá
Hình 2.3: Thang đo tư duy Blooms
Ở lớp học truyền thống, giai đoạn HS tiếp thu kiến thức mới thông qua các bài giảng của GV chỉ mới đòi hỏi HS tư duy ở mức độ thấp (theo thang đo tư duy
Trang 23Bloom tức là Nhớ, Hiểu) Những hoạt động đòi hỏi mức độ tư duy thấp này HS có thể tự xử lí ở nhà Với quỹ thời gian ở lớp bị giới hạn, là một hằng số, GV và HS chỉ đủ để tiếp cận với tài liệu và truyền giảng kiến thức Hầu hết việc giảng bài và nghe giảng ước chừng đã chiếm hết 90% lượng thời gian của bài học, 10% thời gian còn lại dành cho việc luyện tập là quá ít [13] Ngoài ra, khi trong quá trình nghe giảng thì người học khó có thể suy nghĩ, tưởng tượng, tư duy để đào sâu kiến thức; hay một bộ phận số người học nếu suy nghĩ lan man các vấn đề khác thì có thể bỏ
lỡ phần bài giảng của GV lúc đó
Sau thời gian học ở lớp, nhiệm vụ của HS là vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các bài tập;phân tích, đánh giá dựa trên kiến thức cũ đã có kết hợp xử lí các thông tin liên quan đến bài học để xây dựng kiến thức tổng quát Những hoạt động này đòi hỏi HS phải tư duy ở mức độ cao hơn (theo thang đo Bloom tức là “Vận dụng”,
“Phân tích”, “Đánh giá”, “Sáng tạo”) cần được thực hiện thông qua các hoạt động tương tác ở lớp, khi có thầy cô và bạn bè cùng chia sẽ, hỗ trợ Bên cạnh đó, nếu HS không hiểu bài sẽ gặp khó khăn trong quá trình làm bài tập, lúc này cha mẹ các em sẽ đóng vai người thầy bất đắc dĩ để giúp con mình làm bài và hầu hết không thành công trong vai trò này, hoặc rất vất vả vì phụ huynh không có chuyên môn
Ở lớp học đảo ngược, việc tìm hiểu kiến thức được định hướng bởi người thầy
thông qua các bài giảng E-learning do GV đã chuẩn bị và cung cấp cho HS, nhiệm
vụ của HS là tự tiếp cận với các kiến thức này và làm bài tập mức độ thấp ở nhà Thời gian học trên lớp, thay vì thụ động nghe giảng, các em sẽ được GV tổ chức các hoạt động để tương tác và chia sẻ lẫn nhau GV sẽ hướng dẫn, hỗ trợ các em làm bài tập khó và kiểm tra được trình độ tiếp thu kiến thức của HS để có hướng hỗ trợ thêm hay hướng dẫn nội dung học kế tiếp Các hoạt động tư duy bậc cao được thực hiện tại lớp dưới sự hỗ trợ của thầy giáo và các bạn cùng nhóm, nhờ đó mà HS dần nâng cao năng lực nhận thức của bản thân
Về nhà, HS tự kiểm tra lại kiến thức và nghiên cứu, tìm hiểu thêm thông tin Như vậy, công việc trên lớp của thầy và trò sẽ chỉ còn dừng ở việc giải đáp các thắc mắc về bài học, thầy giáo hướng dẫn HS đào sâu kiến thức, thực hành, thực hiện các hoạt động nhóm phù hợp cũng như dành nhiều thời gian hơn trong việc luyện tập và
tư duy… quá hấp dẫn và hứng thú cho cả thầy lẫn trò
Trang 24Chính vì thế, mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) ra đời và được
xem như giải pháp cho bài toán làm cách nào để tăng thời gian hỗ trợ của GV cho những thời điểm HS cần tư duy đào sâu kiến thức
2.2.3 Những ưu điểm, hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược
2.2.3.1 Những ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược
Thời gian học tập trên lớp được sử dụng hiệu quả
Như đã trình bày ở trên, mô hình đảo ngược được vận dụng vào trong dạy học nhằm nâng cao năng lực tư duy, nhận thức của HS, hỗ trợ HS trong quá trình giải quyết bài tập và đào sâu kiến thức Chính vì thế, với mô hình này, thời gian học tập
ở trên lớp được sử dụng hiệu quả hơn Do các em đã được tiếp cận với bài học ở nhà, nắm được những phần kiến thức cơ bản nên trong buổi học trên lớp, các em sẽ tập trung vào việc luyện tập, hỏi đáp kiến thức, không mất thời gian vào việc tìm hiểu những kiến thức quá dễ, gây nhàm chán HS sẽ dành nhiều thời gian để tập trung khám phá những vấn đề khó hơn
Trong giờ học trên lớp, các em sẽ cùng nhau thảo luận theo chủ đề, gây được
sự hứng thú và phong trào học tập tích cực trong lớp Có thể nói, môi trường học tập sôi động, đầy hứng thú này sẽ giúp các em học tập một cách tập trung nhất, tạo
ra những cơ hội học tập thú vị giúp đạt hiệu quả cao nhất
Lấy HS làm trung tâm
Lớp học đảo ngược khiến việc giảng dạy lấy HS làm trung tâm Trong các lớp học truyền thống, GV là trung tâm của thông tin Nếu HS thảo luận câu hỏi thì tất cả đều xoay quanh những ý kiến chủ đạo của GV Còn ở lớp học đảo ngược, chúng ta
có thể nhận thấy vai trò của GV và HS có sự chuyển đổi rất lớn GV không chỉ lên lớp truyền giảng như thường lệ mà có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động học tập, định hướng, hướng dẫn HS, xây dựng các nội dung giúp HS tự nghiên cứu Đối với HS, giờ đây, không chỉ thụ động thu nạp, ghi nhớ thông tìn mà còn phải biết cách phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin một cách hiệu quả
