1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Rèn luyện kỹ năng tóm tắt văn bản cho học sinh trung học phổ thông qua dạy học đọc hiểu văn bản nghị luận trong sách giáo khoa lớp 11,12

112 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học Ngữ văn, riêng mảng văn nghị luận, ta thấy rằng trước đây văn bản nghị luận VBNL ít được đưa vào chương trình phổ thông do nhiều người cho rằng đây là thể loại thường đề cậ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ GIỚI

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TÓM TẮT VĂN BẢN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUA DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN TRONG SÁCH GIÁO KHOA LỚP 11, 12

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng Việt

Mã số:60140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGSTS NGUYỄN QUANG NINH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Giới

Trang 3

Tôi cũng xin cám ơn chân thành đến Ban giám hiệu, quý thầy cô tổ Ngữ văn

và các em học sinh trường THPT Nguyễn Trung Trực, THPT Nguyễn Hùng Sơn (Thành phố Rạch Giá - Kiên Giang) cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tôi hoàn thành đề tài

Huế, tháng 8 năm 2017

Họ và tên

Nguyễn Thị Giới

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cảm ơn ii

Lời cam đoan iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG , BIỂU 5

PHẦN MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử vấn đề 8

3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận văn 12

7 Cấu trúc luận văn 12

NỘI DUNG 13

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 13

1.1 Cơ sở lí luận 13

1.1.1 Kĩ năng và kĩ năng tóm tắt văn bản 13

1.1.2 Đọc - hiểu văn bản và dạy học đọc - hiểu văn bản với việc phát triển kĩ năng cho học sinh 16

1.1.3 Giới thuyết về thể loại nghị luận 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Khái quát về chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện nay - phần VBNL 26

1.2.2 Thực trạng dạy và học đọc - hiểu văn bản nghị luận trong nhà trường THPT 29 Kết luận chương 1 355

Trang 5

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TÓM TẮT

VĂN BẢN QUA DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN 36

2.1 Một số kĩ năng tóm tắt văn bản cần rèn luyện 36

2.1.1 Tóm tắt văn bản phải đảm bảo đầy đủ về nội dung 36

2.1.2 Tóm tắt văn bản phải chính xác các chi tiết 37

2.1.3 Tóm tắt văn bản cần tương đồng về cấu trúc 39

2.1.4 Tóm tắt văn bản phải thể hiện được ý đồ của tác giả 40

2.1.5 Tóm tắt văn bản phải đảm bảo ngắn gọn 411

2.2 Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng tóm tắt cho học sinh 423

2.2.1 Đọc kĩ để hiểu nội dung văn bản nghị luận 42

2.2.2 Phân tích quan hệ ý của văn bản 45

2.2.3 Lập sơ đồ tóm tắt văn bản 51

2.2.4 Viết văn bản tóm tắt 52

2.3 Một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng tóm tắt văn bản 544

2.3.1 Dạng bài tập đọc - hiểu văn bản 55

2.3.2 Dạng bài tập tìm ý chính 57

2.3.3 Dạng bài tập tìm ý phụ 59

2.3.4 Dạng bài tập xác định cách luận chứng 60

2.3.5 Dạng bài tập tóm tắt 63

Kết luận chương 2 66

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67

3.1 Mục đích và yêu cầu thực nghiệm 67

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 67

3.1.2 Yêu cầu thực nghiệm 67

3.2 Tiến trình thực nghiệm 67

3.2.1 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 67

3.2.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 68

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 77

3.2.4 Triển khai thực nghiệm 77

3.3 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 80

Trang 6

3.3.1 Xử lí kết quả thực nghiệm 80

3.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm 82

Kết luận chương 3 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG , BIỂU

Trang

BẢNG

Bảng 1.1: Thống kê kết quả khảo sát ý kiến của giáo viên 31

Bảng 1.2: Thống kê kết quả khảo sát ý kiến của học sinh 31

Bảng 3.1 Tần số các loại điểm của lớp ĐC và TN 80

Bảng 3.2 Bảng xếp loại học sinh ĐC và TN 81

Bảng 3.3 Điểm trung bình và độ lệch chuẩn của lớp ĐC và TN 82

Bảng 3.4 Hệ số kiểm định mức ý nghĩa của sự khác biệt giữa ĐC và TN 82

BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 So sánh tần số phân bố điểm lớp ĐC và TN 81

Biểu đồ 3.2 So sánh tỷ lệ % xếp loại học sinh của ĐC và TN 81

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2010 - 2020”, Đảng và Nhà nước đã xác định: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng”

Cùng với xu hướng xã hội đang tích cực thực hiện đổi mới toàn diện nền giáo dục thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học được chú trọng đặc biệt để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Với đặc thù riêng, Ngữ văn là môn học gắn với cái đẹp Học Ngữ văn là học cách khám phá cái đẹp của thế giới tự nhiên, của cuộc sống và con người Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn

sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bộ môn, cho nên mối quan tâm của giáo viên Ngữ văn nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say

mê hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học - từ chỗ quan tâm tới việc học cung cấp kiến thức đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc - hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà tiếp thu các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do đó hiểu bản chất môn Văn là môn dạy đọc Văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn

Trang 10

học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, kĩ năng, phát triển năng lực, kĩ năng là chủ thể của học sinh

Trong dạy học Ngữ văn, riêng mảng văn nghị luận, ta thấy rằng trước đây văn bản nghị luận (VBNL) ít được đưa vào chương trình phổ thông do nhiều người cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến những tư tưởng trừu tượng, diễn đạt khô khan nên không gây được sự hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh Hiện nay, văn nghị luận đã được đánh giá đúng với vai trò, ý nghĩa đích thực của nó Văn nghị luận không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay

Mặc dù khác nhau về thời điểm ra đời, về thể loại, về nội dung luận bàn nhưng các VBNL đều có điểm chung là bộc lộ tính trí tuệ uyên bác, tình cảm sâu sắc của người viết Tuy nhiên, các VBNL thường khô khan cho nên học sinh tiếp nhận tác phẩm rất khó khăn Khi giảng dạy, giáo viên cần kết hợp nhiều phương pháp dạy học tích cực để học sinh trở thành chủ thể tiếp nhận trong việc tìm hiểu cái hay, cái đẹp của tác phẩm về nội dung, quan điểm tư tưởng và hình thức nghệ thuật Điều này càng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu văn hóa quốc tế được gia tăng, khi điều kiện tiếp xúc các nguồn văn bản được mở rộng hơn bao giờ hết Trong bối cảnh đó trình độ văn hóa được đánh giá bằng năng lực, kĩ năng nắm bắt, tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin từ các văn bản khác nhau

Mà muốn thế trước hết họ phải biết đọc, không phải chỉ biết đọc chữ, đọc diễn cảm,

mà trước hết phải biết đọc hiểu Sau khi học sinh đã đọc và nắm được nội dung tác phẩm giáo viên hướng dẫn học sinh TTVB đây là một khâu không thể thiếu trong phần tiếp nhận văn bản, nhất là đối với phần VBNL Từ quá trình đọc - hiểu học sinh sẽ hình các thành năng lực, kĩ năng khác nhau Một trong những kĩ năng quan trọng và cần thiết là kĩ năng TTVB Sở dĩ cho là kĩ năng quan trọng bởi vì nó giúp

ta có những hiểu biết khái quát, chính xác và sâu sắc về văn bản, hiểu được quan điểm, tư tưởng tình cảm mà người viết muốn chuyển tải trong văn bản từ đó tích lũy tư liệu và kiến thức cần thiết làm tài liệu

Từ cơ sở của việc dạy học đọc hiểu văn bản nghị luận trong trường Trung học

Trang 11

phổ thông (THPT) mà tập trung là các VBNL lớp 11, 12, bản thân tôi thấy rằng việc phát triển kĩ năng cho học sinh nhất là kĩ năng tóm tắt văn bản (TTVB) là rất cần thiết Vậy làm cách nào để có thể định hướng giảng dạy những VBNL cho phù hợp

và mang lại hiệu quả cao, rèn luyện được cho học sinh năng lực tóm tắt? Điều đó đã thôi thúc tôi nghiên cứu đề tài “Rèn luyện kĩ năng tóm tắt văn bản cho học sinh THPT qua phần dạy đọc -hiểu VBNL trong sách giáo khoa lớp 11, 12”

2 Lịch sử vấn đề

Văn nghị luận là một trong sáu kiểu văn bản (miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính-công vụ) được dạy trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS), là một trong bốn kiểu văn bản được dạy trong chương trình Ngữ văn THPT (thuyết minh, nghị luận, tự sự, hành chính-công vụ) Vì vậy, các công trình nghiên cứu, tài liệu, sách tham khảo dạy học về văn nghị luận nói chung khá nhiều và đa dạng

Giáo sư Lê Trí Viễn trong bài viết Về vị trí môn văn trong nhà trường phổ

thông đã khẳng định “Hai môn Văn Toán có vị trí hàng đầu trong các môn học ở

trường phổ thông, trong đó Văn được xếp trước Toán” Do đó, việc nghiên cứu về phương pháp dạy văn luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm Ngoài những tài liệu

của Bộ Giáo dục - Đào tạo như Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thựchiện chương trình,

sách giáo khoa lớp 10, 11, 12, Về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trung học phổ thông… ở mảng đọc - hiểu nghị luận bản thân tôi được biết một số tài liệu

nghiên cứu sau:

Giáo trình phương pháp giảng dạy văn học do các tác giả Bùi Quang Phổ,

Hoàng Lân, Nguyễn Gia Phương biên soạn xuất bản năm 1963 Về mặt lịch sử phát triển của ngành,đây là cuốn giáo trình đầu tiên về phương pháp dạy học văn ở nước

ta Đến năm 1987 giáo trình chính thức của bộ môn văn Phương pháp dạy học văn do các tác giả Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt biên soạn được hoàn thành Trong giáo trình này, các tác giả có đề cập đến văn nghị luận nhưng với tư cách là một kiểu bài của phân môn làm văn và viết về làm văn trong một nội dung bài học cụ thể của phương pháp dạy học văn Bên cạnh đó, tác giả

Nguyễn Thanh Hùng trong chuyên luận Hiểu văn dạy văn Nhà xuất bản giáo dục

Trang 12

2000, bài viết đã trình bày nhiều vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động dạy học văn

