Một trong những nguyên nhân là sự gắn bó giữa “học và hành” giữa lý thuyết với thực tiễn chưa thực sự được quan tâm đúng mức để phát huy tính tích cực của người học theo hướng rèn luyện
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TS NGUYỄN VĂN LUYỆN
Thừa Thiên Huế, năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân, tất cả các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực và chưa từng được người khác công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Thị Thanh Vân
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Cha mẹ suốt đời hy sinh, thương yêu, nuôi dạy con khôn lớn nên người! Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu tại trường và trao dồi thực tế, để hoàn thành, tôi bày tỏ lòng kính trọng, sự tri ân và cảm ơn chân thành nhất đến:
Thầy Ts Nguyễn Văn Luyện (Giảng viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ cũng như cung cấp kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Thầy Huỳnh Minh Tân (Hiệu trưởng trường THCS và THPT Cô Tô) cùng quý thầy cô Ban Giám hiệu, anh chị em đồng nghiệp Bộ môn và các em học sinh đã
hỗ trợ, động viên tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt nội dung chương trình học tập
Các thư viện và Trung tâm Học liệu: Đại học An Giang, tỉnh An Giang, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Cần Thơ
Các anh chị tập thể lớp Cao học lý luận và phương pháp dạy học môn Địa lí khóa 25 thân thương, chia sẻ, cố gắng trong suốt thời gian học tập Chúc mọi người
và gia đình được nhiều sức khỏe, thành đạt, hạnh phúc
Tác giả: Võ Thị Thanh Vân
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH 6
MỞ ĐẦU 7
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
4 PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU 8
5 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 9
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
NỘI DUNG 11
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG KHẢO SÁT ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỊA LÍ 11
1.1 Kĩ năng và kĩ năng Địa lí 11
1.1.1 Khái niệm 11
1.1.2 Phân loại kĩ năng 11
1.1.3 Quá trình hình thành kĩ năng 13
1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của kĩ năng trong dạy học Địa lí 14
1.2 Khảo sát địa phương (KSĐP) 16
1.2.1 Khái niệm 16
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa, nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành KSĐP 17
1.2.2.1 Vai trò 17
1.2.2.2 Ý nghĩa 18
1.2.2.3 Nội dung 19
1.2.2.4 Hình thức tiến hành 20
1.2.2.5 Các phương pháp tiến hành 21
Trang 51.2.2.6 Tổ chức khảo sát 23
1.3 Chương trình Địa lí 12 24
1.3.1 Mục tiêu của chương trình 24
1.3.1.1 Về kiến thức 24
1.3.1.2 Về kĩ năng 24
1.3.1.3 Về thái độ, hành vi 25
1.3.2 Nội dung của chương trình 25
1.3.3 Sách giáo khoa Địa lí 12 26
1.3.3.1 Cấu trúc sách 26
1.3.2.2 Nội dung và hình thức trình bày của các bài học 26
1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 12 28
1.4.1 Đặc điểm sinh lí 28
1.4.2 Đặc điểm tâm lí 28
1.4.3 Đặc điểm hoạt động học tập 28
1.4.4 Đặc điểm nhận thức 28
1.5 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng KSĐP trong dạy học Địa lí 12 THPT tại một số trường ở tỉnh An Giang hiện nay 29
1.5.1 Quan điểm về rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS 12 29
1.5.2 Các kĩ năng KSĐP cần rèn luyện cho HS 12 30
1.5.3 Tình hình rèn luyện kĩ năng KSĐP của HS 12 31
1.5.4 Thuận lợi, khó khăn của thực trạng 32
1.5.4.1 Thuận lợi 32
1.5.4.2 Khó khăn 33
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG KHẢO SÁT ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 34
2.1 Rèn luyện kĩ năng quan sát 34
2.1.1 Khái niệm 34
2.1.2 Phương pháp quan sát 36
2.1.3 Ví dụ minh họa 40
2.2 Rèn luyện kĩ năng điều tra thực tế 41
2.2.1 Khái niệm 41
Trang 62.2.3 Thực hiện phương pháp khảo sát, điều tra thực tế trong dạy học địa lí 42
2.2.4 Ví dụ minh họa 43
2.3 Phương pháp phỏng vấn 45
2.3.1 Khái niệm 45
2.3.2 Ý nghĩa 46
2.3.3 Quy trình, phương pháp thực hiện một cuộc phỏng vấn 46
2.3.4 Ví dụ minh họa 49
2.4 Rèn luyện kĩ năng (thu thập) nghiên cứu tài liệu địa phương 52
2.4.1 Khái niệm 52
2.4.2 Phương pháp (thu thập, xử lý tài liệu và báo cáo) 53
2.4.2.1 Thu thập và xử lý tài liệu 53
2.4.2.2 Báo cáo 54
2.4.3 Ví dụ minh họa 54
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58
3.1 Mục đích thực nghiệm 58
3.2 Nguyên tắc thực nghiệm 58
3.3 Nội dung thực nghiệm 58
3.4 Tổ chức thực nghiệm 58
3.4.1 Thời gian 58
3.4.2 Chọn nhóm, lớp thực nghiệm 58
3.4.3 Phương pháp thực nghiệm 59
3.5 Kết quả thực nghiệm 59
3.5.1 Kết quả định lượng 59
3.5.2 Kết quả về định tính 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 63
2 MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÚT RA TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU 63
3 KIẾN NGHỊ 64
4 HƯỚNG MỞ RỘNG CỦA ĐỀ TÀI 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ý kiến của GV về việc rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS 12 hiện nay 30
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về các kĩ năng KSĐP cần rèn luyện cho HS 12 30
Bảng 3.1 Phân phối điểm các bài kiểm tra của các nhóm 60
Bảng 3.2 Phân phối tần suất tổng hợp điểm các bài kiểm tra ở các nhóm 60
Bảng 3.3 Tổng hợp điểm trung bình và độ lệch chuẩn giữa các nhóm 61
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhóm khó khăn GV gặp phải trong quá trình rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS 31Biểu đồ 2.2 Nhận thức của HS về việc rèn luyện kĩ năng KSĐP 32
HÌNH
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện 12Hình 1.2 Quá trình hình thành kĩ năng - Hoạt động của GV và HS 13
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chiến lược phát triển giáo dục, giáo dục phổ thông được xem là đột phá trọng tâm và là nền tảng, cơ sở đem đến chất lượng cho cả hệ thống giáo dục quốc dân… Tuy nhiên, các nghiên cứu, báo cáo tổng kết đánh giá những năm qua cho thấy chương trình, nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông nước ta hiện nay còn nhiều bất cập, hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập phát triển Một trong những nguyên nhân là sự gắn bó giữa “học và hành” giữa lý thuyết với thực tiễn chưa thực sự được quan tâm đúng mức để phát huy tính tích cực của người học theo hướng rèn luyện năng lực tự khám phá, vận dụng kiến thức, biến quá trình đào tạo nhà trường thành quá trình tự đào tạo, xem người học là trọng tâm như Luật
Giáo dục (sửa đổi bổ sung năm 2009) điều 28 khoản 2 đã nêu: “Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[21]
Trong nhà trường, việc dạy học địa lí nói chung và địa lí địa phương (ĐLĐP) nói riêng dần được quan tâm ngoài cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản về tự nhiên, KT-XH địa phương thì việc trang bị cho HS những kĩ năng cơ bản là điều không thể thiếu, đặc biệt trong chương trình Địa lí 12, vì đây là lớp cuối cấp của bậc THPT, sau khi học xong các em sẽ trực tiếp tham gia vào đời sống xã hội hoặc tiếp tục theo học ở bậc cao hơn, tiếp xúc với nguồn tri thức địa lí ngày càng đa dạng và phong phú cho nên đòi hỏi các em phải tự rèn luyện, tự học tập để thích nghi với đời sống xã hội, biết vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn
Khảo sát địa phương (KSĐP) là nội dung quan trọng của ĐLĐP, là cách liên
hệ chặc chẽ giữa kiến thức lý thuyết với thực hành Quá trình khảo sát giúp hình thành và rèn luyện các kĩ năng: quan sát, điều tra, phân tích, giải quyết vấn đề trực tiếp, khai thác tri thức từ các nguồn khác nhau từ đó tạo cho HS tính chủ động, khám phá… giúp các em trưởng thành hơn về mặt xã hội, củng cố và phát triển kiến
