Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa và tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THẾ HÙNG
QUÂN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUÂNG TRỊ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC
Thừa Thiên Huế, năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Huế, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thế Hùng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Khoa Tâm lý Giáo dục, Phòng Đào tạo sau Đại học Trường Đại học sư Phạm Huế và quý thầy cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, người đã tận tình giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này Tôi xin trân trọng cảm ơn đến các thầy cô giáo là cán bộ quản lý, giáo viên
và các em học sinh của các Trường Trung học phổ thông thành phố Đông Hà đã tận tình cung cấp thông tin và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã cố gắng hết sức mình nhưng do một số điều kiện khách quan, điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, nên luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong được quý thầy cô giáo, các đồng nghiệp và bạn
bè tiếp tục giúp đỡ, góp ý Tôi xin nghiêm túc tiếp thu và lấy đó làm bài học kinh nghiệm
Huế, tháng 10 năm 2016
Tác giả Nguyễn Thế Hùng
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
4 Giả thuyết khoa học 9
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 10
7 Phạm vi nghiên cứu 10
8 Những đóng góp của luận văn 10
9 Cấu trúc nội dung của luận văn 10
NỘI DUNG 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Ở nước ngoài 11
1.1.2 Ở Việt Nam 12
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 15
1.2.1 Quản lý 15
1.2.2 Quản lý giáo dục 17
1.2.3 Quản lý nhà trường 18
1.2.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 19
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 19
1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động GDNGLL ở Trường THPT 20
Trang 51.3.1 Trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân 20
1.3.2 Mục đích của hoạt động GDNGLL 21
1.3.3 Vị trí, vai trò của hoạt động GDNGLL 21
1.3.4 Nhiệm vụ của hoạt động GDNGLL 23
1.3.5 Nguyên tắc tổ chức hoạt động GDNGLL 24
1.3.6 Nội dung chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của trường THPT 26
1.4 Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL 31
1.4.1 Quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT 31
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDNGLL 35
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ 37
2.1 Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của Thành Phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị từ 2015 đến 2020 37
2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 37
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 37
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 38
2.1.3 Tình hình phát triển giáo dục Thành phố Đông Hà 40
2.3 Khái quát về quá trình khảo sát 43
2.3.1 Mục đích khảo sát 43
2.3.2 Nội dung khảo sát 43
2.3.3 Đối tượng khảo sát 43
2.3.4 Phương pháp khảo sát 43
2.4 Kết quả khảo sát 44
2.4.1 Thực trạng hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà 44
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà 54
2.5 Đánh giá chung về thực trạng 63
2.5.1 Điểm mạnh 63
2.5.2 Điểm yếu 63
2.5.3 Cơ hội 63
Trang 62.5.5 Nguyên nhân 64
Tiểu kết chương 2 65
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ 66
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 66
3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính mục tiêu 66
3.1.2 Nguyên tắc khoa học 66
3.1.3 Nguyên tắc khả thi và hiệu quả 66
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 67
3.2.1 Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động GDNGLL cho cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh 67
3.2.2 Tăng cường công tác kế hoạch hóa hoạt động GDNGLL 69
3.2.3 Bồi dưỡng kỹ năng hoạt động GDNGLL và kỹ năng quản lý hoạt động này cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và ban cán sự lớp 72
3.2.4 Đa dạng hóa nội dung và hình thức tổ chức hoạt động GDNGLL phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của học sinh 74
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá, thi đua khen thưởng đối với hoạt động GDNGLL 76
3.2.6 Xây dựng cơ chế phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia vào tổ chức hoạt động GDNGLL 78
3.2.7 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, huy động nguồn vốn hỗ trợ cho hoạt động GDNGLL 82
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 84
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp được đề xuất 84
Tiểu kết chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
GVBM : Giáo viên bộ môn
GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Trang
BẢNG
Bảng 1.1: Chương trình giáo dục HĐNGLL ở trường THPT 27
Bảng 2.1: Số lượng trường lớp 42
Bảng 2.2: Đội ngũ Giáo viên, cán bộ quản lý (CBQL) 42
Bảng 2.3: Kết quả chất lượng hai mặt của Học sinh (%) 42
Bảng 2.4: Nhận thức của học sinh đối với hoạt động GDNGLL 46
Bảng 2.5: Kết quả hoạt động lao động - hướng nghiệp 47
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động xã hội - chính trị 47
Bảng 2.7: Kết quả hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao 49
Bảng 2.8: Kết quả hoạt động vui chơi, tham quan du lịch 49
Bảng 2.9 Kết quả nhận thức về hình thức và nội dung của hoạt động GDNGLL 50
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát về CSVC, trang thiết bị, phương tiện tổ chức HĐ 52
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát về việc huy động kinh phí tổ chức hoạt động GDNGLL 52
Bảng 2.12 Kết quả khảo sát quản lý cơ sở vật chất, kinh phí tổ chức hoạt động GDNGLL 53
Bảng 2.13: Thực trạng sự tham gia của các lực lượng GDNGLL (%) 54
Bảng 2.14 Ý kiến của CBQL về thực hiện kế hoạch tổ chức hoạt động GDNGLL 55
Bảng 2.15 Đánh giá của CBQL, giáo viên về công tác tổ chức thực hiện kế hoạch GDNGLL 57
Bảng 2.16 Đánh giá của CBQL, giáo viên, Đoàn TN trong công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL 59
Bảng 2.17: Đánh giá các biện pháp bồi dưỡng về hoạt động GDNGLL 60
Bảng 2.18: Đánh giá về công tác tuyên truyền với phụ huynh học sinh 61
Bảng 2.19: Đánh giá của CBQL, cán bộ Đoàn về công tác hỗ trợ hoạt động GDNGLL 61
Bảng 2.20 Nhận định của CBQL, giáo viên và học sinh về kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL 62
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Thể hiện ý kiến của cán bộ quản lý đối với hoạt động GDNGLL 44
Biểu đồ 2.2: Thể hiện ý kiến của Giáo viên đối với hoạt động GDNGLL 45
Biểu đồ 2.3: Thể hiện nhận thức của học sinh đối với hoạt động GDNGLL 46
Trang 9SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Khái quát các yếu tố của quản lý 16
Sơ đồ 1.2 Khái quát quá trình quản lý giáo dục 18
Sơ đồ 1.3: Mối liên hệ giữa hai hoạt động giáo dục trong việc hình thành nhân cách học sinh 21
Sơ đồ 1.4: Kế hoạch hoạt động GDNGLL ở trường THPT 23
Sơ đồ 1.5: Sơ đồ phân chia hoạt động theo chủ đề, chủ điểm năm học 31
Trang 10kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh
Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành thái độ đúng đắn, các hành
vi và thói quen tốt, các kỹ năng hoạt động và ứng xử trong các mối quan hệ xã hội
về chính trị, đạo đức, pháp luật , còn phải giúp các em bổ sung và hoàn thiện những tri thức đã học trên lớp Vậy, quá trình giáo dục không những được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục trên lớp mà còn thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL)
Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa và tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, có quan hệ chặt chẽ với hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường THPT, nhằm tạo môi trường cho người học, gắn lý thuyết với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với hành động và cơ hội trải nghiệm của họ, góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triển kỹ năng sống, khả năng tự giáo dục, tự rèn luyện cho học sinh Hoạt động GDNGLL giúp nhà trường và giáo viên phát triển các chương trình giáo dục, xây dựng văn hóa nhà trường
