1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Sử dụng internet trong dạy học địa lý 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực

112 80 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC .... Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụn

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HIỀN

SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Thừa Thiên Huế, năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HIỀN

SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT

THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Địa lí

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các

số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

NGUYỄN THỊ HIỀN

Trang 4

Lời Cảm Ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự tri ân sâu sắc tới Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Minh - Trường ĐHSP Huế là người đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi được nghiên cứu

và thực hiện đề tài luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể các Thầy, Cô giáo trong khoa Địa lí, phòng Đào tạo sau đại học trường ĐHSP Huế đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu luận văn

Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo đang giảng dạy môn Địa lí ở một

số trường THPT và các em HS các trường thực nghiệm đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát và thực hiện một số nội dung liên quan đến đề tài luận văn Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ và chia sẻ với tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tác giả

NGUYỄN THỊ HIỀN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU 4

DANH MỤC HÌNH ẢNH 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ 6

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục tiêu nghiên cứu 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

5 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Cấu trúc đề tài 12

PHẦN NỘI DUNG 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 13

1.1 Internet 13

1.1.1 Khái niệm Internet 13

1.1.2 Đặc điểm của Internet trong dạy học 13

1.1.3 Vai trò của Internet trong dạy học địa lí 14

1.1.4 Một số yêu cầu chung khi sử dụng Internet trong dạy học 16

1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 18

1.2.1 Khái niệm năng lực 18

1.2.2 Cấu trúc của năng lực 20

1.2.3 Năng lực của học sinh 22

1.2.4 Quá trình hình thành năng lực 22

1.2.5 Các năng lực cốt lõi của học sinh THPT 23

Trang 6

1.2.6 Các năng lực chuyên biệt của môn Địa lí 24

1.2.7 So sánh dạy học định hướng năng lực và dạy học định hướng nội dung 25

1.3 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí 11 26

1.3.1 Mục tiêu của chương trình Địa lí 11 26

1.3.2 Cấu trúc chương trình Địa lí 11 27

1.3.3 Đặc điểm chương trình Địa lí 11 28

1.4 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh 11 THPT 28

1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi 28

1.4.2 Đặc điểm về hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ 29

1.4.3 Đặc điểm nhân cách chủ yếu 30

1.5 Thực trạng sử dụng Internet trong dạy học môn Địa lí 11 THPT 30

1.5.1 Tổ chức khảo sát điều tra 30

1.5.2 Kết quả khảo sát, điều tra 31

CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 37

2.1 Khả năng sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực 37

2.2 Phương pháp sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực 40

2.2.1 Hướng dẫn học sinh sử dụng Internet để xây dựng hệ thống tư liệu học tập địa lí 11 THPT 40

2.2.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng Internet học tập Địa lí 11 trên lớp 56

2.2.3 Hướng dẫn học sinh sử dụng Internet viết và trình bày báo cáo Địa lí 11 THPT 60

2.2.4 Hướng dẫn HS sử dụng bài giảng E-Learning tự học Địa lí 11 THPT 66

2.2.5 Hướng dẫn học sinh sử dụng Internet tự kiểm tra, đánh giá kiến thức Địa lí 11 THPT 71

2.3 Thiết kế minh họa một số bài dạy học Địa lí 11 THPT sử dụng Internet theo định hướng phát triển năng lực 75

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 92

3.1 Mục tiêu thực nghiệm sư phạm 92

3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 92

Trang 7

3.3 Nội dung thực nghiệm 92

3.4 Tổ chức thực nghiệm 93

3.5 Kết quả thực nghiệm 93

3.5.1 Kết quả định lượng 93

3.5.2 Kết quả định tính 97

3.5.3 Kết luận chung về thực nghiệm 97

PHẦN KẾT LUẬN 98

1 Kết quả đạt được 98

2 Hạn chế của đề tài 99

3 Một số đề xuất, kiến nghị 99

4 Hướng mở rộng của đề tài 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 8

TNSP : Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh dạy học định hướng năng lực và dạy học định hướng nội dung 25

Bảng 1.2 Bảng thống kê số trường, số GV, HS tham gia điều tra thực tế 31

Bảng 1.3 Mức độ quan tâm và cơ sở vật chất kĩ thuật của nhà trường phục vụ cho sử dụng Internet 32

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông 32

Bảng 1.5 Mục đích sử dụng một số ứng dụng Internet để dạy học địa lí ở trường phổ thông 33

Bảng 1.6 Một số địa điểm truy cập Internet của học sinh 34

Bảng 1.7 Tần suất tuy cập Internet của học sinh/ ngày 34

Bảng 1.8 Mục đích sử dụng Internet của học sinh 35

Bảng 2.1 Khả năng sử dụng Internet trong mỗi bài dạy học Địa lí 11 37

Bảng 2.2 Địa chỉ các website chứa thông tin, tư liệu địa lí 46

Bảng 2.3 Các mức độ sử dụng bài giảng E-Learning 67

Bảng 3.1: Bảng phân phối điểm các bài kiểm tra của các lớp TN và ĐC của 3 trường thực nghiệm 94

Bảng 3.2: Bảng phân phối tần suất tổng hợp điểm các bài kiểm tra ở các lớp thực nghiệm và đối chứng 95

Bảng 3.3: Tổng hợp điểm trung bình và lệch chuẩn giữa lớp TN và ĐC 96

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1: Giao diện phần mềm Internet Download Manager (IDM) 41

Hình 2.2 Giao diện phần mềm Oxelon Media Converter 42

Hình 2.3 Giao diện phần mềm Movie Maker 42

Hình 2.4: Giao diện Công cụ tìm kiếm Google (http://google.com.vn) 44

Hình 2.5 Giao diện Công cụ Youtube (http://www.youtube.com) 45

Hình 2.6 Giao diện Công cụ dịch thuật (translate.google.com) 45

Hình 2.7 Video về sự phân hóa giàu – nghèo ở Brazil (Mỹ latinh) 54

Hình 2.8 Một số hình ảnh về nông nghiệp Đông Nam Á 54

Hình 2.9 Bản đồ địa hình và khoáng sản Liên Bang Nga 55

Hình 2.10 Biểu đồ giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Nhật Bản giai đoạn 2012- 2016 55

Hình 2.11 Video: Hội nhập - cơ hội và thách thức 62

Hình 2.12 Nhiệm vụ học tập được đăng tải trên Fanpage Facebook 70

Hình 2.13 HS nộp bài và GV phản hồi kết quả học tập cho HS qua Fanpage Facebook 71

Hình 2.14: Truy cập các website https://hoc24.vn/ làm bài tập trực tuyến 75

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ

Biểu đồ

Biểu đồ 3.1: Biểu đồ tổng hợp so sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng tại 3 trường

THPT tham gia thực nghiệm 95

Sơ đồ Sơ đồ 1.1 Định hướng chức năng và cấu trúc đa thành tố của năng lực 21

Sơ đồ 1.2 Mô hình phát triển năng lực 23

Sơ đồ 1.3 Khung kiến thức và kĩ năng của học sinh trong thế kỉ XXI 24

Sơ đồ 1.4 Cấu trúc chương trình Địa lí 11 THPT 27

Sơ đồ 2.1 Cây thư mục tư liệu dạy học Địa lí 11 THPT 53

Trang 12

Việc ứng dụng công nghệ thông tin không ngừng tác động mạnh mẽ đến giáo dục

và đào tạo, làm thay đổi cách suy nghĩ của giáo viên và học sinh Quá trình dạy học trở nên tích cực hơn, sinh động hơn, trực quan hơn khi nó được gắn liền với các phương tiện nghe nhìn hiện đại Công nghệ thông tin vừa là một phương tiện vừa là một nhân

tố mới trong quá trình dạy học nhằm thúc đẩy quá trình này đạt được mục tiêu nhanh hơn, hiệu quả mạnh hơn, trở thành một công cụ hỗ trợ tích cực trong việc dạy và học ở trường phổ thông Tuy nhiên, làm thế nào để khai thác Internet một cách có hiệu quả đang là vấn đề được đặt ra đối với giáo viên