Hướng vào dạy học cá thể, giúp đỡ HS yếu kém
Lớp học đảo ngược hướng vào dạy học cá thể Với các bài giảng E-learning,
video do GV cung cấp, HS sẽ có cơ hội học theo nhịp độ suy nghĩ và năng lực của
Trang 25cá nhân HS có thể dừng hình, tua lại hoặc dừng hẳn để học theo tốc độ tiếp nhận kiến thức của mình Đây là cách giải quyết cho vấn đề ở lớp học truyền thống, đôi khi GV khó xác định chính xác khái niệm nào HS dễ nắm bắt và khái niệm nào thì khó khăn Đôi khi, giảng kĩ một khái niệm cho nhóm người học này sẽ lấy đi thời gian của các nhóm HS đã hiểu còn lại
Trong một lớp học như thế này, những HS khá giỏi tiết kiệm được thời gian không phải nghe thầy giảng lại bài hoặc giảng chậm cho những bạn khác trong lớp, nhờ đó mà các em có tư duy tốt sẽ có thời gian để mở rộng kiến thức Bên cạnh đó,
GV sẽ có nhiều thời gian để kèm cặp những HS yếu hơn Những HS nào chưa nắm vững bài giảng hay gặp khó khăn khi giải quyết bài tập thì GV sẽ chú ý hướng dẫn,
hỗ trợ nhiều hơn Điều này rất quan trọng giúp nâng cao chất lượng của buổi học Ngoài ra, loại hình học tập này còn tạo ra môi trường học tập linh hoạt Lớp học đảo ngược cho phép HS lựa chọn cách thức, nơi chốn, thời gian học tập phù hợp với điều kiện của bản thân Các em có thể học mọi lúc, mọi nơi và với mọi thiết
bị chỉ cần thiết bị đó có thể online được như smart phone, máy tỉnh bảng, máy tính
bàn có kết nối internet… Nhờ vào các phương tiện lưu trữ bằng công nghệ thông
tin, bài giảng có thể tái sử dụng dễ dàng, người học có thể nghe, xem nhiều lần, những HS vắng học cũng không bỏ lỡ bài giảng Vì vậy, mô hình này tạo cơ hội bình đẳng về tiếp nhận thông tin kiến thức
Tăng cường tính tương tác
Đối với loại hình học tập này, HS có cơ hội tương tác nhiều hơn với GV và các bạn cùng lớp Những bài giảng cũng như các yếu tố thường thấy trong lớp học truyền thống chuyển hóa tập trung hơn vào tương tác cá nhân, ví dụ như việc cùng thảo luận và giải quyết vấn đề theo nhóm nhỏ Trong quá trình chuẩn bị bài ở nhà, nếu có thắc mắc, các em có thể trao đổi với GV hay thảo luận với bạn học thông
qua các diễn đàn như facebook, zalo,… Sự hỗ trợ kịp thời này sẽ giúp các em hiểu
bài một cách bản chất nhất, tránh được hiện tượng chán nản mỗi khi gặp bài khó và học tập hiệu quả hơn Giờ học trên lớp cũng chú trọng tăng cường kĩ năng làm việc nhóm và tập trung vào các hoạt động tương tác như thảo luận, giải đáp thắc mắc, trình bày hiểu biết Các em sẽ làm việc cùng nhau để xây dựng kiến thức cho mình.HS được trao đổi và học hỏi lẫn nhau nhiều hơn
Trang 26 Phát huy tính tích cực, tự giác và tự chủ cho HS
Do những yêu cầu bắt buộc của việc học tập ở nhà, chuẩn bị kiến thức cho buổi học tiếp theo trên lớp, các em phải chủ động hoàn thành một khối lượng kiến thức và bài tập nhất định, lâu dần thói quen đó sẽ giúp các em có ý thức tự giác, chủ
động trong học tập Đặc biệt, E-learning còn có các công cụ có chức năng kiểm tra
quá trình học tập của các em (từ việc chuẩn bị kiến thức trước khi đến lớp đến việc làm bài thi đánh giá kết quả học tập sau mỗi buổi học), giúp các em học tập một cách có kỷ luật và có thể tự đánh giá được khả năng, sự tiến bộ trong học tập của chính bản thân mình
Mô hình này cũng giúp tạo ra môi trường khuyến khích tự chủ trong học tập vì người học có cơ hội học tập theo nhịp độ riêng của mình và trở nên có trách nhiệm với việc xây dựng kiến thức thay vì chờ đợi sự truyền đạt tri thức của GV
2.2.3.2 Những hạn chế của mô hình lớp học đảo ngược
Điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu hụt
Là một mô hình sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ giảng dạy, bất lợi lớn nhất của nó dường như nằm ở chính công nghệ Sự thiếu bình đẳng về công nghệ có thể là rào cản đối với việc học tập của những HS thiếu điều kiện tiếp cận với công nghệ
Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin ở Việt Nam rất khác biệt do hoàn cảnh kinh tế và vùng miền khác nhau của HS Sự thiếu hụt về cơ sở vật chất phục vụ cho
mô hình học tập này dẫn tới việc triển khai không đồng bộ giữa các vùng miền, có thể tạo ra sự phân hóa rõ rệt khi người học học tập trung cùng nhau theo phương pháp truyền thống Ở các thành phố lớn, các trường học, cơ sở giáo dục đã được chú trọng trang bị các thiết bị hiện đại Tuy nhiên, đối các vùng núi, vùng sâu vùng xa,
để có đầy đủ thiết bị dạy học cho GV và học tập cho HS là một điều xa xỉ Không phải tất cả gia đình HS đều có cơ sở hạ tầng về truyền thông đồng đều và không phải tất cả các em đều dễ dàng truy cập, lấy được bài giảng của GV để nghiên cứu, học tập