Trang 11thức trên lớp, biết quan tâm đến các vấn đề môi trường xung quanh, có thái độ, hành vi và ý thức trách nhiệm để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề trước mắt cũng như lâu dài ở địa phương, xây dựng tình yêu quê hương, đất nước
Do đó, để tiến hành KSĐP cần thiết phải rèn luyện cho các HS những kĩ năng cơ bản, thực tế nhưng đến nay vẫn chưa có nhiều nghiên cứu hướng dẫn một
cách khoa học, đầy đủ Với những yêu cầu và mục tiêu ấy, tôi thực hiện đề tài:“R n
lu ện ĩ năng hảo sát đ phương trong dạ học l 12 trung học phổ th ng”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được các phương pháp rèn luyện kĩ năng KSĐP trong dạy học Địa
lí 12 nhằm giúp HS lĩnh hội được kiến thức từ thực tế ở địa phương, nâng cao tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức và gắn kết giữa kiến thức lý thuyết với trải nghiệm thực tiễn
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Xây dựng cơ sở lý luận về việc r n luyện kĩ năng khảo sát địa phương trong dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông
- Khảo sát, điều tra về thực trạng r n luyện kĩ năng khảo sát địa phương trong dạy học Địa lí 12 trung học phổ thông
- Đề xuất những biện pháp cơ bản có cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm r n luyện kĩ năng KSĐP cho HS
- Thực nghiệm đánh giá các biện pháp r n luyện kĩ năng KSĐP cho HS
- Đưa ra các kiến nghị cho việc vận dụng vào giảng dạy ở trường phổ thông
và các nghiên cứu chuyên sâu liên quan tiếp theo
4 PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU
- Nội dung tiến hành KSĐP: chương trình Địa lí 12 - Ban cơ bản
- Địa bàn tiến hành khảo sát: một số trường THPT trên địa bàn huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, An Phú, Phú Tân, tỉnh An Giang
- Địa bàn tiến hành thực nghiệm: Trường THCS và THPT Cô Tô, huyện Tri
Tôn, tỉnh An Giang
Trang 125 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Gần đây, các nghiên cứu về KSĐP cho HS mới bắt đầu được chú ý Đã có phương pháp hướng dẫn HS thực hiện bài tập nghiên cứu ĐLĐP 12 nhưng có rất ít hoặc chưa có các công trình về r n luyện kĩ năng KSĐP trong dạy học Địa lí 12 Tuy nhiên, có thể liệt kê một số nghiên cứu và tài liệu giảng dạy, thực hành ĐLĐP như:
- Đặng Văn Đức (chủ biên) và Nguyễn Thu Hằng (2004): Phương pháp dạ
học đ l theo hướng t ch cực Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội, đã nêu lên
sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, vận dụng các phương pháp tích cực trong dạy học Địa lý hiện nay
- Nguyễn Hoàng Trí (chủ biên), Đặng Văn Đức, Nguyễn Quang Ninh, Trịnh
Đình T ng, Đặng Tuyết Anh, Vũ Thu Hương và Nguyễn Thành Công (2010): “ ồi
dưỡng giáo vi n trung học cơ s ” Trong đó có bài viết “ ạ v học từ thực tế đ a phương trong các hoạt động ngo i gi l n lớp”
- Dương Vĩnh Dũng (2011): Hướng dẫn học sinh học tốt đ a lí đ a phương
trư ng THCS Sáng kiến kinh nghiệm cấp trường Nguyễn Tri Phương (tỉnh Thừa
Thiên Huế) đã đề cập thực trạng dạy học địa lý địa phương hiện nay và đề xuất một
số biện pháp dạy học theo hướng tích cực trong giảng dạy địa lí địa phương
- Nguyễn Trọng Phúc (2004): Một số vấn đ trong dạy học đ a lí trư ng
phổ thông Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, có chương 5 trang 165 - 218
“Vấn đề giảng dạy a lí đ a phương trư ng phổ thông”
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Phương pháp lý thuyết
Tổng hợp và nghiên cứu các nguồn tài liệu, ấn phẩm chính thống (sách, tạp chí khoa học, giáo trình, kỷ yếu khoa học, niên giám thống kê, luận văn - luận án…)
ở địa phương, trong nước và quốc tế liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu đề tài làm
cơ sở đầy đủ, khoa học cho việc thực hiện viết, đánh giá kết quả và thảo luận, từ đó rút ra kết luận, kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị hoàn thành luận văn
6.2 Phương pháp điều tra
Tiến hành điều tra (bằng mẫu phiếu soạn sẵn) để đánh giá tình hình giảng dạy và rèn luyện kĩ năng KSĐP của GV và HS lớp 12 tại các điểm trường trên địa
Trang 13bàn tỉnh An Giang Số lượng: 4 trường THPT, mỗi trường 4 GV và chọn ngẫu nhiên
2 lớp Nhằm thăm dò tình hình và mức độ rèn luyện kĩ năng KSĐP hiện tại trên địa bàn, từ đó làm cơ sở, tiền đề cho bước tiến hành thực nghiệm
6.4 Phương pháp nghiên cứu sản ph m
Tiến hành phân tích chất lượng các sản phẩm của HS với các nội dung sau:
- Năng lực vận dụng các phương pháp
- Kết quả của bài báo cáo: nội dung, hình thức, điểm số
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
KHẢO SÁT ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY ĐỊA LÍ
1.1 Kĩ năng và kĩ năng Địa lí
1.1.1 Khái niệm
Kĩ năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn Kĩ năng còn được hiểu là năng lực về phương thức thực hiện một hành động Như vậy, tuy có các cách diễn đạt khác nhau, nhưng bất kì một
kĩ năng nào cũng có hai thuộc tính cơ bản: là hoạt động thực tiễn và dựa trên cơ sở các kiến thức đã có [33, 34]
Theo Tâm lí học, kĩ năng nói chung là phương thức thực hiện một hành động nào đó thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kĩ năng địa lí thực chất là những hoạt động thực tiễn mà HS thực hiện được một cách có ý thức, trên cơ
sở những kiến thức địa lí đã có [11] Muốn có kĩ năng, trước hết HS phải có kiến thức và biết cách vận dụng chúng vào thực tiễn Kĩ năng, nếu được thường xuyên rèn luyện và được lặp đi, lặp lại nhiều lần sẽ trở thành kĩ xảo Trong kĩ xảo, hành động của HS đã trở thành máy móc, có tính chất tự động Ví dụ: khi đọc bản đồ, nếu
HS biết đối chiếu các kí hiệu trên bản đồ với các kí hiệu trong bản chú giải để hiểu
ý nghĩa của chúng thì họ đã có kĩ năng ban đầu về đọc các kí hiệu trên bản đồ Nhưng nếu khi nhìn vào bản đồ mà không phải dò dẫm để giải mã các kí hiệu thì việc đọc bản đồ bước đầu của các em đã trở thành kĩ xảo [6]
1.1.2 Phân loại kĩ năng
Trong những năm gần đây, các nhà tâm lí học và nghiên cứu phương pháp giảng dạy đã phân biệt ra hai loại kĩ năng: kĩ năng ban đầu có trước kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện thường được hình thành sau khi đã có kĩ xảo Kĩ năng ban đầu thực chất là năng lực vận dụng tri thức vào hành động một cách đơn giản, còn kĩ năng hoàn thiện là loại kĩ năng đã có tính phức tạp và cao hơn kĩ năng ban đầu vì nó khó hơn và đòi hỏi ở
HS phải có kinh nghiệm và một mức độ sáng tạo nhất định trong hành động [6]
Trang 15Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện có thể biểu hiện trong sơ đồ sau:
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa kĩ năng ban đầu, kĩ xảo và kĩ năng hoàn thiện [6]
Theo sơ đồ này thì trong kĩ năng hoàn thiện ngoài các thành phần: kiến thức,
kĩ năng ban đầu, kĩ xảo, ngoài ra còn có thêm hai thành phần nữa là: kinh nghiệm thực tiễn và yếu tố sáng tạo Lấy ví dụ: muốn có kĩ năng hoàn thiện bản đồ, trước hết HS phải có kiến thức về bản đồ, có kĩ năng ban đầu là giải mã các kí hiệu, có kĩ xảo xác định vị trí các đối tượng rồi sau đó phải biết cách xác lập các mối quan hệ theo kinh nghiệm ở những mức độ sáng tạo nhất định, từ đó mới phát hiện ra được các kiến thức mới, ẩn chứa trong bản đồ
Dấu hiệu đặc trưng cho kĩ năng là nhận thức đầy đủ về mục đích của hành động và biết lựa chọn con đường ngắn nhất, đúng nhất để thực hiện
Hiện nay, trong môn địa lí, việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh đều nhằm vào bốn hướng sau:
(1) Kĩ năng l m việc với bản đồ, khai thác kiến thức đ a lí tàn trữ trong bản
đồ Trong nhóm kĩ năng này có các kĩ năng định hướng trên bản đồ, đo tính tìm toạ
độ địa lí trên bản đồ, xác định vị trí các đối tượng địa lí trên bản đồ, đọc bản đồ và
sử dụng bản đồ…
Kĩ năng hoàn thiện
Trang 16(2) Kĩ năng hảo sát các hiện tượng đ a lí ngoài thực đ a Thuộc nhóm kĩ