Hoạt động GDNGLL còn là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội Là điều kiện và phương tiện để huy động sức mạnh cộng đồng cùng tham gia vào quá trình phát triển giáo dục của nhà trường
Trang 11Hoạt động GDNGLL với nội dung, hình thức đa dạng và phong phú sẽ là
phương thức để thực hiện nguyên lý giáo dục của Đảng: “Học đi đôi với hành, giáo
dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”, góp phần hướng
nghiệp và phân luồng học sinh trung học
Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII), nguyên Tổng
Bí thư Đỗ Mười đã nêu: Giáo dục đào tạo phải theo hướng cân đối giữa “dạy
người”, dạy chữ, dạy nghề, trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất như Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn có chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã
hội chủ nghĩa”
Hoạt động GDNGLL còn là thước đo sự phối hợp tổ chức các hoạt động của
các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm góp phần “…tạo chuyển
biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả…” (Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng Sản
Việt Nam lần thứ XII)
Thành phố Đông Hà nằm ở trung tâm tỉnh Quảng Trị, mật độ dân số cao, kinh tế chưa phát triển mạnh, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, ngành giáo dục cũng nhiều khó khăn Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau về kinh tế, chính trị, về
cơ sở vật chất, về phương tiện dạy học, về nhận thức mà một số trường đã xem nhẹ công tác giáo dục toàn diện, trong đó có công tác GDNGLL, chỉ quan tâm đến giáo dục văn hóa, đạo đức thuần túy còn những vấn đề khác chỉ làm cho phải phép,
dễ thì làm khó thì bỏ
Mặt khác do các điều kiện còn hạn chế, nên trong các trường THPT hiện nay chủ yếu vẫn chỉ cung cấp tri thức để hình thành nhận thức, thái độ, chưa coi trọng đúng mức và chưa có đủ điều kiện rèn luyện kỹ năng, trau dồi những cảm xúc, tình cảm, phẩm chất đạo đức, thẩm mỹ Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đánh giá:
“Ngành giáo dục Việt Nam có phần lệch về dạy chữ, ít dạy nghề, không chú trọng
dạy người” [5, tr.13] Mà dạy người mới thật cơ bản cho tương lai của dân tộc
Trang 12Chính vì không coi trọng “dạy người” nên một bộ phận không nhỏ học sinh, thanh
niên thờ ơ với thời cuộc, chạy theo bằng cấp, không ít học sinh đang giảm sút về đạo đức, nhân cách, bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng và các tệ nạn xã hội, đặc biệt
là tệ nạn ma túy
Thực tiễn trong nhiều năm qua, ở các trường có chất lượng giáo dục tốt đều
là những đơn vị thực hiện tốt giáo dục toàn diện, không chỉ chăm lo hoạt động dạy - học, lao động hướng nghiệp và dạy nghề mà còn rất quan tâm tổ chức quản lý có hiệu quả hoạt động GDNGLL Bên cạnh đó, nhiều nhà trường tổ chức hoạt động GDNGLL với hình thức và nội dung nghèo nàn, không thu hút được được sự tham gia của đông đảo học sinh, không tạo được sân chơi lành mạnh đối với học sinh, hiệu quả giáo dục thấp
Được trang bị lý luận qua lớp cao học quản lý giáo dục, đồng thời với thực tế làm công tác quản lý, bản thân tôi rất trăn trở trước thực trạng tổ chức quản lý Hoạt động GDNGLL hiện nay ở các trường THPT Điều đó đã thúc đẩy tôi chọn việc
nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường trung học
phổ thông Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng nhằm xác định những biện pháp Hoạt động
GDNGLL, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý có cơ sở khoa học và có tính khả thi thì
sẽ nâng cao chất lượng hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL và công tác Quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT
Trang 135.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà
6 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này tác giả sử dụng các nhóm phương pháp:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa và sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại tài liệu và hệ thống hóa lý thuyết để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia, phương pháp tổng kết kinh nghiệm để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài
6.3 Phương pháp hỗ trợ: sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu
7 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát công tác quản lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị năm học 2015-2016
8 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quản
lý hoạt động GDNGLL ở các trường THPT Thành phố Đông Hà, từ đó đề xuất được các biện pháp quản lý hiệu quả công tác này ở các trường THPT tỉnh Quảng Trị
9 Cấu trúc nội dung của luận văn
Luận văn được cấu trúc gồm 3 phần
Trang 14NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan điểm về con người phát triển toàn diện và sự phát triển toàn diện nhân cách là một tất yếu khách quan của GD và là một mục đích cao đẹp của xã hội tiến
bộ Đó là sự phát triển con người về mọi mặt, phát triển các nhu cầu và năng lực, phát triển hài hòa giữa thể chất và tâm hồn, phát triển hết mọi khả năng, năng khiếu, phẩm chất, cá tính của con người GD nói chung, chất lượng GD nói riêng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.1 Ở nước ngoài
Hoạt động GDNGLL là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục ở hầu hết các nước trên thế giới Hoạt động này được chú trọng và nghiên cứu để trở thành một công cụ hữu ích giúp cho học sinh, sinh viên đạt kết quả cao hơn và phát triển toàn diện hơn về nhân cách Hoạt động GDNGLL giúp học sinh, sinh viên gắn kiến thức trong nhà trường vào cuộc sống
J A Kômenxki (1592 - 1670) được coi là ông tổ của nền sư phạm cận đại
đặc biệt quan tâm kết hợp việc học trên lớp với các hoạt động ngoài lớp Ông khẳng định: Học tập không phải là lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà lĩnh hội kiến thức
từ mặt trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ [13, tr.131]
A S Macarenco (1888 - 1939) bàn về tầm quan trọng của công tác giáo dục
học sinh ngoài giờ học: phương pháp giáo dục không thể hạn chế trong các vấn đề giảng dạy, lại càng không thể để cho quá trình giáo dục chỉ thực hiện trên lớp học, mà đáng ra phải là trên mỗi mét vuông của đất nước chúng ta…Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được quan niệm rằng công tác giáo dục chỉ được tiến hành trong lớp [11, tr.56] Trong thực tiễn, Macarenco đã tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ cho học sinh ở trại M.Gorki và ở Công xã F.E.Dzerjinski như: tổ đồng ca, tổ văn học Nga, tổ khiêu vũ, xưởng tự do, tổ khoa học thực nghiệm tự nhiên,
tổ vật lý, hóa học, tổ thể dục thể thao…Việc phân các em vào các tổ chức ngoại khóa,
Trang 15câu lạc bộ được tổ chức trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, các em có thể xin ra khỏi tổ bất cứ lúc nào, nhưng các tổ phải kỷ luật trong quá trình hoạt động
Các nghiên cứu ở Liên Xô vào những năm 60 - 70 về lý luận giáo dục nói
chung và hoạt động GDNGLL nói riêng được đẩy mạnh I.Xmarienco trong tác
phẩm “Tổ chức và lãnh đạo công tác giáo dục ở trường phổ thông” đã trình bày sự
thống nhất của công tác giáo dục trong và ngoài giờ học, vị trí của người Hiệu trưởng trong việc lãnh đạo hoạt động giáo dục và các tổ chức Đội thiếu niên và Đoàn thanh niên trong nhà trường
- Rabơle (1494-1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tư tưởng giáo dục thời kì Phục hưng Ông đòi hỏi việc giáo dục
phải bao hàm các nội dung: “trí dục, đức dục, thể chất và thẩm mỹ” Ông đã có
sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục như ngoài việc học ở lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xưởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị
sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày
1.1.2 Ở Việt Nam
Nghiên cứu về hoạt động GDNGLL đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, của các nhà giáo trong cả nước từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây Chúng ta có thể chia làm hai giai đoạn sau:
a Giai đoạn trước cuộc cải cách giáo dục lần thứ 3 (từ 1979 trở về trước)
Điểm nổi bật ở giai đoạn này là khái niệm “hoạt động GDNGLL” chưa được
định hình và chưa có tên gọi như ngày nay Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong thư gửi học sinh nhân ngày khai
trường tháng 9 năm 1945, Người viết: “ nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở
trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”
Trong “Thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc”, Chủ tịch Hồ
Chí Minh lại nhắc tới một khía cạnh khác của nội hàm khái niệm khi Người viết:
“Trong lúc học, cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học” [17, tr.101]
Điều lệ nhà trường phổ thông tháng 6/1976, tại điều 7 có nêu:
“Việc giảng dạy và giáo dục được tiến hành thông qua các hoạt động giảng
Trang 16dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể Các mặt hoạt động đó phải cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất, trong đó phải coi trọng hình thức giảng dạy trên lớp”
Khoản 3, điều 7 viết về hoạt động tập thể như sau: “Hoạt động tập thể của
học sinh do nhà trường phối hợp với Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức, bao gồm các hoạt đọng văn hóa, chính trị, xã hội của Đoàn và Đội và các hoạt động ngoại khóa về khoa học, kĩ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao của nhà trường và của địa phương”
Hoạt động tập thể góp phần giáo dục ý thức chính trị, khả năng công tác độc lập của học sinh, góp phần củng cố, mở rộng kiến thức và phát triển mọi năng khiếu của họ theo chương trình và kế hoạch thống nhất
Như vậy, hoạt động tập thể được xác định là một trong những hoạt động giáo dục cơ bản thực hiện trong trường phổ thông nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ
Điều lệ trường phổ thông tháng 4/1979, điều 10 có viết: “Công tác giáo dục
ở trường phổ thông tiến hành thống nhất theo đúng nội dung và trình tự quy định trong chương trình, kế hoạch đào tạo và sách giáo khoa do Bộ giáo dục ban hành
và được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục: học tập văn hóa, lao động sản xuất, thực nghiệm khoa học và các hoạt động xã hội”
Khoản 3 điều 10 xã định: “Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho
học sinh tham gia với mức độ thích hợp, là nhằm củng cố những tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và rèn luyện học sinh về ý thức
và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng Ngoài các hoạt động giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm những hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn nghệ để công tác giáo dục được thêm phong phú”
Như vậy so với khoản 3, điều 7 của điều lệ năm 1976 thì khoản 3 điều 10 của điều lệ năm 1979 có nội dung thiên về giáo dục tình cảm, tư tưởng chính trị và đạo đức cách mạng xem nhẹ các hoạt động ngoại khóa
b Giai đoạn từ cuộc cải cách giáo dục lần 3 tới nay:
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, để đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục,
Trang 17đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, có thể kể các công
trình nghiên cứu sau: Viện khoa học giáo dục với đề tài nghiên cứu về “Các hoạt
động ngoài giờ lên lớp và sự hình thành nhân cách của học sinh” Đề tài được triển
khai và thực nghiệm từ năm 1979 - 1980 tại một số trường phổ thông ở Hà Nội, kết
quả thực nghiệm đã được công bố trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục và tạp chí Thông tin khoa học giáo dục của một số nhà nghiên cứu như: Đặng Thúy Anh, Phạm Hoàng Gia, Lê Trung Tấn, Phạm Lăng
Một số nghiên cứu lý luận về hoạt động GDNGLL trong những năm 1985 -
1987 của các tác giả như: Nguyễn Lê Đắc, Hoàng Mạnh Phú, Lê Trung Trấn, Nguyễn Dục Quang và một số nghiên cứu thực nghiệm cải tiến nội dung, phương
pháp tổ chức nhằm nâng cao chất lượng hoạt động GDNGLL năm 1989 - 1990 do
nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện khoa học giáo dục thực hiện như: Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỉ, Hà Nhật Thăng
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu và kinh nghiệm tổ chức hoạt động GDNGLL, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm, đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động GDNGLL Tác giả Phan
Vĩnh Thái (2008) với đề tài “Các biện pháp quản lý thực hiện chương trình Hoạt
động GDNGLL ở Trường THPT Đại Từ - Thái Nguyên”, đã nghiên cứu thực trạng
quản lý hoạt động GDNGLL ở một số trường Trung Học Phổ Thông tỉnh Thái Nguyên và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động này ở các trường Trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên Tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
(2010) với luận văn: “Biện pháp quản lý Hoạt động GDNGLL ở Trường THPT
Ngô Thì Nhậm, thành phố Hà Nội” đã làm rõ lịch sử nghiên cứu đề tài ở các nước
trên thế giới và Việt Nam, phân tích cơ sở lý luận, xác định nội dung, thành lập ban chỉ đạo đồng thời đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động
GDNGLL Tác giả Phạm Thị Lệ Nhân (2015) với luận văn “Quản lý Hoạt động
GDNGLL theo hướng xã hội hóa ở Trường THPT thành phố Hồ Chí Minh" đã
nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về Hoạt động GDNGLL theo hướng
xã hội hóa và quản lý hoạt động GDNGLL theo hướng xã hội hóa Luận văn đã đúc kết nhiều kinh nghiệm hữu ích về việc phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong công tác quản lý hoạt động GDNGLL
Trang 18Một số cuốn sách viết về hoạt động GDNGLL, đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Nhật Thăng, Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Đăng Thìn, Nguyễn Thị Kỷ… năm 2003, hai tác giả: Hoàng Minh Thao, Hà Thế Truyền (Trường Cán bộ quản lí giáo dục và Đào tạo
Trung ương) đã đề cập đến hoạt động GDNGLL trong cuốn “Quản lí giáo dục theo
định hướng CNH-HĐH”, nhóm tác giả Phùng Đình Mẫn (Chủ biên), Trần Văn
Hiếu, Thiều Thị Hường, “Tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường
trung học phổ thông”
Qua hệ thống các nghiên cứu nói trên, cho thấy các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu cơ bản về hoạt động GDNGLL, nghiên cứu thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm xây dựng quy trình tổ chức và đổi mới nội dung phương pháp hoạt động GDNGLL Các nghiên cứu về quản lí hoạt động GDNGLL chưa nhiều Qua tìm hiểu tại địa bàn Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về quản lí hoạt động GDNGLL Chính vì vậy, trong điều kiện công tác của bản thân, tôi thấy cần có sự nghiên cứu cơ bản về thực trạng quản lý hoạt động GDNGLL ở một số trường THPT thành phố Đông Hà, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL mang lại hiệu quả cao nhất
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động
Tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận, khái niệm “Quản lý” được
định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt (1998): Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định
Frederich Winslow Taylor (1856 - 1915) đã định nghĩa: Quản lý là biết được
chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn
thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất
Henry Fayol (1845 - 1925), cha đẻ của thuyết quản lý hành chính cho rằng: Quản
lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra
Đặng Quốc Bảo cho rằng: Hoạt động quản lý là hoạt động bao gồm hai quá trình “Quản” và “Lý” tích hợp vào nhau, trong đó, “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn
để duy trì tổ chức ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi
Trang 19mới, đưa hệ vào thế phát triển [1, tr.31] Như vậy, quản lí chính là hoạt động tạo ra
sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đến một trạng thái mới có chất lượng cao hơn
Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc khi nhấn mạnh đến chức năng của
hoạt động quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng
cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.” [3, tr.12]
Nguyễn Bá Sơn (2000) định nghĩa: Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục
vụ lợi ích của con người
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, nhưng có thể hiểu một
cách khái quát, đó là: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu đề ra”
Quản lý là một khoa học, vận dụng nhiều tri thức của nhiều ngành khoa học
khác nhau và còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo của
người quản lý mới đạt hiệu quả cao Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một
hệ thống, gồm các thành phần: chủ thể quản lý, khách thể quản lý, cơ chế quản lý, mục tiêu chung Trong đó:
Chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý): đề ra mục tiêu dẫn dắt, điều khiển các đối tượng được quản lý để đạt tới mục tiêu đã định sẵn;
Khách thể quản lý (đối tượng quản lý): con người được tổ chức thành một tập thể, một xã hội; thế giới vô sinh (các trang thiết bị, kỹ thuật); thế giới hữu sinh (vật nuôi, cây trồng );
Sơ đồ 1.1 Khái quát các yếu tố của quản lý
Chủ
thể
quản lý
Công cụ quản lý
Phương pháp quản lý
Đối tượng
bị quản lý
Mục tiêu quản
lý
Khách thể quản lý
Trang 20Cơ chế quản lý: những phương thức mà nhờ nó mà hoạt động quản lý được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lý với khách thể quản lý được vận hành điều chỉnh; Mục tiêu chung: cho cả chủ thể quản lý và đối tượng quản lý là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hoạt động tất yếu, tồn tại trong xã hội từ khi có loài người và ngày càng được khẳng định là một trong những nhân tố của sự phát triển Giáo dục là một hiện tượng xã hội, nên hoạt động giáo dục cũng cần có sự quản lý
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy
và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [6, tr.61]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo
là sự quản lý của các cơ quan quyền lực nhà nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ trung ương đến cơ sở đối với hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách cho công dân” [28, tr 64]
Theo tác giả Trần Kiểm, xét ở góc độ cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được
hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội”
[12, tr.13]
Ở cấp vi mô, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ
thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường” [12, tr.14]
Như vậy, quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp với
Trang 21các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội
Sơ đồ 1.2 Khái quát quá trình quản lý giáo dục 1.2.3 Quản lý nhà trường
Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường, vì nhà trường là
cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con
người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một
sự liên kết chặt chẽ không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lý của chính bản thân giáo viên và học sinh Trong nhà trường giáo viên và học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể quản lý Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà trường trưởng thành hệ tự quản lý” [12, tr.20]
Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào
tạo trong nhà trường
Có nhiều cấp quản lý trường học: Cấp cao nhất là Bộ Giáo dục và Đào tạo, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là Sở Giáo dục và Đào tạo ở tỉnh và Phòng Giáo dục ở các huyện Cấp quản lý quan trọng trực tiếp của hoạt động giáo dục là cơ quan quản lý trong các nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đang có, tiến lên một trạng thái phát triển mới Bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động tự chủ, biết sống và phấn đấu vì mục đích của bản thân và của xã hội
Chủ thể
quản lý
Đối tượng quản lý
Mục tiêu quản lý Khách thể quản lý
Trang 221.2.4 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Theo T.A.Ilina: Công tác giáo dục học sinh ngoài giờ học thường được gọi là công tác giáo dục ngoại khóa Công tác này, bổ sung và làm sâu thêm công tác giáo dục nội khóa, trước tiên là phương tiện để phát hiện đầy đủ tài năng và năng lực trẻ
em, thức tỉnh thiên hướng và hứng thú của học sinh đối với một hoạt động nào đó,
đó là một hình thức tổ chức giải trí của học sinh và là cơ sở để tổ chức việc học tập
về hành vi đạo đức, để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này [27, tr.52]
Tác giả Đặng Vũ Hoạt định nghĩa: Hoạt động GDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của học sinh về khoa học - kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mỹ, thể dục thể
thao, vui chơi giải trí… để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách [7, tr.12]
Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng: Hoạt động GDNGLL là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa ở trên lớp, là sự tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, là con đường gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn, nhận thức với hành động…Hoạt động này được tiến hành nối
tiếp hoặc xen kẽ hoạt động dạy - học trong phạm vi nhà trường hoặc xã hội, nó diễn
ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc Trong quá trình tổ chức hoạt động
có thể có sự tham gia, phối hợp giữa các lực lượng giáo dục khác nhau nhưng nhà trường vẫn giữ vai trò chủ đạo Đồng thời hoạt động GDNGLL là điều kiện thuận lợi
để học sinh phát huy vai trò chủ thể của mình trong hoạt động, nâng cao được tính tích cực hoạt động, qua đó rèn luyện những nét nhân cách của con người phát triển
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lý hoạt động giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý trong hoạt động giáo dục bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm đạt tới mục đích của hoạt động giáo dục, bằng cách vận dụng các chức năng quản lý hoạt động đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
Quá trình tổng thể gồm hai bộ phận có liên quan biện chứng với nhau là quá trình dạy học trên lớp và quá trình giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lý hoạt động GDNGLL là một trong những hình thức quản lý giáo dục,
Trang 23một hoạt động giáo dục Đó là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, được lựa chọn về nội dung, phương pháp, phương tiện và các hình thức thực hiện
Như vậy, Quản lý hoạt động GDNGLL là quá trình tác động liên tục có kế hoạch, có tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong hoạt động GDNGLL bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc, phương pháp, biện pháp cụ thể nhằm phát huy tính độc lập, tích cực, chủ động, sáng tạo để thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng hoàn thiện kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và nhân cách, đạo đức của học sinh
1.3 Một số vấn đề lý luận về hoạt động GDNGLL ở Trường THPT
1.3.1 Trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân
- Vị trí trường THPT: Trường THPT là cơ sở giáo dục của bậc trung học, bậc học nối tiếp bậc tiểu học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm hoàn chỉnh học vấn phổ thông Trường trung học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng
- Nhiệm vụ và quyền hạn của trường THPT:
1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục
2 Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật
3 Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
4 Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công
5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
6 Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
7 Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
8 Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật Như vậy, nhiệm vụ thứ nhất của trường của trung học đã xác định: Trường trung học có nhiệm vụ tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác; trong đó, các hoạt động giáo dục khác được tổ chức chủ yếu dưới hình thức hoạt động GDNGLL