ở trong trường phổ thông Ông đặc biệt lưu ý đến hoạt động chiếm lĩnh các tác phẩm văn chương nhằm tiếp cận, phân tích, cắt nghĩa, bình giá để hiểu tác phẩm văn

chương sâu sắc, toàn diện.Thiết kế dạy học làm văn 12của Trương Dĩnh (Nhà xuất

bản giáo dục) đã tập trung vào thể văn nghị luận với tư cách là một đối tượng của dạy học làm văn Do đó, các tác giả tập trung vào thể văn nghị luận ở chương trình làm văn lớp 12, đồng thời hướng dẫn thiết kế cụ thể để rèn luyện kĩ năng

Năm 1998, Đỗ Kim Hồi trong Nghĩ từ công việc dạy văn (Nhà xuất bản Giáo

dục, 1998) đã chỉ ra rằng chưa xây dựng được một khoa học cho làm văn nghị luận Theo ông “Văn nghị luận là sự phản ánh cuộc sống do đó nếu không bắt nguồn từ cuộc sống thì không thể đến với nghị luận, ngược lại không một quy tắc nào của văn nghị luận có thể có giá trị, có linh hồn nếu không có cơ sở và được cắt nghĩa từ

sự chăm chú quan sát và nhận xét những hoạt động nghị luận ở đời thường” Những công trình mà chúng tôi vừa nêu, các tác giả có bàn đến nghị luận nhưng với tư cách

là một hoạt động, một kiểu bài của phân môn làm văn chưa xem VBNL là đối tượng của hoạt động dạy đọc - hiểu văn bản

Trước năm 2000, Chương trình SGK Văn cải cách đã chú ý dạy văn nghị

luận Các cuốn sách như Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể (Trần Thanh Đạm, Hoàng Như Mai, Huỳnh Lý biên soạn), Giảng dạy văn học Việt Nam

(Phần cổ điển và cận đại, ở trường phổ thông cấp III) của Trần Thanh Đạm, Bùi Văn Nguyên, Tạ Phong Châu đã đưa ra những gợi ý quý báu về giảng dạy văn nghị luận nói chung với một số yêu cầu giảng dạy tác phẩm nghị luận văn học như chú ý bồi dưỡng khả năng cảm thụ cho học sinh, xác định kiến thức cơ bản, kết hợp rèn kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh nhưng vẫn chủ yếu khai thác nội dung tư tưởng, đi sâu vào vấn đề văn học, chưa chú ý dạy học cách đọc - hiểu văn bản, chưa thích hợp với đối tượng học sinh ở nhà trường trung học.Cách tiếp cận vấn đề của tác giả chủ yếu vẫn từ góc độ lịch sử, phê bình văn học chưa phải từ góc độ lí

luận dạy học Tương tự như vậy, các công trình Mấy vấn đề thi pháp văn học trung

đại Việt Nam (Trần Đình Sử), Văn học Trung đại Việt Namdưới góc nhìn văn hoá(Trần Nho Thìn),Con đường giải mã văn học trung đại (Nguyễn Đăng Na) đề

Trang 13

cập đến phần nào cách tiếp cận và giảng dạy một số VBNL trung đại Cũng có thể tìm thấy một số bài giảng văn nghị luận trung đại trong các bài nghiên cứu như

Những bài giảng văn ở đại học của Lê Trí Viễn, cuốn Giảng văn, tập 1, của Bùi

Văn Nguyên, cuốn Giảng văn Văn học Việt Nam của Trần Đình Sử Vấn đề dạy học

đọc hiểu văn bản nghị luận được đề cập đến ở tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương

trình SGK Ngữ văn cấp THCS, THPT và một số bài báo như Suy nghĩ về cách dạy bài “Ý

nghĩa văn chương” trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 của Đặng Hiển, Một số vấn đề đọc - hiểu thơ văn trữ tình và tác phẩm văn chương nghị luận trong chương trình SGK Ngữ văn 7 của Nguyễn Trọng Hoàn Các tài liệu này quan tâm đến việc dạy

các VBNLcụ thể trong chương trình, còn cách dạy đọc - hiểu thể văn nghị luận như thế nào chưa được các tác giả khái quát thành lí luận về phươngpháp

Vấn đề dạy học đọc - hiểu VBNL được nghiên cứu toàn diện hơn trong cuốn

“Dạy học văn bản Ngữ văn trung học cơ sở theo đặc trưng phương thức biểu

đạt”của Trần Đình Chung Tác giả dành một chương (chương III) viết về dạy học

văn bản Trên cơsởnhận diện VBNLtheo phương thức biểu đạt, tác giả đề xuất phương hướng dạy học VBNL dân gian, dạy học VBNL trung đại, hiện đại theo yêu cầu phù hợp với đặc trưng thể loại, đáp ứng dạy học tích hợp và dạy học tích cực

Trong một tài liệu chuyên sâu khác về phương pháp dạy văn nghị luận là

Phương pháp dạy văn bản nghị luận ở trường phổ thông(Hoàng Thị Mai),tác giả đã

chỉ ra các biện pháp, cách thức dạy VBNL(tái hiện sinh động không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm; đọc, tóm tắt VBNL; phát hiện khái quát luận đề, luận điểm và phân tích luận đề, luận điểm; lấy ví dụ, dẫn chứng tiêu biểu ngoài văn bản để phân tích, làm sáng tỏ luận điểm; đọc -hiểu VBNLdự vào mạch nghị luận của văn bản; liên hệ với thực tế; tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy học đọc -hiểu VBNL;kiểmtra đánh giá trong dạy học đọc -hiểu VBNL)

Qua tìm hiểu, tôi thấy rằng số lượng các công trình, các bài viết bàn về vấn

đề dạy học (dạy đọc - hiểu) VBNLở trường THPT còn ít Các tài liệu chúng tôi nghiên cứu đều thống nhất quan điểm phải chú ý tới đặc điểm thể loại khi giảng dạy VBNL Trong khi hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản cho học sinh, một trong những kĩ năng không thể thiếu mà chúng tôi nhận thấy là kĩ năng TTVB

Trang 14

3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu

- Thực nghiệm sư phạm: khả năng TTVB của học sinh

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đề nghiên cứu quá trình dạy học đọc - hiểu các VBNL trong sách giáo khoa lớp

11, 12 để rèn luyện kĩ năng TTVB là khách thể nghiên cứu Trong đó tập trung nghiên cứu, xây dựng một số bài tập định hướng rèn luyện kĩ năng tóm tắt cho học sinh

Luận văn chúng tôi thực hiện nghiên cứu văn bản nghị luận theo chương trình SGK hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo Khảo sát, thực nghiệm giảng dạy tại các trường THPT ở Kiên Giang năm học 2016 - 2017

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là chương trình Ngữ văn THPT chủ yếu phần đọc - hiểu các VBNL trong sách giáo khoa 11, 12 Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đưa

ra một hướng tiếp cận mới khi dạy các VBNL để rèn luyện rèn luyện kĩ năng TTVB

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực tiễn dạy học ở hai trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Kiên Giang: Trường THPT Nguyễn Trung Trực và trường THPT Nguyễn Hùng Sơn trên địa bàn thành phố Rạch Giá

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp để phát hiện và khẳng định tính khả thi của việc dạy đọc - hiểu VBNL hướng đến rèn luyện năng lực TTVB trong sự đối sánh với cách dạy truyền thống

- Phương pháp điều tra và khảo sát:

+ Dự giờ lên lớp của một số giáo viên ở trường THPT để nắm bắt tình hình dạy học văn nói chung cũng như dạy học các tác phẩm nghị luận nói riêng

+ Điều tra, khảo sát ý kiến của giáo viên và học sinh (bằng phiếu) trong việc tiếp nhận thể loại nghị luận trong nhà trường phổ thông và tình hình dạy đọc - hiểu tác phẩm nghị luận hướng đến rèn luyện kĩ năng TTVB

+ Khảo sát sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo; các bài viết, bài phân tích của một số nhà giáo, nhà nghiên cứu về các VBNL trong chương trình ngữ văn ở trường phổ thông

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: dùng để xử lý các tư liệu và ý kiến nghiên cứu của các nhà giáo, nhà phê bình, nghiên cứu nhằm làm rõ các quan điểm trong việc giảng dạy VBNL

- Phương pháp thống kê: dùng để thống kê ý kiến của giáo viên và của học sinh đã trả lời trên các phiếu điều tra

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thiết kế giáo án thực nghiệm nhằm tìm

ra phương pháp tốt nhất cho việc giảng dạy thể đọc - hiểu nhằm hướng đến phát triển năng lực TTVB cho học sinh trong nhà trường phổ thông

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu về đặc trưng thể loại nghị luận và các hoạt động dạy học đọc -hiểu VBNL, luận văn đề xuất biện pháp rèn luyện kĩ năng tóm tắt văn bản

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số cách thức tổ chức rèn luyện kĩ năng tóm tắt văn bản qua dạy học đọc - hiểu văn bản nghị luận

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 16

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Kĩ năng gắn với việc nắm vững thủ pháp đúng đắn khi thực hiện hành động" Trong bài viết của mình các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt quan niệm “Kĩ năng được hiểu là khả năng vận dụng kiến thức, cách thức, phương pháp, để giải quyết một nhiệm vụ” Có thể thấy, kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế đã cho

Theo tác giả Meiriev thì “Kĩ năng là khả năng thực hiện cái gì đó, là hành động được thực hiện trong giảng dạy Không một kĩ năng nào tồn tại dạng thuần khiết, mọi kĩ năng đều được thể hiện qua một nội dung” I.I Khalamốp coi kĩ năng

là“năng lực của con người, có thể hoàn thành hành động nào đó gắn liền với việc áp

dụng kiến thức vào thực tiễn”

Tuy giới thuyết không hoàn toàn giống nhau nhưng khi đưa ra quan điểm về

kĩ năng các tác giả đều tập trung vào các vấn đề cơ bản:

Thứ nhất: Kĩ năng bao giờ cũng gắn liền với việc thực hiện hành động, hay hoạt động Không có kĩ năng chung chung, trừu tượng tách rời hành động, kĩ năng không có đối tượng riêng Ðối tượng của nó là đối tượng của hành động Do đó, kĩ năng phải được hiểu trước hết là mặt kỹ thuật của hành động, thao tác hay hoạt động nhất định