Tư duy và thói quen của người dạy và người học còn hạn chế
Dạy học đảo ngược có thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm và kỹ năng sử dụng công nghệ trong giảng dạy của
Trang 27GV Muốn thực hiện các bài giảng E-learning và sử dụng các PMDH để tổ chức
hoạt động học tập trong lớp thì đòi hỏi GV phải giỏi về công nghệ và vững về phương pháp Tuy nhiên hiện nay, vẫn còn nhiều GV hạn chế về trình độ tin học và
kĩ năng sử dụng máy tính chưa cao Ngoài ra, do chưa hiểu thấu đáo về lớp học đảo ngược, nhiều GV sẽ đưa ra những biện pháp sư phạm không phù hợp như sử dụng thời gian ở lớp để giải các đề thi, bài tập nâng cao quá sức HS,…
Về phía người học, nhiều HS vẫn còn phong cách học tập thụ động theo phương thức đọc chép hay xem chép, học vẹt và tỏ ra bối rối khi GV yêu cầu tự học trực tuyến Không phải HS nào cũng sẵn sàng dành thời gian ở nhà để chuẩn bị cho những bài học bắt buộc và các em cũng không hứng thú hợp tác trong các tình huống tương tác ở trên lớp học Bên cạnh đó, khi học theo mô hình này, yêu cầu các
em phải dành nhiều thời gian hơn cho việc tiếp xúc với máy tính và mạng, nếu không có ý thức tự giác, kỉ luật cao thì các em sẽ rất dễ sa vào những thứ tiêu khiển, không quan trọng
GV tốn nhiều thời gian để chuẩn bị bài giảng
Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược, đòi hỏi khối lượng công việc của
GV sẽ nhiều hơn Nhiệm vụ của GV là phải chuẩn bị video bài giảng trực tuyến và các tình huống tương tác cho HS ở trên lớp học truyền thống Muốn quá trình đảo
ngược thành công thì những giáo trình E-learning phải rất bài bản và hấp dẫn để lôi
cuốn được HS không xao lãng mà tập trung vào việc học Chính vì thế hạn chế lớn nhất theo NSTA Reports là GV phải mất rất nhiều thời gian để chuẩn bị bài giảng điện tử để đưa lên mạng Ngoài ra, GV phải quản lý và đánh giá được việc tiếp thu kiến thức thông qua các bài tập nhỏ đi kèm với bài giảng
2.2.4 Tình hình ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học
2.2.4.1 Tình hình ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học ở trên thế giới
Lớp học đảo ngược là một mô hình dạy học kết hợp trực tuyến và trực tiếp đã
và đang phát triển tại nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Úc,…Ở Mỹ, mô hình dạy học này đã rất thành công, phần lớn các cơ sở giáo dục đã đảo ngược quy trình nghe giảng bài trên lớp, về nhà làm bài tập Phương thức dạy học này được ứng dụng trong dạy các môn học khác nhau đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân
văn tại các trường phổ thông và đại học ở Mỹ (Brinkley, 2012)
Trang 28Vào thập niên 1990, tại Khoa công nghệ và Khoa học Ứng dụng của Đại học Harvard, ông Trưởng Khoa Eric Mazur và giáo sư Vật lý và Vật lý ứng dụng Balkanski (NewsRx Health, 2012) đã sử dụng mô hình với tên gọi là Peer Instruction (học lẫn nhau) sau khi giáo sư này thấy rằng mặc dù bài giảng của ông ta được đánh giá cao, nhiều sinh viên vẫn chưa thật sự hiểu các khái niệm Vật lý trong bài giảng của mình.Trong lĩnh vực giáo dục về kinh tế, năm 2000, Maureen Lage, Glenn Platt, và Michael Treglia cũng công bố cách dạy theo mô hình này trên Tạp chí Giáo dục Kinh tế khi họ nhận thấy rằng cách dạy truyền thống không phù hợp với một số phong cách của người học [9]
Năm 2007, các giáo sư hóa học của Trường Trung học Woodland Park, Jonathan Bergan và Aaron Sams thông qua Khan Academy (khanacademy.org) lần đầu tiên thực hiện mô hình lớp học đảo ngược, họ cung cấp những video bài giảng là nội dung lẽ ra được giảng ở trên lớp cho HS xem tại nhà, còn tại lớp họ cho HS thảo luận và mở rộng
kiến thức Từ đó, mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) chính thức ra đời và
được biết đến như một đáp án tối ưu cho bài toán làm cách nào tăng thời gian hỗ trợ của GV cho những thời điểm HS cần tư duy đào sâu
Trong năm 2011, các nhà giáo dục tại Trường Trung học Clintondale của Michigan đã đảo ngược toàn bộ lớp học Hiệu trưởng Greg Green đã nỗ lực để giúp GV phát triển kế hoạch cho lớp học đảo ngược Ông đã làm việc với GV xã hội học, Andy Scheel, để tổ chức 2 lớp học với tài liệu và bài tập hoàn toàn giống nhau, một lớp theo truyền thống và một lớp học đảo ngược Lớp đảo ngược có nhiều HS đã thất bại trong các khóa học, thậm chí có HS đã trượt nhiều lần Sau 20 tuần, HS trong lớp học đảo ngược đã vượt trội hơn HS trong các lớp học truyền thống Học kỳ trước 13% HS đã trượt trong kì thi nhưng đến kì này không có HS nào trong lớp học đảo ngược đạt điểm thấp hơn C+ Lớp học truyền thống cho thấy không có thay đổi [25]