Trang 24- Rèn luyện các kĩ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi THPT như: kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa, kỹ năng tổ chức quản lí và tham gia các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể của họat động, kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập rèn luyện, củng cố phát triển các hành vi, thói quen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội;
- Bồi dưỡng thái độ tự giác tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động
xã hội, hình thành tình cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương, đất nước, có thái độ đúng đắn đối với các hiện tượng tự nhiên và xã hội [7]
1.3.3 Vị trí, vai trò của hoạt động GDNGLL
- Hoạt động GDNGLL là một bộ phận gắn bó hữu cơ, thống nhất và toàn diện của quá trình sư phạm ở nhà trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng; là điều kiện thuận lợi để HS phát huy vai trò chủ thể của mình trong hoạt động, nâng cao được tính tích cực hoạt động, qua đó rèn luyện những nét nhân cách của con người mới phát triển toàn diện
Sơ đồ 1.3: Mối liên hệ giữa hai hoạt động giáo dục trong việc hình thành nhân cách học sinh
Quá trình sư phạm trong nhà trường
Hoạt động dạy và học trên lớp Hoạt động GDNGLL
Nhân cách học sinh phát triển
toàn diện
Trang 25Hoạt động GDNGLL là điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai trò chủ thể, tính tích cực, chủ động của các em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện Hoạt động GDNGLL vừa củng cố, mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển các kỹ năng sống cơ bản của HS theo mục tiêu GD ở THPT Mặt khác, hoạt động GDNGLL thu hút và phát huy tiềm năng của các lực lượng GD, nhằm nâng cao hiệu quả GD toàn diện của nhà trường
Tổ chức có hiệu quả hoạt động GDNGLL ở trường THPT sẽ gắn liền nhà
trường với đời sống xã hội, góp phần phát huy vai trò của GD trong sự nghiệp CNH
- HĐH đất nước
Vì vậy, việc nhà trường tổ chức các hoạt động GDNGLL với những hình thức đa dạng do HS tự quản lý và điều khiển có vị trí rất quan trọng đối với HS lứa tuổi này Đây là những hoạt động không thể thiếu, có tác dụng thiết thực đối với việc hình thành và phát triển nhân cách các em
Dưới góc độ chỉ đạo chung, vị trí của hoạt động GDNGLL được khẳng định
tại điều 26 điều lệ trường THPT, ban hành theo Quyết định số: 07/2007/QĐ -
BGD-ĐT, ngày 02/4/2007 của Bộ trưởng Bộ GD - ĐT: “Hoạt động GDNGLL bao gồm
các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; ….phù hợp với đặc điểm sinh
lý lứa tuổi học sinh” [5, tr.15]
Là một trong hai hoạt động GD trong nhà trường: hoạt động dạy - học trên lớp và Hoạt động GDNGLL; từ đó có sơ đồ kế hoạch hoạt động GDNGLL (gồm phần bắt buộc theo chủ điểm 12 tháng và phần tự chọn) ở trường THPT như sau
Trang 26Sơ đồ 1.4: Kế hoạch hoạt động GDNGLL ở trường THPT
1.3.4 Nhiệm vụ của hoạt động GDNGLL
Ngoài giờ lên lớp giúp học sinh tiếp cận với lý tưởng cách mạng thông qua hoạt động, có định hướng chính trị rõ ràng, hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh của dân tộc, có niềm tự hào về truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đồng thời tăng thêm hiểu biết về văn hóa của các nước trên thế giới thông qua các hoạt động giao lưu, hữu nghị, thông tin …
+ Về thái độ, tình cảm:
Nhiệm vụ của ngoài giờ lên lớp không những hình thành ở học sinh những niềm tin, thái độ, tình cảm đúng mà còn giúp các em bày tỏ thái độ, tình cảm của
Kế hoạch trường, Đoàn thanh niên
Kế hoạch ngoại
khóa chuyên môn
Kế hoạch HĐGDNGLL bắt buộc (theo chủ điểm)
Kế hoạch HĐGDNGLL tháng, tuần
Kế hoạch HĐGDNGLL không bắt buộc (tự chọn)
HĐXH
Chương trình Sân chơi mới
Nguyện vọng
HS Các yếu
tố khác
Trang 27mình qua các hoạt động và mối quan hệ khác nhau, qua đó tình cảm của các em được củng cố khẳng định và trở nên bền vững Hình thành cho học sinh niềm tin vào chế độ, tương lai của đất nước, từ đó có lòng tự hào dân tộc, nung nấu ước mơ tiếp nối truyền thống xây dựng quê hương giàu đẹp, hình thành cho học sinh những tình cảm đạo đức trong sáng, ý thức trách nhiệm đối với gia đình, bạn bè, thầy cô,
tình yêu quê hương đất nước, tình đoàn kết hữu nghị với các bạn thanh - thiếu niên
quốc tế, các dân tộc trên thế giới Giáo dục nếp sống lành mạnh, giản dị, hành vi văn minh trong giao tiếp, tinh thần thái độ học tập đúng đắn, ý thức chấp hành kỷ luật; xây dựng cho các em lối sống phù hợp với đạo đức, pháp luật, truyền thống tốt đẹp của địa phương và đất nước, bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực, năng động sẵn sàng tham gia hoạt động xã hội, hoạt động tập thể, vì lợi ích chung, vì sự tiến bộ
của bản thân, thấm nhuần lẽ sống cao đẹp: “Mọi người vì mỗi người - mỗi người vì
mọi người” Thông qua hoạt động tập thể, học sinh được rèn luyện trực tiếp trong
cuộc sống xã hội, vững vàng hơn trong ý thức xây dựng tập thể, trong kỹ năng tự quản, kỹ năng giao tiếp, tự giáo dục, tự rèn luyện, cũng như quen dần với những công việc tổ chức và quản lí tập thể, quản lí xã hội
+ Về rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, hành vi, thói quen:
Hoạt động GDNGLL rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như: Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng ứng xử có văn hóa; kỹ năng tự quản; tổ chức điều khiển và thực hiện một hoạt động tập thể có hiệu quả, kỹ năng nhận xét,
kỹ năng đánh giá kết quả hoạt động; kỹ năng sinh hoạt ngoài trời; Rèn luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, hình thành và phát triển những năng lực thiên hướng của bản thân, những thói quen tốt trong học tập lao động và các hoạt động khác Bên cạnh đó, ngoài giờ lên lớp còn giúp các em rèn luyện kỹ năng giáo dục và tự giáo dục, kỹ năng hòa nhập để thực hiện các nhiệm vụ được giao
Ba nhiệm vụ trên đây của hoạt động GDNGLL có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau, bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy lẫn nhau
1.3.5 Nguyên tắc tổ chức hoạt động GDNGLL
+ Nguyên tắc về tính mục đích và tính kế hoạch:
Hoạt động GDNGLL phải được lựa chọn từ yêu cầu kế hoạch năm học trên
cơ sở thực hiện mục tiêu giáo dục của ngành trong từng giai đoạn, vì thế cần phải
Trang 28mang hai mục đích song song: phục vụ xã hội, xây dựng tập thể và tự giáo dục
Hoạt động GDNGLL góp phần hình thành nhân cách học sinh Vì vậy, thầy cô giáo trong nhà trường và các lực lượng giáo dục khác phải nhận thức đầy đủ về vị trí, nhiệm vụ của hoạt động GDNGLL, tích cực chỉ đạo và hỗ trợ cho hoạt động này đạt được mục đích giáo dục mong muốn Ngoài yêu cầu có tính mục đích giáo dục rõ ràng, muốn có hiệu quả thiết thực, hoạt động này phải đảm bảo tính kế hoạch
Vì vậy, phải cụ thể hóa mục tiêu chung thành mục tiêu bộ phận, định ra mức
độ yêu cầu đối với từng loại hình hoạt động và những mẫu thiết kế tương ứng, đề ra những biện pháp phù hợp, vạch rõ dự án tiến hành công việc
+ Nguyên tắc tính tự nguyện, tự giác:
Nếu hoạt động trên lớp là bắt buộc thì hoạt động GDNGLL là tự nguyện, tự giác Học sinh tự chọn tham gia các hoạt động theo khả năng, hứng thú và điều kiện sức khỏe của mình, chỉ có như vậy mới tạo ra được động cơ hoạt động, phát huy thiên hướng của người học sinh
Muốn thế nhà trường phải tổ chức nhiều môn, nhiều nhóm, nhiều câu lạc bộ khác nhau, thường xuyên tổ chức nhiều hình thức hoạt động GDNGLL hấp dẫn để thu hút các em, đồng thời phải bảo đảm tính tập thể vì hoạt động GDNGLL được tiến hành tập thể, vì lợi ích tập thể, lợi ích xã hội mà phục vụ Trong hoạt động này, mỗi học sinh là thành viên của một đoàn thể hay tập thể, hoạt động với tính cách đại diện cho một lực lượng hoặc một tổ chức xã hội nhất định
+ Nguyên tắc tính đến các đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm của học sinh:
Nguyên tắc này đòi hỏi nội dung và hình thức hoạt động GDNGLL phải vừa sức với từng lứa tuổi, từng khối lớp, nhà trường, giáo viên phải xác định các loại hình hoạt động và các hình thức công việc sao cho chúng phù hợp với khả năng lứa tuổi và hứng thú cá nhân của học sinh, có sức hấp dẫn, thỏa mãn nhu cầu, kích thích tưởng tượng, có tác dụng nuôi dưỡng lý tưởng ước mơ, tránh căng thẳng nghèo nàn, đơn điệu Phải gây được hứng thú, mang lại niềm vui cho học sinh Cần luôn đổi mới về tính chất, nội dung và hình thức
