1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi, tỉnh quảng trị

119 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp tục nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh .... Xuất phát từ lý do trên, với vai trò của ngư

Trang 1

TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN NÚI TỈNH QUÂNG TRỊ

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục

Mã số : 60 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Người hướng dẫn khoa học PGS TS NGUYỄN SỸ THƯ

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất

kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Đăng An

Trang 3

Lời Cảm Ơn

Trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn, tác giâ đã nhận được sự quan tåm såu sắc, sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thæy

cô giáo và bän bè đồng nghiệp

Với tình câm chån thành, tác giâ xin bày tô lòng biết ơn såu sắc đến Ban giám hiệu, Khoa Tåm lý Giáo dục, phòng Đào täo Sau Đäi học trường Đäi học sư phäm Huế, quý thæy cô giáo trực tiếp tham gia quân lý và giâng däy đã täo điều kiện cho lớp Cao học quân lý giáo dục khóa 24 được học tập và tiếp thu tri thức

Xin câm ơn Lãnh đäo Sở Giáo dục và Đào täo tỉnh Quâng Trị, Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quâng Trị đã đóng góp ý kiến xåy dựng và hỗ trợ cho tác giâ hoàn thành luận văn

Xin câm ơn bän bè, những người thån và gia đình đã chia sẻ, động viên, täo điều kiện thuận lợi cho tác giâ học tập và nghiên cứu Đặc biệt, tác giâ xin bày tô lòng biết ơn såu sắc đến PGS.TS Nguyễn Sỹ Thư; người thæy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tác giâ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Quảng Trị, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Trần Đăng An

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ 6

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục đích nghiên cứu 9

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9

4 Giả thuyết khoa học 9

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

6 Phương pháp nghiên cứu 10

7 Phạm vi nghiên cứu 11

8 Cấu trúc luận văn 11

NỘI DUNG 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT 12

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 12

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở ngoài nước 12

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước 14

1.2 Các khái niệm cơ bản 17

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 17

1.2.2 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT 19

1.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục về vấn đề kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh 23

1.4 Hoạt động KT, ĐG KQHT ở trường THPT 24

1.4.1 Mục đích, ý nghĩa của KT, ĐG KQHT ở trường trung học phổ thông 24

1.4.2 Chức năng kiểm tra, đánh giá KQHT ở trường trung học phổ thông 26

1.4.3 Yêu cầu của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT ở trường trung học phổ thông 27

1.4.4 Các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT ở trường THPT 28

1.4.5 Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh ở trường THPT 32

Trang 5

1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh THPT 33

1.5.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tâp 33

1.5.2 Tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh 34

1.5.3 Chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh 34

1.5.4 Kiểm tra hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh 35

1.5.5 Quản lí các điều kiện đảm bảo hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh 35

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý KT, ĐG KQHT của học sinh THPT 36

1.6.1 Các nhân tố chủ quan 36

1.6.2 Các nhân tố khách quan 36

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HUYỆN MIỀN NÚI, TỈNH QUẢNG TRỊ 39

2.1 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng 39

2.1.1 Mục đích khảo sát 39

2.1.2 Nội dung khảo sát 39

2.1.3 Phương pháp khảo sát 39

2.1.4 Đối tượng khảo sát 40

2.1.5 Tổ chức khảo sát và xử lý kết quả: 40

2.2 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội, giáo dục huyện miền núi tỉnh Quảng Trị 41

2.2.1 Về vị trí địa lý và tình hình phát triển kinh tế - xã hội 41

2.2.2 Quá trình hình thành và phát triển giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị 43

2.3 Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn huyện miền núi tỉnh Quảng Trị 45

2.3.1 Thực trạng thực hiện mục đích, yêu cầu KT, ĐG KQHT của học sinh 45

2.3.2 Thực trạng thực hiện các quy định về kiểm tra, thi 48

2.3.3 Thực trạng sử dụng các hình thức, phương pháp kiểm tra, thi, đánh giá kết quả học tập của học sinh 49

2.3.4 Thực trạng thực hiện các khâu tổ chức KT, ĐG KQHT của học sinh 53

2.3.5 Thực trạng năng lực làm bài kiểm tra, tự kiểm tra, đánh giá của HS 55

2.3.6 Thực trạng năng lực của giáo viên với công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 57

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 58

Trang 6

2.4.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

của học sinh 58

2.4.2 Thực trạng tổ chức quản lý thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá 60

2.4.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động KT, ĐG, rút kinh nghiệm KQHT của HS 62