năng này có các kĩ năng quan sát, phân tích hiện tượng, đo đạc với các dụng cụ quan trắc đơn giản về thời tiết, thổ nhưỡng địa hình, thuỷ văn…
(3) Kĩ năng nghi n cứu, làm việc với các tài liệu đ a lí như: kĩ năng đọc, lập
các biểu đồ, phân tích các số liệu thống kê, các mô hình, lát cắt …
(4) Kĩ năng học tập, nghiên cứu đ a lí Trong đó có các kĩ năng làm việc với
sách giáo khoa địa lí, với các tài liệu tham khảo địa lí, kĩ năng mô tả, viết và trình bày những vấn đề địa lí
1.1.3 Quá trình hình thành kĩ năng
Kĩ năng có nhiều loại, nhưng chúng thường được hình thành theo những quy luật nhất định, thường bắt đầu từ việc nhận thức và kết thúc là biểu hiện ở hành
động cụ thể Có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:
Hình 1.2 Quá trình hình thành kĩ năng - Hoạt động của GV và HS [3]
Qua sơ đồ trên cho ta thấy, quá trình hình thành kĩ năng ở HS gồm ba giai đoạn:
(1) Gi i đoạn hình th nh động cơ v lĩnh hội hiểu biết cần thiết cho hoạt động: Kết quả của giai đoạn này là hình thành biểu tượng và hình ảnh hành động,
bao gồm nhận thức về mục đích, nhiệm vụ và trình tự các động tác cần thực hiện
Để đạt được kết quả này GV phải định hướng tạo động cơ học tập và các hiểu biết cần thiết cho HS
Định hướng thông tin kĩ thuật
Làm mẫu hành động
Huấn luyện
Hình ảnh, biểu tượng, vận động
Động hình vận động
Kĩ năng
Lĩnh hội hiểu biết kĩ thuật
Bắt chước Luyện tập
GV
HS
KQ
Trang 17(2) Gi i đoạn tạo dựng động hình vận động: Nhằm chuyển biểu tượng vận
động thành các vận động tay chân, hay còn gọi là động hình vận động Động hình
có được nhờ quan sát và bắt chước một cách có ý thức những động tác đang và đã
có trước đây Để hỗ trợ cho HS động hình GV cần phải làm mẫu, giải thích kĩ lưỡng cho HS về hành động cần hình thành kĩ năng
(3) Gi i đoạn hình thành kĩ năng: Ở giai đoạn này kĩ năng được hình thành dần
dần nhờ tái hiện, lặp đi lặp lại nhiều lần những động hình đã có kết hợp với việc phân tích, điều chỉnh vận động Do đó giai đoạn này GV cần tổ chức huấn luyện cho HS
Từ việc phân tích quá trình hình thành kĩ năng trên chúng ta thấy được rằng trong dạy thực hành cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp dạy học đơn lẻ khác nhau tùy theo mục đích và nội dung của từng giai đoạn như phuơng pháp làm mẫu -
quan sát, huấn luyện - luyện tập Các giai đoạn hình thành kĩ năng là cơ sở cho việc
thiết kế cấu trúc bài dạy thực hành (giai đoạn hướng dẫn ban đầu, hướng dẫn thường xuyên, hướng dẫn kết thúc) và các mô hình về phương pháp dạy thực hành
1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của kĩ năng trong dạy học Địa lí
Kĩ năng địa lí có vai trò quan trọng trong quá trình học tập của HS nói chung
và HS lớp 12 nói riêng Địa lí 12 học về địa lí tự nhiên, KT-XH Việt Nam với những khái niệm mới về địa lí tự nhiên, KT-XH, những bản đồ, lược đồ KT-XH, số liệu thống kê, biểu đồ, đòi hỏi phải hình thành và rèn luyện cho HS các kĩ năng để giúp các em biết khai thác nguồn tri thức
Trong dạy học địa lí, kĩ năng có vị trí hết sức quan trọng:
- Kĩ năng được hình thành trên cơ sở kiến thức, nó là một trong các mục tiêu dạy học cần phải đạt tới, không có kiến thức thì không thể hình thành kĩ năng được
Ví dụ: Muốn đọc được bản đồ đòi hỏi HS phải có kiến thức về bản đồ, nếu
có kiến thức về bản đồ mà không có tri thức về địa lí thì cũng không thể phân tích được các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng địa lí trên bản đồ
Chẳng hạn, trên bản đồ địa lí KT-XH của vùng kinh tế HS có thể nhận biết các ký hiệu và sự phân bố các nhà máy, nhưng nếu không có tri thức về địa lí kinh
tế thì HS không thể phân tích mối liên hệ giữa các nhà máy và chức năng của nhà máy đối với kinh tế vùng và cả nước
Trang 18- Kĩ năng là một trong những phương tiện học sinh sử dụng để làm giàu thêm tri thức của mình Nhờ có kĩ năng mà HS có thể khai thác nguồn tri thức để làm phong phú thêm kiến thức
Ví dụ: Nhờ có kĩ năng đọc bản đồ, HS vận dụng để tự lực khai thác các tri thức địa lí trên bản đồ; Nhờ có kĩ năng làm việc với máy vi tính, HS sử dụng để khai thác các tư liệu địa lí chứa sẵn trong đĩa mềm, phục vụ cho học tập của mình
Dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của HS, yêu cầu học sinh phải làm việc độc lập với các nguồn tri thức khác nhau Kĩ năng khai thác, sử dụng các nguồn tri thức sẽ giúp cho các em những điều kiện hết sức cần thiết trong hoạt động nhận thức HS thể hiện được vai trò chủ yếu trong việc lĩnh hội tri thức, tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập và phát huy được năng lực của bản thân
- Nắm kĩ năng địa lí giúp HS hình thành khả năng chủ động khai thác kiến
thức [35]: Việc nắm kĩ năng có quan hệ chặt chẽ với việc nắm kiến thức, thường
được tiến hành đồng thời với việc nắm kiến thức Kĩ năng bao giờ cũng xuất phát từ kiến thức, cũng dựa trên kiến thức và là kết quả của kiến thức trong hành động
Sự chuyển hóa kiến thức trong kĩ năng, kĩ xảo được thực hiện trong các bài
luyện tập, thực hành, thực nghiệm và trong công tác học tập độc lập của HS
Việc nắm kĩ năng, kĩ xảo của HS là một quá trình gồm hai giai đoạn:
(1) Gi i đoạn đ nh hướng: trong giai đoạn này, HS cần phải hiểu rõ mục đích
hành động, cách tiến hành và các phương tiện cần thiết để thực hiện hành động
Bước 2: Định hướng quá trình hành động
HS cần biết được các thành phần hoạt động của kĩ năng (hoạt động với dụng cụ quan trắc, tính toán dựa trên số liệu hay phân tích, so sánh, quan sát…), trình tự tiến hành (việc nào làm trước, việc nào làm sau) và những phương tiện cần
Trang 19thiết (kiến thức nào cần vận dụng, những dụng cụ đo đạc nào cần có, loại bản đồ nào cần sử dụng…)
(2)Gi i đoạn thực hiện: những việc cần thực hiện có thể là hoạt động với
dụng cụ, vẽ lát cắt, chỉ bản đồ, nhưng cũng có thể là các hoạt động trí óc có nhiều yếu tố sáng tạo (phân tích, so sánh, rút ra kết luận,…) rồi trình bày hoặc viết thành văn bản Trong giai đoạn này, HS cần được quan sát việc thực hiện mẫu ít nhất một lần rồi mới làm theo chỉ dẫn Giai đoạn thực hiện sẽ kết thúc bằng việc tổng kết,
đánh giá và rút kinh nghiệm
Ý nghĩa của kĩ năng:
- Hướng dẫn cho HS vận dụng kiến thức địa lí vào đời sống
- Khắc sâu kiến thức địa lí thông qua việc rèn luyện kỹ năng
Như vậy, kĩ năng địa lí là một phận khắng khít của hệ thống kiến thức địa lí Hình thành những thói quen thường xuyên về địa lí cho HS là thiết thực, chuẩn bị cho HS bước vào cuộc sống và vận dụng kiến thức địa lí vào thực tiễn
1.2 Khảo sát địa phương (KSĐP)
1.2.1 Khái niệm
KSĐP là khảo sát, nghiên cứu nhằm giải thích những sự vật, hiện tượng và quá trình địa lí (cả mặt tự nhiên cũng như KT-XH) hiện có hoặc đang xảy ra trong phạm vi địa phương [7]
Trong việc dạy học địa lí ở trường phổ thông, KSĐP cũng là một hình thức dạy học ngoài lớp rất quan trọng Tuy nhiên, chúng ta cần chú ý phân biệt hai khái niệm ĐLĐP và khái niệm KSĐP
ĐLĐP là một đề mục được ghi trong chương trình nội khoá (thường là ở những lớp cuối cấp, chuẩn bị cho học sinh ra trường) Nội dung của nó cần được dạy thành bài ở trên lớp giống như các phần khác trong chương trình Nhiệm vụ chính của nó là làm cho HS hiểu rõ các điều kiện tự nhiên cũng như các hoạt động sản xuất, xã hội của địa phương để sau khi ra trường, các em đỡ bỡ ngỡ và có thể mau chóng hoà nhập được vào cuộc sống lao động, sản xuất của địa phương
Còn KSĐP thì có mục đích và nhiệm vụ khác Nó làm cho HS quen với việc tìm hiểu những hiện tượng tự nhiên và kinh tế xã hội ở địa phương Đồng thời, nó