Đặc biệt đối với môn Địa lí, là môn học luôn đòi hỏi tính cập nhật về nội dung kiến thức nên kĩ năng khai thác Internet làm sao có hiệu quả nhất ngày càng đóng vai trò quan trọng Trong chương trình giáo dục phổ thông có một số kiến thức, khái niệm, hiện tượng khá trừu tượng khiến cho học sinh gặp khó khăn trong việc tìm hiểu và tiếp thu nó Tuy nhiên, nhờ có sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học đã khắc phục được một phần của khó khăn trên Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet, giáo viên có thể tìm thấy nhiều tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy trên kho dữ liệu khổng

lồ này Đồng thời có thể hướng dẫn học sinh hình thành và rèn luyện kĩ năng tự học Địa lí là một môn học có rất nhiều lợi thế để ứng dụng Internet phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập trong nhà trường phổ thông Đặc biệt, trong môn học này có

Trang 13

nhiều nội dung nếu như không có sự mô phỏng bằng hình ảnh, âm thanh,… thì học sinh khó có thể hình dung và tiếp thu được Sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông là một xu thế mới của đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Đồng thời, chương trình Địa lí lớp 11 – THPT có nhiều khả năng sử dụng Internet

để dạy học Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực” để làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cách thức sử dụng Internet trong dạy học địa lí 11 THPT theo hướng phát triển năng lực học sinh Qua đó, nâng cao hiệu quả dạy học Địa lí THPT

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Phương pháp sử dụng Internet trong quá trình dạy học Địa lí

11 THPT theo định hướng phát triển năng lực

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng

- Phạm vi thời gian: từ tháng 12/2017 đến tháng 10/2018

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực

- Điều tra thực trạng sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 ở trường THPT

- Nghiên cứu cách thức sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực

- Xây dựng một số bài dạy Địa lí 11 THPT sử dụng Internet

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và khả thi của đề tài

5 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong cuốn “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”, tác giả Lê Công

Triêm, Nguyễn Đức Vũ đã giới thiệu cho người học những kiến thức ban đầu của việc

sử dụng máy tính vào dạy học Trong cuốn sách, tác giả cũng đã đề cập đến khai thác Internet như lưu, tải thông tin trên mạng về máy tính

Trang 14

Nguyễn Viết Thịnh (chủ biên) đồng một số tác giả của cuốn “Windows Msoffice

Internet dùng trong giảng dạy và nghiên cứu địa lí” đã giới thiệu về Internet ở phần

cuối cuốn sách Trong đó, giới thiệu về một số khái niệm liên quan đến Internet, cách kết nối Internet và cách khai thác thông tin Internet bằng cách phải xác định chiến lược tìm kiếm và đưa ra một số chỉ dẫn khi tìm kiếm trên một số công cụ lớn

Trong cuốn “1500 địa chỉ Internet thông dụng và tự học thiết kế trang website”

của Văn Thảo, Thu Minh đã chỉ ra được các trang Website thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội, thể thao, du lịch, mua sắm Trong đó có các trang website về thiên nhiên, môi trường có chứa thông tin địa lí Ngoài ra, cuốn sách còn diễn đạt cho độc giả cách tìm một thông tin đơn giản và một thông tin phức tạp khi lên mạng Trong đó đã chú ý đến việc dùng toán tử, từ khóa khi trình duyệt để tìm thông tin

Sử dụng Internet trong dạy học Địa lí đã được đề cập đến trong một số công trình

nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Đức Vũ - Đổi mới phương pháp dạy học địa

lí ở trung học phổ thông, Nguyễn Đức Vũ - Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, Nguyễn Đức Vũ - Phương tiện và thiết bị dạy học Địa lí Ngoài ra, còn được đề

cập đến trong các công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Viết Thịnh Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu hướng dẫn xây dựng và sử dụng Video giáo khoa, mạng Internet, Website có nội dung Địa lí vào dạy học

Ngoài ra, còn được đề cập trong một số bài báo khoa học, tham luận của các tác

giả như:, Nguyễn Đức Vũ - Một số giải pháp tăng cường sử dụng công nghệ thông tin

trong dạy học, Nguyễn Đức Vũ, Vũ Tuấn Anh - Thiết kế website hỗ trợ dạy học Địa lí các vùng kinh tế lớp 12 trung học phổ thông, các công trình nghiên cứu trên ở một

mức độ nào đó đã có đề cập đến việc sử dụng Internet trong dạy học môn Địa lí

Giáo trình “Phương pháp giảng dạy Địa lí ở trường phổ thông”, 2003, NXB

Giáo dục của PGS-TS Nguyễn Đức Vũ có đề cập đến vấn đề lý luận về việc gắn tài liệu thực tế vào bài dạy Địa lí ở phổ thông

Một số bài viết của các tác giả: Huỳnh Hải Sơn, “Hướng dẫn tìm kiếm thông tin

trên Internet”, năm 2008, bài viết trên mạng http://giaoan.violet.vn; Trần Đức Tuấn,

“Tăng cường sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở các trường THPT”, Kỉ yếu hội

thảo khoa học – Đổi mới phương pháp dạy học với sự tham gia của các thiết bị kỉ thuật, ĐHSP Huế, 2004

Nguyễn Thu Hương Lam (2013), Luận văn: Xây dựng website hỗ trợ dạy học địa lí

7 THCS”, Đại học sư phạm Huế, tác giả đã xây dựng được một website có tiêu đề chính

là “Học địa lí” với nhiều site khác nhau nhằm hỗ trợ cho việc dạy học Địa lí 7 THCS

Trang 15

Phạm Kim Trang (2015), Luận văn: “Dạy học Địa lí lớp 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực”, Đại học sư phạm Hà Nội, tác giả nghiên cứu các biện

pháp để đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong môn Địa lí 11 THPT

Luận văn "Xây dựng và sử dụng E-learning trong dạy học Địa lí tự nhiên 10

THPT" của tác giả Phan Hữu Thịnh (2016) đã nghiên cứu về cách thức xây dựng và sử

dụng bài giảng E-Learning với sự kết hợp với mạng học tập Edmodo trong dạy học Địa lí tự nhiên 10 THPT

Các tài liệu, công trình kể trên đã có đề cập ít nhiều đến một số nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như Internet và tìm kiếm trên Internet, một số vấn đề lý luận về sử dụng các tài liệu từ Internet trong dạy học địa lí hiện nay, xây dựng website, bài giảng E-Learning hỗ trợ dạy học Địa lí Có tài liệu đã nghiên cứu sâu về việc dạy học địa lí 11 theo định hướng phát triển năng lực Tuy nhiên, chưa có

đề tài nào nghiên cứu về việc sử dụng Internet theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học Địa lí 11 THPT Đối với đề tài này, các tài liệu kể trên cung cấp một số

cơ sở lý luận và các tài liệu tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

6.1.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu

Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu: nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài như lí luận dạy học, phương pháp dạy học bộ môn địa lí qua nhiều nguồn khác nhau như: sách báo, báo cáo khoa học, mạng Internet, các sách chuyên ngành như sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên, sách tham khảo của nhiều giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đầu ngành nhằm kế thừa và phát huy kết

quả của các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài

6.1.2 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp kết hợp lý luận với thực tế, phương pháp xem xét lại những kết quả nghiên cứu đã có về việc sử dụng Internet trong dạy học địa lí, từ đó rút ra những kết luận bổ ích cho đề tài nghiên cứu