+ Nguyên tắc kết hợp giữa sự lãnh đạo sư phạm với tính độc lập, tự quản của học sinh:
Nguyên tắc này đòi hỏi phát huy tính tích cực độc lập, sáng tạo của học sinh
Trang 29Hoạt động GDNGLL ở trường THPT với lực lượng nòng cốt là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần phải được tạo điều kiện để phát huy tính chủ động, năng lực sáng tạo, khả năng tự quản
Trong mọi hoạt động, học sinh phải giữ vai trò chủ thể, tự điều khiển, tự giải quyết các tình huống nảy sinh Giáo viên là người giữ vai trò cố vấn, phải tin tưởng
và tôn trọng học sinh, tạo được mối quan hệ hợp tác, cộng đồng trách nhiệm giữa thầy và trò
+ Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả:
Khi tiến hành bất cứ hoạt động nào cũng phải tính đến hiệu quả, trong đó hiệu quả giáo dục phải được đưa lên hàng đầu Nếu tổ chức hoạt động GDNGLL có
sự kết hợp hiệu quả giáo dục với các hiệu quả khác như kinh tế, chính trị, xã hội … thì phải lấy hiệu quả giáo dục để điều chỉnh các hiệu quả khác
1.3.6 Nội dung chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của trường THPT
Hoạt động GDNGLL ở trường THPT rất đa dạng và phong phú, tập trung vào
6 nội dung sau: Lý tưởng sống của thanh niên trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước; Tình bạn, tình yêu và gia đình; Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng; bảo vệ di sản văn hóa; Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp; Những vấn đề có liên quan đến nội dung các môn học, các lĩnh vực giáo dục như đạo đức, thẩm mỹ, lao động, thể chất, pháp luật, ; những vấn đề có tính toàn cầu như bảo vệ môi trường, hạn chế sự bùng nổ dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên, phòng ngừa và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, các bệnh tật hiểm nghèo, thực hiện công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em
Chương trình hoạt động GDNGLL ở trường THPT: được cụ thể hóa thành 10 chủ đề hoạt động trong 12 tháng theo nguyên tắc đồng tâm được giáo viên và học sinh tiến hành từ lớp 10 đến lớp 11, 12, nhưng nội dung và hình thức hoạt động ở mức độ nâng dần theo từng khối lớp Ngoài các chủ đề hoạt động hằng tháng, nhà trường còn lồng ghép, tích hợp một số nội dung giáo dục khác và một phần nội dung
có liên quan đến môn GDCD góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh như sau:
Trang 30Bảng 1.1: Chương trình giáo dục HĐNGLL ở trường THPT
Tháng Chủ đề hoạt động
(Quy định) Nội dung cần tích hợp
Chủ đề lồng ghép cho các khối lớp
- Hoạt động giáo dục trật tự An toàn giao thông
- Hoạt động chăm sóc SKSSVTN
- Hoạt động sức khỏe và phồng chống HIV/AIDS
- Hoạt động phòng chống ma túy và các tệ nạn xã hội
- Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường
- Hoạt động phục
vụ nhiệm vụ
CT-XH của địa phương và đất nước
10
Thanh niên với tình yêu,
tình bạn và gia đình
Giáo dục QTE Giáo dục SKSSVTN Luật hôn nhân và gia đình
1
Thanh niên với việc giữ
gìn bản sắc văn hóa dân
tộc
Giáo dục SKSSVTN Luật Di sản văn hóa Luật Môi trường
2 Thanh niên với lý tưởng
4 Thanh niên với hòa bình,
Trang 31được định hướng trong sách, tùy vào điều kiện cụ thể của nhà trường mà thực hiện sao cho đảm bảo đúng, đủ nội dung chương trình mà vẫn linh hoạt, vẫn sắp xếp thời gian một cách hợp lý nhất
- Các loại hình tổ chức hoạt động GDNGLL ở trường THPT
+ Hoạt động lao động - hướng nghiệp: Học sinh vệ sinh trường lớp, trang trí
lớp, chăm sóc cây trồng, bảo vệ tài sản công… thể hiện qua các phong trào
“Trường xanh, lớp đẹp”, “Không gian xanh”; Mỗi học sinh làm một số công việc
nhà vừa sức để giúp đỡ bố mẹ như: tự giặt ủi quần áo, dọn dẹp nhà cửa, sửa chữa
những vật dụng đơn giản; Phối hợp với huyện Đoàn, thực hiện phong trào “Chủ
nhật xanh”, mỗi tháng một lần, tổng vệ sinh toàn trường hay vệ sinh khu vực quanh
trường, quanh nơi ở nhằm góp phần hưởng ứng cuộc vận động: “Toàn dân xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; Để không khí thêm sinh động, vào các dịp
lễ, Tết nhà trường hoặc cụm liên trường tổ chức hội chợ triển lãm, bán, trao đổi những sản phẩm do học sinh làm ra qua bộ môn công nghệ như: túi xách, đồ trang sức, giỏ hoa, áo len, móc khóa, bánh, mứt; Tổ chức các cuộc thi sáng tạo “vật lý -
địa lý” Thực hiện công tác hướng nghiệp, đề án “Phân luồng học sinh sau tốt
nghiệp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông”, các trường mời báo cáo viên, phối
hợp với các trường Trung học nghề, Trung cấp chuyên nghiệp tư vấn, báo cáo hướng nghiệp, giới thiệu nghề truyền thống ở địa phương, giới thiệu những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong hiện tại và tương lai, tư vấn cho học sinh chọn nghề phù hợp với khả năng của các em và nhu cầu của xã hội, tổ chức ngày
hội: “Thanh niên với nghề nghiệp” cho học sinh; tham quan hướng nghiệp ở các
nhà máy, cơ sở sản xuất, xí nghiệp…
+ Hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch: Giúp học sinh tái tạo năng lực thần kinh và cơ bắp sau những giờ học tập căng thẳng, thay đổi tâm trạng, giải tỏa buồn phiền, mệt mỏi để học sinh có thể tiếp tục học tốt hơn, tạo cơ hội để học sinh tham gia vào các mối quan hệ bạn bè, tìm hiểu những điều mới lạ xung quanh, giúp các em hiểu biết hơn về những giá trị văn hóa tự nhiên xã hội, góp phần hình thành những kỹ năng sống cho học sinh Tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể ngoài trời, các trò chơi vận động như: Đi Cà kheo, kéo co, ném còn, nhảy bao bố hay các trò chơi tĩnh như: trò chơi âm nhạc, trò chơi ngôn ngữ …
Trang 32+ Hoạt động văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao: là món ăn tinh thần không
thể thiếu, hỗ trợ tích cực cho hoạt động dạy học, góp phần giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh sau giờ học căng thẳng Hoạt động này
được thực hiện dưới nhiều hình thức: Hội thi “EAROBIC”, “Nhà khoa học nhỏ tuổi” của Đoàn - Đội; “Hội vui học tập”, “Đố em”, Viết thư UPU, Thuyết trình văn học, kể
chuyện theo sách, thi học sinh giỏi…của các môn học, của thư viện; Hội thi cắm hoa, báo tường, vẽ tranh, văn nghệ nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn 20/11, 19/5, 22/12; Thể
dục giữa giờ, “Hội khỏe Phù đổng”, “Giải Vô địch Thể dục - Thể thao học sinh”, phong trào: “Mỗi học sinh chơi một môn thể dục” Ngoài ra các em có thể tham gia các
câu lạc bộ: Cầu lông, bóng bàn, bóng rổ, thể dục nhịp điệu, cờ tướng, cờ vua…
+ Hoạt động xã hội - chính trị: Bao gồm các hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội của địa phương, giáo dục pháp luật, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục
môi trường, giáo dục phòng chống AIDS, ma túy và các tệ nạn xã hội, xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực… Với một số hoạt động cụ thể: Hội thi: “Học sinh với
bảo vệ môi trường”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; Các
phong trào: “Tiếp bước cha anh”, chăm sóc Mẹ Việt Nam anh hùng, thăm viếng gia
đình thương binh, liệt sĩ; bảo vệ, chăm sóc di tích lịch sử, văn hóa; Gửi thư tặng quà
thăm bộ đội vùng biên giới, hải đảo; Các lễ hội, hội trại: “Giỗ tổ vua Hùng”, “Mừng
Đảng - Mừng Xuân” Những hội thi, những phong trào, các lễ hội trên giúp học sinh
thuộc sử nước nhà, sử địa phương, truyền thống địa phương, truyền thống nhà trường…Qua đó, bồi dưỡng lòng tự hào về những thành quả và truyền thống hào hùng của dân tộc, khơi dậy lòng biết ơn những người đi trước, kêu gọi nỗ lực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ để trở thành những người công dân tốt Bên cạnh các hoạt động trên, các bộ phim tư liệu, thời sự, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh… đã khơi dậy ở các em lòng tự hào về non sông, đất nước; sự chia sẻ đồng cảm với những mất mát của đồng bào, lòng yêu thương con người, thái độ đấu tranh với những cái xấu, cái bất công hay những buổi giao lưu với học sinh trường khuyết tật, các bạn học sinh là nạn nhân chất độc màu da cam đã giúp các em hiểu hơn về những mất mát của của các bạn đồng thời ý thức hơn về những may mắn mình đang có để nỗ lực học tập