Trang 17

Thứ hai: Một khi kĩ năng hành động đã được hình thành thì kĩ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính mục đích Do vậy, tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hình thành, phát triển của kĩ năng là tính đúng đắn, sự thành thạo và tính sáng tạo

Thứ ba: Con đường hình thành kĩ năng là con đường thực hiện hành động hay hoạt động Bởi vì, mỗi hành động bao giờ cũng có mục đích khách quan và lôgic thao tác dẫn đến mục đích đó Lôgic thao tác làm nên mặt kĩ năng của hành động Việc hình thành kĩ năng hành động là cá nhân phải biết triển khai thao tác theo đúng lôgic phù hợp với mục đích khách quan

Thứ tư: Mỗi kĩ năng đều là sự thể hiện được cách vận dụng kiến thức vào thực tiễn trên nội dung việc làm nào đó Nó là sự thể hiện thao tác tư duy, năng lực hành động và cả kĩ thuật hành động

Qua các quan điểm về kĩ năng, ta thấy rằng, kĩ năng có thể hiểu là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó, trong những điều kiện nhất định bằng cách lựa chọn và vận dụng các tri thức, kinh nghiệm đã có và cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra Muốn có được kĩ năng đạt ở mức

độ phát triển cao, cá nhân phải có quá trình học tập và củng cố bằng tập luyện hành động trong thực tiễn.Theo lý luận dạy học hiện đại, con đường hình thành kĩ năng là vận dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn Muốn có kĩ năng, trước hết ta phải có tri thức và phải trực tiếp thực hiện các thao tác, các hành động và tập luyện

1.1.1.2 Tóm tắt văn bản

Có thể xem tóm tắt là rút ngắn văn bản, là trình bày lạinội dung của một văn bản gốc theo một mục đích đã định trước.Văn bản tóm tắt bao giờ cũng ngắn hơn so với văn bản gốc.Việc lựa chọn thông tin để đưa vào văn bản tóm tắt phụ thuộc vào mục đích tóm tắt Hay nói cách khác, TTVB là quá trình làm giảm đi độ dài hoặc độ phức tạp của văn bản mà không mất đi nội dung chính của văn bản, người đọc xử lý bằng cách rút ra ý chính, sắp xếp các ý theo trình tự hợp lý Sau đó, dùng lời văn của người tóm tắt để trình bày một cách ngắn gọn nội dung chính của văn bản và phải đảm bảo tính mạch lạc của văn bản và cũng vì thế văn bản mang dấu ấn chủ quan của người xử lý

Trang 18

Khi tóm tắt văn bản cần lưu ý:

- Diễn đạt càng ngắn gọn, càng súc tích càng tốt, loại bỏ những thông tin không cần thiết đối với mục đích tóm tắt

- Văn bản tóm tắt phải luôn phản ánh trung thực nội dung văn bản gốc, không thêm vào những nội dung không có trong văn bản gốc

- Người tóm tắt cần diễn đạt theo cách riêng của mình, bằng lời văn của mình, hạn chế dùng lại các câu, đoạn trong văn bản gốc

1.1.1.3 Tóm tắt văn bản nghị luận

VBNLthường chứa đựng dung lượng nội dung rất lớn, muốn nắm được các nội dung đó, ngoài phương pháp đọc - hiểu văn bản, chúng ta cần phải biết TTVB

để đúc rút những nội dung cơ bản được phản ánh trong văn bản đó Tóm tắt VBNL

là một hình thức làm văn kết hợp kĩ năng đọc - hiểu với kĩ năng diễn đạt, đáp ứng nhu cầu học tập trong thực tế

Mục đích của tóm tắt VBNL là giúp người đọc có những hiểu biết khái quát, chính xác và sâu sắc về văn bản gốc.Tích lũy được những tư liệu và kiến thức cần thiết Học tập được cách tư duy và diễn đạt trong văn nghị luận Rèn luyện được kĩ năng đọc - hiểu, tiếp nhận văn bản và tóm tắt VBNL Người tóm tắt phải có năng lực hiểu rõ văn bản và có năng lực tổng hợp, khái quát Giữ đúng nội dung cơ bản, thứ tự sắp xếp ý và câu chữ quan trọng không biến nội dung bài tóm tắt thành bài phân tích văn bản hay bài nhận xét nguyên bản một cách chủ quan Có thể khái quát những yêu cầu của kĩ năng tóm tắt VBNL:

- Đảm bảo phản ánh đúng nội dung hiện thực mà văn bản phản ánh (đúng đề tài)

- Đảm bảo phản ánh đúng tư tưởng, tình cảm thể hiện trong văn bản gốc (đúng chủ đề)

Trang 19

- Bước 2: Lược bỏ những yếu tố diễn giải không quan trọng

- Bước 3: Lập một dàn ý trình bày lại một cách hệ thống những luận điểm của văn bản được tóm tắt

- Bước 4: Dùng lời văn của mình để thuật lại nội dung cơ bản của văn bản được tóm tắt nhưng cần giữ lại bố cục và những câu văn quan trọng của văn bản gốc

1.1.2 Đọc - hiểu văn bản và dạy học đọc - hiểu văn bản với việc phát triển kĩ năng cho học sinh

1.1.2.1 Đọc - hiểu văn bản

Đọc là nhu cầu của tất cả mọi người, là biểu hiện và dấu hiệu của nhu cầu hiểu biết, khám phá đời sống của con người Có nhiều quan niệm khác nhau về đọc - hiểu văn bản Thuật ngữ có hai cách viết khác nhau Một số tác giả viết tách rời hai từ đọc

và hiểu bằng dấu gạch nối (đọc - hiểu), một số tác giả viết liền hai từ đọc và hiểu (đọc hiểu) Trong luận văn này chúng tôi chọn cách viết tách rời hai từ đọc - hiểu bằng dấu gạch nối, vì theo chúng tôi đọc - hiểu chỉ hai hoạt động vừa có mối quan hệ nhân quả đọc để hiểu, đồng thời có mối quan hệ biện chứng: hiểu để đọc tốt hơn

UNESCO quan niệm đọc - hiểu là “khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in kết hợp với những bối cảnh khác nhau; nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy

đủ trong xã hội rộng lớn” [52, tr.367] PISA xác định “Đọc - hiểu là sự hiểu biết, sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích phát triển tri thức và tiềm năng, cũng như việc tham gia của ai đó vào xã hội” [52, tr.358]

Chương trình Ngữ văn Việt Nam từ sau năm 2000 coi dạy học đọc - hiểu văn bản là một nhiệm vụ trực tiếp và quan trọng nhất của việc dạy học văn trong nhà trường “Dạy Ngữ văn ở nhà trường trung học nhằm đào tạo năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ, mà chủ yếu là năng lực đọc (nghe) hiểu và viết (nói) thông thạo, điều kiện không thể thiếu để mỗi con người thành đạt ở đời Để có năng lực ấy, bộ môn Ngữ văn chỉ có hai nhiệm vụ chủ yếu: một là dạy đọc hiểu văn bản và hai là dạy

làm các kiểu văn bản thông dụng” [2, tr.186]

Qua các quan điểm khác nhau về đọc - hiểu văn bản của các nhà nghiên cứu,

Trang 20

các nhà giáo dục, chúng tôi thấy rằng các tác giả cho rằng đọc là một phần của đọc viết, là sự tương tác đối thoại, là tiến trình xây dựng ý nghĩa từ văn bản Từ đó cho thấy cách dạy đọc - hiểu văn bản thực chất là hướng dẫn hoạt động tiếp nhận văn

bản văn học cho học sinh (có định hướng), là cách đọc - hiểu, cách giải mã văn bản

1.1.2.2 Dạy học đọc - hiểu văn bản với việc phát triển kĩ năng học sinh

Nhiệm vụ dạy học chủ yếu của phân môn Văn trong môn học Ngữ văn ở trường THPT là dạy học đọc - hiểu văn bản Phương pháp dạy đọc - hiểu văn bản là giáo viên tổ chức hoạt động đọc văn bản cho học sinh, học sinh được hướng dẫn khám phá cái hay, cái đẹp của văn bản, học sinh là người chủ động kiến tạo kiến thức văn học trong giờ học dưới sự hướng dẫn, tác động của giáo viên, có nghĩa là giáo viên không phải là người nhồi nhét, áp đặt kiến thức cho học sinh Học sinh là chủ thể của hoạt động học tập Muốn làm được điều đó học sinh bắt buộc phải đọc văn bản, phải tự mình đọc và tìm hiểu nội dung tư tưởng của văn bản, cảm nhận, giải mã văn bản theo năng lực, kinh nghiệm, vốn sống của mình

Như vậy, dạy học đọc - hiểu văn bản là phương pháp dạy học mà học sinh cảm thụ sáng tạo, người giáo viên trở thành người định hướng, có nghĩa là giáo viên đóng vai trò chủ đạo và học sinh chủ động trong hoạt động học tập.Do đặc thù của môn Ngữ văn là tìm hiểu văn bản văn học có nhiều tầng bậc ý nghĩa, ngôn ngữ đa dạng cho nên khi dạy đọc - hiểu giáo viên phải dạy cho học sinh cách đọc văn, cách thức tìm hiểu, tiếp cận phân tích văn bản Nói cách khác, dạy đọc - hiểu văn bản là dạy cho học sinh phương pháp đọc văn để có những kĩ năng đọc và biết vận dụng chúng để tìm hiểu những tri thức, kiến thức mới.Khi đọc phải có thói quen dựa vào ngữ cảnh để xác định ý nghĩa văn bản Bởi có nắm bắt được ý nghĩa, học sinh mới

có thể đồng cảm, thưởng thức cũng như hiểu được ý nghĩa, tư tưởng của văn bản Dạy đọc - hiểu văn bản cũng có nghĩa người giáo viên giúp học sinh kiến tạo kiến thức Muốn làm được điều đó, đòi hỏi ngườigiáo viên phải tổ chức cho học sinh hoạt động từ đó hình thành năng lực, kĩ năng