2.4.4 Thực trạng kiểm tra hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh 63

2.4.5 Thực trạng đảm bảo các điều kiện hỗ trợ hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 65

2.5 Nhận định về thực trạng hoạt động KT, ĐG và quản lý hoạt động KT, ĐG các trường THPT địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị 67

2.5.1 Ưu điểm và hạn chế 67

2.5.2 Nguyên nhân 71

Tiểu kết chương 2 72

Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG TRỊ 73

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 73

3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 73

3.1.2 Đảm bảo tính khách quan, công khai 73

3.1.4 Đảm bảo thực hiện các chức năng quản lí giáo dục 74

3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 74

3.2 Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị 74

3.2.1 Tiếp tục nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên trong việc thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 74

3.2.2 Xây dựng kế hoạch đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 76

3.2.3 Xây dựng quy trình kiểm tra, đánh giá đáp ứng yêu cầu đổi mới thi của Bộ GD&ĐT 80

3.2.4 Tăng cường công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 82

3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với quản lý hoạt động và hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh 83

3.2.6 Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động kiểm tra, đánh giá cho đội ngũ CBQL và giáo viên 86

Trang 7

3.2.7 Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, sử dụng công nghệ thông tin, kinh

phí và các điều kiện khác cho việc KT, ĐG KQHT của HS 88

3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 91

3.4 Điều kiện thực hiện các biện pháp đề xuất 91

3.5 Khảo nghiệm nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 92

3.5.1 Giới thiệu về khảo nghiệm 92

3.5.2 Kết quả khảo nghiệm nhận thức mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất 92

Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 96

1 Kết luận 96

2 Khuyến nghị 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

Trang BẢNG

Bảng 2.1 Đối tượng CBQL, GV được khảo sát 40

Bảng 2.2 Đối tượng học sinh được khảo sát 40

Bảng 2.3 Cơ cấu CBQL, GV, NV của các trường THPT 44

Bảng 2.4 Chất lượng học tập HS các trường THPT miền núi tỉnh Quảng Trị 44

Bảng 2.5 Chất lượng Hạnh kiểm của HS các trường THPT miền núi của Tỉnh 45

Bảng 2.6 Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp các trường THPT miền núi của Tỉnh 45

Bảng 2.7 Số học sinh đạt giải trong các cuộc thi học sinh giỏi, khoa học - kỹ thuật 45

Bảng 2.8 Đánh giá của CBQL, GV và HS về thực hiện yêu cầu của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT 46

Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL, GV về thực hiện mục đích của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT 47

Bảng 2.10 Bảng điều tra CBQL, GV về việc thực hiện các quy định về kiểm tra, thi ở các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị 48

Bảng 2.11 Bảng điều tra CBQL, GV về các hình thức KT, ĐG KQHT 49

Bảng 2.12 Đánh giá mức độ thực hiện của CBQL, GV và HS về phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 50

Bảng 2.13 Đánh giá hiệu quả thực hiện của CBQL, GV và HS về phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh 52

Bảng 2.14 Đánh giá của CBQL, GV về mức độ, hiệu quả thực hiện các khâu tổ chức KT, ĐG KQHT của HS 53

Bảng 2.15 Đánh giá của HS về mức độ, hiệu quả thực hiện các khâu tổ chức KT, ĐG KQHT của HS 54

Bảng 2.16 Bảng khảo sát CBQL, GV, HS về năng lực làm bài kiểm tra 56

Bảng 2.17 Bảng khảo sát CBQL, GV về năng lực của giáo viên 57

Bảng 2.18 Điều tra CBQL, GV về mức độ, hiệu quả thực hiện việc xây dựng kế hoạch hoạt động KT, ĐG KQHT của HS 59

Bảng 2.19 Điều tra CBQL, GV về mức độ, hiệu quả thực hiện tổ chức thực hiện hoạt động KT, ĐG KQHT của HS ở trường 61

Bảng 2.20 Điều tra CBQL, GV về mức độ, hiệu quả thực hiện chỉ đạo thực hiện hoạt động KT, ĐG KQHT của HS 62