6.1.3 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết

Là phương pháp sắp xếp những thông tin đa dạng đã thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ Từ đó, xây dựng một lý thuyết hơn hoàn chỉnh về việc sử dụng Internet trong dạy học địa lí 11 THPT

Trang 16

6.1.4 Phương pháp lịch sử

Phân tích các tài liệu lý thuyết đã có về việc sử dụng Internet trong dạy học địa lí,

từ đó xây dựng lịch sử nghiên cứu của đề tài

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu

Sử dụng phương pháp này để điều tra, thu thập thông tin về thực trạng sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, rút ra những kết luận về tình hình dạy học môn Địa lí ở trường THPT và đề xuất một số giải pháp

6.2.2 Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp thu thập những những ý kiến và kinh nghiệm của các thầy cô giáo giỏi môn Địa lí bao gồm các giảng viên trong khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Huế và các thầy cô dạy Địa lí tại các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Từ những kiến thức thu thập được, tác giả đã có những định hướng về nội dung nghiên cứu đề tài cũng như những vấn đề liên quan đến thực nghiệm sư phạm

6.2.3 Phương pháp quan sát

Quan sát quá trình học tập của học sinh với việc sử dụng Internet trong môn địa lí

11 THPT để thấy được mức độ tích cực, thái độ học tập, hứng thú đối với môn học, đặc biệt là những năng lực được phát triển cho học sinh

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Quá trình thực nghiệm được thực hiện ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế nhằm kiểm chứng, đánh giá tính khả thi của đề tài

6.2.5 Phương pháp toán học thống kê

Phương pháp này cho phép xử lí, phân tích các kết quả điều tra, thực nghiệm thông qua việc sử dụng các phép toán thống kê để rút ra những kết luận cần thiết về thực trạng, hiệu quả phương pháp dạy học đã lựa chọn

Trang 17

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG INTERNET TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 11 THPT THEO

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

1.1 Internet

1.1.1 Khái niệm Internet

- Mạng máy tính là hệ thống nhiều máy tính được kết nối với nhau để trao đổi thông tin, chia sẻ tài nguyên (đĩa cứng, máy in) của các máy trong mạng với nhau, và

có thể quản lý được toàn bộ hoạt động của các máy được kết nối Có thể nối hai hoặc nhiều mạng máy tính thành một mạng lớn hơn Một máy tính trong mạng nhỏ này có thể gửi thông tin đến cho một máy tính khác nằm trong mạng nhỏ thứ hai nếu hai mạng nhỏ trên được nối với nhau [27]

- Internet:

Thuật ngữ Internet được sử dụng năm 1980 nhằm mô tả mạng thông tin hỗn hợp nhiều loại dịch vụ được liên kết với nhau có tính toàn cầu Internet gồm các máy tính kết nối với nhau sao cho chúng có thể truyền và nhận thông từ nơi này đến nới khác, từ máy tính này đến máy tính khác trong phạm vi một vùng, một quốc gia hay trên toàn thế giới

Internet là một hệ thống mạng toàn cầu, có thể truy cập công cộng gồm hàng triệu máy tính của các cá nhân, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, chính phủ liên kết với nhau

- Web – world wide web (www) là một trong những dịch vụ mới nhất trên Internet Đây là hệ thống cung cấp thông tin dạng siêu văn bản – là trang thông tin đa phương tiện (gồm văn bản, âm thanh, hình ảnh, video ) trên Internet

Internet là sự kết nối của hệ thống các mạng máy tính thông qua các phương tiện viễn thông trên toàn thế giới như vệ tinh viễn thông, cáp quang, đường điện thoại Khả năng truyền tải của những phương tiện này rất lớn, có thể chứa được nhiều loại thông tin như dữ liệu, hình ảnh, tiếng nói, hình ảnh động

1.1.2 Đặc điểm của Internet trong dạy học

Mạng Internet chứa đựng khối lượng tri thức khổng lồ, đa dạng, với khối lượng lớn người sử dụng, nhiều thành phần khác nhau, việc cung cấp và chia sẻ tài liệu được

Trang 18

diễn ra hằng ngày, trong đó có nhiều công trình khoa học được công bố, nhiều tài liệu quý, nhiều thông tin mới nhất được chia sẻ thông qua các website Việc tiếp cận các thông tin cũng trở nên dễ dàng hơn với việc cùng một thông tin được đăng tải trên nhiều trang mạng khác nhau, dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Do đó, người sử dụng có thể tiếp cận thông tin ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, đa dạng và đa chiều Các tư liệu được tổ chức dưới dạng dữ liệu số, tức là thông tin khi đưa vào máy tính đã được mã hóa Khi một thông tin được đưa vào máy tính qua quá trình xử lí, được lưu trữ, thông tin được đưa ra cho người sử dụng truy cập Quá trình này thống nhất nên thông tin đưa ra thống nhất trên toàn cầu

Các tư liệu dạy học từ mạng Internet có hình thức chuyển tải hết sức đa dạng với hình ảnh, âm thanh sống động, màu sắc phong phú, các hiệu ứng mang tính trực quan sinh động, kích thích được sự tập trung chú ý của người đọc

Việc khai thác và sử dụng Internet trong dạy học là một quá trình chọn lọc thông tin một cách cẩn thận, kĩ lưỡng và cần được sắp xếp một cách logic Bởi vì không phải tất cả các thông tin cập nhật trên mạng Internet đều đáng tin cậy, việc xác định các nguồn tài liệu chính thống, đảm bảo tính khoa học lại là một khó khăn lớn cho người

sử dụng, đặc biệt trong dạy học khi các tài liệu này được sử dụng cho việc truyền thụ tri thức cho cả thế hệ học sinh

1.1.3 Vai trò của Internet trong dạy học địa lí

Mạng Internet là nguồn trí tuệ khổng lồ của nhân loại Với thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão và ngày càng được ứng dụng nhiều vào lĩnh vực giảng dạy thì tầm quan trọng của Internet với dạy học ngày càng được nâng lên

Internet giúp cho việc dạy học rất nhiều trong việc tìm kiếm tư liệu học tập Địa lí

11 THPT, tìm hiểu những điều mà giáo viên hoặc học sinh chưa biết Hiện nay, bất kì một lĩnh vực nào, lúc nào trên mạng cũng có những tài liệu liên quan Qua mạng Internet sẽ tìm được những nguồn thông tin mới nhất, được cập nhật hàng ngày, hàng giờ, thậm chí hàng giây

Khi học tập trên mạng, nếu biết khai thác thì công việc sẽ diễn ra một cách nhanh chóng Thông thường, các câu trả lời cho những câu hỏi đơn giản chỉ trong vòng vài phút, kể cả thời gian để nối máy với cả bộ phận cung cấp dịch vụ

Với nguồn thông tin tìm được đa dạng, phong phú không chỉ giúp cho người học

mà còn giúp cho người dạy sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn cho mình những phương pháp dạy học trong tiết học để mang lại hiệu quả tối ưu nhất

Trang 19

Internet sẽ tạo điều kiện để người học có thể học mọi nơi, mọi lúc Chỉ cần có mạng và một chiếc máy tính hoặc một chiếc điện thoại thông minh đã có thể trao đổi thông tin, giao lưu học hỏi với tất cả trên toàn cầu, rút ngắn khoảng cách về không gian địa lí