1.1.2.3 Mối quan hệ giữa tóm tắt văn bản và đọc - hiểu văn bản

a Mối quan hệ giữa tóm tắt văn bản với đọc - hiểu

Quá trình rèn luyện kĩ năng cho học sinh có thể thông quarất nhiều hoạt

Trang 21

động Kĩ năng tóm tắt cũng thế Tuy nhiên, ta có thể nhận thấy rằng, việc tóm tắt cần một điều kiện tiên quyết, cần phải có đối với người tóm tắt là phải đọc và hiểu thấu đáo văn bản Từ yêu cầu trên, chúng tôi thấy rằng, giữa tóm tắt và đọc - hiểu có mối quan hệ mật thiết với nhau

Ngày nay, “tích hợp” đã không còn là vấn đề xa lạ với mỗi thầy cô giáo

chúng ta Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vấn đề này Theo GS

Nguyễn Thanh Hùng: “Có thể hiểu tích hợp là phương hướng phối hợp một cách

tốt nhất các quá trình học tập của nhiều phân môn như Văn - Tiếng Việt - Làm văn trong một bộ môn như Ngữ văn” [23, tr.16] Đỗ Ngọc Thống cho rằng:“Tích hợp là theo tinh thần ba phân môn hợp nhất lại, hòa trộn trong nhau, học cái này thông qua cái kia và ngược lại” [50, tr.143]

Với ý nghĩa là cơ sở, là nền tảng cho quá trình học tập Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, dạy học làm văn, việc rèn luyện KNTT trong văn nghị luận nhất thiết phải chú ý đến các giờ đọc - hiểu văn bản, nhất là VBNL

Vì vậy, rèn luyện KNTT qua việc tích hợp với giờ đọc - hiểu VBNL là một biện pháp thiết thực, phù hợp với nguyên tắc dạy học theo hướng đổi mới hiện nay Việc tích hợp này đồng thời cũng góp phần phát huy ưu thế của việc khai thác văn bản dựa vào đặc trưng thể loại Với phương pháp này, người học không chỉ có điều kiện tiếp cận và tiếp nhận văn bản, mà còn được rèn luyện thêm về KNTT và kỹ năng tạo lập VBNL

Nhìn chung, những VBNL được lựa chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ văn bậc THPT khá phong phú về đề tài và đa dạng về thể loại Trong những giờ đọc

- hiểu VBNL, giáo viên có thể vận dụng quan điểm tích hợp để rèn luyện kĩ năng tóm tắt cho học sinh qua việc hướng dẫn các em khai thác tối đa nội dung và các hình thức nghệ thuật Từ cơ sở nội dung và nghệ thuật khi phân tích những văn bản học sinh mới có thể tóm tắt một cách hiệu quả văn bản Bên cạnh tóm tắt nội dung, khi dạy đọc - hiểu giáo viên hướng dẫn các em khai thác triệt để nghệ thuật lập luận của tác giả từ góc độ xây dựng bố cục, kết cấu các ý, cách trình bày lĩ lẽ, dẫn chứng, cách lựa chọn các phương pháp lập luận để làm sáng tỏ các quan điểm của mình và

để thuyết phục được người đọc (người nghe), điều này không chỉ giúp các em tóm

Trang 22

tác giả, tài năng lập luận (nghệ thuật tiêu biểu của văn nghị luận)

Chẳng hạn, trong giờ đọc - hiểu VBNL hiện đại, qua đoạn trích Về luân lí xã

hội ở nước ta (trích Đạo đức và luân lí Đông Tây) của tác giả Phan Châu Trinh, GV

có thể tiến hành những bước sau đây:

Bước 1: Hướng dẫn học sinh tìm chủ đề tư tưởng và cấu trúc của đoạn trích nhằm giúp học sinh xác định được luận đề và các luận điểm làm sáng tỏ luận đề đó

Bước 2: Ở mỗi luận điểm, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và phân tích nghệ thuật lập luận của tác giả qua cách ông đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng, cách lựa chọn các phương pháp lập luận (chẳng hạn: cách vào đề bằng phươngpháp lập luận bác bỏ; sử dụng phương pháp lập luận so sánh xã hội “bên Châu Âu”, “bên Pháp” với “bên ta”, v.v…)

Bước 3: Giáo viênhướng dẫn học sinh tổng kết giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của đoạn trích, đặc biệt chú trọng đến phong cách chính luận độc đáo của Phan Châu Trinh (lúc từ tốn, mềm mỏng; lúc kiên quyết, đanh thép; lúc mạnh mẽ,

lúc nhẹ nhàng mà đầy sức thuyếtphục)

Trên cơ sở của đọc - hiểu, học sinh không chỉ nắm chắc nội dung mà còn thấy được tài năng lập luận của tác phẩm, đây là khâu quan trọng và cần thiết để có

thể tóm tắt lại văn bản chính xác về cả nội dung và ý đồ nghệ thuật

b Mối quan hệ giữa tóm tắt văn bản với tạo lập

Chúng ta biết rằng, văn bản là đứa con tinh thần của tác giả Mỗi văn bản hay bao giờ cũng có sự hoàn chỉnh về nội dung, mẫu mực về hình thức Sự lao động chân chính của nhà văn tạo nên các giá trị bất biến cho văn bản Học sinh tiếp nhận được các giá trị đó, trước tiên phải thông qua việc đọc - hiểu văn bản ngôn từ Trong quá trình dạy học, ở trên lớp, ở mỗi văn bản người giáo viên đều phải chú ý hướng dẫn học sinh cách đọc Việc đọc không chỉ giúp các em có thông tin mà quan trọng là giúp học sinh kiến tạo ý nghĩa văn bản, có khi còn đối thoại với tác giả và cộng đồng lý giải Đọc không chỉ giúp ích cho các em hiểu biết và xử lý văn bản một cách cụ thể mà hơn hết nó là một phương pháp tích cực giúp học sinh hoà nhập vào văn bản, cao hơn nữa tái hiện lại văn bản (tóm tắt văn bản), dùng lời của chính mình sáng tạo, tái tạo hình tượng của văn bản gốc (tạo lập)

Trang 23

Như đã phân tích, chúng tôi khẳng định rằng, khi nắm được các thông tin của văn bản (nhận thức về nội dung, nghệ thuật, tư tưởng ) học sinh sẽ dễ dàng thực hiện công việc TTVB Và một điều mà tất cả giáo viên chúng ta phải công nhận rằng, các bước, các khâu dạy và học của môn Ngữ văn đều nhằm mục đích bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức và kĩ năng cần thiết để phục vụ cho quá trình học tập của mình mà một trong những kĩ năng cơ bản là tạo lập một văn bản mới đạt những yêu cầu khác nhau của quá trình làm văn

Nếu đọc - hiểu và tóm tắt có mối quan hệ vô cùng quan trọng thì tóm tắt và tạo lập có một mối quan hệ hết sức khắng khít, tương hỗ Tóm tắt muốn được hoàn thành thì phải trải qua quá trình tạo lập, đó là tạo nên một văn bản mới để trình bày, thâu tóm nội dung, ý nghĩa, nghệ thuật, tư tưởng của văn bản gốc Và ngược lại, nếu như không thể TTVB, có nghĩa là người viết không có cách hiểu thấu đáo về văn bản, chưa nắm chắc về nội dung, nhận biết về nghệ thuật cũng như chưa có khả năng cảm nhận được quan điểm, tư tưởng mà nhà văn muốn chuyển tải, gửi gắm qua văn bản thì quá trình tạo lập sẽ không bao giờ mang lại hiệu quả thậm chí sẽ dẫn đến những nhìn nhận sai lầm hoặc không thể tạo lập

Tóm lại, qua phân tích chúng ta có thể kết luận rằng, quá trình TTVB góp phần giúp học sinh có được hai khả năng quan trọng trong học tập và rèn luyện đó

là tái hiện thông tin và diễn tả thông tin Có nghĩa là, từ cơ sở của việc tóm tắt học sinh có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện lại thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu từ các chi tiết đến các sự kiện đây là điều kiện tiên quyết để học sinh tạo lập văn bản theo những yêu cầu khác nhau Sau khi tái hiện thông tin, tức là nhận ra tri thức, học sinh hướng đến một mức độ cao hơn là hiểu và giải thích, chứng minh tri thức và diễn tả được bằng ngôn ngữ cá nhân các tri thức đó Học sinh cũng có thể lựa chọn, sắp xếp các thông tin cần thiết để phục vụ cho quá trình chứng minh, đánh giá, giải thích Về cơ bản, học sinh đã có kiến thức về văn bản thông qua tóm tắt

và sử dụng điều đó cho quá tình tạo lập văn bản của mình Tóm tắt giúp rút ngắn văn bản, thâu tóm nội dung văn bản Tạo lập dựa vào tri thức tóm tắt để bám sát văn bản, làm cơ sở để quá trình tạo lập được sâu sắc, sáng tạo, đúng đắn, không suy diễn, nhầm hoặc sai kiến thức văn bản

Trang 24

1.1.3 Giới thuyết về thể loại nghị luận

1.1.3.1 Khái niệm thể loại nghị luận

Sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 11 định nghĩa: “Nghị luận là một thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức ).Vấn đề được nêu ra như một câu hỏi cần được giải đáp, cần được làm sáng tỏ Luận là bàn về đúng, sai, phải, trái, khẳng định điều này, bác bỏ điều kia, để người ta nhận ra chân lí, đồng

tình với mình, chia sẻ quan điểm và niềm tin với mình”[3, tr.110]

SGK Ngữ văn 11 nâng cao tuy không định nghĩa về văn nghị luận nhưng nêu lên một số đặc điểm của thể loại này như “có tư tưởng đúng đắn, lí trí sắc bén”, “có những tình cảm lớn làm thành mạch chìm” và “tùy theo sở thích của tác giả cũng thường sử dụng hình ảnh ẩn dụ, so sánh, liên tưởng”, “có thể mang yếu

tố trữ tình, tác giả trực tiếp bộc bạch nỗi lòng mình bằng những lời tâm huyết, gan ruột”[4, tr 110-111]