Trang 20cũng là một biện pháp tích luỹ cho HS những tri thức ban đầu về địa lí Việc tiếp xúc với thực tế địa phương sẽ cung cấp cho HS nhiều biểu tượng cụ thể, nhiều khái niệm địa lí sinh động về các đối tượng địa lí mà hàng ngày các em thường thấy, nhưng chưa có điều kiện phân tích và giải thích chúng một cách khoa học Ví dụ: Khi khảo sát một giếng nước ở địa phương, không những HS biết được trình tự những vấn đề cần phải nghiên cứu đối với một đối tượng trong thiên nhiên mà họ cũng sẽ hiểu thêm được: Thế nào là một mạch nước ngầm, vì sao nước trong giếng không bao giờ cạn? Vì sao nước giếng lại trong? Vì sao mực nước trong các giếng lại cao, thấp khác nhau và cả mùi, vị nước ở mỗi giếng cũng không giống nhau… Tất cả những kiến thức đó sẽ là vốn kiến thức ban đầu để các em so sánh, suy diễn, hình thành những biểu tượng và khái niệm địa lí mới về những vùng khác nhau trên trái đất mà có thể suốt đời các em cũng không bao giờ có dịp đặt chân đến Hình ảnh và những đặc điểm của một con song nhỏ ở địa phương mà các em đã khảo sát,
có thể là cơ sở để so sánh, phân tích và hình thành biểu tượng cũng như khái niệm
về sông Hồng, thậm chí sông Đanuýp ở châu Âu hay sông Nin ở Ai Cập
1.2.2 Vai trò, ý nghĩa, nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành KSĐP
1.2.2.1 Vai trò
- Về mặt sư phạm, KSĐP là một hình thức dạy học ngoài lớp có nhiều ưu điểm
để giúp HS lĩnh hội kiến thức bộ môn Việc tiếp xúc với thực tế địa phương đã cung cấp cho các em nhiều biểu tượng, khái niệm sinh động về các đối tượng địa lí mà các em đang học và sẽ học, những biểu tượng và khái niệm thu nhận được trong quá trình khảo sát là cơ sở hình thành những biểu tượng và khái niệm mới bằng hoạt động tư duy
- Việc KSĐP tạo cho HS điều kiện hiểu rõ thực tế địa phương (khó khăn, thuận lợi) và có dịp tham gia lao động xây dựng địa phương qua đó bồi dưỡng cho các em tình cảm yêu quê hương, đất nước
- Công tác KSĐP còn mang tính chất một công tác nghiên cứu khoa học (địa
lí địa phương) Những bước tiến hành, những kết luận rút ra, những biện pháp đề xuất đúng đắn có thể là cơ sở để đóng góp với địa phương trong công tác chỉ đạo sản xuất; qua đó cũng phát triển được tư duy khoa học, những ý định sáng tạo tham gia cải tạo địa phương, đất nước
Trang 21- Tiến hành công tác KSĐP còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn, đáp ứng được mục tiêu giáo dục của Đảng Qua công tác này củng cố được mối quan hệ giữa nhà trường với xã hội, học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn
Chính vì vậy GV cần có kế hoạch thực hiện chu đáo công tác này, để làm được những điều trên GV cần phải:
- Nghiên cứu nắm chắc những điều kiện địa lí của địa phương (tự nhiên, xã hội, đặc điểm phát triển kinh tế, các ngành kinh tế…)
- Biết vận dụng những hiểu biết địa phương (qua các đợt KSĐP) vào giảng dạy kiến thức địa lí
Ngoài tác dụng chính như đã nói ở trên, việc khảo sát địa phương còn tập dợt cho HS làm quen với công tác nghiên cứu khoa học của môn địa lí Những bước tiến hành, những kết luận rút ra đều có giá trị rèn luyện cho các em về mặt phương pháp nghiên cứu và góp phần phát triển tư duy khoa học Nó cũng tạo điều kiện cho
HS hiểu rõ thực tế địa phương (những khó khăn và thuận lợi), có dịp tham gia lao động xây dựng địa phương, qua đó bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương, đất nước Chính vì vậy, trong chương trình Địa lí ở một số nước (ví dụ như Liên Xô trước đây), khảo sát địa phương được coi là một hình thức dạy học nội khoá bắt buộc (Trong chương trình Địa lí cấp II của ta trước đây, tuy cũng có đề mục: KSĐP nhưng do quỹ thời gian eo hẹp, nên phần này chưa được coi là nội khoá)
Như vậy, việc tiến hành công tác KSĐP trong nhà trường có ý nghĩa rất lớn
về mặt giáo dục Qua công tác này, không những việc dạy tri thức, giáo dục tư tưởng cho HS được tăng cường mà nhà trường cũng thực hiện được nguyên tắc
“học đi đôi với hành, lí thuyết gắn liền với thực tiễn”
Giúp cho HS cách quan sát, tìm tòi thu thập, phân tích so sánh các đối tượng
Trang 22trong môi trường thực tế, từ đó rút ra cái mới cho mình; tập dợt cho HS làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
Về mặt giáo dục, phương pháp này tạo điều kiện để học sinh hiểu rõ thực tế địa phương (khó khăn, thuận lợi) phát triển thói quen thưởng thức sự hài hòa, tinh tế của tự nhiên Vì vậy đây là phương pháp tốt nhất trong việc giáo dục môi trường cho
HS, giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước, quan tâm đến môi trường xung quanh và muốn làm một việc gì đó để bảo vệ, cải thiện môi trường địa phương
Việc khảo sát điều tra thực tế địa phương còn nhằm vào thực hiện nguyên lí
“học đi đôi với hành”, giúp học sinh vận dụng các kiến thức lý thuyết vào giải quyết các bài tập thực tiễn Vì vậy, phương pháp này còn r n luyện các kĩ năng cho HS như: quan sát, đo đạc, điều tra ngoài thực địa
Phương pháp điều tra khảo sát còn cải thiện quan hệ giữa GV và HS, cải thiện và làm phong phú nội dung học tập
1.2.2.3 Nội dung
Trước tiên ta cần làm rõ khái niệm địa phương Trong một số trường hợp người ta hiểu địa phương là v ng tự nhiên (đất đai, núi non, động thực vật) nơi trường đóng Trong một số trường hợp khác, hiểu địa phương là đơn vị lãnh thổ hành chính như: xã, huyện, tỉnh… Thực ra, hai cách hiểu đó không khác nhau, một bên chú trong về nội dung, các đối tượng khảo sát, còn một bên chú trọng đến phạm
vi rộng, hẹp của lãnh thổ Trong việc học địa lí chúng ta cần hiểu khái niệm địa phương theo cả hai ý nghĩa trên
Chúng ta đều biết HS phổ thông nhận thức và hình dung không dễ dàng những hiện tượng và quá trình địa lí được trình bày trong SGK hoặc qua lời giảng của GV Điều đó biểu hiện đặc điểm tư duy và trình độ nhận thức của các em Chính vì vậy, nếu chúng ta cho các em khảo sát những hiện tượng và quá trình địa lí
cụ thể xảy ra ở môi trường xung quanh nơi trường đóng, các em có thể nhận thức được một cách trực quan những hiện tượng và quá trình đó Từ những hình mẫu sống sinh động, các em sẽ có những biểu tượng, khái niệm rõ ràng về địa phương,
từ đó suy ra những hiện tượng và quá trình tương tự về địa lí xảy ra ở xa hơn, trên mọi miền đất nước, cũng như trên thế giới
Trang 23Đối với HS THPT, song song với việc KSĐP, HS còn phải thu thập và sử dụng các tài liệu địa phương một cách có hệ thống (tài liệu về địa lí tự nhiên, kinh tế
- xã hội của xã, huyện, tỉnh) liên hệ những kiến thức ở trường với cuộc sống xunh quanh và vận dụng chúng vào thực tiễn
Căn cứ vào những nội dung trên chúng ta nhận thấy rằng công tác KSĐP là một phần công tác cần thiết được tiến hành thường xuyên và liên tục trong nhà trường, chứ không phải một công tác ngoại khóa t y tiện
Để thực hiện tốt, GV cần chú ý những điểm sau:
- Phải hiểu công tác KSĐP không phải là một công tác thu thập tài liệu đơn thuần Những tài liệu thu thập được phải chứng minh, làm rõ thêm những mối quan
hệ lẫn nhau trong các thành phần tự nhiên, kinh tế địa phương Những kết luận rút
ra sẽ là chất liệu quý để soạn bài dạy theo các đề mục có ghi trong CT
- Về mặt phương pháp, để sử dụng tốt các tài liệu đã thu thập được trong KSĐP, GV cần căn cứ vào mục đích, yêu cầu của bài dạy mà tiến hành sao cho ph hợp Ví dụ: có thể d ng các tài liệu thu thập để minh họa cho các bài, hoặc có thể
d ng các tài liệu đó để cho HS nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn về địa phương Cuối năm GV có thể kết thúc công tác này bằng cách tổ chức một cuộc triển lãm với các tài liệu về khảo sát địa phương
Từ những buổi khảo sát tập trung các em sẽ lấy đó làm mẫu cho công tác thường xuyên của tổ, nhóm
+ Ngoài các buổi tập trung, công tác khảo sát cần được tiến hành trong suốt
Trang 24năm học, dưới hình thức hoạt động độc lập của các nhóm, tổ qua đó phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của các em