Với cách học tích cực và kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ, mô hình dạy học này nhanh chóng thu hút các nhà giáo dục ở Mỹ và một số quốc gia khác Tại
Mỹ, kể từ khi thành lập vào tháng 1/2014, tổng số GV tham gia mạng lưới dạy học
Trang 29bằng hình thức Flipped Classroom đã tăng từ 2,500 lên đến 20,000 vào tháng 6/2014 Theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network
tiến hành hồi tháng 5, số lượng GV áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với chỉ 48% vào năm 2012 Trong đó, các GV tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS tăng lên 67% so với cách học truyền thống Ngoài ra, 3/4 trong tổng số 180.000 HS trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng lớp học đảo ngược mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường [27]
Trong năm 2014, trường đại học MEF, một trường đại học tư nhân phi lợi nhuận ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, đã áp dụng mô hình dạy học đảo ngược Đây là trường đại học đầu tiên trên thế giới đã áp dụng mô hình giáo dục này trên toàn trường Một trang mạng có tên là Peer Instruction Network được tạo ra và đến nay đã
có hơn 1900 nhà giáo từ các cấp trường khác nhau ở nhiều quốc gia khác nhau như Ê-ti-ô-pi, It-xra-en, Sin-ga-po, Phần Lan, Hi Lạp, Đức, Nam Phi và kể cả Việt Nam tham gia và chia sẻ kinh nghiệm sử dụng mô hình [9]
2.2.4.2 Tình hình ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học ở Việt Nam
Nhận thấy được những ưu điểm của mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học, các nhà nghiên cứu và giáo dục ở Việt Nam đã tiếp cận và có những công trình nghiên cứu cũng như từng bước vận dụng mô hình này vào dạy học ở các bậc học
Ở Việt Nam, phương pháp lớp học đảo ngược đã được sử dụng từ khá lâu ở bậc đại học Các trường đại học đã sử dụng mô hình dạy học này để giảng dạy cho sinh viên và nhận được kết quả khả quan Như Đại học FPT đã triển khai mô hình này trên 4 lớp với 100 sinh viên Kết quả cho thấy, số sinh viên thi đỗ thực hành tại Đại học FPT tăng từ 30% ở các lớp thông thường lên 53% khi áp dụng mô hình lớp học đảo ngược [27]
Hiện nay ở Việt nam, đã có một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình dạy học đảo ngược trong giảng dạy như Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế
Apolo, trường học Techmaster và các trang web giáo dục trực tuyến như Moon.vn,
Zuni.vn, Mô hình lớp học đảo ngược đã được áp dụng tại Techmaster từ cuối năm
Trang 302014 Ban đầu là giảng viên chia sẻ mã nguồn, slide trước khi buổi học bắt đầu Từ
tháng 5/2015, lớp Node.js tại Techmaster đã áp dụng bổ sung chức năng học viên có
thể xem video trực tuyến ghi lại bài giảng trước khi đến lớp Số lượng buổi học
offline rút từ 2 buổi xuống 1 buổi Giảng viên có thêm thời gian (thực tế phải đầu tư
thêm thời gian) để ghi hình bài giảng Học viên có thể xem đi xem lại bài giảng bất
kỳ lúc nào, tùy thích Mọi hỏi đáp, trao đổi giữa học viên và giảng viên diễn ra trong nhóm đóng Mọi câu hỏi được trả lời rất nhanh và mọi thành viên trong lớp học đều
có thể tham khảo Giảng viên và học viên cùng lập trình qua GitHub
Trong những năm gần đây, GV của các cấp học phổ thông cũng đã bắt đầu tìm hiểu và vận dụng mô hình này vào hoạt động dạy học Như tại Quận 1 TP.HCM, phương pháp lớp học đảo ngược đã được GV Tô Thụy Diễm Quyên (giảng viên chương trình Ứng dụng CNTT vào dạy học của Bộ GĐ&ĐT) thử nghiệm ở môn Hóa học lớp 9, nhận được một số thành công nhất định qua kết quả học tập và qua phản hồi tích cực từ phía HS Đây cũng là phương pháp giảng dạy mới đang được
GV Lê Thị Lý - Tổ trưởng Tổ Giáo dục công dân, trường THPT Trần Khai Nguyên (Q.5, TP.HCM) - áp dụng để giảng dạy pháp luật ở bậc THPT Những tiết dạy của
GV Lý khiến cho HS rất tích cực, hứng thú vì các em được chủ động tìm hiểu và thuyết trình, tạo ra các tình huống cho các bạn trong lớp giải quyết Hay sáng kiến
“Lớp học đảo ngược” của thầy Phạm Ngọc Lâm – GV môn Toán - Lý, trường THCS Thành Công (quận Ba Đình, TP Hà Nội) được xếp loại B cấp thành phố Đây là một trong những sáng kiến của cán bộ, đoàn viên trong trường được công đoàn và lãnh đạo nhà trường đánh giá cao Sáng kiến này không chỉ nhằm hiện thực hóa khát vọng sáng tạo để nâng cao chất lượng giảng dạy của thầy Lâm mà còn giúp
HS hưởng lợi khi được GV hỗ trợ nhiều hơn, tâm thế học chủ động hơn, sáng tạo hơn và có cái nhìn thực tế hơn…