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Nghị luận là bàn và đánh giá cho rõ về một vấn đề nào đó VBNL là thể văn dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích giải quyết một vấn đề” Trong cuốn “Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc trưng phương thức biểu đạt” tác giả Trần Đình Chung đưa ra khái niệm: “Văn bản nghị luận là văn bản tạo ra từ phương thức nghị luận, phản ánh những đặc điểm về mục đích và cách thức biểu đạt nghị luận, xuất hiện ở dạng nói và dạng viết” [15, tr.292] Từ đó ta có thể thấy rằng xét ở góc độ thể loại văn học, văn nghị luận là thể văn trong đó nhà văn sử dụng phương thức nghị luận (trình bày lí lẽ, phân tích nhiều mặt để tìm ra một đạo lí thấu suốt) nhằm thuyết phục người khác nghe theo ý kiến, chủ trương, quan điểm của mình, từ đó mà có thái độ và hành động đúng đắn, thống nhất trong cuộc sống… Theo tác giả Trần Đình Sử: “Yếu tố nghị luận có mặt trong nhiều thể loại, song chỉ ở thể loại văn nghị luận thì nghị luận mới được trình bày thấu triệt, trở thành phương

thức biểu đạt đặc thù, và hình thành một thể văn gọi là văn nghị luận” [46, tr.387]

Tiếp thu các ý kiến trên, chúng tôi tìm hiểu định nghĩa về VBNL theo hướng phân biệt nghị luận với tư cách một hành vi và VBNL với tư cách phương tiện thể hiện hành vi nghị luận, đồng thời làm rõ các đặc trưng của VBNL để phục vụ tốt hơn cho việc dạy học đọc - hiểu ở trường THPT

Trang 25

Theo chúng tôi, nghị luận là dùng lí lẽ và chứng cứ để bàn về một vấn đề nhất định trong đời sống, nhằm thuyết phục người đọc (người nghe) chia sẻ quan điểm và niềm tin với mình để có thái độ và hành động đúng đắn trong việc giải quyết vấn đề nghị luận Hành vi nghị luận được thể hiện bằng VBNL dưới hình thức nói hoặc viết

1.1.3.2 Đặc trưng của thể loại nghị luận

a Tính thuyết phục

Tính thuyết phục xét về mục đích của VBNL mục đích của VBNL là thuyết phục người đọc (người nghe) tin vào quan điểm của người viết (người nói) Đây chính là đặc trưng đầu tiên của VBNL Khác với những thể loại khác như thơ, truyện, kịch chủ yếu phản ánh cuộc sống, bày tỏ nội tâm của con người bằng tư duy hình tượng, VBNL trực tiếp bày tỏ quan điểm tư tưởng của người viết về một vấn đề nào đó bằng tư duy logic nhằm thuyết phục người đọc, người nghe tin và đồng tình với mình, thậm chí sự thuyết phục có thể đạt mức thúc đẩy người đọc có những hành động thiết thực

Để thuyết phục người đọc (người nghe), trước hết, VBNL phải đảm bảo:

- Có quan điểm minh bạch, rõ ràng về vấn đề nghị luận Nếu văn bản nghệ thuật thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ thông qua hình tượng, kết luận có thể bỏ ngỏ để độc giả tự điền khuyết và những người đọc khác nhau có thể có cách hiểu, cách cảm khác nhau thì VBNL thuyết phục người đọc (người nghe) bằng quan điểm minh bạch, rõ ràng, mọi lí lẽ, dẫn chứng đều phục vụ cho quan điểm ấy, thậm chí sự thuyết phục có thể đạt mức hướng người đọc tới những hành động thiết thực

- Có hệ thống lập luận chặt chẽ, trong đó các luận điểm, luận cứ liên kết chặt chẽ với nhau theo chủ đề (cùng phục vụ mục đích nghị luận) và logic (sắp xếp theo thứ tự hợp lí).Cũng như văn bản văn học, các VBNL đều thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết đối với các vấn đề của đời sống, đối với Chân, Thiện, Mỹ Trong VBNL tư tưởng, tình cảm, thái độ ấy được bộc lộ thông qua hệ thống lập luận

rõ ràng, phối hợp lí lẽ, dẫn chứng nhằm thuyết phục người nghe đồng tình với quan điểm của tác giả Sức mạnh của sự thuyết phục chính là ở vấn đề có ý nghĩa thiết thực; ở tư tưởng nhất quán; ở lập luận chắc chắn, khoa học, thấu tình đạt lí

Trang 26

b Tính truyền cảm

VBNL là sản phẩm của tư duy logic, của lí trí tỉnh táo nhưng lại không xa rời những xúc cảm thẩm mĩ Sự kết hợp hai phươngthức biểu đạt nghị luận và biểu cảm tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn Biểu cảm là sự thể hiện tình cảm, cảm xúc Do vậy, như một lẽ tự nhiên, dù ít dù nhiều, yếu tố biểu cảm đều tồn tại trong bất

cứ loại văn bản nào Gốc của văn chương là tình cảm, nên dù là để làm sáng tỏ một vấn đề khách quan, bức thiết trong đời sống con người như VBNL thì những vấn đề

đó cũng được kết tinh từ những nhiệt huyết, trăn trở của tác giả Tuy nhiên, với VBNL yếu tố biểu cảm lắng lại, ẩn giấu trong những quan điểm tư tưởng, trong những lí lẽ và bằng chứng Tính biểu cảm, truyền cảm của VBNL thể hiện cụ thể ở:

- Cách diễn đạt giàu cảm xúc: “Người viết văn nghị luận phải tin vào chân lí,

vào sự thật mà mình nhận thức được và nhiệt thành cổ vũ cho chân lí ấy, sự thật ấy

Có niềm tin, có nhiệt tình thì lời văn sẽ là lời tâm huyết tự đáy lòng, sẽ giàu cảm

xúc, nhờ đó mà dễ thuyết phục người đọc” [43, tr.47] Hịch tướng sĩ của Trần Hưng

Đạo được coi là một trong những áng vănnghị luận hay nhất trong lịch sử một phần quan trọng cũng vì áng văn bất hủ này chứa chan nhiệt huyết của vị anh hùng với đất nước, với nhân dân Người đọc không còn để ý đến hạn chế của lối văn biền ngẫu, những hình ảnh ước lệ mà chỉ cùng tác giả sục sôi lòng căm thù giặc, ý chí quyết tử cho độc lập, chủ quyền của đất nước: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm

vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thây này có phơi ngoài nội cỏ, ngàn xác này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng.”

- Có cách diễn đạt giàu hình ảnh: VBNL tuy thiên về lí trí nhưng rất cần

hình ảnh, bởi vì “hình ảnh được sử dụng đúng mức, đúng chỗ sẽ giúp người đọc đến với chân lí, với sự thật một cách dễ dàng hơn, đồng thời cũng gây cho họ ấn tượng

sâu sắc hơn” [43, tr.46].Tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi cũng để lại

trong lịch sử những hình ảnh ấn tượng nhất về tội ác của quân xâm lược: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn/ Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.” Và về sức mạnh của quân dân ta: “Gươm mài đá, đá núi cũng mòn/Voi uống nước, nước sông phải cạn/Đánh một trận sạch không kình ngạc/ Đánh hai trận tan tác chim muông/

Trang 27

Nổi gió to trút sạch lá khô/ Thông tổ kiến phá toang đê vỡ”.Tuy nhiên, cần phân biệt yêu cầu truyền cảm của lời văn nghị luận với cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh khoa trương trống rỗng, tầm thường “Hình ảnh so sánh phải nảy sinh từ sự phân tích thực tiễn một cách khoa học thì hình ảnh ấy mới nâng cao được nhận thức của người đọc Cảm xúc phải xuất phát từ niềm tin và nhiệt tình thành thật thì cảm xúc

ấy mới tạo nên sức lôi cuốn của lời văn” [43, tr.47].Cảm xúc trong VBNL phải chân thực thì tính thuyết phục của VBNL mới cao

c Tính logic chặt chẽ

Tính logic có thể hiểu là cách lập luận phù hợp với quy luật của tư duy suy lí,

không mơ hồ, nhập nhằng, mâu thuẫn trong trình bày ý Trong Văn tâm điêu long đã

nói: “Nghị luận mà thành một loại văn thể là cốt đẻ phân biệt đúng sai Phải hiểu tận cùng cái hữu hình cụ thể, truy cứu đến nơi cái vô hình trừu tượng, chỗ nắm chắc phải đánh cho thông, chỗ thâm sau phải tìm bằng được” Thuyết phục người khác bằng bằng lập luận chặt chính là yêu cầu và là cái hay, cái đẹp của bài văn nghị luận Điều này liên quan đến vấn đề lập luận của bài văn nghị luận, là cách trình bày và triển khai luận điểm, cách nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, cách dùng dẫn chứng lí lẽ để làm sáng tỏ quan điểm theo ý người viết muốn Có thể thấy, luận điểm là nội dung của bài văn nghị luận còn lập luận là cách nói, cách trình bày, diễn đạt nội dung ấy

Một bài văn nghị luận được đánh giá cao là nhờ cách lập luận mẫu mực, sắc bén Đó cũng là điểm chung mà ta dễ nhận thấy từ các áng văn chương nỗi tiếng Quan điểm trong VBNL thuyết phục người khác bởi tính logic, chặt chẽ, dẫn chứng xác thực Đó là sự bố trí, triển khai luận điểm và luận cứ sao cho hợp lý, hiệu quả.Nói cách khác lập luận cách tổ chức ý kiến, cách liên hệ lẽ phải này với lẽ phải kia, cách sử dụng dẫn chứng, phối hợp các luận cứ để chứng minh cho tư tưởng Do thế, lập luận phải hợp với logic VBNL thực chất là kiểu văn bản lí thuyết, văn bản trực tiếp nói lí lẽ cho nên tính tư tưởng thể hiện rõ nét Nó là sản phẩm của tư duy lôgic, của lí trí sắc bén và tỉnh táo, nhằm trình bày tư tưởng, quan điểm của người viết một cách sáng rõ, mạch lạc VBNL thuyết phục người đọc ở tính đúng đắn, khách quan sắc bén của lập luận Vì vậy đọc -hiểu VBNL phải thấy được sự sâu sắc của tư tưởng, sự dũng cảm của ý chí, sự mạnh mẽ kiên định của niềm tin và cái hay trong nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc sảo của tác giả.Trong VBNL, để tạo lập luận chặt

Trang 28

chẽ và logic người viết phải dựa vào lôgic hình thức và logic biện chứng Cần sự kết hợp các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận để trình bày rõ ý văn bản Sử dụng đa dạng các kiểu câu nhất là câu khẳng định giúp bài viết thuyết phục hơn Ta thấy rằng, đặc trưng quan trọng của văn nghị luận, đó chính là năng lực suy luận và thuyết phục của người viết và là nghệ thuật cần có của văn nghị luận, tạo màu sắc đối thoại, trao đổi, tranh luận cho bài viết