GV nên phân công HS trong lớp thành nhóm, tổ Mỗi nhóm tổ khoảng 4 -5 người, trong đó có một nhóm trưởng phải là những HS khá tích cực có tinh thần trách nhiệm để hướng dẫn, đôn đốc các nhóm hoàn thành đề tài được giao
Ở các lớp HS nhỏ tuổi, GV cần tăng cường hướng dẫn một cách tỉ mĩ, từng khâu, từng bước, nhất là rút ra các kết luận cần thiết Còn ở các lớp lớn tuổi thì GV
có thể giữ vai trò hướng dẫn, điều khiển, HS phải tự phát huy tính độc lập của mình trong khi thực hiện nhiệm vụ
1.2.2.5 Các phương pháp tiến h nh
Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp chính trong khi thực hiện các đề tài địa lí Nó đòi hỏi
HS phải vận dụng năng lực quan sát, các kĩ năng đo, vẽ bản đồ… để nhận xét phân tích các hiện tượng địa lí Trong khi hướng dẫn, GV sẽ kiểm tra được năng lực nhận thức của HS Hoạt động ngoài thực địa là một hoạt động hấp dẫn, bổ ích nó có tác dụng lớn trong việc tích lũy kiến thức, r n luyện kĩ năng bộ môn và phát triển tư duy địa lí
Trên thực địa, HS cần vận dụng nhiều kĩ năng như sử dụng các dụng cụ đo đạc đơn giản để đo khoảng cách, đo chiều cao của một quả đồi, đo nhiệt độ không khí, lấy mẫu vật… (đất, đá, cây cỏ, bộ sưu tập các loại cây trồng ở địa phương…)
GV phải hướng dẫn HS ghi chép, mô tả những hiện tượng quan sát được vào
sổ nhật kí thực địa Việc ghi chép này càng tỉ mĩ càng tốt, đó là những cứ liệu để các em viết báo cáo, thu hoạch… Trong khi hoạt động ở ngoài trời, GV cần phải đòi hỏi HS thể hiện tính tổ chức, tính kĩ luật cao nhất là cần r n luyện tác phong làm việc nghiêm túc
b Phương pháp điều tr , tìm hiểu nhân dân đ phương
Có những vấn đề địa lí tự nhiên và kinh tế xã hội chúng ta không thể quan sát trực tiếp được mà phải tìm hiểu, điều tra trong nhân dân Ví dụ: khi khảo sát chế độ nước của một con sông, những điều ta muốn biết như: nước sông hàng năm thường lên cao nhất vào tháng nào, cạn nhất vào tháng nào, trong lịch sử năm nào? Mức
Trang 25nước lên cao nhất thì có những người sống ở ven sông, đã từng ở lâu tại địa phương mới hiểu rõ
Ví dụ khác: khi ta muốn biết tình hình phát triển của một loại cây trồng ở địa phương trong các giai đoạn trước đây, thì ngoài những tài liệu thu thập ở các cơ quan lưu trữ, ta còn phải hỏi nhân dân địa phương để biết được kinh nghiệm sản xuất các loại cây đó, tại sao chúng bây giờ không được phát triển
Những điều hỏi được, HS ghi chép cẩn thận để làm tài liệu Để đảm bảo tính khoa học, ghi chép phải trung thực, chính xác, bao gồm cả tên người được hỏi sau này điều gì chưa rõ còn kiểm tra lại, qua đó r n luyện cho các em thái độ nghiêm túc, khoa học khi tìm hiểu một vấn đề
c Phương pháp nghe báo cáo
Phương pháp này thường được sử dụng trong các buổi khảo sát tập trung, đông người Để đặt hiệu quả, những vấn đề báo cáo phải được xác định rõ mục đích, yêu cầu, đúng vấn đề đặt ra, đồng thời phải chú ý thời gian dành cho báo cáo Người báo cáo phải thực sự am hiểu vấn đề Có như vậy mới tránh lãng phí thời gian; đặc biệt trong lĩnh vực chuyên môn thì nên mời các cán bộ thuộc lĩnh vực đó báo cáo (khí tượng, thủy văn, văn hóa – xã hội, cán bộ phụ trách các vấn đề kinh tế, các ngành kinh tế…)
Ngoài hình thức nghe báo cáo, cũng có khi trong qua trình khảo sát, cần tổ chức những buổi trao dồi, họp mặt: Ví dụ: tổ chức gặp mặt những HS cũ của trường
về tham gia sản xuất ở địa phương, xí nghiệp, nhà máy, hay gặp những xã viên, công nhân có nhiều sáng kiến, thành tích để giúp các em bổ sung kiến thức, còn có tác dụng tốt về tư tưởng, sau cho các em cảm tình sâu sắc
d Phương pháp sử dụng t i liệu (t i liệu, số liệu, bảng biểu thống , tr nh ảnh…)
Trong công tác giảng dạy và học tập địa lí việc sử dụng tài liệu, số liệu, bảng biểu thống kê, tranh ảnh có sẳn, có vị trí hết sức quan trọng trong khảo sát địa phương, dưới sự hướng dẫn của GV, HS cần thu thập phân tích các tài liệu như: các báo cáo của địa phương, các bản thống kê, các tài liệu trưng bày ở phòng truyền thống, bảo tàng… Đó là những tài liệu để giúp HS phân tích tổng hợp, đánh giá rút
ra những kết luận bổ ích
Trang 26Tuy nhiên, trong các phương pháp trình bày trên thì phương pháp quan sát ngoài thực địa là quan trọng nhất
Đối với GV:
- Căn cứ vào nội dung chương trình và sau khi đã thăm dò địa điểm cơ sở khảo sát, GV phải cụ thể hóa mục đích, yêu cầu, nội dung khảo sát Kế hoạch này thường gồm các vấn đề sau:
- Mục đích, yêu cầu của khảo sát: kế hoạch điều tra, khảo sát phải được thực hiện trong suốt năm học Trong kế hoạch phải ghi rõ ràng nội dung, địa điểm, thời gian dự định khảo sát và phương pháp thực hiện
- Nội dung khảo sát: khảo sát, điều tra các sự vật hiện tượng và quá trình địa
lí (tự nhiên, KT-XH đã và đang diễn ra trong địa phương Việc lựa chọn nội dung điều tra phải đáp ứng được các yêu cầu tối thiểu sau đây:
+ Tính cấp thiết của vấn đề
+ Phải phục vụ cho nội dung bài giảng
Ví dụ: nội dung điều tra, khảo sát về vấn đề dân số tại địa phương có thể là: tình hình về dân số như sinh, tử, gia tăng dân số, kết hôn, chất lượng cuộc sống, các biện pháp kế hoạch hóa gia đình; Những vấn đề hiểu biết về dân số như: nguyên nhân và hậu quả của việc gia tăng dân số, nội dung và ý nghĩa của chính sách dân số nhà nước; Thái độ đối với vấn đề dân số như: thái độ đối với quy mô gia đình, với việc sinh con trai hay con gái, với các biện pháp giảm tỷ lệ dân số (kết hôn chậm, kết hôn theo tuổi quy định, sử dụng các biện pháp tránh thai…); Hoạt động giáo dục
về dân số như: tổ chức tuyên truyền, giáo dục về dân số ở địa phương, các hình thức vận động thanh niên thực hiện chính sách dân số, các biện pháp ngăn ngừa vi phạm chính sách dân số ở địa phương
Trang 27- Nhiệm vụ đề ra đối với mỗi HS
- Các biện pháp tiến hành
- Những vấn đề rút ra từ cuộc khảo sát
- Kế hoạch sử dụng những tài liệu khảo sát
Do các lớp có năng lực nhận thức khác nhau, nên khi đề ra các vấn đề khảo sát cũng cần phải chọn lọc sao cho ph hợp với khả năng và vốn hiểu biết của HS
Ví dụ: đối với THCS, GV nên chọn các đề tài địa lí tự nhiên của địa phương, chú ý đến các sự vật, hiện tượng cụ thể Đối với các lớp THPT nên chọn các đề tài địa lí kinh tế xã hội, những đề tài có mối quan hệ giữa tự nhiên - xã hội
- Sau khi chọn đề tài, GV cần lập kế hoạch cụ thể, phân công các tổ thực hiện
- Khi hoàn thành công tác thu thập tài liệu, GV cần giúp HS rút kết luận, viết báo cáo hay chuẩn bị hội thảo
Đối với HS:
- HS phải nắm vững mục đích, ý nghĩa của vấn đề khảo sát
- Việc phân công các tổ, nhóm phải rõ ràng, có kế hoạch
- Việc chuẩn bị phương tiện khảo sát cần chu đáo (dụng cụ và các phương tiện cần thiết)
1.3 Chương trình Địa lí 12
1.3.1 Mục tiêu của chương trình
Học xong chương trình Địa lí 12 (chương trình chuẩn) HS đạt được:
1.3.1.1 Về iến thức
Hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông cơ bản, cần thiết về đặc điểm
tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, những vấn đề đặt ra đối cả nước nói chung và các v ng, các địa phương nơi HS đang sinh sống nói riêng
1.3.1.2 Về ĩ năng
- Kĩ năng học tập và nghiên cứu địa lí: quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện tượng địa lí: vẽ lược đồ, biểu đồ, phân tích sử dụng bản
đồ, Atlat, biểu đồ, lát cắt, số liệu thống kê…
- Kĩ năng thu thập, xử lí, tổng hợp và thông báo thông tin địa lí, trình bày các thông tin địa lí
Trang 28- Kĩ năng vận dụng tri thức địa lí để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của HS
1.3.2 Nội dung của chương trình
Chương trình địa lí 12 gồm 5 phần: Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư, Địa lí kinh
tế Việt Nam, Địa lí v ng và địa lí địa phương được dạy trong 53 tiết
Địa lí 12 được cấu tạo theo đơn vị kiến thức lớn, sắp xếp theo lôgic, khoa học và phù hợp với lôgic của quá trình dạy học Đó là các phần chủ yếu sau đây:
- Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập (1 tiết); Địa lí tự nhiên (14 tiết); Địa lí dân cư (4 tiết); Địa lí kinh tế (24 tiết); Địa lí địa phương (2 tiết); Ôn tập và kiểm tra (8 tiết)
Bài mở đầu (Bài 1) nhằm giới thiệu bối cảnh quốc tế và trong nước, những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và những định hướng chính để nước
ta tiếp tục đổi mới và hội nhập
Phần Địa lí tự nhiên Việt Nam không chỉ đề cập đến các đặc điểm cơ bản của thiên nhiên Việt Nam, những quy luật phân hóa lãnh thổ tự nhiên, mà còn đánh giá
tự nhiên như là các nguồn lực thường xuyên và cần thiết trong sự phát triển kinh tế -
xã hội Vì thế, các kiến thức về địa lí tự nhiên sẽ được củng cố và vận dụng khi học
về Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam; cách trình bày các nội dung sẽ tạo ra một thể thống nhất cần thiết trong chương trình và sách giáo khoa
Địa lí dân cư đề cập đến những nét cơ bản về dân cư, lao động và việc làm, chất lượng cuộc sống của dân cư hiện nay Phần này, không chỉ nhấn mạnh dân cư
Trang 29vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu thụ, mà còn cho học sinh thấy rằng việc nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư là mục tiêu xã hội của công cuộc đổi mới và phát triển của nước ta
Địa lí các ngành kinh tế được bắt đầu từ cái nhìn tổng quan về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Các vấn đề phát triển và phân bố các ngành kinh tế đã được lựa chọn để phân tích tổng hợp
Khi học về các v ng, chương trình chỉ đề cập đến các vấn đề tiêu biểu, được lựa chọn từ rất nhiều vấn đề phải giải quyết của các vùng lãnh thổ nước ta Những vấn đề này có bản chất địa lí rõ nét và có ý nghĩa lâu dài
Địa lí địa phương nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức về địa lí địa phương với quy mô lãnh thổ ở cấp tỉnh, thành phố theo một số chủ đề
1.3.3 Sách giáo khoa Địa lí 12
1.3.3.1 Cấu trúc sách
Sách giáo khoa Địa lí 12 gồm 45 bài, trong đó có 35 bài lý thuyết và 10 bài thực hành Phân bố theo các đơn vị các kiến thức lớn như sau:
- Việt Nam trên đường đổi mới và hội nhập gồm 1 bài lý thuyết
- Địa lí tự nhiên gồm 14 bài: 12 bài lý thuyết, 2 bài thực hành
- Địa lí dân cư gồm 4 bài: 3 bài lý thuyết, 1 bài thực hành
- Địa lí kinh tế gồm 24 bài: 19 bài lý thuyết, 5 bài thực hành
- Địa lí địa phương gồm 2 bài thực hành
1.3.2.2 Nội dung v hình thức trình b củ các b i học
Mỗi bài học đều có kênh chữ, kênh hình, các câu hỏi giữa bài, cuối bài và số liệu minh họa
Về kênh chữ: Do đây là lớp cuối cấp nên không quá hạn chế kênh chữ Các bài
học được chia thành các đề mục lớn ứng với các đơn vị kiến thức học sinh cần nắm vững Kênh chữ và kênh hình đã được gia công để tạo thành thể thống nhất hữu cơ
Để đảm bảo tính chính thức và nhất quán của các số liệu thống kê, các tác giả lấy số liệu năm 2005 trong Niên giám thống kê 2006 Trong phần phân tích, để phản ánh các xu hướng mới nhất, đôi chỗ có sử dụng các thông tin kinh tế - xã hội năm 2007
Trang 30Về kênh hình: Chủ yếu là các bảng số liệu (39 bảng), sơ đồ (7 sơ đồ), biểu
đồ (15 biểu đồ), bản đồ (22 bản đồ), lược đồ(3 lược đồ) và 7 bảng kiến thức Các hình minh họa phù hợp giúp học sinh tri giác nhanh, phát hiện các xu thế chính, các đặc điểm chủ yếu của các sự vật, hiện tượng Một số sơ đồ, biểu đồ còn thể hiện cả mối quan hệ qua lại giữa các hiện tượng, quá trình địa lí
Các câu hỏi giữa bài: Có tác dụng giúp học sinh tìm hiểu kiến thức trước
khi đến lớp, nhất là những câu hỏi đòi hỏi phải vận dụng các kiến thức đã học, các hiểu biết cá nhân, các kiến thức của các môn học có liên quan Giáo viên cũng có thể dùng các câu hỏi này trong các hoạt động trên lớp Thường các câu hỏi này có mức độ khó trung bình
Các câu hỏi và bài tập cuối bài: Là những câu hỏi và bài tập chỉ ra các kiến
thức cơ bản mà học sinh cần nắm vững Thường những câu hỏi này đòi hỏi phải tư duy nhiều hơn Các bài tập cuối bài không chỉ để rèn luyện kĩ năng, mà còn có mục tiêu củng cố kiến thức Một số bài còn nhằm làm rõ hơn một số điểm đã nói tới trong bài học, có tác dụng mở rộng kiến thức, giúp học sinh có tác phong nghiên cứu Đáng chú ý là trong một số bài lý thuyết và thực hành có yêu cầu học sinh sử dụng Atlat Địa lí Việt Nam nhằm mục đích nâng cao chất lượng dạy và học Địa lí trong nhà trường phổ thông
Về các bài thực hành: Trong tổng số 45 bài có 10 bài thực hành, chiếm tỉ lệ
20% thời lượng Các bài thực hành nhằm nâng cao các kĩ năng địa lí sau cho học sinh:
- Vẽ khung lược đồ lãnh thổ Việt Nam: Giúp cho học sinh có được tư duy không gian, biết thể hiện các hiểu biết của mình về Địa lí Tổ Quốc bằng những lược
đồ đơn giản Còn là cơ sở để tổ chức các bài thực hành điền các đối tượng kinh tế lên lược đồ
- Đọc bản đồ Địa lí tự nhiên Việt Nam và bản đồ Kinh tế Việt Nam để phát hiện các đặc điểm tự nhiên hay kinh tế - xã hội, xác định các mối quan hệ không gian giữa các đối tượng và các quá trình tự nhiên hay kinh tế - xã hội
- Vẽ biểu đồ và phân tích bảng số liệu về một số tiêu chí kinh tế - xã hội theo yêu cầu cho trước
- Thu thập, tổng hợp thông tin để viết báo cáo ngắn theo chủ đề
Trang 311.4 Đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 12
1.4.1 Đặc điểm sinh lí
Độ tuổi khoảng 17 đến 18 tuổi, đây là thời kì đạt tới sự trưởng thành về mặt thể lực, sự phát triển về mặt cơ thể còn kém xa so với người lớn Là lứa tuổi bắt đầu thời kì phát triển sinh lí mang tính chất ổn định, hài hòa, có sự tăng trưởng lớn lên, chiều cao phát triển đều chứ không biến động
Cấu tạo tế bào não thì mang tính phức tạp và chức năng của tế bào não thì mang tính dễ phát triển, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên liên kết với các vùng khác nhau của bộ não tạo điều kiện cho hoạt động tư duy phức tạp, đây là điều kiện thuận lợi cho việc phân tích tổng hợp các vấn đề trong học tập, trong nhận thức nói chung
1.4.2 Đặc điểm tâm lí
Cùng với sự biến đổi về thể chất thì đời sống tinh thần của HS cũng trải qua những biến đổi sâu sắc Các em thường có cảm giác sâu sắc rằng mình không còn là trẻ con nữa Các em muốn mình được đối xử như người lớn, muốn được độc lập trong suy nghĩ và hành động, muốn thử sức mình và khám phá những cái mới để khẳng định mình là người lớn Các em thích giao tiếp với bạn bè cùng lứa hay với người lớn tuổi hơn để dễ dàng bộc bạch tâm sự của mình
1.4.3 Đặc điểm hoạt động học tập
Động cơ học tập được xếp theo thứ tự : Động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, động cơ mang tính chất xã hội của việc học tập, động cơ khác Nội dung học tập hướng vào việc phát triển tư duy lý luận việc học tập đòi hỏi học sinh phải có tính năng động trong suy nghĩ và ở mức độ cao
1.4.4 Đặc điểm nhận thức
Khả năng tri giác phát triển ở mức độ rất cao, đặc biệt là tri giác có mục đích Khả năng quan sát không tách rời tư duy ngôn ngữ: Khả năng quan sát có hiệu quả thấp nếu không có sự hướng dẫn của giáo viên Tư duy lý luận chiếm vị trí hàng đầu, tính phê phán của tư duy phát triển, tư duy có căn cứ, chặt chẽ và nhất quán Đây là cơ sở tốt để hình thành thế giới quan khoa học Khả năng tưởng tượng phát triển mạnh và phong phú là điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn nghề nghiệp, cũng như việc học tập, kết bạn
Trang 321.5 Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng KSĐP trong dạy học Địa lí 12 THPT tại một số trường ở tỉnh An Giang hiện nay
Kết quả điều tra tổng số 16 GV đã và đang dạy địa lí 12 ở 4 trường THPT địa bàn tỉnh An Giang cho thấy:
1.5.1 Quan điểm về rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS 12