Ở bậc Tiểu học, mô hình này hiện nay cũng đang được khá nhiều GV quan tâm tìm hiểu Trường Tiểu học Vinschool – trường học thuộc hệ thống Vinschool của Tập đoàn Vingroup đã sử dụng mô hình lớp học đảo ngược vào dạy học môn Lịch sử nhằm tạo hứng thú cho các em khi học tập môn học có phần khô khan này
Trang 31Với các bài học lịch sử, các em được GV khuyến khích về nhà tìm hiểu và thiết kế
phần trình bày trên PowerPoint để thuyết trình trước lớp Các em được giữ vai trò là
người trợ giảng, giảng bài cho các bạn trong lớp Điều này khiến các em thực sự thích thú và hăng say tìm hiểu kiến thức
Với một vài ví dụ thực tế về việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào hoạt động dạy học và những kết quả khả quan mà nó mang lại, có thể tin rằng mô hình này
là giải pháp phù hợp cho giáo dục Việt Nam trong bối cảnh bùng nổ của công nghệ thông tin, nhằm kích thích hơn nữa tính tích cực, chủ động của người học
Tuy nhiên, hiện nay mô hình lớp học đảo ngược được áp dụng cho các bậc học phổ thông thì chưa phổ biến do chưa có bất kỳ một cuộc tập huấn nào triển khai về
mô hình này dành cho GV phổ thông Các GV vẫn còn áp dụng một cách tự phát, rời rạc, không có sự kết nối, không có môi trường để lan tỏa
Áp dụng mô hình này vào thực tế dạy học ở Việt Nam, dù ở mức độ thực nghiệm, chúng ta cũng đối diện với nhiều khó khăn và thách thức như: Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin ở Việt Nam rất khác biệt do hoàn cảnh kinh tế và vùng miền khác nhau của HS; nếu có điều kiện về vật chất, các em chưa có thói quen vào mạng học bài và nếu không có sự giám sát và tinh thần kỷ luật cao, các em dễ sa đà,
mất thời gian vào các kênh hấp dẫn khác trên internet Ngoài ra mô hình này cần có
sự đồng thuận lớn từ phụ huynh và gia đình HS; khi bắt tay vào xây dựng mô hình này, các GV Việt Nam không có thuận lợi như ở các nước nói tiếng Anh, vốn được thừa hưởng một kho tài liệu khổng lồ từ học viện Khan Với GV, mô hình này buộc
họ phải dành rất nhiều thời gian, tiền bạc và năng lực công nghệ đầu tư cho các sản phẩm gửi đến HS
Để mô hình thành công ở Việt Nam, điều cần thiết nhất là sự liên kết, các GV không thể hoạt động riêng lẻ Do đó cần xây dựng những diễn đàn để họ có thể học hỏi, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm Mạng lưới lớp học đảo ngược ở Mỹ có đến 22.000 GV và các nhà giáo dục tham gia Các phòng ban và cán bộ quản lí cần tạo môi trường để khuyến khích GV tích cực sáng tạo vận dụng mô hình vào trong dạy học Các cơ sở giáo dục cần được quan tâm đầu tư hơn về cơ sở vật chất để tạo nên
nhiều cơ hội tiếp cận và học tập với công nghệ cho HS
Trang 322.3 Quy trình tổ chức lớp học đảo ngược
Quá trình tổ chức dạy học đảo ngược bao gồm 2 giai đoạn với 4 quy trình cùng các bước tiến hành như sau:
Bảng 2.1: Quy trình tổ chức lớp học đảo ngược
Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học Bước 2: Phân tích logic cấu trúc nội dung dạy – học
Bước 3: Sưu tầm và xây dựng các phương tiện dạy học
kỹ thuật số phù hợp với nội dung dạy học Bước 4: Thiết kế kế hoạch bài học
Bước 5: Nhập liệu thông tin từ kế hoạch vào phần mềm
hình thành bài học đa phương tiện Quy trình 2:
Xây dựng bài học trực tuyến trên website
Bước 1: Thiết kế trang Web quản lí bài bọc trên
website Bước 2: Đưa bài học đa phương tiện lên website
Bước 3: Chạy thử bài học đa phương tiện trên website
Bước 4: Chỉnh sửa và hoàn thiện
Bước 5: Viết hướng dẫn sử dụng bài học đa phương
tiện trên website
Bước 1: Tự xác định nhiệm vụ học tập Bước 2: Tự kiểm tra kiến thức cũ Bước 3: Tự học bài mới
Bước 4: Tự củng cố, hoàn thiện kiến thức Bước 5: Tự kiểm tra, đánh giá kiến thức mới Bước 6: Đưa ra những câu hỏi thắc mắc
Quy trình 2:
Học trên lớp
Bước 1: Kiểm tra bài cũ Bước 2: Tổng hợp những câu hỏi thắc mắc Bước 3: Tổ chức thảo luận
Bước 4: Kết luận, chính xác hóa kiến thức Bước 5: Vận dụng vào thực tiễn và đời sống Bước 6: Hướng dẫn cách học bài sau
Trang 332.4 Khái lược về bài giảng E-learning
2.4.1 Khái niệm về bài giảng E-learning
E-learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet vào việc dạy và
học nhằm làm cho công việc giáo dục trở nên dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả hơn
E-learning là tập hợp đa dạng các phương tiện, công nghệ kỹ thuật cho giáo
dục như văn bản, âm thanh, hình ảnh, mô phỏng, trò chơi, phim, thư điện tử, các
diễn đàn thảo luận, các forum,…
Bài giảng E-learning là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện gồm phim (video), hình ảnh,