Internet có sức mạnh to lớn góp phần phát triển động cơ, hứng thú học tập địa lí của học sinh Với ưu thế của một nguồn thông tin khổng lồ, đầy màu sắc sống động phản ánh được sự đa dạng, phong phú của thế giới Internet kích thích ở học sinh sự tò

mò và ham muốn học tập, tìm tòi nghiên cứu Đối với cá nhân và các nhóm học sinh cần giải các bài tập nhận thức hay thực hiện các dự án thì Internet chẳng những là nguồn tài liệu khổng lồ quý giá có thể khai thác được trong một thời gian ngắn mà còn

là nơi học sinh công bố kết quả học tập của mình Với việc sử dụng thư điện tử, email, học sinh có thể tiến hành các cuộc điều tra, thu thập, trao đổi ý kiến với bạn bè, giáo viên, chuyên gia về đề tài mà học cần tìm hiểu Như vậy, Internet có khả năng tạo ra những động lực mạnh mẽ kích thích học sinh tích cực độc lập làm việc

Internet tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học địa lí Khi sử dụng Internet như là một công cụ dạy học hiện đại thì việc dạy học địa lí cần được tổ chức theo những quan điểm mới, với những hình thức tổ chức và phương pháp thích hợp

Để sử dụng có hiệu quả Internet cần tổ chức các giờ học địa lí theo quan điểm: học sinh tự xây dựng kiến thức cho mình bằng các hoạt động tự giác, tích cực chủ động của người học Người dạy học cần phải thiết lập các bài tập nhận thức, những vấn đề chứa đựng tình huống có dụng ý sư phạm để người học tâp trung hoạt động, học tập bằng niềm say mê hứng thú và đạt được những kết quả như mong muốn Ở đây, người thầy đảm nhiệm chức năng của người thiết kế, điều khiển, thể chế các hoạt động nhận thức của học sinh

Dựa vào nguồn tri thức khổng lồ trên Internet, giáo viên có thể dử dụng rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau: thảo luận, đàm thoại gợi mở, khảo sát điều tra, báo cáo…trong hoạt động lên lớp và ngoại khóa, tăng cường sự hoạt động của học sinh trong quá trình nhận thức

Ngày nay, mạng xã hội (Facebook, Zalo, Twitter, Edmodo ) trở nên phổ biến và gần gũi với mọi người, đặc biệt đối với lứa tuổi HS Những lợi ích của mạng xã hội sẽ đem lại cho chúng ta rất nhiều và tác động tích cực nếu chúng ta biết cách sử dụng chúng một cách hợp lý Ðối với việc dạy và học ở các trường cũng không ngoại lệ

Trang 20

Các cộng đồng mạng xã hội là một công cụ hỗ trợ hữu ích cho việc trao đổi dạy và học giữa GV với HS, giữa HS với nhau, thuận tiện trong việc hướng dẫn, chuyển giao các nhiệm vụ học tập, giải đáp những vướng mắc của HS trong quá trình tự học, hỗ trợ các hoạt động học tập khác

1.1.4 Một số yêu cầu chung khi sử dụng Internet trong dạy học

Để sử dụng Internet hiệu quả trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu đòi hỏi người sử dụng phải có được một số kỹ năng cơ bản như sau:

- Kỹ năng sử dụng máy vi tính, các phần mềm và multimedia

Để sử dụng Internet, trước hết người dùng phải biết cách sử dụng máy vi tính vì máy vi tính chính là phương tiện để có thể truy cập Internet Người sử dụng cần biết từ các thao tác sử dụng máy vi tính đơn giản, biết duyệt web, copy, cắt, dán, download, lưu trữ,… các thông tin tìm được đến phân biệt được các loại file dữ liệu và các phần mềm

hỗ trợ đọc tương ứng Ngoài ra, GV còn cần được biết các phần mềm thiết kế web để có

thể tự xuất bản thông tin theo ý của mình, phục vụ giao tiếp và chia sẻ thông tin

Thêm vào đó, còn có một số thủ thuật giúp tiết kiệm thời gian và đạt hiệu quả cao khi sử dụng Internet như: lưu lại những gì đã nhập trong Internet Explorer khi khai báo các thông tin làm thành viên của một trang web hay đăng kí sở hữu một hộp thư miễn phí trên mạng; xóa bỏ những e-mail gởi nhầm địa chỉ; cách mở nhanh Word, Excel, Outlook Express,… khi đang lướt web với trình duyệt Internet Explorer; Download đồng thời nhiều phần mềm trong khi vẫn lướt web; cách nén và giải nén dữ liệu; kết nối máy tính vào mạng dễ dàng với các phần mềm tiện ích như Network Setup Wizard; sao chép ảnh từ một trang web và dán nó vào một ứng dụng khác; in các trang web kèm theo địa chỉ;…

Kiến thức và kỹ năng sử dụng đa phương tiện truyền thông (multimedia) như văn bản, âm thanh, ảnh tĩnh, ảnh động, phim, sơ đồ, bảng biểu,…cũng rất quan trọng vì trên Internet ngày càng có nhiều dạng thông tin phong phú có thể được tìm kiếm và chia sẻ dễ dàng

- Kỹ năng tra cứu tìm kiếm và đánh giá, xử lí thông tin trên Internet

Các kỹ năng tra cứu, tìm kiếm thông tin bao gồm: Biết cách sử dụng các công cụ tìm kiếm: Các công cụ tìm kiếm là các website tìm kiếm thông dụng trong và ngoài nước như: Google, Yahoo, Trong đó, trang tìm kiếm Google là công cụ tìm kiếm phổ biến trên Internet vàđược nhiều người sử dụng nhất hiện nay

Trang 21

Biết tìm kiếm các tài liệu điện tử trong các website cung cấp tài liệu điện tử hay thư viện điện tử

Biết các thủ thuật tìm kiếm thông tin trên Internet: chọn lựa và nhập đúng từ khoá; sử dụng toán tử logic; tìm kiếm chuyên biệt; sử dụng nhiều website tìm kiếm Biết các bước để tra cứu thông tin có hiệu quả, với các giai đọan như phân tích yêu cầu tìm, diễn đạt lệnh tìm kiếm, phân tích nhóm yêu cầu thông tin, chọn công cụ tìm kiếm phù hợp, tìm lời khuyên từ một người, thử lại nếu chưa thành công, đánh giá kết quả tìm

Các kỹ năng đánh giá, xử lý thông tin bao gồm: đọc hiểu, đánh giá, phân tích, chọn lựa và tổng hợp thông tin Các kỹ năng này gắn liền với các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, nhằm khám phá ra những cái mới ở những mức độ khác nhau, từ đó tiến tới phát hiện ra những đặc điểm

và các mối quan hệ ẩn chứa trong các sự vật khách quan, các dữ kiện, hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội Từ đó có thể đánh giá chất lượng các webiste về mặt nội dung (tính chính xác, cập nhật, rõ ràng); thiết kế (giao diện, nghe nhìn); các đường link (tính tiện lợi)

- Kỹ năng ngoại ngữ và giao tiếp trên Internet

Bên cạnh các tài liệu trong nước bằng tiếng Việt vốn còn hạn chế, GV và HS cần phải tìm hiểu thêm ở các tài liệu nước ngoài và trao đổi với mọi người trong cộng đồng Internet Chính vì vậy kỹ năng ngoại ngữ rất cần thiết để đọc tài liệu và trao đổi với mọi người Chúng ta đang sống trong thời đại thông tin, và hầu hết các thông tin đều được viết bằng tiếng Anh

- Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu

Việc khai thác, sử dụng Internet chủ yếu diễn ra ở bên ngoài lớp học, được thực hiện độc lập Vì nó gắn liền với quá trình tự tìm tòi mở rộng kiến thức nên khai thác,

sử dụng Internet cũng gắn liền với hoạt động tự học, tự nghiên cứu Chính vì vậy, kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá việc tự học, tự nghiên cứu là một yêu cầu quan trọng giúp GV và HS khai thác Internet có hiệu quả