1.1.3.3 Các loại văn bản nghị luận

Dựa trên quan điểm phân loại các tác phẩm văn chương từ thời Aristoteles,

nhóm tác giả cuốn Lí luận văn học cũng đã chia các tác phẩm văn học thành 5 loại

lớn: Tự sự, trữ tình, kịch, kí, tác phẩm chính luận; [32] Trần Thanh Đạm trong

cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể đã phân chia tác phẩm văn

học thành ba loại: Tự sự, Trữ tình, Kịch Theo đó, tác giả xếp VBNL vào loại thể trữ tình [18] Cũng vậy, Nguyễn Viết Chữ đã phân tác phẩm văn học thành ba loại:

Tự sự, trữ tình, kịch Ông cũng xếp VBNL vào loại trữ tình [16]

Nhìn chung, quan niệm về thể loại của các tác giả trên chưa đánh giá bản chất của VBNL (là thể văn chuyên nói lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó; còn được gọi là thể văn lập luận) Vì vậy việc xếp thể văn này vào loại trữ tình

- theo quan điểm “chất trữ tình vốn là linh hồn của các tác phẩm chính luận hoặc bút chiến” [18, tr.27] là chưa thật thỏa đáng Cũng vậy, việc phân chia văn chính luận

thành một loại như quan niệm của các tác giả cuốn Lí luận văn học cũng chưa thực sự

thuyết phục Thêm nữa, các cách phân chia này chỉ mới thể hiện quan niệm thể loại của văn bản văn học, còn một lượng lớn văn bản thông tin chưa được tính đến

Dựa theo nội dung luận bàn của VBNL, SGK Ngữ văn 11 hiện hành phân chia VBNL thành hai thể: văn chính luận (luận bàn về các vấn đề chính trị, xã hội, triết học, đạo đức) và văn phê bình văn học (luận bàn về các vấn đề văn học nghệ thuật) Đó có thể là các VBNL trung đại gồm chiếu, cáo, hịch, bình sử, điều trần, bài luận, (như:

Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo

của Nguyễn Trãi, Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm, ) và VBNL hiện đại gồm các

bài tuyên ngôn, lời kêu gọi, bài bình luận, phê bình, tranh luận, bút chiến, xã luận, ngôn

luận, (Về luân lí xã hội ở nước ta của Phan Châu Trinh, Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, Một thời đại trong thi ca của Hoài Thanh, ) [3, tr.110 - 111]

Trang 29

Nhóm nghiên cứu Bùi Mạnh Hùng, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Minh Thuyết quan niệm còn nhiều cách phân loại khác, cụ thể là: [28]

- Dựa theo mục đích xã hội, có thể phân biệt VBNL phê bình (thể hiện suy nghĩ, tình cảm, đánh giá về một tác phẩm; điểm sách, phim và những tác phẩm nghệ thuật khác như tranh, ảnh, âm nhạc) với VBNL thuyết phục (bảo vệ cho một quan điểm hoặc thảo luận nhiều quan điểm về một vấn đề)

- Dựa theo vấn đề được nghị luận, có thể phân biệt VBNL văn học với VBNL xã hội

- Dựa theo ngôn ngữ được sử dụng, có thể phân biệt VBNL có tính văn học

(ví dụ Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) với VBNL có tính thông tin (ví dụ Về luân lí xã hội ở nước ta của Phan Châu Trinh,

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh).Lưu ý nhiều cách phân loại khác nhau để

vận dụng những điểm thích hợp nhất phục vụ cho việc đề xuất giải pháp dạy học đọc hiểu VBNL và thiết kế giáo án thực nghiệm gắn với những VBNL cụ thể hướng đến rèn luyện các kĩ năng cho học sinh trong đó có kĩ năng TTVB

VBNL trong nhà trường cung cấp cho học sinh những mẫu văn bản có lập luận tài ba, khéo léo, thuyết phục, những cách luận chứng, cách đọc hiểu VBNL để

từ đó giúp học sinh có thể lập luận tốt trong nói và viết Ngoài những tri thức về văn học và cuộc sống mà các VBNL cung cấp cho học sinh, các em còn được hình thành năng lực tranh luận, thuyết phục, năng lực tư duy, kĩ năng phản biện, phê phán, nêu ý kiến… Đó là những kĩ năng, những năng lực cần thiết cho con người trong cuộc sống tương lai

Trang 30

Tham khảo các bản chương trình môn Văn trong nhà trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy VBNL đã có lịch sử lâu đời trong chương trình SGK môn Văn

từ trước đến nay Có thể nói với số lượng và cách phân bố VBNL chương trình Ngữ văn đã thể hiện sự thay đổi quan niệm dạy văn Việc bổ sung nhiều VBNL chứng tỏ chương trình Ngữ văn không chỉ chú ý đến tư duy hình tượng mà còn coi trọng tư duy khoa học, tư duy logic cũng như coi trọng những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, gắn văn học với cuộc đời Bởi nhiều VBNL xuất sắc có vẻ đẹp riêng về trí tuệ, về tư duy, về phương pháp luận cũng như kết cấu, văn phong độc đáo Nó có tác dụng bồi dưỡng phẩm chất, trau dồi tư tưởng, mở mang sự am hiểu cuộc sống và rèn luyện tư duy, phương pháp cho người học

Trong chương trình Ngữ văn trung học hiện hành, VBNL vừa là đối tượng của phân môn Văn học, vừa là đối tượng của phân môn Làm văn Là đối tượng của phân môn Văn học, số VBNL chiếm số lượng đáng kể trên tổng số văn bản được đưa vào phần đọc - hiểu Đối chiếu với các vấn đề của đời sống và nghệ thuậtta thấy rằng VBNL trong chương trình, SGK hiện hành có tính cập nhật cao Đề tài của VBNL trong chương trình, SGK đã bao quát được một phạm vi rộng lớn của đời

sống và nghệ thuật Từ đề tài về dựng nước, giữ nước (Bình Ngô đạicáo, Tuyên

ngôn Độc lập, Chiếu cầu hiền) đến triết học, luân lí (Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác, Về luân lí xã hội ở nước ta), phát triển giáo dục, khuyến khích nhân tài (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, Chiếu cầu hiền, Xin lập khoa luật), bảo tồn và phát

huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc (Trích diễm thi tập,Tiếng mẹ đẻ - nguồn

giải phóng dân tộc bị áp bức, Nhìn về vốn văn hóa dân tộc), phòng chống tệ

nạn(Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS) Từ những vấn đề chung về văn học - nghệ thuật (Một thời đại trong thi ca, Mấy ý nghĩ về thơ) đến chân dung văn học (Nguyễn Đình Chiểu - ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc, Đô- xtôi-ep-

xki) Những đề tài này đã thể hiện quan điểm dạy học văn gắn với thực tế đời sống,

từ những gì học được trong nhà trường học sinh có thể ứng dụng vào trong đời sống, có sự hiểu biết nhiều về chính trị văn hoá, xã hội phục vụ thiết thực cho việc học tập, lao động, nhất là quá trình học tập, rèn luyện suốt đời

Bên cạnh đó, đối chiếu với các VBNL trong SGK hiện hành cũng cho thấy

Trang 31

tính tiêu biểu của những VBNL được chọn lọc đưa vào chương trình Có thể xem những VBNL trong chương trình SGK hiện hành là những văn bản tiêu biểu về tư tưởng, về đề tài, về nhân cách, văn phong nghị luận Có những VBNL được đánh

giá là áng “thiên cổ hùng văn”, trở thành mẫu mực của mọi thời đại như: Bình Ngô

đại cáo của Nguyễn Trãi, Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh Chính tính tiêu

biểu của VBNL trong chương trình, SGK hiện hành đã góp phần giúp học sinh có phương pháp đọc hiểu, có khả năng tạo lập VBNL tốt hơn Tuy vậy, qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy các VBNL đều có khoảng cách về mặt thời gian rất xa với lứa học sinh THPT hiện nay Các VBNL có “tuổi đời” rất dài (từ thế kỉ X) Chúng

ta công nhận rằng đó là những VBNL kinh điển, mẫu mực, đề tài của chúng không

bao giờ hết giá trị Nhưng những chiếu, hịch, cáo, tựa hay điều trần ấy đã thuộc

những thời đại rất xa với xã hội hiện đại, khó tránh khỏi những khó khăn về khả năng tiếp nhận và ứng dụng vào đời sống đối với học sinh Do đó,VBNL trong chương trình SGK muốn góp phần rèn luyện năng lực cho học sinh, trong đó có thái

độ sẵn sàng đối diện với bất cứ tình huống nào của thực tiễn và kĩ năng sống thì phải tăng cường những VBNL đương đại tiêu biểu, phù hợp với tâm lí và thực tiễn cuộc sống của học sinh

Về mặt đề tài, các VBNL đã được phân bổ hợp lí Tính đa dạng và hệ thống

về đề tài VBNL đã giúp cho học sinh có cái nhìn hệ thống về các vấn đề của đời sống xã hội Tuy nhiên, các VBNL viết về chính trị vẫn chiếm số lượng nhiều hơn

so với các VBNL viết về những vấn đề khoa học, xã hội, tư tưởng đạo lí, văn học nghệ thuật - là những vấn đề rất cần thiết đối với học sinh trong thời đại ngày nay

So với cấp THCS, yêu cầu đọc hiểu VBNL ở THPT cao hơn Đề tài VBNL ở THPT đề cập tới những vấn đề rộng lớn hơn, nội dung văn bản trừu tượng, phức tạp

hơn Chẳng hạn, đọc văn bản Ba cống hiến vĩ đại của Các Máccủa tác giả Ăngghen,

để hiểu được những cống hiến to lớn của Các Mác (tìm ra quy luật phát triển của loài người; phát hiện ra giá trị thặng dư; chuyển lí thuyết cách mạng thành hành động cách mạng), học sinh phải có kiến thức và trình độ tư duy cao hơn cấp THCS Hơn thế,văn bản là một bài điếu văn, được viết trong hoàn cảnh đặc thù với một sự kiện đặc biệt cùng những con người có thật Đó là sự đánh giá của một vĩ nhân về