đồ họa, âm thanh, hoạt hình,… và tuân thủ một trong các chuẩn SCROM, AICC Bài giảng E-learning khác hoàn toàn toàn với khái niệm giáo án điện tử, bài trình chiếu (PowerPoint) thường gọi Nếu ta soạn bài giảng bằng PowerPoint thì phải sử dụng trực tiếp nó, còn bài giảng E-learning là một bài giảng hoàn toàn phụ
thuộc vào tác động người học
- Bài giảng E-learning có thể dùng để học ngoại tuyến (off-line) hoặc trực tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học
mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường – lớp
Trang 34- Phân phối: Việc phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử Ví dụ tài liệu được gửi cho HS bằng e-mail, HS học trên
website, học qua đĩa CD - Rom multimedia…
- Quản lý: Quá trình quản lý đào tạo được thực hiện hoàn toàn nhờ phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc đăng ký học qua mạng, bằng bản tin nhắn
SMS, việc theo dõi tiến độ học tập (điểm danh) được thực hiện qua mạng Internet
- Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập cũng được thông qua phương tiện truyền thông điện tử Ví dụ như việc trao đổi thảo luận
thông qua chat, forum trên mạng,…
2.4.2 Ưu điểm và hạn chế của bài giảng E-learning trong dạy học
2.4.2.1 Những lợi ích của bài giảng E – learning trong dạy học
a) Đối với nội dung học tập:
Bài giảng E-learning cung cấp một lượng lớn kiến thức cho người học Nội
dung, tư liệu bài giảng mang tính chân thực, phong phú được thể hiện bằng nhiều cách giúp người học dễ tiếp nhận
Nội dung môn học được cập nhật, phân phối dễ dàng, nhanh chóng Với nhịp
độ phát triển nhanh chóng của trình độ khoa học công nghệ, các chương trình đào tạo cần được thay đổi, cập nhật thường xuyên để phù hợp với thông tin, kiến thức của từng giai đoạn phát triển của thời đại Với phương thức đào tạo truyền thống, muốn thay đổi nội dung bài học thì các tài liệu phải được sao chép lại và phân bố lại cho tất cả người học, công việc này phải tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc và công
sức Tuy nhiên đối với E-learning, việc đó hoàn toàn đơn giản vì để cập nhật nội
dung môn học chỉ cần sao chép các tập tin được cập nhật từ một máy tính cá nhân tới máy chủ Tất cả HS sẽ có được phiên bản mới nhất trên máy tính trong lần truy cập sau Hiệu quả tiếp thu bài học của HS sẽ được nâng lên vượt bậc vì HS có thể học với những GV tốt nhất, tài liệu mới nhất cùng với giao diện web học tập đẹp mắt
b) Đối với người học:
Bài giảng E-learning tích hợp đa phương tiện đã tạo nên được tính tương tác
cao của bài giảng, bởi vì khi sử dụng bài giảng trong dạy học thì HS được tác động tới tất cả các giác quan Trong môi trường ấy HS mắt thấy, tai nghe, tay làm, óc nghĩ Bởi vậy khả năng tiếp nhận kiến thức vào thực tiễn được tăng lên
Trang 35Ngoài ra, bài giảng E-learning hỗ trợ học theo cá nhân, theo thời gian biểu tự
lập nên HS có thể chủ động trong việc học của chính mình Người học có thể học mọi lúc, mọi nơi, chủ động thay đổi tốc độ học cho phù hợp với năng lực bản thân, giảmcăng thẳng và tăng hiệu quả học tập Bên cạnh đó, khả năng tương tác trao đổi với người khác cũng giúp cho việc học tập có hiệu quả hơn
c) Đối với GV:
GV có thể chủ động khai thác tìm kiếm nguồn tài nguyên giáo dục trên hệ
thống E-learning Với số lượng lớn các bài giảng trên hệ thống, GV có nhiều tài
nguyên để tham khảo, học hỏi phương pháp mới, kiến thức từ các đồng nghiệp để hoàn thiện tiết dạy của mình
Với bài giảng E-learning GV không lo sợ bài giảng “bị cháy” và GV có thể
tiết kiệm thời gian, công sức khi sử dụng bài giảng nhiều lần cho nhiều lớp HS
Bài giảng E-learning với nhiều tính năng nổi trội và mở ra một phương pháp học
tập hiện đại nhưng rất hiệu quả trong tương lai, GV có thể theo dõi việc học của HS
một cách dễ dàng E-learning cho phép dữ liệu được tự động lưu lại trên máy chủ,
thông tin này có thể được thay đổi về phía người truy cập vào khóa học GV có thể đánh giá HS thông qua cách trảlời các câu hỏi kiểm tra và thời gian trả lời các câu hỏi
đó Điều này giúp cho GV đánh giá công bằng lực học của mỗi HS
2.4.2.2 Nhược điểm của bài giảng E-learning trong dạy học
a) Về phía người học:
Học tập với bài giảng E-learning đòi hỏi người học phải có trình độ tin học cơ
bản, khả năng làm việc độc lập với ý thức tự giác cao Bên cạnh đó, khả năng hợp tác, chia sẻ, trao đổi qua mạng một cách hiệu quả với GV và bạn học cũng rất cần thiết
Sử dụng bài giảng E-learning vào hoạt động dạy học có nguy cơ tạo cho HS cơ
hội “chơi” và xao nhãng việc học Chính vì thế điều quan trọng khi học tập theo
phương pháp E-learning, người học cần phải biết lập kế hoạch phù hợp với bản thân,