- Kĩ năng đánh giá, chọn lọc thông tin

Với một hệ thống thông tin đa dạng của Internet nhưng không phải nguồn thông tin nào cũng chính thống, đảm bảo tính chính xác, khách quan Bên cạnh đó, thông tin được sử dụng cần đảm bảo sự vừa sức và phù hợp với nội dung của bài học Điều đó

Trang 22

đòi hỏi GV và HS cần có kĩ năng đánh giá, chọn lọc thông tin trước khi đưa vào sử dụng trong quá trình dạy và học

- Kĩ năng sắp xếp, hệ thống hóa thông tin

Thông tin tư liệu sau khi thu thập cần được sắp xếp một cách hợp lí, khoa học để việc lưu trữ và sử dụng được thuận tiện, nhanh chóng và không chiếm nhiều dung lượng trong thiết bị lưu trữ

1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Theo Nguyễn Đức Vũ [21] dạy học theo định hướng năng lực được hiểu như sau:

1.2.1 Khái niệm năng lực

Phạm trù năng lực được định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau bằng sự lựa chọn loại dấu hiệu khác nhau Có thể phân làm hai nhóm chính:

- Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa Ví dụ: “Năng lực là một thuộc tính tích hợp của nhân cách, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp” “Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm”, “Năng lực là tổ hợp các kỹ năng của cá nhân đảm bảo thực hiện được một dạng hoạt động nào đó”, “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”

- Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa Ví dụ: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” “Năng lực được hiểu là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” Hoặc “Năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống” Hay một quan niệm khác: “Năng lực là một tích hợp các kĩ năng (tập hợp trật tự các kĩ năng/hoạt động) cho phép nhận biết một tình huống và có sự đáp ứng tình huống đó tương đối tự nhiên và thích hợp (sự tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước có ý nghĩa đối với cá nhân để giải quyết vấn đề do tình huống này đặt ra)”, “Năng lực được

Trang 23

xem như là những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục”

Như vậy, dù cách nói khác nhau, nhưng các ý kiến trên đều giống nhau ở chỗ nói đến năng lực là phải nói đến khả năng thực hiện, là phải biết làm, chứ không chỉ biết

và hiểu Tất nhiên làm, thực hiện ở đây phải gắn với ý thức và thái độ; phải có kiến thức và kĩ năng

Khái niệm năng lực gắn liền với khả năng hành động Năng lực hành động là một loại năng lực, nhưng khi nói phát triển năng lực người ta cũng hiểu đồng thời là phát triển năng lực hành động Chính vì vậy năng lực còn được hiểu là: khả năng thực hiện

có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên

cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động Thể hiện một năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có

ý nghĩa, có năng lực có nghĩa là làm được

Các cách diễn đạt trên đều cho thấy năng lực có một số đặc điểm chung, cơ bản:

- Đề cập tới xu thế đạt được một kết quả nào đó của một công việc cụ thể, do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý bản thân…); không tồn tại năng lực chung chung

- Có sự tác động của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội…) để có một sản phẩm nhất định; do đó có thể phân biệt người này với người khác

- Năng lực là một yếu tố cấu thành trong một hoạt động cụ thể Năng lực chỉ tồn tại trong quá trình vận động, phát triển của một hoạt động cụ thể Vì vậy, năng lực vừa

là mục tiêu, vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó Quá trình dạy học nhằm hình thành, rèn luyện, phát triển năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào các hoạt động

Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp lí các kiến thức, kĩ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một bối cảnh (tình huống) nhất định Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kĩ năng trong một tình huống có ý nghĩa, chứ không ở tiếp thu lượng tri thức rời rạc

Trang 24

1.2.2 Cấu trúc của năng lực

- Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần sau:

+ Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Trong đó bao gồm cả khả năng

tư duy lô gic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khả năng nhận biết các mối quan hệ

hệ thống và quá trình Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực phương pháp chuyên môn

+ Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử

lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức

+ Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp

sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác

+ Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu cá nhân, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các ứng xử và hành vi

Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO:[12, tr69]

Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESO

Năng lực xã hội Học để cùng chung sống

Năng lực cá thể Học để tự khẳng định

Trang 25

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực

Chúng ta cũng có thể tiếp cận cấu trúc năng lực ở một khía cạnh khác theo Đỗ Hương Trà [18] như sau:

Khái niệm năng lực hành động và khái niệm kĩ năng không có sự tương đồng Kĩ năng chỉ được định nghĩa như là khả năng thực hiện dễ dàng, chính xác một hành động

có tính phức hợp và khả năng thích ứng trong các điều kiện đang thay đổi Trong khi năng lực hành động được định nghĩa như là một khái niệm định hướng theo chức năng, một hệ thống phức hợp hơn, có sự kết hợp của nhiều thành tố như các khả năng nhận thức, kỹ năng, thái độ và chứa cả thành phần phi nhận thức như động cơ, xúc cảm, giá trị, đạo đức, trong một bối cảnh có ý nghĩa

Cấu trúc của cách năng lực được trình bày như sơ đồ sau: [18,tr8]

Sơ đồ 1.1 Định hướng chức năng và cấu trúc đa thành tố của năng lực

- Vòng tròn nhỏ ở tâm là năng lực (định hướng theo chức năng)

- Vòng tròn giữa bao quanh vòng tròn nhỏ là các thành tố của năng lực: Kiến thức, các khả năng nhận thức, các khả năng thực hành/năng khiếu, thái độ, xúc cảm, giá trị và đạo đức, động cơ

Trang 26

- Bên ngoài là một vòng tròn lớn bao quanh hai vòng tròn nhỏ thể hiện bối cảnh (điều kiện/hoàn cảnh có ý nghĩa)

Ví dụ: Năng lực sử dụng ngôn ngữ thường gồm các năng lực thành phần như đọc hiểu, nghe hiểu, nói, viết định hướng thực hiện chức năng giao tiếp, tư duy, kết nối trong nó cả thái độ và các thành tố khác như xúc cảm, giá trị, niềm tin, trong một bối cảnh có ý nghĩa

Như vậy năng lực không phải là một cấu trúc bất biến, mà là một cấu trúc động,

có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kĩ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội, thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những điều kiện thực tế, hoàn cảnh thay đổi.[18, tr8]

1.2.3 Năng lực của học sinh

Năng lực của học sinh là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ, phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống

Có ba dấu hiệu quan trọng cần lưu ý về năng lực của học sinh:

- Năng lực không chỉ là khả năng tái hiện tri thức, thông hiểu tri thức, kĩ năng học được…, mà quan trọng là khả năng hành động, ứng dụng/vận dụng tri thức, kĩ năng học được để giải quyết những vấn đề của cuộc sống đang đặt ra với các em

- Năng lực không chỉ là vốn kiến thức, kĩ năng, thái độ sống phù hợp với lứa tuổi

mà là sự kết hợp hài hòa của ba yếu tố này, thể hiện ở khả năng hành động (thực hiện) hiệu quả, muốn hành động và sẵn sàng hành động đạt mục đích đề ra (gồm động cơ, ý chí, sự tự tin và trách nhiệm xã hội,…)

- Năng lực được hình thành, phát triển trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trong lớp học và học ở ngoài lớp học Nhà trường là môi trường giáo dục chính thống giúp học sinh hình thành những năng lực chung, năng lực chuyên biệt phù hợp với lứa tuổi, song đó không phải là nơi duy nhất Những môi trường khác như gia đình, cộng đồng,… cùng góp phần bổ sung và hoàn thiện các năng lực của các em [15, tr8]

1.2.4 Quá trình hình thành năng lực

Quá trình hình thành năng lực có thể mô hình hóa bằng một sơ đồ hình bậc thang, gồm các bước tăng tiến hình thành năng lực như sau: (Sơ đồ 1.2):