Trang 32

một vĩ nhân Vì thế, trong quá trình đọc - hiểu, học sinh còn phải tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của văn bản, liên hệ với hoàn cảnh của người viết, của thời đại lúc đó để thấy được ý nghĩa thời sự của bài điếu, nhận thức sâu sắc giá trị nhiều mặt của các luận điểm mà Ăngghen nêu ra

Chúng tôi cũng tiến hành thống kê các VBNL trong chương trình lớp 11, 12 (xem chi tiết ở phụ lục) và nhận thấy rằng, ở chương trình lớp 11, 12 THPT có cả VBNL trung đại và hiện đại Các văn bản vừa thể hiện tinh thần yêu nước, khát vọng lớn lao của dân tộc, những vấn đề mang tính khoa học lâu dài Bên cạnh đó, cũng có những vấn đề gần gũi với cuộc sống hiện tại Những vấn đề này không chỉ

có ý nghĩa đối với vấn đề lớn lao của dân tộc, thời đại như công cuộc dựng nước và giữ nước mà còn rất thiết thực với đời sống công dân Ta thấy rằng, cụm VBNLđưa vào chương trình 11, 12 hiện nay phong phú về đề tài, phạm vi thể hiện Do đó, đặt

ra yêu cầu cho người dạy văn biết tìm hướng khai thác hiệu quả các văn bản này để

có thể hình thành lối sống đạo đức, nhân cách cho học sinh và những kĩ năng cơ bản cần thiết

Qua giờ đọc - hiểu VBNLsẽ hình thành kĩ năng tiếp nhận văn bản cho học sinh như: kĩ năng liên tưởng, phân tích, đánh giá giá trị văn bản Tuy nhiên, VBNLđược xây dựng vững chắc bằng hệ thống luận điểm, luận cứ xác đáng, mạch lập luận theo trật tự lôgic và dẫn chứng thuyết phục Đọc VBNL không phải để thăng hoa cảm xúc với tác giả mà đọc bằng tâm hồn, trí tuệ, theo một trật tự lôgic Hiểu VBNLliên quan từ nhiều kiến thức liên ngành, vốn sống và kinh nghiệm cá nhân Đây cũng chính là thế mạnh của VBNL trong việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh.Trong chương trình Ngữ văn THPT, phần VBNL càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị hành trang trong cuộc sống Việc đọc - hiểu VBNL gắn liền với các kĩ năng cần thiết còn có tác dụng sâu sắc đến rèn luyện tư duy, phương pháp, tư tưởng, am hiểu cuộc sống

1.2.2 Thực trạng dạy và học đọc - hiểu văn bản nghị luận trong nhà trường THPT

1.2.2.1 Mục đích khảo sát

Để có cái nhìn cùng sự đánh giá khách quan về những vấn đề liên quan đến

đề tài chúng tôi tiến hành khảo sát nhằm mục đích: nắm bắt được tình hình dạy và

Trang 33

học văn bản nghị luận trong nhà trường THPT, phát hiện những khiếm khuyết, hạn chế trong việc dạy VBNL, lý giải những nguyên nhân học sinh thiếu kĩ năng tóm tắt khi học văn bản, từ đó đề xuất các biện pháp dạy học đúng hướng và hiệu quả

1.2.2.2 Đối tượng và địa bàn khảo sát

Đề tài lấy giáo viên và học sinh lớp 11, 12 ở các trường THPT của tỉnh Kiên Giang làm đối tượng khảo sát đại diện cho khối học sinh THPT đang theo học

chương trình SGK Ngữ văn lớp 11, 12 ban cơ bản Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng

hình thức phát phiếu điều tra đối với 20 giáo viên Ngữ văn của 2 trường THPT Nguyễn Hùng Sơn và trường THPT Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Hai là, sử dụng phiếu điều tra thăm dò giáo viên và học sinh, qua đó tìm hiểu nắm bắt, thái độ, nhận thức của giáo viên và học sinh cùng những thuận lợi khó khăn trong dạy học đọc - hiểu VBNL hướng đến hình thành kĩ năng TTVB

Ba là, kiểm tra khảo sát để nắm được hiệu quả dạy học và khả năng tiếp nhận Chúng ta đưa ra 8 câu hỏi khác nhau liên quan đến việc đánh giá giáo viên về tầm quan trọng của việc dạy đọc - hiểu VBNL hướng đến hình thành kĩ năng TTVB

ở trường phổ thông (xem phụ lục) Chúng tôi khảo sát 20 giáo viên thuộc khối THPT của tỉnh Kiên Giang

Bên cạnh đó, để có cái nhìn toàn diện trong việc đánh giá quá trình dạy và học, chúng tôi tiến hành khảo sát đối với học sinh Khảo sát học sinh chúng tôi cũng nêu ra 8 câu hỏi xoay quanh việc học tập môn Ngữ văn nói chung và các VBNL nói riêng (Xem phụ lục) Khảo sát 170 học sinh lớp 11, 12 của tỉnh Kiên Giang

Trang 34

1.2.2.4 Kết quả khảo sát

Dưới đây là bảng tổng hợp kết quả thu được trong quá trình khảo sát

Bảng 1.1: Thống kê kết quả khảo sát ý kiến của giáo viên

- Về phía giáo viên

Như chúng ta đã biết, VBNL chiếm một ví trí quan trọng trong chương trình

Trang 35

Ngữ văn THPT Điều đáng mừng là khi được hỏi về việc “Thầy (cô) có quan tâm đến các văn bản nghị luận ở SGK lớp 11, 12 không?” chúng tôi nhận được đến 81.0% thầy cô chọn phương án “rất quan tâm” Đây là một tín hiệu đáng mừng cho việc tìm kiếm và áp dụng những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học nói chung và VBNL nói riêng

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn đặt biệt là các VBNL hướng đến hình thành kĩ năng TTVB trong nhà trường phổ thông hiện nay vẫn là một vấn đề cần chú ý Theo bảng thống kê, những khó khăn của giáo viên khi dạy các VBNL xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau 28.6% cho rằng nguyên nhân cơ bản là do học sinh không hứng thú với VBNL, cách phản ứng “tiêu cực” của học sinh đối với môn Ngữ văn nói chung và VBNL nói riêng đang là một trở ngại lớn và cũng là thực tế đáng buồn cho giáo viên Trong khi đó 23.8% cho rằng khó khăn mà họ gặp phải là do vấn đề chương trình SGK còn nặng nề về lý thuyết, ít thực hành Phần đông giáo viên (33.3%) cho rằng khó khăn của họ xuất phát từ vấn đề tích hợp giữa các phân môn Làm văn - Tiếng Việt - Đọc hiểu chưa được chú ý Bên cạnh đó 14.3% giáo viên chọn khó khăn trong khi vận dụng kiến thức để dạy VBNL Đây là một thực tế khó khăn của việc dạy học đọc - hiểu VBNL cũng là niềm trăn trở của nhiều giáo viên Ngữ văn THPT hiện nay Một khó khăn lớn đối với giáo viên phổ thông, đó chính là kĩ năng của học sinh được hình thành trong giờ học còn rất yếu, cụ thể là kĩ năng TTVB, một kĩ năng cần thiết quan trọng để thâu tóm kiến thức Đa số giáo viên nhận định (61.9%) kĩ năng tóm tắt lại VBNL của học sinh chưa tốt Điều này đòi hỏi những giải pháp mới, hiệu quả, thiết thực để mang đến hiệu quả cho quá trình dạy và học ở nhà trường phổ thông

Một thực tế đáng mừng là khi hỏi về vấn đề tích hợp kiến thức khi dạy VBNL có đến 85.7% giáo viên thường xuyên tích hợp Điều này rất hợp lý, bởi vì VBNL có một ưu thế rất lớn trong việc dạy tích hợp Qua việc tích hợp, góp phần rèn luyện kĩ năng, năng lực cho học sinh Khi hỏi về biện pháp tích hợp, giáo viên thường chú ý đến bài tập củng cố, rèn luyện (66.7%) Hướng tích hợp này cho thấy

cơ bản giáo viên đã có ý thức nhiều trong việc cải tiến phương pháp dạy học Tuy

Trang 36

nhiên, để đạt được hiệu quả trong việc dạy và học cần có sự đầu tư công phu hơn cũng như có những biện pháp tích cực phù hợp để nâng cao chất lượng giảng dạy.Do đó, khi hỏi về “Kiến nghị của thầy cô nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng cho học sinh khi dạy các VBNL nói chung ở trường THPT?” đã có 81.0% giáo viên cho rằng cần được tổ chức tập huấn, chuyền đề về giảng dạy VBNL Đây là một yêu cầu chính đáng và hợp lý Chính thông qua những chuyên đề, ngoại khoá, các buổi tập huấn rút kinh nghiệm giáo viên có thêm kiến thức, kinh nghiệm để giảng dạy hiệu quả, đạt được mục tiêu giáo dục hiện đại

- Về phía học sinh

Qua phiếu điều tra của học sinh, sau khi tổng hợp chúng tôi thấy có mấy vấn

đề đáng quan tâm Khi được hỏi về “Thái độ của em khi học môn Ngữ văn ở nhà trường THPT?” với các mức độ: rất thích, thích, bình thường, và không thích Phương án trả lời của các em chọn nhiều nhất là “bình thường” chiếm 64.7% Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ lớp thực nghiệm, khảo sát mà chúng tôi chọn khôngphải là lớp chuyên Văn Các em xem môn Ngữ văn là một môn học cần thực hiện theo quy định của chương trình Nói như thế là ở đây các em chưa thật sự có niềm đam mê, hứng thú đối với môn học.Thực tế đáng buồn là một bộ phận ( 2.9%) học sinh không thích môn Ngữ văn Tuy con số này không nhiều nhưng cũng khiến các giáo viên tâm huyết với nghề trăn trở, suy ngẫm

Đối với vấn đề VBNL, chúng tôi đưa ra vấn đề chương trình, cụ thể là ở các văn bản được học theo các em là đã hợp lý hay chưa Ở phần câu hỏi này chúng tôi nhận được kết quả khả quan: 11.8% đánh giá là rất phù hợp, 85.3% là ý kién học sinh cho là phù hợp Số liệu nàycho thấy khả năng các em học và nắm được các tri thức của VBNL ở nhà trường phổ thông tốt, các văn bản ở sách giáo khoa đã phần nào đáp ứng tốt cho quá trình học tập và rèn luyện của các em Đây cũng là tiền đề quan trọng giúp các giáo viên có thể nắm bắt và triển khai các phương pháp dạy học hợp lý nâng cao chất lượng giáo dục Để thăm dò thái độ của học sinh khi đọc - hiểu VBNL chúng tôi đặt câu hỏi “Sự hấp dẫn, thu hút em trong giờ đọc hiểu văn bản nghị luận là do đâu?” Ở câu hỏi này chúng tôi nhận được nhiều ý kiến khác nhau trong đó 37.1% các em khẳng định mình học và hứng thú khi đọc - hiểu VBNL là