tự định hướng trong học tập, thực hiện tốt kế hoạch học tập đã đề ra
b) Về phía nội dung học tập
Trong nhiều trường hợp, không thể và không nên đưa ra các nội dung quá trừu tượng, quá phức tạp Đặc biệt là nội dung liên quan tới thực hành, thí nghiệm đòi
Trang 36hỏi người học phải trực tiếp thao tác thì bài giảng E-learning không thể hiện được
hay thể hiện kém hiệu quả
Bài giảng E-learning cũng không thể thay thế được các hoạt động liên quan
tới việc rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động
c) Về yếu tố công nghệ
Để thiết kế và giảng dạy bằng bài giảng E-learning có hiệu quả, đòi hỏi GV
phải có kiến thức công nghệ thông tin, ứng dụng tốt các phần mềm công cụ Hơn nữa, người GV phải có niềm đam mê thực sự với việc thiết kế vốn đòi hỏi sự sáng tạo, nhạy bén và thẩm mĩ
Sự hạn chế về kỹ năng công nghệ của người học sẽ làm giảm đáng kể hiệu
quả, chất lượng dạy học dựa trên E-learning
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin (mạng internet, băng
thông, chi phí…) cũng ảnh hưởng đáng kể tới tiến độ, chất lượng học tập
2.4.3 Cấu trúc của bài giảng E-learning
Cấu trúc bài giảng là sự phân chia giờ học về mặt lí luận dạy học thành các đoạn các bước nối tiếp, gắn bó với nhau thành một chỉnh thể
Muốn bài giảng đạt hiệu quả cao, người ta cần xác định cấu trúc bài học hợp
lý, hoàn chỉnh, các bước hợp thành gắn bó chặt chẽ với nhau Vì vậy, cấu trúc một bài giảng là mối quan hệ có quy luật, sự tương quan và trình tự hợp lý của các bước cấu thành
- Trang mở đầu: Có tên bài và tên tác giả giống như trang đầu của bài giảng
PowerPoint thường làm
- Trang mục tiêu bài học
- Các trang thể hiện nội dung bài giảng: Trong các trang nội dung đó, phải chứa tất cả các kiến thức cần truyền đạt cho HS Song song cần tạo các câu hỏi
tương tác (quizze) giúp người học chủ động, hứng thú, theo dõi bài giảng (câu hỏi
không nhất thiết phải cho điểm) Ngoài ra, còn phải sử dụng đa phương tiện để truyền tải bài giảng như âm thanh, video, hình ảnh, bài tập giao về nhà
- Trang tài liệu tham khảo: có thể là tài liệu đọc, có thể là đường link tới một trang web hay hình ảnh, video nào đó Thường thì phần tài liệu tham khảo này ở tranggần kết thúc bài giảng
Trang 37- Trang kết thúc: Trong trang này, người giảng dạy cần để lời cảm ơn và chúc các em học tập tốt
Hình 2.5: Sơ đồ cấu trúc bài giảng E-learning
2.4.4 Nguyên tắc lựa chọn và thiết kế bài giảng bằng phần mềm Ispring Suite
2.4.4.1 Nguyên tắc lựạ chọn bài
Nguyên tắc 1: Với một bài giảng có kiến thức khó, trừu tượng thì có thể sử
dụng đa phương tiện như chèn video hoặc hình ảnh tĩnh, động với các hiệu ứng thích hợp
Nguyên tắc 2: Với bài luyện tập, ôn tập cần hệ thống hóa kiến thức bằng bảng
hoặc sơ đồ Sử dụng bài giảng E-learning sẽ tiết kiệm được thời gian thuyết trình
Tăng cường hoạt động học tập của HS thông qua các dạng bài tập tự luận, trắc nghiệm khách quan…
Trang 38Nguyên tắc 3: Với bài có thực hành bằng các thao tác vận động cơ thể, thí
nghiệm không nên sử dụng phầm mềm Ispring Suite để thiết kế bài giảng
2.4.4.2 Nguyên tắc thiết kế bài giảng E-learning
Đảm bảo tính sư phạm
Tính sư phạm của một bài giảng E-learning thể hiện ở chỗ thiết kế bài giảng
phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của HS, giúp HS tiếp thu tốt nội dung bài học, tạo điều kiện để HS khám phá kiến thức, rèn luyện kĩ năng,
kĩ xảo để vận dụng vào thực tiễn Do đó khi thiết kế bài giảng cần chú ý xây dựng các tình huống, hoạt động phong phú, phù hợp với trình độ của HS từng trường, từng lớp mà rộng hơn là từng vùng, miền của đất nước, từ đó giúp các em nhanh chóng lĩnh hội tri thức, đảm bảo chất lượng dạy học
Đồng thời bài giảng đảm bảo tính sư phạm sẽ giúp GV dễ dàng truyền tải kiến
thức, thuận lợi trong quá trình dạy học
Đảm bảo tính khoa học
Quá trình hình thành tư duy luôn tuân theo hệ thống logic Vì vậy khi thiết kế
bài giảng E-learning cần phải chú ý tới tính hệ thống của các kiến thức cung cấp
trong một bài, giữa bài trước với bài sau, từ dễ tới khó, từ đơn giản đến phức tạp… Các nội dung dạy học phải thống nhất với nhau, tránh nội dung trong một bài giảng không bổ trợ nhau
Ngoài ra trình tự xuất hiện các thông tin, sử dụng hiệu ứng âm thanh, hình ảnh, màu sắc,… đều cần cân nhắc kĩ lưỡng khi sử dụng và tuân theo ý tưởng,
nguyên tắc sư phạm của quá trình dạy học
Đảm bảo tính đầy đủ, chính xác về nội dung
Thiết kế một bài giảng cần chú ý đến tính đầy đủ của kiến thức, những yêu cầu đặt ra nhằm giúp HS tiếp thu bài một cách đầy đủ, hệ thống Kiến thức đưa vào bài giảng phải đảm bảo tính chính xác về phương diện toán học, các thuộc tính bản chất