rèn luyện hơn nữa; Các phong trào thi đua: “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực”, “Học sinh THPT chung tay xây dựng ngôi trường mến yêu”, “Vẻ đẹp Đoàn
Trang 33viên”, “Nói lời hay làm việc tốt”, “Giúp bạn vượt khó”…đã góp phần xây dựng môi
trường an toàn thân thiện, ngăn ngừa những tác động tiêu cực ngoài xã hội, tạo điều kiện hình thành những phẩm chất đạo đức và năng lực cho học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Các hội thi tìm hiểu luật giao thông, luật phòng chống ma túy, các
buổi tọa đàm, thuyết trình về các đề tài: “Bảo vệ môi trường”, “Quyền trẻ em” không
chỉ giúp các em thích ứng với nếp sống và các định chế của xã hội mà còn tạo điều kiện
và cơ hội cho các em đóng góp sức lực, trí tuệ của mình vào sự phát triển của xã hội, phát triển tính tích cực của cá nhân Các lễ hội, hội trại có quy mô cấp trường, liên
trường như: “Vì màu xanh trái đất”, “Nối vòng tay lớn” là dịp các em giao lưu, trình
bày những suy nghĩ của mình về các vấn đề xã hội như: Ma túy, HIV, AIDS, môi trường, quyền trẻ em bằng nhiều loại hình nghệ thuật như: Ca, múa, kịch, tấu hài…Một
trong những tiêu chí “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” là việc rèn
luyện kỹ năng sống cho học sinh Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có thể đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Trong điều kiện của đơn vị, các trường đã thực hiện một số hoạt động: Hội thi kỹ năng sơ cấp cứu tai nạn; Giáo dục về giới tính, sức khỏe sinh sản; tìm hiểu và phòng chống các bệnh như: Cận thị, cong vẹo cột sống, thủy đậu, Rubella, sốt xuất huyết, cúm, quai bị, phong, lao; Hướng dẫn học sinh một số điều cần thiết khi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, bão lụt; Hướng dẫn học sinh kỹ năng, lắng nghe, kỹ năng ghi nhớ,
kỹ năng đọc hay kỹ năng tự giới thiệu, nói chuyện trước đám đông, kỹ năng gọi và nghe điện thoại…
- Phân chia nội dung hoạt động theo tiến độ thời gian:
Trang 34Sơ đồ 1.5: Sơ đồ phân chia hoạt động theo chủ đề, chủ điểm năm học
1.4 Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL
1.4.1 Quản lý hoạt động GDNGLL ở trường THPT
1.4.1.1 Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động GDNGLL
Kế hoạch là công tác quản lý hoạt động GDNGLL nhằm xác định mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong điều kiện thực tế của mỗi trường trong một thời gian nhất định Do đó, khi lập kế hoạch trong quản lý hoạt động GDNGLL chi tiết, khoa học sẽ có khả năng ứng phó với sự thay đổi không lường trước, dự trù được các yếu tố thuận lợi
và khó khăn, thời cơ và thách thức trong quá trình thực hiện mục tiêu Đồng thời huy động các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia tích cực Chương trình,
kế hoạch hoạt động GDNGLL phải được sự thống nhất, ủng hộ của giáo viên và học sinh Nắm bắt thông tin để kịp thời điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết Kế hoạch càng chi tiết, càng cụ thể và khoa học sẽ giúp người quản lý dễ dàng điều hành tốt hoạt động GDNGLL ở nhà trường
Trong kế hoạch cần chú ý lựa chọn các hoạt động phù hợp, xác định chủ điểm cho từng thời gian Phải có kế hoạch và lịch hoạt động cho toàn trường, từng khối lớp, cho từng thời kỳ, tiến tới ổn định thành nề nếp thường xuyên, liên tục Cần chú ý các yêu cầu sau:
2 chủ điểm 22.12 09.01
Sơ kết HK1
Hướng về Đảng, Đoàn
3 chủ điểm 03.02 08.3 26.3 Giữa HK2
Hướng về Bác Hồ
2 chủ điểm 30.4 19.5
Tổng kết năm học Hoạt động hè
Trang 35+ Có kế hoạch cho từng hoạt động đều đặn, cân đối từ đầu đến cuối năm và trong hè
+ Có quy định cho từng khối lớp trong hoạt động chung của nhà trường + Có lịch hoạt động hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học + Có ý thức cập nhật thông tin nhằm điều chỉnh kế hoạch kịp thời và những nhiệm vụ đột xuất
Đồng thời, cần khéo léo kết hợp các nội dung và hình thức sinh hoạt với nhau để công việc không bị chồng chéo, nhàm chán Sắp xếp công việc logic, khoa học theo từng thời gian Kế hoạch quản lý Hoạt động GDNGLL không những có trong kế hoạch năm học mà còn phải lập thành kế hoạch riêng, sao cho chi tiết, cụ
- Phân chia toàn bộ công việc hình thành các nhiệm vụ để các thành viên hay
bộ phận trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp logic Bước này gọi là phân công lao động
- Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả Việc nhóm gộp nhiệm
vụ cũng như thành viên trong tổ chức gọi là bước phân chia bộ phận
- Thiết lập một cơ chế điều phối, tạo thành sự liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận, tạo điều kiện đạt mục tiêu một cách dễ dàng
- Theo dõi, đánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh nếu cần [19, tr.59]
Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL là cần phải xây dựng bộ máy quản lý hoạt động GDNGL, thực hiện phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể,
để hoạt động này hoạt động nhịp nhàng, thống nhất và đồng bộ Sắp xếp đúng với năng lực, sở trường của các tập thể, cá nhân để phát huy hết tiềm năng hiện có, tận dụng những điều kiện thuận lợi và thời cơ, khắc phục những khó khăn và thách thức
Trang 36để hoạt động GDNGLL đạt hiệu quả tốt nhất
Quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch là sự xếp đặt những hoạt động, những con người một cách khoa học hợp lý, phối hợp các bộ phận để tạo ra tác động tích hợp Người lãnh đạo nhà trường phải thông báo kế hoạch, chương trình hành động đến các thành viên trong nhà trường sao cho mỗi thành viên hiểu và thực hiện đúng kế hoạch; phải quy định đúng chức năng, quyền hạn cho từng người, phải tính đến năng lực, hiệu quả cho từng hoạt động, xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên liên quan
Đây là giai đoạn thực hiện kế hoạch, là sự sắp đặt những con người những công việc một cách khoa học, hợp lý, là sự phối hợp các hoạt động như: Thông báo
kế hoạch chương trình hành động đến các lực lượng tham gia hoạt động GDNGLL trong và ngoài nhà trường, làm cho mỗi thành viên tự giác thực hiện kế hoạch; bố trí các bộ phận, các tập thể, cá nhân cho đúng người, đúng việc; quy định chức năng, quyền hạn cho từng người, từng bộ phận có tính đến năng lực của từng người cũng như những khó khăn mà các hoạt động có thể tiếp nhận và phân phối các nguồn lực về con người, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, để xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận và các thành viên
1.4.1.3 Chỉ đạo, phối hợp thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL ở trường THPT
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý, sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người quản lý phải điều khiển cho hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra Đây cũng là quá trình sử dụng quyền uy của người quản lý để tác động đến các đối tượng bị quản lý (con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu đề ra [19, tr.68]
Như vậy, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL là sự điều khiển của người Hiệu trưởng vào toàn bộ quá trình quản lý hoạt động GDNGLL, nhằm huy động mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia thực hiện kế hoạch Điều hành các tổ chức, các bộ phận, cá nhân để đảm bảo cho mọi hoạt động GDNGLL diễn ra đúng kế hoạch Nội dung chủ yếu của chức năng này là lãnh đạo, chỉ huy để đạt mục tiêu mong muốn Do đó, phải thường xuyên theo dõi, giám sát
để kịp thời ra các quyết định đúng đắn Động viên, khuyến khích và khen thưởng
Trang 37kịp thời các tập thể và cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ Đồng thời cần có những biện pháp về hành chính và tổ chức để điều chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch hoạt động GDNGLL Để chỉ đạo thực hiện kế hoạch được thuận lợi, người Hiệu trưởng cần phải nắm bắt thông tin kịp thời và phối hợp tốt với các lực lượng tham gia hoạt động GDNGLL trong và ngoài nhà trường