Trang 37

nhờ phương pháp dạy học hợp lý của giáo viên Trong khi đó 27.6%, cho là do nội dung văn bản đáng quan tâm, 14.1% cho rằng nghệ thuật lập luận của văn bản hấp dẫn các em Ba phương án trên cũng chính là các yếu tố quan trọng mà người thầy hướng dẫn cần phải có và hướng học sinh mình đạt được

Có thể thấy, bản thân học sinh cũng nhận biết được vai trò của VBNL trong nhà trường phổ thông Khi chúng tôi hỏi “Qua các VBNL trong chương trình được học, theo em các VBNL mang đến cho em những tri thức, kĩ năng nào?” Tuy chọn các phương án khác nhau nhưng đa số các em đều nhận định đúng đắn về vai trò của VBNL đối với việc lĩnh hội kiến thức và ứng dụng vào thực tiễn đời sống của các em Cũng xuất phát từ nhìn nhận đúng đắn này, khi chúng tôi hỏi về việc chuẩn

bị bài trước khi đến lớp của các em, đa số học sinh cho chúng tôi đáp án khả quan

và đáng mừng 90% học sinh chuẩn bị soạn bài ở nhà thường xuyên khi học VBNL

và không có trường hợp chưa bao giờ soạn bài Cũng từ khảo sát học sinh chúng tôi nhận thấy là ở trường phổ thông các em được thầy cô thường xuyên rèn luyện kĩ năng làm văn qua các giờ đọc - hiểu văn bản (64.1%) và khi hỏi học sinh “Theo em,

để có được kĩ năng TTVB sau giờ đọc - hiểu VBNL cần có những yếu tố nào?” 67.1% cho rằng cần có sự kết hợp khai thác nội dung, nghệ thuật với việc làm văn nghị luận Từ đó có thể thấy rằng, nếu có thời gian và biện pháp hợp lý thì việc rèn luyện kĩ năng làm văn nói chung và kĩ năng TTVB cho học sinh sẽ mang lại một hiệu quả khả quan vì cả thầy và trò đều đã nhìn thấy tầm quan trọng của vấn đề mà luận văn chúng tôi đề cập đến

Trang 38

Kết luận chương 1

Qua tình hình lý luận và thực tế, chúng tôi thấy rằng đưa VBNL vào chương trình phổ thông đã đặt ra một đòi hỏi nhất định và cũng có phần khó khăn thách thức đối với thầy và trò THPT Nói như thế cũng có nghĩa là việc tìm hiểuvà thực hiện các phương pháp dạy học hợp lý, mang lại hiệu quả là một yêu cầu quan trọng

và cần thiết đối với giáo viên Ngữ văn hiện nay

Cùng với sự phát triển như vũ bão của tri thức nhân loại, VBNL ngoài việc cung cấp các những kiến thức chuyên môn mà còn phải góp phần hình thành cho học sinh những kĩ năng cơ bản cần thiết đáp ứng tình hình mới, thời đại mới Do đó, trong một giờ học đòi hỏi người giáo viên phải có sự sáng tạo, phải có các giải pháp tối ưu để hệ thống, sắp xếp các kiến thức một cách khoa học Việc đọc - hiểu văn bản đã mang lại những kết quả tích cực cho quá trình tìm hiểu văn bản của học sinh Trên thực tế, giáo viên phổ thông đã có sự kết hợp rèn luyện kĩ năng làm văn trong quá trình dạy đọc - hiểu văn bản Tuy nhiên, quá trình này thường kết hợp rèn luyện

kĩ năng làm văn nghị luận Từ VBNL được phân tích, giáo viên hướng học sinh tích hợp rèn luyện các dạng bài nghị luận Tuy nhiên, đa phần giáo viên chúng ta bỏ qua một giai đoạn quan trọng đó là kĩ năng trình bày lại ngắn gọn VBNL được học, tức

là khâu TTVB

Từ thực trạng trên, chúng tôi thấy rằng cần phải tìm hiểu và đưa ra các giải pháp tối ưu nhất nhằm giúp quá trình dạy và học VBNL của thầy và trò trường THPT đạt những hiệu quả thiết thực Bên cạnh những kĩ năng cần thiết, kĩ năng tóm tắt đóng một vai trò quan trọng, cấp thiết Do đó, đề tài của chúng tôi ưu tiên hướng đến các giải pháp hình thành cho học sinh kĩ năng TTVB Chúng tôi xem đây là bước đệm, nền tảng để học sinh nắm chắc kiến thức để học tập và hình thành các kĩ năng, năng lực thiết yếu khác

Trang 39

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TÓM TẮT VĂN BẢN

QUA DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

2.1 Một số kĩ năng tóm tắt văn bản cần rèn luyện

2.1.1 Tóm tắt văn bản phải đảm bảo đầy đủ về nội dung

Khi tiến hành TTVB người tóm tắt phải có năng lực, kinh nghiệm và sự hiểu biết nhất định về văn bản Từ đó, xác định nội dung văn bản, hướng đến việc tóm tắt thể hiện được đầy đủ, cụ thể các nội dung thông tin quan trọng của văn bản Quá trình tóm tắt được xem là thành công chỉ khi nào nội dung, ý tưởng của văn bản được người tóm tắt thể hiện đầy đủ, trọn vẹn không bị thất thoát, sai lạc, méo mó Có nghĩa

là việc tóm tắt được thực hiện đảm bảo về nội dung, không sai sót, không cắt xén hoặc thêm vào những thông tin không có trong văn bản gốc Kết quả của quá trình này được đánh giá ở sự chuyển tải chân thực, đầy đủ, chính xác thông tin khách quan

về văn bản gốc.Hay nói cách khác, việc tóm tắt đặt ra yêu cầu tiên quyết là đảm bảo nội dung thông tin của văn bản Nếu không đáp ứng yêu cầu này, văn bản tóm tắt sẽ không có giá trị Người đọc sẽ không hiểu một cách trọn vẹn, thông điệp không được chuyển tải đầy đủ hoặc mất một phần, thậm chí có thể mất hết ý nghĩa

Nội dung văn bản tóm tắt chính là chuyển tải lại nôi dung văn bản, ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm Có nghĩa là người đọc cũng có thể nắm bắt nội dung, ý nghĩa văn bản thông qua văn bản tóm tắt khi không có điều kiện đọc hoặc tiếp xúc văn bản gốc Đối với bản thân người tóm tắt, mục đích tóm tắt để làm tư liệu, tích luỹ kiến thức phục vụ cho hoạt động học tập thì vấn đề đảm bảo đầy đủ nội dung là rất quan trọng Nội dung đầy đủ, cô đọng, chính xác là yêu cầu cơ bản mà văn bản tóm tắt cần đạt được Chúng ta cũng thấy rằng, đặc điểm chung của thể loại nghị luận là tính chuyên sâu, được trình bày chặt chẽ, cấu trúc rõ ràng Điều đó có nghĩa là yêu cầu về đảm bảo đầy đủ cấu trúc, nội dung để có thể tóm được chính xác nội dung cốt lõi của văn bản ở dạng nghị luận là rất cần thiết

Ví dụ khi tóm tắt văn bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, giáo viên

đặt ra yêu cầu với học sinh là tóm tắt lại văn bản Trước tiên học sinh cần đọc văn

Trang 40

bản, xác định vấn đề nghị luận và nội dung chính của văn bản Việc xác định được đúng đề tài văn bản sẽ giúp VBTT đảm bảo đầy đủ về nội dung, tránh lan man, thiếu sót ý chính Từ đó, VBTT phải đảm bảo chuyển tải được đúng nội dung trọng tâm của văn bản chính là :

- Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc

- Tố cáo tội ác của thực dân Pháp

- Tuyên bố độc lập

Trong VBTT của Tuyên độc lập không thể nào thiếu được vấn đề này Có

được như thế, VBTT mới đảm bảo được yêu cầu cung cấp lại một cách ngắn ngọn nhưng đầy đủ, chính xác thông tin của văn bản gốc

2.1.2 Tóm tắt văn bản phải chính xác các chi tiết

Chi tiết không chỉ là yếu tố cấu thành tác phẩm mà còn là nơi gửi gắm những quan niệm nghệ thuật về con người, về cuộc đời của nhà văn, nơi kí thác niềm ưu

tư, trăn trở của nhà văn trước cuộc đời Lựa chọn chi tiết để xây dựng nên tác phẩm không chỉ thể hiện bản chất sáng tạo của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ tài năng, tầm vóc tư tưởng của người cầm bút

Trong văn học, “chi tiết” theo định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, 1997) là: “Các tiểu tiết của tác phẩm mang sức chứa lớn về cảm xúc và tư tưởng” và họ gọi chung là chi tiết nghệ thuật Cũng theo nhóm tác giả này thì: “Tuỳ theo sự thể hiện cụ thể, chi tiết nghệ thuật có khả năng thể hiện, giải thích, làm minh xác cấu tứ nghệ thuật của nhà văn, trở thành tiêu điểm, điểm hội tụ của tư tưởng tác giả trong tác phẩm Chi tiết nghệ thuật gắn với “quan niệm nghệ thuật” về thế giới con người, với truyền thống văn hoá nghệ thuật nhất định”

Như vậy, chi tiết được xem như linh hồn của một văn bản Muốn hiểu, nắm chắc văn bản, phải hiểu rõ chi tiết Sự hòa hợp giữa chi tiết và tổng thể sẽ tạo thành chỉnh thể Chi tiết nghệ thuật được xem là thành tố nhỏ nhất trong một chỉnh thể nghệ thuật Trong văn bản, nhờ chi tiết mà nội dung được triển khai và phát triển đầy đặn, ý nghĩa Nhiều chi tiết trở thành những điểm sáng thẩm mĩ của tác phẩm

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w