Trang 27

1 – Tiếp nhận thông tin

2 – Xử lí thông tin (thể hiện hiểu biết/ kiến thức)

3 – Áp dụng/vận dụng kiến thức (thể hiện khả năng)

4 – Thái độ và hành động

5 – Sự kết hợp đầy đủ các yếu tố trên để tạo thành năng lực

Sự kết hợp 5 bước trên tạo thành năng lực ở người học Tuy nhiên, cần kết hợp nhiều năng lực mới tạo ra sự chuyên ngiệp, kết hợp với học hỏi kinh nghiệm mới có thể hình thành năng lực nghề nghiệp

6 – Tính trách nhiệm, thể hiện sự chuyên nghiệp/ thành thạo

7 – Kết hợp với kinh nghiệm/trải nghiệm thể hiện năng lực nghề

Sơ đồ 1.2 Mô hình phát triển năng lực [18, tr9]

1.2.5 Các năng lực cốt lõi của học sinh THPT

Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất

kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc Tất cả các hoạt động giáo dục với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi của học sinh Có nhiều hệ thống năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong các hệ thống này thường gồm có:

Kĩ năng sống và kĩ năng nghề nghiệp

Kĩ năng học tập và kĩ năng đổi mới

Kĩ năng về thông tin, đa phương tiện và công nghệ

Trang 28

Sơ đồ 1.3 Khung kiến thức và kĩ năng của học sinh trong thế kỉ XXI [18, tr9]

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới của Việt Nam được cấu trúc theo định hướng phát triển năng lực Các năng lực của HS sau khi kết thúc chương trình giáo dục phổ thông được xác định là: [4]

Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên

và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất Đây là cơ sở ban đầu cho hoạt động phát triển chương trình nhà trường, trong đó việc xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp, giúp người học hình thành năng lực cần thiết ở đầu ra

1.2.6 Các năng lực chuyên biệt của môn Địa lí

Thông qua chương trình môn Địa lí, học sinh cần hình thành, phát triển được thế giới quan khoa học và các phẩm chất yêu thiên nhiên; có ý thức, niềm tin và hành động cụ thể trong việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; yêu thương người lao động, tôn trọng những giá trị nhân văn khác nhau; rèn luyện được sự tự tin, trung thực, khách quan; đồng thời hình thành và phát triển được các năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo

Học sinh cần hình thành và phát triển được năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội,

cụ thể là năng lực địa lí, bao gồm các thành phần sau: [5]

– Năng lực nhận thức thế giới theo quan điểm không gian: Nhận thức được các sự vật, hiện tượng, quá trình địa lí gắn với lãnh thổ, đáp ứng các câu hỏi chủ yếu: cái gì?

ở đâu? như thế nào?

– Năng lực giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí (tự nhiên, kinh tế – xã hội): Nhận thức và phát triển được kĩ năng phân tích các mối liên hệ (tương hỗ, nhân quả)

Trang 29

giữa các hiện tượng, quá trình địa lí tự nhiên; giữa các hiện tượng, quá trình địa lí kinh

tế – xã hội cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế – xã hội

– Năng lực sử dụng các công cụ của Địa lí học và tổ chức học tập thực địa: Sử dụng được bản đồ, atlat địa lí, lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, lát cắt, mô hình, bảng số liệu, tranh ảnh, ; tổ chức được các hoạt động học tập thực địa như tìm hiểu, khảo sát, điều tra địa lí địa phương

– Năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin địa lí: Thu thập, chọn lọc, hệ thống hoá được tư liệu, tài liệu; viết báo cáo; truyền đạt thông tin địa lí

– Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn: Liên hệ được kiến thức địa lí với thực tiễn, vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học vào nhận thức hoặc nghiên cứu một chủ đề vừa sức trong thực tiễn, vào việc ứng xử phù hợp với môi trường

1.2.7 So sánh dạy học định hướng năng lực và dạy học định hướng nội dung

Dạy học đinh hướng nội dung và dạy học định hướng năng lực có những khác nhau cơ bản về mục tiêu, nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức dạy học và phương pháp đánh giá kết quả học tập của HS (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 So sánh dạy học định hướng năng lực và dạy học định hướng nội dung Tiêu chí so sánh Chương trình định hướng nội

dung

Chương trình định hướng phát triển năng lực

Mục tiêu giáo

dục

Mục tiêu dạy học được mô tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được

Kết quả học tập cần đạt được

mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục

Nội dung giáo

dục

Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình

Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết

Trang 30

trình dạy học HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn

cực lĩnh hội tri thức Chú trọng

sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, – Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành

Đánh giá kết quả

học tập của HS

Tiêu chí đánh giá được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học

Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn

1.3 Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí 11

1.3.1 Mục tiêu của chương trình Địa lí 11

*Về kiến thức: Cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, cần thiết về:

- Đặc điểm tự nhiên, dân cư, kinh tế - xã hội của một số khu vực khác nhau và một số quốc gia trên thế giới

- Một số đặc điểm về thế giới đương đại

*Về kĩ năng: Hình thành và phát triển ở học sinh:

- Kĩ năng làm việc với bản đồ, tranh ảnh, biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu, bảng kiến thức

- Kĩ năng thu thập, xử lí, thông báo thông tin địa lí

- Kĩ năng liên hệ giải thích một số vấn đề xảy ra trong thực tế

Trang 31

*Về thái độ, tình cảm: góp phần bồi dưỡng cho học sinh:

- Niềm tin vào khoa học, ham học hỏi, hứng thú, say mê tìm hiểu các sự vật, hiện tượng địa lí

- Có ý thức trách nhiệm, tinh thần quốc tế về sử dụng hợp lí, bảo vệ, cải tạo môi trường thế giới

*Định hướng phát triển năng lực: Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực:

- Năng lực nhận thức thế giới theo quan điểm không gian

- Năng lực giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí (tự nhiên, kinh tế – xã hội)

- Năng lực sử dụng các công cụ của địa lí học và tổ chức học tập thực địa

- Năng lực thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin địa lí

- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn

1.3.2 Cấu trúc chương trình Địa lí 11

Chương trình địa lí lớp 11 học về địa lí thế giới Cấu trúc chương trình được thể hiện ở sơ đồ 1.4 dưới đây

Sơ đồ 1.4 Cấu trúc chương trình Địa lí 11 THPT

Địa lý thế giới

A Khái quát nền kinh tế -

xã hội thế giới B Địa lý khu vực và quốc gia

Một số vấn

đề mang tính chất toàn cầu

Một số vấn

đề của Châu lục

Trang 32

1.3.3 Đặc điểm chương trình Địa lí 11

Trọng tâm của chương trình Địa lí 11 là Địa lí kinh tế - xã hội thế giới Chương trình được chia theo các đơn vị kiến thức lớn, bám sát sách giáo khoa và gồm hai nội dung lớn:

- Khái quát nền kinh tế - xã hội thế giới giúp học sinh biết được khái quát đặc điểm của nền kinh tế thế giới; các vấn đề mang tính toàn cầu; một số vấn đề của châu lục và khu vực;…

- Địa lí khu vực và quốc gia giới thiệu và cung cấp kiến thức về các tổ chức kinh tế tiêu biểu như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN); các nền kinh tế tiêu biểu của thế giới như Hoa Kì, Liên Bang Nga, Nhật Bản, Trung Quốc,… Bên cạnh việc giúp học sinh có cái nhìn khái quát về bức tranh kinh tế - xã hội của thế giới, đặc điểm của các nền kinh tế tiêu biểu, Địa lí 11 tiếp tục củng cố và rèn luyện cho học sinh các kĩ năng quan trọng như đọc bản đồ, vẽ và nhận xét biểu đồ, phân tích hình ảnh, sơ đồ, nhận xét bảng số liệu, Ngoài ra, những nội dung của chương trình Địa

lí 11 sẽ giúp học sinh có thái độ đúng đắn trước các hiện tượng kinh tế - xã hội của một

số quốc gia, khu vực, quan tâm đến những vấn đề như dân số, môi trường,

Chương trình học môn Địa lí 11 có 2 điểm đặc biệt nổi bật sau:

- Một là nội dung chương trình thể hiện bức tranh tổng thể nền kinh tế thế giới, các vấn đề toàn cầu hóa được thế giới quan tâm, đặc điểm địa lí tự nhiên – kinh tế xã hội của một số quốc gia tiêu biểu như Hoa Kì, Liên bang Nga, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á,…

- Hai là chương trình được xây dựng theo các chuyên đề, để thuận lợi hơn trong việc học và giảng dạy, việc sắp xếp chương trình dạy một cách logic và xây dựng chuyên đề dạy học giúp chúng ta thêm hứng thú và hiệu quả giáo dục cao hơn

1.4 Đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh 11 THPT

1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi

Lứa tuổi HS lớp 11 THPT thuộc lứa tuổi thanh niên Lứa tuổi này có những đặc trưng riêng về tâm sinh sinh lí

Cảm giác và tri giác của các em đã đạt tới mức độ của người lớn Quá trình quan sát gắn liền với tư duy và ngôn ngữ Khả năng quan sát một phẩm chất cá nhân cũng bắt đầu phát triển ở các em Tuy nhiên, sự quan sát ở các em thường phân tán, chưa tập trung cao vào một nhiệm vụ nhất định, trong khi quan sát một đối tượng vẫn còn mang tính đại khái, phiến diện đưa ra kết luận vội vàng không có cơ sở thực tế

Trang 33

Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của HS lớp 11 THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em sắp bước vào cuộc sống

xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị về con người

Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt HS đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Thái độ có ý thức đối với việc học tập của các em được tăng lên mạnh mẽ Học tập mang ý nghĩa sống còn trực tiếp vì các em đã ý thức rõ ràng được rằng: cái vốn những tri thức, kĩ năng và kĩ xảo hiện có, kĩ năng độc lập tiếp thu tri thức được hình thành trong nhà trường phổ thông là điều kiện cần thiết để tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động của xã hội Điều này đã làm cho học sinh

11 THPT bắt đầu đánh giá hoạt động chủ yếu theo quan điểm tương lai của mình

Sự phát triển về mặt cơ thể tạo cho các em có nhiều hứng thú trong hoạt động học tập và nhiều lĩnh vực khác Các em có tính độc lập tự chủ trong hoạt động của mình, có ý thức lao động, học tập, tinh thần làm chủ tập thể

Sự phát triển nhanh về tâm lí, đặc biệt phát triển về mặt xã hội nên các em có khả năng tiếp nhận nhiều thông tin Có sự chín chắn và có kinh nghiệm hơn, khả năng tiếp thu của các em cũng nhạy bén, sáng tạo hơn [11]

1.4.2 Đặc điểm về hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ

- Trong hoạt động học tập

+ Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với HS lớp 11 THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển đủ cao

+ Về nội dung, phương pháp, mục đích, cách thức học tập… khác xa với các lớp học trước, hoạt động tự học tự nghiên cứu được phát triển cao

+ Ý thức, thái độ học tập tốt hơn đã thúc đẩy sự phát triển có tính chủ định của các quá trình nhận thức và năng lực điều khiển bản thân trong quá trình học tập

- Đặc điểm sự phát triển trí tuệ

+ Sự phát triển trí tuệ ở lứa tuổi này là tính chủ định giữ vai trò thống trị, vai trò của ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng lên rõ rệt

+ Khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng được phát triển, thế giới quan dần được hình thành

Trang 34

+ Tri giác có mục đích đã đạt tới mức cao Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn [11]

1.4.3 Đặc điểm nhân cách chủ yếu

- Về sự tự ý thức: Ở lứa tuổi này đã phát triển tốt, tự ý thức là tài sản để các em soi xét, đánh giá mình về mọi mặt trong cuộc sống có phù hợp với mục đích yêu cầu của thời đại hay không Các em biết kiềm chế những hành vi, hành động không đúng đắn của mình

- Giao tiếp và đời sống tình cảm: Giao tiếp thường xảy ra trong các nhóm tâm lí có cùng sở thích, nhu cầu hoặc đôi bạn Tình bạn đã đi vào chiều sâu, phải có lòng chân thành, vị tha, đồng cảm với nhau Các em có nhu cầu cống hiến cho xã hội rất nhiều Tóm lại, đặc điểm tâm sinh lí HS THPT nói chung và HS lớp 11 nói riêng rất phù hợp cho việc sử dụng Internet trong học tập nói chung và học tập môn Địa lí nói riêng

Nó không những đáp ứng nhu cầu giáo dục môn học mà còn giúp các em có khả năng phát triển kĩ năng làm việc độc lập, tự tìm hiểu, tự giải quyết vấn đề trên cơ sở làm việc với thông tin và ứng dụng học tập của Internet

1.5 Thực trạng sử dụng Internet trong dạy học môn Địa lí 11 THPT

1.5.1 Tổ chức khảo sát điều tra

- Điều tra HS lớp 11 tại một số trường THPT ở tỉnh Thừa Thiên Huế về việc

sử dụng Internet trong quá trình học tập Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực

* Phương pháp:

- Phát phiếu điều tra, phỏng vấn hỏi ý kiến và dự giờ thăm lớp

* Tổ chức điều tra:

- Thời gian điều tra: Thực hiện vào tháng 2 năm 2018

- Tổ chức điều tra tại một số trường trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Đà Nẵng (Bảng 1.2)

Trang 35

Bảng 1.2 Bảng thống kê số trường, số GV, HS tham gia điều tra thực tế

3 THPT Nguyễn Trường Tộ, TP Huế - TT Huế 4 38

6 THPT Đặng Huy Trứ, Hương Trà - TT Huế 3 37

1.5.2 Kết quả khảo sát, điều tra

Kết quả điều tra với 36 GV, 386 HS tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho thấy:

1.5.2.1 Thực trạng sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT của giáo viên

Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học nói chung và dạy học địa lí nói riêng là mối quan tâm, nhiệm vụ và là hướng tất yếu của giáo viên nhằm đổi mới phương pháp dạy học Liên quan đến đề tài, tôi đã tìm hiểu thực trạng quan niệm của giáo viên về việc sử dụng Internet trong dạy học địa lí 11 THPT thông qua phiếu điều tra số 1 tại trường THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đối với 36 thầy cô dạy môn địa lí và rút ra được nhận xét sau:

- Kết quả khảo sát về sự quan tâm chỉ đạo và cơ cở vật chất của nhà trường phục vụ cho việc sử dụng Internet trong quá trình dạy học ở trường phổ thông (Xem

bảng 1.2)

Trang 36

Bảng 1.3 Mức độ quan tâm và cơ sở vật chất kĩ thuật của nhà trường phục vụ

- Kết quả khảo sát thực trạng mức độ sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông (Xem bảng 1.4)

Bảng 1.4 Mức độ sử dụng Internet trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông

Trang 37

Địa lí Nhìn chung, hầu hết các giáo viên đều sử dụng Internet phục vụ cho việc dạy học Địa lí một cách thường xuyên và không có GV nào không sử dụng Internet trong dạy học Tuy nhiên, qua quan sát vẫn còn một số ít GV sử dụng Internet phục vụ cho việc dạy học còn hạn chế Điều này là do tâm lí ngại lên mạng, ngại soạn giáo án điện tử làm cho thông tin khai thác từ mạng dùng cho giảng dạy còn ít Bên cạnh đó, sự thiếu hụt về trình độ tin học, tiếng Anh của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong nhà trường Một

số giáo viên, đặc biệt là giáo viên lớn tuổi, kĩ năng tin học yếu kém và trình độ tiếng anh rất hạn chế nên làm việc với máy tính nối mạng gặp nhiều khó khăn