của nội dung
Đảm bảo tính thẩm mĩ
Việc thiết kế bài giảng E-learning phải đảm bảo tính thẩm mĩ về hình ảnh, màu
sắc, thông tin,…giúp kích thích hứng thú của HS Mọi sự lạm dụng những chức năng phong phú của các phần mềm sẽ gây phản tác dụng khoa học Do đó, các hình ảnh,
Trang 39phim, hiệu ứng khi sử dụng phải có dụng ý sư phạm Đảm bảo được nguyên tắc này
sẽ góp phần rất lớn vào thành công của một bài giảng E-learning
Đảm bảo tính hiệu quả
Tính hiệu quả luôn là tiêu chí hàng đầu khi thiết kế bài giảng E-learning Bài giảng E-learning và máy tính phải hỗ trợ nhiều mặt trong quá trình dạy học Nó giải
phóng người GV khỏi những lao động phổ thông để tập trung thời gian vào việc tổ chức, điều khiển, hướng dẫn hoạt động nhận thức của HS Cụ thể là phải phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS và tăng cường tính tương tác cao trong dạy học Đây cũng chính là mục tiêu dạy học mà hiện nay giáo dục nước ta
đang hướng tới
2.5 Quy trình thiết kế bài giảng E-learning
2.5.1 Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu là cái đích cần phải đạt tới sau mỗi bài học Khi bắt tay vào thiết kế bài giảng, GV cần nghiên cứu bài dạy, tài liệu tham khảo và căn cứ vào đối tượng HS…để đề ra mục tiêu định hướng cho dạy học Xác định mục tiêu đúng mới có căn cứ để tổ chức hoạt động dạy học khoa học và đánh giá khách quan, lượng hóa kết quả dạy học
Trong dạy học hướng tập trung vào HS, mục tiêu phải chỉ rõ học xong bài, HS đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập, chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là chỉ ra sản phẩm mà HS có được sau bài học Chính vì thế khi diễn đạt mục tiêu nên tránh dùng các từ chung chung mà nên sử dụng các động từ như: phân tích, so sánh, tổng hợp, đo đạc, chứng minh,…
2.5.2 Xác định kiến thức trọng tâm, cơ bản và viết kế hoạch bài dạy
Những nội dung đưa vào chương trình và sách giáo khoa phổ thông được chọn lọc từ khối lượng tri thức đồ sộ của khoa học bộ môn, được sắp xếp một cách lôgíc, khoa học, đảm bảo tính sư phạm và thực tiễn cao Bởi vậy cần bám sát vào chương trình dạy học và sách giáo khoa bộ môn để xác định nội dung dạy học cơ bản của bài
Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể gắn liền với việc sắp xếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các phần kiến thức của bài, làm nổi bật trọng tâm, trọng điểm của bài dạy từ đó dễ dàng đạt được mục tiêu đã đề ra
Trang 40Đối với bài học được thiết kế trên phần mềm dạy học, GV cần viết kế hoạch dạy học thể hiện cụ thể việc ứng dụng phần mềm vào các hoạt động
2.5.3 Xây dựng thư viện tư liệu
Tiến hành sưu tập hoặc xây dựng mới nguồn tư liệu sẽ sử dụng trong bài học Nguồn tư liệu này thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ mạng
internet,…hoặc được xây dựng mới bằng đồ hoạ, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay
video, bằng các phần mềm đồ hoạ chuyên dụng như Macromedia Flash
Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng về hình ảnh, âm thanh Khi
sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm
Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần dùng cho bài giảng điện tử, phải tiến hành sắp xếp tổ chức lại thành thư viện tư liệu, tức là tạo được cây thư mục hợp lý Cây thư mục hợp lí sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng và giữ được các liên kết trong bài giảng đến các tập tin âm thanh, video clip khi sao chép bài giảng từ ổ đĩa nay sang ổ đĩa khác, từ máy này sang máy khác Mỗi bài giảng là một thư mục
được đặt trong ổ đĩa hoặc thư mục chỉ dùng cho soạn giảng (VD: E-learning – Dau
hieu chia het cho 2) Trong thư mục bài giảng lại có các thư mục con như: Hinhanh, Amthanh, Video, Baitap Như vậy việc tìm kiếm và tiến hành soạn bài giảng mới không mất thời gian
2.5.4 Tin học hóa nội dung bài giảng (bằng phần mềm Ispring Suite)
Sau khi đã có tư liệu, GV ứng dụng phần mềm PowerPoint có tích hợp phần mềm Ispring Suite để thiết kế bài giảng E-learning
Phần quy trình hướng dẫn tin học hóa nội dung bài giảng trình bày dưới đây
được trích từ tài liệu tập huấn xây dựng bài giảng E-learning với Ispring Suite 7.0
của thầy giáo Nguyễn Lương Hùng [6]
Bước 1: Xây dựng bài giảng điện tử trên phần mềm PowerPoint (có thể sử
dụng file PowerPoint đã có sẵn)
Bước 2: Tạo thư mục rồi copy file bài giảng PowerPoint đã có vào thư mục
đó (lưu ý đặt tên thư mục và tên file không dấu), nếu không xây dựng từ bài giảng
đã có thì ta khởi chạy chương trình PowerPoint rồi lưu bài giảng vào thư mục vừa