KSĐP là hình thức được tiến hành ngoài giờ học trên lớp, được tổ chức bằng các buổi tham quan, giả ngoại hoặc đi khảo sát, điều tra thực tế địa phương rất bổ ích, tạo cho HS có cảm giác hứng thú, tìm tòi và củng cố vững chắc kiến thức lý thuyết trên lớp bằng hình ảnh trực quan sinh động Việc KSĐP còn giúp cho các em hình thành và phát triển những kĩ năng địa lí như: quan sát, điều tra, phân tích hiện tượng, phỏng vấn, nghiên cứu tập hợp tài liệu, viết và trình bày báo cáo…
Ngoài ra trong quá trình thực hiện KSĐP các em còn r n luyện tinh thần tập thể, cách thức làm việc nhóm, kĩ năng và phương pháp ghi chép, thảo luận, đặt vấn
đề và giải quyết vấn đề… nâng cao tính chủ động, trách nhiệm Sau buổi đi thực KSĐP các em có them kiến thức, thông tin, tinh thần tình cảm gắn bó yêu quê hương nơi mình sinh sống, trách nhiệm với môi trường cộng đồng xung quanh
Tuy nhiên, để rèn luyện được kĩ năng cho HS được thành công, thì việc tiến hành cần được chuẩn bị kĩ lưỡng về thời gian, địa điểm, nội dung và phương pháp tiến hành và yêu cầu các HS cần phải có những kiến thức, kĩ năng nền tảng nhất định về địa lí tự nhiên và KT-XH để có thể khai thác thuận lợi, hiệu quả tri thức địa
lí và hình thành kĩ năng trong quá trình khảo sát
Mặt khác, việc rèn luyện kĩ năng KSĐP đáp ứng được yêu cầu rèn luyện kĩ năng địa lí cho HS nói chung và quá trình dạy học theo hướng tích cực phát huy tính tích cực cho HS là xu hướng hiện nay nhưng chưa được thực hiện phổ biến
Vì vậy, rèn luyện kĩ năng KSĐP trong dạy học địa lí 12 là yêu cầu gấp rút và nghiêm túc Kết quả cho ý kiến như sau:
Trang 33Bảng 1.1 Ý kiến của GV về việc rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS 12 hiện nay
1.5.2 Các kĩ năng KSĐP cần rèn luyện cho HS 12
Phần lớn giáo viên đều cho biết các kĩ năng KSĐP trong dạy học địa lí 12 cần rèn luyện cho HS gồm:
- Quan sát: mở rộng tư duy, thế giới quan khoa học và óc quan sát tìm ra nguyên nhân, tính liên kết của sự vật và hiện tượng nhằm xác định đúng mục tiêu, định hướng đề ra của vấn đề nghiên cứu
- Điều tra phân tích hiện tượng địa lí: thu thập, tổng hợp kết quả làm cơ sở khoa học củng cố, lí luận cho nội dung chủ đề nghiên cứu
- Làm việc nhóm: giúp rèn luyện tinh thần đoàn kết, học hỏi, trao đổi, phát huy tinh thần làm việc tập thể và đóng góp ý kiến phát huy tính tích cực, chủ động của HS
- Thu thâp, nghiên cứu tài liệu: tìm, nghiên cứu tài liệu về địa phương, vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và giải quyết vấn đề yêu cầu địa phương đang đặt ra
- Sử dụng các dụng cụ quan trắc: giúp HS làm quen và thực hành các dụng
cụ đo đạc về khí hậu, địa hình, thực vật, sông ngòi…
Bảng 1.2 Kết quả điều tra về các kĩ năng KSĐP cần rèn luyện cho HS 12
STT Các loại kĩ năng Số lượng/Tổng số
GV
Tỷ lệ (%)
Trang 34Mức độ thành thạo về các kĩ năng KSĐP như: quan sát, điều tra phân tích hiện tượng và sử dụng các dụng cụ quan trắc hiện nay của HS được đa số GV được thăm dò đều nhận xét HS chỉ thành thạo các kĩ năng ở mức yếu kém Nguyên nhân
là do: hình thức tiến hành KSĐP trong kết cấu chương trình còn rất ít, chủ yếu tổ chức dưới dạng tham quan thực tế, thỉnh thoảng 1-2 lần/năm học hoặc lồng ghép đi
dã ngoại, về hình thức và nội dung tiến hành còn thiếu xót, sơ sài, chưa nhất quán còn mang tính giải trí tham quan là chính chưa có chủ đích rõ ràng, lên kế hoạch chi tiết và báo cáo đánh giá kết quả sau buổi thực tế của HS GV mặc dù nhận thức rõ đây là nội dung quan trọng và có ý nghĩa lớn trong giảng dạy ĐLĐP tuy nhiên gặp nhiều khó khăn khi tiến hành biểu hiện bằng biểu đồ 2.1
Biểu đồ 2.1 Nhóm khó khăn GV gặp phải trong quá trình
rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS
Phương tiện, dụng cụ, 56.3
Tư duy, kiến thức HS, 6.3
Phân phối chương trình ,
27.2
Năng lực, kinh nghiệm, 16.5
1.5.3 Tình hình rèn luyện kĩ năng KSĐP của HS 12
Đối với HS lớp 12, việc rèn luyện kĩ năng KSĐP được đa số các em cho rằng: Rất cần thiết: 3,5 %, Cần thiết: 18,9% và không cần thiết lắm chiếm 54,9% và không cần thiết là 22,7% (biểu đồ 2.2)
Trang 35Biểu đồ 2.2 Nhận thức của HS về việc rèn luyện kĩ năng KSĐP
lắm
Không cần thiết
Điều này có thể được lý giải như sau: Các em luôn xem vấn đề KSĐP nói chung là nội dung chưa thực sự quan trọng, chương trình phụ trong chuỗi thời gian học tập của các em, không trực tiếp cho điểm số ảnh hưởng đến kết quả học tập vẫn nghỉ rằng chương trình lý thuyết trên lớp là chủ yếu do đó chưa gặp phải khó khăn
và nhận thức hết tầm quan trọng của vấn đề rèn luyện kĩ năng trong quá trình khảo sát thực tế Việc rèn luyện các kĩ năng chỉ thực sự quan tâm đối với các HS ở các lớp đã được tham gia KSĐP theo sự hướng dẫn của GV đã nhận thấy lợi ích, sự mở rộng tư duy kĩ năng và cho rằng rất cần thiết
Trong nhóm HS được tiến hành KSĐP thì hình thức các em cho biết là: Đi
dã ngoại lồng ghép du lịch, học tập qua loa, thông tin, kiến thức chủ yếu của chuyến
đi chỉ được hướng dẫn viên hoặc nhân viên tại nơi đến cung cấp… chiếm tỷ lệ 32,8%, nghiên cứu tài liệu, tranh ảnh bằng lí thuyết trên lớp 59,7% và 7,5% là cho một ý kiến khác (không rõ đó là hình thức KSĐP) Số HS thực sự được tiến hành khảo sát, điều theo yêu cầu nội dung cụ thể, phương pháp tiến hành và đánh giá của
GV hoàn toàn chưa có Trong đó, chưa đề ra được phương pháp r n luyện kĩ năng KSĐP cho HS, mà chủ yếu là đánh giá năng lực hiểu biết về kiến thức cá nhân HS trên lí thuyết và sự hiểu biết riêng
1.5.4 Thuận lợi, khó khăn của thực trạng
1.5.4.1 Thuận lợi
- Đa số GV đều nhận thức được sự cần thiết và tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS 12 vì đây là nội dung then chốt, mang lại thành công trong việc thực hành KSĐP, đồng thời là cơ sở giúp các em đào sâu nghiên cứu
Trang 36ĐLĐP, phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập, tạo niềm say mê, yêu thích của HS đối với bộ môn
- Việc rèn luyện kĩ năng KSĐP sẽ giúp HS nắm vững nội dung kiến thức ĐLĐP một cách gần gũi trực tiếp ngay trong quá trình khảo sát thực địa và vận dụng vào thực tiễn Hình thành và phát triển tư duy, kĩ năng như: quan sát, điều tra phân tích và sử dụng các dụng cụ quan trắc giúp HS làm quen bước đầu công tác làm việc khoa học
1.5.4.2 Khó hăn
- Việc rèn luyện kĩ năng KSĐP đã không được đưa vào chương trình dạy học chính thức với nội dung, phương pháp đầy đủ và tiến hành thường xuyên trong các tiết học ngoại khóa như: khảo sát thực địa, điều tra KT-XH theo chủ đề…
- HS chưa được trang bị đầy đủ phương tiện, kiến thức và định hướng một cách khoa học để rèn luyện tốt các kĩ năng KSĐP Mặt khác, đa số GV và HS quan niệm phần ĐLĐP là phần phụ ít đưa vào nội dung đánh giá như kiểm tra, thi cử, cũng như môn địa lí là môn học bài nên dẫn đến tình trạng học sinh còn lúng túng, vụng về khi thực hành KSĐP Phần lớn HS khi tốt nghiệp ra trường, khả năng vận dụng các kĩ năng vào thực tế hầu như không có
- Ở chương trình THPT nói chung và lớp 12 nói riêng việc tiến hành phương pháp rèn luyện các kĩ năng KSĐP phụ thuộc chủ yếu vào sự hướng dẫn của GV, chưa có một quy trình chung thống nhất trong các bước rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS Việc rèn luyện kĩ năng còn mang nặng tính chủ quan của GV
- GV chưa chú trọng thực sự công tác KSĐP cho HS Mặt khác chưa có kinh nghiệm về rèn luyện kĩ năng KSĐP cho HS mà họ thường chỉ dẫn rất sơ sài không theo phương pháp chung nào hoặc làm thay cho HS nên chưa phát huy được tính tích cực
- Do điều kiện kinh tế địa phương còn nhiều khó khăn, việc trang bị các thiết bị, phương tiện dạy học chưa đáp ứng nhu cầu, việc cập nhật thông tin chưa kịp thời
Trang 37Chương 2 PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG KHẢO SÁT
ĐỊA PHƯƠNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12
Việc quan sát có thể được tiến hành trong ở ngoài trời, trong phòng hay ở các cơ