1.4.1.4 Quản lý việc giám sát, kiểm tra, đánh giá hoạt động GDNGLL ở trường THPT
Kiểm tra là nhằm thẩm định, kiểm nghiệm mức độ hoàn thành kế hoạch Đây
là khâu cuối cùng trong quá trình quản lý hoạt động GDNGLL, đồng thời mở ra một chu trình quản lý mới Kiểm tra gắn liền với đánh giá kết quả hoạt động Qua
đó tìm ra nguyên nhân thành công và hạn chế, để rút ra bài học kinh nghiệm Công tác kiểm tra đánh giá hoạt động GDNGLL giúp người Hiệu trưởng kịp thời phát hiện và điều chỉnh những sai sót trong quá trình thực hiện kế hoạch Công nhận những đóng góp của các tập thể, cá nhân để tuyên dương khen thưởng
Trong quá trình quản lý, phải chú ý đến công tác giám sát, kiểm tra, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên Kiểm tra để phát hiện cái đúng, cái chưa phù hợp để kịp thời điều chỉnh hoặc
có biện pháp xử lý phù hợp góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra
Kiểm tra, đánh giá là nhận định về kết quả của việc thực hiện kế hoạch Việc kiểm tra phải dựa theo chương trình, kế hoạch đã được quy định Phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng hoạt động, có thể định tính, định lượng hoặc được sự thừa nhận của tập thể, của xã hội trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể
Đây là một việc làm thường xuyên, được diễn ra ở mọi giai đoạn của quá trình quản lý nhưng tập trung cao nhất vào giai đoạn cuối của quá trình quản lý Nội dung của việc quản lý kiểm tra hoạt động GDNGLL bao gồm: đánh giá tiến độ, tốc
độ thực hiện so với kế hoạch, xác định mức độ đạt được so với mục tiêu đặt ra, phát hiện những lệch lạc, sai sót cũng như những nguyên nhân của chúng, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn cần tiếp tục giải quyết rút ra những bài học kinh nghiệm cho quản lý những hoạt động tiếp theo
1.4.1.5 Quản lý nguồn lực cho hoạt động GDNGLL ở trường THPT
Nguồn lực cho hoạt động GDNGLL bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực
Trang 38Ngoài ra còn có các nguồn lực khác như thông tin, truyền thống, văn hóa tổ chức
Nhằm đảm bảo nhu cầu nguồn nhân lực cho hoạt động GDNGLL luôn được đáp ứng đủ về số lượng và chất lượng Người Hiệu trưởng cần phải phân tích tình hình thực tế của nhà trường để lựa chọn, bố trí những giáo viên, học sinh có năng lực tham gia tổ chức hoạt động GDNGLL Sau đó, cần có kế hoạch bồi dưỡng, huấn huyện những hạt nhân này về năng lực tổ chức, quản lý các hoạt động thường xuyên, liên tục
Bên cạnh đó, cần khai thác tốt các phương tiện, thiết bị vật chất cho hoạt động GDNGLL Có kế hoạch, mua sắm, sửa chữa, bảo quản và sử dụng hợp lý
Một nguồn lực cũng rất quan trọng nữa đó là tài chính cho hoạt động GDNGLL Do vậy, quản lý tốt tài chính cho hoạt động GDNGLL là nhằm tạo điều kiện cho hoạt động GDNGLL đạt hiệu quả cao, để thực hiện được công việc này, cần phải tuân theo những yêu cầu, quy định sau: Nắm vững các chế dộ, chính sách hiện hành; có kế hoạch thu, chi cho hoạt động GDNGLL; thanh toán, quyết toán tài chính đúng hạn Để thực hiện được như vậy, người Hiệu trưởng chỉ đạo kế toán nhà trường lập kế hoạch thu chi theo từng tháng, từng quý, từng năm Ngoài ra, để tăng thêm nguồn kinh phí cho hoạt động GDNGLL, người Hiệu trưởng phải là nhà ngoại giao giỏi để vận động sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân cho hoạt động GDNGLL
Mặt khác, thông tin cũng được xem là nguồn lực hỗ trợ cần thiết cho hoạt động GDNGLL, bởi lẽ thông tin là phương tiện cung cấp đầu vào cho hệ thống quản lý, đồng thời cũng là phương tiện để tác động lên sự thay đổi, để định hướng cho kế hoạch hoạt động GDNGLL Để quản lý tốt nguồn thông tin, người Hiệu trưởng phải chú ý những yêu cầu về tính chính xác, tính kịp thời; tính hệ thống, tổng hợp; tính đầy đủ, cô đọng và logic; tính pháp lý; tính kinh tế
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDNGLL
1.4.2.1 Yếu tố chủ quan
Nhận thức của một số ít CBQL, GV, HS, CMHS về tầm quan trọng của HĐ chưa đầy đủ; quỹ thời gian tổ chức hoạt động GDNGLL không được nhiều; điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện tổ chức Hoạt động có hạn; thiếu kinh phí để tổ chức; khả năng tổ chức và thiết kế hoạt động GDNGLL của GVCN lớp còn hạn
Trang 39chế; học sinh chưa nhiệt tình tham gia; các lực lượng GD khác ngoài nhà trường chưa nhiệt tình ủng hộ…
1.4.2.2 Yếu tố khách quan
Đó là sự ảnh hưởng của nội dung và hình thức hoạt động được quy định trong chương trình THPT Quỹ thời gian có hạn trong khi đó nội dung chương trình hoạt động quá nhiều
Để có thể quản lý tốt hoạt động, BGH nhà trường cần phải biết khắc phục và hạn chế đến mức thấp nhất các yếu tố khách quan và chủ quan trên
Tiểu kết chương 1
Qua chương này, tác giả đã thể hiện lịch sử của vấn đề cần nghiên cứu cùng với cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đúng hướng, đúng chuẩn mực, phù hợp với yêu cầu chung của Giáo dục và Đào tạo, xu thế phát triển chung của xã hội, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong tình hình hiện nay
Đề tài đã hệ thống hóa và sử dụng các khái niệm cơ bản: quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, quản lý hoạt động GDNGLL Khẳng định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động GDNGLL trong hoạt động giáo dục của nhà trường phổ thông hiện nay; nêu rõ mục tiêu, nội dung và hình thức, chương trình tổ chức hoạt động GDNGLL làm cơ sở
để tổ chức hoạt động GDNGLL đạt hiệu quả cao nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường nói chung và vào việc hình thành phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh nói riêng Làm rõ cấu trúc và bản chất của hoạt động GDNGLL trong các nhà trường THPT Đây là một văn bản pháp quy do Bộ GD&ĐT quy định làm cơ sở pháp lý cho việc nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động GDNGLL trong các nhà trường phổ thông hiện nay
Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã làm sáng tỏ là cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDNGLL nhằm định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng và
đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDNGLL ở chương 2 và 3 của luận văn
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
2.1 Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo của Thành Phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị từ 2015 đến 2020
Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn với xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ
Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị các trường học, đảm bảo tiêu chuẩn quốc gia Xây dựng đội ngũ quản lý có đủ trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện từ bậc Mầm non đến bậc THPT Nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, năng khiếu Coi trọng giáo dục phẩm chất đạo đức, tác phong, kỹ luật học đường, trang bị kiến thức, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng với môi trường dạy và học Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo, các hoạt động khuyến học khuyến tài Chú trọng xây dựng trường học kiểu mẫu, chất lượng cao
Chú trọng chuyển giao công nghệ, ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ mới; khuyến khích tạo điều kiện nghiên cứu, triển khai các đề tài khoa học có chất lượng vào các lĩnh vực sản xuất và đời sống
Tiếp tục bồi dưỡng, trọng dụng, tuyển dụng nhân tài đi đôi với xây dựng đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho lao động; chủ động phối hợp với các tổ chức, cá nhân nhằm tăng nhanh tỷ lệ lao động qua đào tạo
2.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đông Hà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Trị Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ, phía Nam giáp huyện Triệu Phong, phía Đông giáp huyện Gio Linh và Triệu Phong, phía Tây giáp huyện Cam Lộ Tổng diện tích tự nhiên là 72,96 km2, dân số trung bình năm 2010 có 83.191 người, chiếm 1,54% diện tích và 13,8% dân số toàn tỉnh Thành phố Đông Hà nằm trên giao điểm