- Kết quả khảo sát mục đích sử dụng các ứng dụng Internet để dạy học địa lí ở trường phổ thông (Xem bảng 1.5)

Bảng 1.5 Mục đích sử dụng một số ứng dụng Internet để dạy học địa lí ở trường

phổ thông Ứng dụng Internet trong dạy học Địa lí TX TT HK KBG KB

Khai thác thông tin, tư liệu dạy học và hướng dẫn

HS khai thác thông tin, tư liệu Địa lí x

Dạy học thông qua mạng xã hội Facebook x

Ghi chú: TX: Thường xuyên; TT: Thỉnh thoảng; HK: Hiếm kh, KBG: Không bao giờ; KB: Không biết

Qua bảng 1.5 cho thấy đa số GV thường xuyên sử dụng Internet để khai thác thông tin,

tư liệu dạy học và hướng dẫn HS khai thác thông tin, tư liệu Địa lí, GV cũng thường xuyên hướng dẫn HS tự học Địa lí thông qua Internet và sử dụng mạng xã hội Facebook như một công cụ hỗ trợ dạy học GV thỉnh thoảng có sử dụng Internet để dạy học Địa lí tại lớp và hướng dẫn HS sử dụng Internet để viết báo cáo địa lí Tuy nhiên, GV không có công cụ để kiểm soát quá trình học tập của học sinh, dẫn đến hiệu quả chưa tốt Trong khi hầu hết GV không biết về mạng học tập Edmodo và cũng chưa có kĩ năng sử dụng mạng học tập này

1.5.2.2 Thực trạng sử dụng Internet trong học tập Địa lí 11 THPT của học sinh

Đa số các học sinh, đặc biệt là học sinh ở thành phố đã được làm quen và khá thành thạo tin học, với Internet, đã bước đầu phát huy được vai trò làm chủ trong quá trình lĩnh hội tri thức của mình

- Đa số các em nhận thức được nếu khai thác thông tin từ mạng: tranh ảnh, video,

sự kiện… sẽ giúp cho nguồn tư liệu học tập thêm phong phú, nội dung bài học được làm

Trang 38

rõ hơn, rèn luyện được các kĩ năng địa lí, từ đó kiến thức địa lí được học sinh ghi nhớ và hiểu sâu sắc hơn Hơn nữa, các em ý thức được việc khai thác Internet phục vụ cho bài học môn địa lí 11 THPT cần bám sát nội dung SGK và nội dung chương trình học

- Đa số các em đã có điều kiện tự đi tìm nguồn thông tin trên mạng Internet để học tập môn địa lí, thậm chí có thể học tập trực tuyến Ngoài các máy tính được nối mạng tại trường, đa số các em học sinh đã có máy tính của cá nhân, gia đình hoặc điện thoại thông minh, có thể truy cập Internet để phục vụ cho học tập

- Tuy nhiên, việc sử dụng Internet phục vụ cho mục đích học tập môn địa lí 11 THPT của các em học sinh cũng còn những hạn chế Không phải em học sinh nào cũng biết địa chỉ để truy cập, các em chưa biết cách chọn lọc thông tin để tìm ra những thông tin phù hợp với mục đích học tập của từng bài, từng nội dung

- Kết quả khảo sát về các địa điểm mà HS có thể truy cập Internet để học tập

(Xem bảng 1.6)

Bảng 1.6 Một số địa điểm truy cập Internet của học sinh Địa điểm HS có thể truy cập Internet Thống kê

Truy cập tại các dịch vụ Internet công cộng 50/386 13,0

Từ bảng 1.6, cho thấy có đến 72,8% HS được khảo sát có thể truy cập Internet tại nhà, 13,0 % HS còn lại sử dụng các dịch vụ Internet công cộng, và có 14,2% phải đến thư viện của trường mới truy cập được Internet

- Kết quả khảo sát về tần suất truy cập Internet trong một ngày của HS (Bảng 1.7)

Bảng 1.7 Tần suất tuy cập Internet của học sinh/ ngày

Loại phương tiện được HS sử dụng để truy cập

Internet

Tuần suất (Thời gian/ngày)

30 phút

60 phút

90 phút

3 giờ >3

giờ

Sử dụng các thiết bị thông minh khác x

Dấu x biểu thị sự tập trung đa số ý kiến của HS

Trang 39

Bảng 1.7 cho thấy đa số HS có máy tính (máy bàn và laptop) và dùng khoảng 90 phút/ngày để truy cập vào Internet Trong khi học có điện thoại di động thì truy cập Internet khoảng 3 giờ/ngày Các thiết bị thông minh khác (Macbook, Ipad ) thì HS chỉ dùng để truy cập trong 60 phút

- Kết quả khảo sát về mục đích sử dụng Internet của HS trong học tập (Bảng 1.7)

Bảng 1.8 Mục đích sử dụng Internet của học sinh

Bảng 1.8 cho thấy, HS sử dụng phần lớn thời gian truy cập Internet để phục vụ các nhu cầu hoạt động giải trí cá nhân (nghe nhạc, xem phim, tán gẫu bạn bè ), tiếp đến các em sử dụng Internet để khai thác các thông tin tư liệu phục vụ cho việc học tập

và tiếp theo là các em sử dụng các chức năng tương tác để trao đổi thông tin học tập với nhau và nêu thắc mắc đến GV, chủ yếu là thông qua mạng xã hội Facebook Sau

đó, các em truy cập vào các địa chỉ website của trường để theo dõi các thông báo, kế hoạch học tập Và nếu còn thời gian thì các em mới tham gia các khóa học trực tuyến

Từ kết quả khảo sát HS về thực trạng sử dụng Internet trong học tập, có thể nhận thấy rằng phần lớn HS đã được trang bị máy tính ở nhà, điện thoại thông minh và có kết nối Internet, rất ít các bạn cần đến máy tính của trường Các em truy cập Internet hằng ngày để phục vụ nhu cầu giải trí cá nhân và trao đổi, học tập với bạn bè, thầy cô Mức độ sử dụng Internet khá lớn Chính những đặc điểm đó là những điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho việc học tập nói chung và học Địa lí nói riêng

1.5.2.2 Kết luận chung về thực trạng

Trang 40

Qua trên có thể nhận thấy rằng việc sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT là rất cần thiết, hầu hết các GV đều đồng ý với việc sử dụng Internet trong dạy học có rất nhiều thuận lợi, các nhà trường trang bị cơ sở vật chất khá đầy đủ, hệ thống mạng Internet được phủ rộng khuôn viên trường, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin của GV được đảm bảo, HS đã có thói quen và kĩ năng sử dụng Internet nhất định trong quá trình học tập nói chung và môn Địa lí nói riêng Mức độ sử dụng Internet trong dạy học của GV và HS khá thường xuyên và sử dụng với nhiều mục đích dạy và học khác nhau Chính vì vậy, việc sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực có tính khả thi để thực hiện hiệu quả

Tuy nhiên, việc sử dụng Internet trong dạy học Địa lí 11 THPT còn một số hạn chế Một số GV còn ngại mất thời gian tìm tòi, chuẩn bị bài dạy sử dụng Internet, trình

độ công nghệ thông tin và ngoại ngữ hạn chế, một số HS chây lười, ý thức tự giác kém nên việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên Internet chưa đạt kết quả cao

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w