sở sản xuất Đối tương quan sát có thể là các hiện tượng địa lí tự nhiên hay địa lí kinh
tế - xã hội Nhờ có quan sát, việc giảng dạy và học tập địa lí có tính trực quan, cho nên nhiều nhà phương pháp và GV địa lí đều đề cao ý nghĩa của phương pháp này
Quan sát là tri giác có mục đích các sự vật và hiện tượng trong hoàn cảnh tự nhiên, bình thường của chúng như: quan sát một ngọn đồi, một khúc sông, một tổ công nhân đang thao tác với máy móc hay một tổ nông dân xã viên đang canh tác…
Trong khi quan sát HS sẽ làm quen trực tiếp với các sự vật và hiện tượng địa
lí, sẽ lĩnh hội được nhiều hiểu biết mới Dựa trên các kết quả quan sát của học sinh,
GV sẽ dễ làm cho các em nắm được sâu và chắc các khái niệm mới Quan sát còn làm phát triển khả năng nhận thức của các em, đặc biệt có ý nghĩa tích cực là quan sát dài ngày Thí dụ: quan sát để rút ra được đặc điểm của khí hậu, của chế độ nước một con sông ở địa phương… HS trong qúa trình quan sát sẽ phải nhìn, đo, ghi chép những kết quả rồi sau đó, dựa vào các kết quả đó, nhận định, phân tích và phát biểu các kết luận thích hợp
Quan sát là phương pháp chính để thực hiện công tác khảo sát địa phương, vì các tri thức, thu lượm được đều bắt nguồn từ cuộc sống, từ thực tiễn xây dựng đất nước, ngay tại quê hương HS
Những quan sát địa lí không chỉ giúp cho HS hiểu những sự vật và hiện tượng
Trang 38muôn nghìn muôn vẻ của tự nhiên, của sản xuất mà chúng còn giúp HS có thể vạch ra được những mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí tự nhiên và kinh tế, hiểu được các quy luật của tự nhiên tự đó hình thành nên thế giới quan khoa học của các em
Các quan sát địa lí có thể thu lượm được đều bắt nguồn từ cuộc sống, từ thực tiễn xây dựng đất nước, ngay tại quê hương HS
Những quan sát địa lí không chỉ giúp cho HS hiểu những sự vật và hiện tượng muôn nghìn muôn vẻ của tự nhiên, của sản xuất mà chúng còn giúp HS có thể vạch ra được những mối quan hệ giữa các hiện tượng địa lí tự nhiên và kinh tế, hiểu được các quy luật của tự nhiên tự đó hình thành nên thế giới quan khoa học của các em
Quan sát trực tiếp tạo điều kiện cho HS phát triển năng lực tư duy (thông qua
sự hướng dẫn của GV) và rèn luyện thói quen độc lập, tích cực tìm hiểu hiện tượng địa lí diễn ra hàng ngày xung quanh Thí dụ: quan sát để nắm được đặc điểm khí hậu
ở địa phương HS phải sử dụng nhiều giác quan, vận dụng nhiều kĩ năng, kĩ xảo, phải ghi chép những kết quả đó rồi sau đó mới nhận định, phân tích các tài liệu để rút ra kết luận Trong hình thức dạy học ngoài lớp như: tham quan, học tập ở vườn địa lí… phương pháp quan sát là quan trọng hàng đầu để thực hiện nhiệm vụ đề ra
Các hình thức quan sát có thể khác nhau: dài, ngắn và thời điểm tiến hành Có những quan sát kéo dài trong nhiều ngày (quan sát thời tiết, chế độ nước của một con sông…) nhưng cũng có những quan sát chỉ cần tiến hành trong một thời gian ngắn (quan sát một trận mưa…) Lại có những quan sát chỉ có thể thực hiện được khi hiện tượng đang xảy ra (quan sát một hiện tượng nguyệt thực hay nhật thực)
Muốn hướng dẫn HS tiến hành các hoạt động quan sát có kết quả, thì trước hết GV cần làm cho HS hiểu được mục đích và nhiệm vụ của việc quan sát Khi xem xét các đối tượng cần phải tập trung chú ý đến những đặc điểm quan trọng nhất của đối tượng Trên cơ sở đó đối chiều với các đối tượng khác hoặc các biểu tượng
đã có để xác lập những mối quan hệ giữa chúng, tìm ra những tri thức mới
Thực ra kĩ năng quan sát không chỉ được hình thành một lúc Thông thường
HS chưa biết cách quan sát Chính vì vậy vai trò của GV ở đây rất quan trọng GV cần hướng dẫn và rèn luyện cho các em cách quan sát, trình tự tiến hành quan sát Công việc này phụ thuộc khá nhiều vào đối tượng quan sát
Trang 39Khi HS đã sơ bộ nắm được kĩ năng quan sát, GV nên hưỡng dẫn các em nên
tự mình thu thập những tài liệu quan sát, phân tích, tổng hợp để rút ra những kết luận cần thiết
Ngoài ra, GV phải duy trì thường xuyên hứng thú quan sát cho HS Muốn thế, trong qúa trình quan sát, phải luôn luôn khuyến khích, giúp đỡ, động viên gây cho các em hứng thú trong việc tự tìm ra được lời giải đáp cho những vấn đề các em quan tâm, hoặc nếu có thể nên sử dụng các kết quả quan sát của các em vào các bài tập trên lớp hay tổ chức những buổi báo cáo để các em trình bày lại những kết quả quan sát của mình
Nhiệm vụ của GV là cho HS làm quen với việc quan sát thực địa, môi trường hoàn cảnh nơi HS sống hoạt động về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội Đây là loại kĩ năng quan trọng do đối tượng địa lí đa dạng, phân bố rộng rãi, nên HS không chỉ học lý thuyết trên sách vở, mà cần rèn luyện để các em có kĩ năng quan sát thực tế
Từ quan sát sẽ hình thành biểu tượng và khái niệm địa lí Các quy luật địa lí được chứng tỏ rõ ràng hơn Ví dụ: Quan sát bầu trời vào lúc không mưa (giữa buổi trưa) các em có thể nhận thấy các loại mây (mây trắng, mây tím…) hoặc quan sát một đường phố các em có thể rút ra kết luận về quần cư đô thị khác với quần cư nông thôn như thế nào, quá trình đô thị hóa ở một nước kém phát triển như nước ta đang diễn ra theo quy luật đô thị hóa tự phát thế nào? (qua cách kiến trúc, số dân đô thị
và nghề nghiệp của họ không gắn với công nghiệp và dịch vụ…) [29]
2.1.2 Phương pháp quan sát
Quan sát là một trong những phương pháp cụ thể cho việc thu thập thông tin
cá biệt về một đối tượng nhất định Quan sát để thu thập thông tin khác với quan sát thông thường ở chỗ hoạt động quan sát này có tính mục đích, được ghi lại, có kiểm tra tính ổn định và tính hiệu lực của kết quả thu nhận được
Quan sát để thu thập thông tin bao gồm các hình thức quan sát khác nhau:
- Theo v trí củ ngư i quan sát
+ Quan sát tham dự: Người quan sát trực tiếp tham dự vào các hoạt động cùng với những đối tượng được quan sát Hoạt động tham dự để quan sát có nhiều mức độ khác nhau: Tham dự một phần hoặc nhập cuộc hoàn toàn
Trang 40+ Quan sát không tham dự: Người quan sát không tham dự vào các hoạt
động cùng với những đối tượng được quan sát Họ đứng ngoài cuộc và đơn thuần
ghi lại những gì đang diễn ra Do nhìn từ bên ngoài nên người quan sát khó khăn hơn trong việc muốn tìm hiểu những gì xảy ra đằng sau mỗi hành động của đối tượng được quan sát như: nguyên nhân, động cơ…
- Theo cách thức quan sát
+ Quan sát công khai: Đối tượng được quan sát biết rõ mình đang bị quan sát Sự có mặt của người quan sát dù sao vẫn có ảnh hưởng ít hay nhiều đến đối tượng được quan sát Do vậy, quan sát công khai có thể sẽ gây ra sự căng thẳng, mất
tự nhiên cho đối tượng được quan sát Có trường hợp quan sát công khai không đưa đến kết quả đúng như nó vốn có
+ Quan sát bí mật: Đối tượng được quan sát không biết mình đang bị quan sát Vì vậy quan sát bí mật có thể nó tạo ra khả năng nhận thức tốt hơn vì lúc đó các hành động, tình huống xảy ra tự nhiên, ít sai lệch hơn Tuy nhiên, cũng có những ý kiến đặt ra vấn đề vi phạm pháp luật, đạo đức trong một số trường hợp thực hiện quan sát bí mật và quan sát tham dự
Ưu điểm v nhược điểm củ phương pháp qu n sát:
- Ưu điểm
+ Quan sát là con đường ngắn nhất để tiếp cận trực tiếp với hiện thực;
+ Quan sát đem lại hình ảnh cụ thể, xác thực, sinh động;
+ Thông tin từ quan sát đem lại những dấu hiệu cần thiết để tiến tới thẩm định bản chất của sự kiện
- Nhược điểm
+ Hoạt động quan sát chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan Hiện thực cuộc sống qua quan sát thường gắn với sự nhìn nhận, xem xét và trạng thái tâm lí của bản thân người quan sát;
+ Hoạt động quan sát bị giới hạn bởi thời gian, không gian;
+ Quan sát có khi chỉ thấy được biểu hiện bên ngoài chưa chắc đã đúng với bản chất của sự việc;
+ Thông tin quan sát có thể mang tính rời rạc, thiếu tính hệ thống