Trang 10

Bảng 2.21 Điều tra CBQL, GV về mức độ, hiệu quả thực hiện về kiểm tra hoạt động KT, ĐG KQHT của HS 63Bảng 2.22 Điều tra CBQL, GV về mức độ, hiệu quả thực hiện đảm bảo các điều kiện hỗ trợ hoạt động KT, ĐG KQHT của HS 65Bảng 2.23 Điều tra HS về mức độ thực hiện công tác quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá (KT, ĐG) kết quả học tập (HT) của học sinh (HS) 68Bảng 3.1 Điều tra CBQL, GV về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lý được đề xuất 92

BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ thực hiện mục đích của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh các trường miền núi tỉnh Quảng Trị 47Biểu đồ 2.2 Mức độ thực hiện các phương pháp kiểm tra, thi 51Biểu đồ 2.3 Hiệu quả thực hiện các phương pháp kiểm tra, thi 53Biểu đồ 2.4 Đánh giá của CBQL, GV về năng lực làm bài kiểm tra và tự học của học sinh 56

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bước sang thế kỉ XXI, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực thông tin và truyền thông vô cùng mạnh mẽ, nó trở thành đặc trưng quan trọng làm nên diện mạo của một thế kỉ hiện đại Cùng với đó, nhân loại đang từng bước quá độ sang nền kinh tế tri thức Xu thế toàn cầu hóa trở nên tất yếu Những nhân tố này đã, đang và sẽ tác động làm thay đổi hàng loạt những giá trị và quan niệm truyền thống trong mọi lĩnh vực, trong đó có giáo dục Văn kiện Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần thứ IX, của Đảng đã chỉ rõ: “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách

hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” [12, tr.29]

Văn kiện của Hội nghị lần thứ 2, BCH Trung ương khoá VIII cũng xác định

chiến lược phát triển GD&ĐT thời kỳ CNH - HĐH đất nước: “Mục tiêu chủ yếu là

thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [13, tr.33] Văn kiện nêu rõ: “Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục và số đông học sinh, sinh viên có những cố gắng rất lớn; đại bộ phận thầy, cô giáo có tâm huyết, gắn bó với nghề” song “chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp” và “công tác quản lý giáo dục - đào tạo có những yếu kém, bất cập” [13, tr.25] Đổi mới công tác quản lý giáo dục là một trong bốn

giải pháp lớn để phát triển giáo dục mà Nghị quyết đã đề ra

Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát triển giáo dục và

đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển

xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, phương pháp dạy và học” [12, tr.108]

Giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục dân tộc nói riêng đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI

đã ban hành Nghị quyết số 29 - NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp

ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Trong đó, đối với giáo dục dân tộc,

giáo dục vùng khó khăn và đối tượng diện chính sách, Nghị quyết xác định: “Ưu

tiên đầu tư phát triển GD&ĐT ở các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số

và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa GD&ĐT”

Trang 12

Trong những năm qua, giáo dục vùng dân tộc thiểu số miền núi nói chung và giáo dục miền núi trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng đã có những tiến bộ đáng khích lệ

Cơ sở vật chất được nâng cao, quy mô, mạng lưới trường học được củng cố, phát triển

ở các cấp học Chất lượng giáo dục từ đó mà có những bước chuyển biến đáng ghi nhận Tuy nhiên, dù GD&ĐT vùng dân tộc thiểu số đã đạt nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì còn nhiều vấn đề hạn chế đang đặt ra Một trong những vấn đề ấy là đổi mới

cơ chế quản lí, hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của học sinh

Công tác KT, ĐG kết quả học tập của học sinh các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị đã và đang được tổ chức nghiêm túc nhằm đánh giá kết quả học tập của học sinh ngày càng chính xác và khách quan hơn Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn còn hạn chế, bất cập

Xuất phát từ lý do trên, với vai trò của người tham gia công tác quản lí ở trường

THPT trên địa bàn miền núi, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động kiểm

tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị ” với mong muốn tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm

góp phần thúc đẩy tiến trình quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá ở các trường trung học phổ thông, nâng cao hiệu quả KT, ĐG và từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của các nhà trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động

KT, ĐG KQHT của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh của người CBQL ở các trường THPT trên địa bàn, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động kiểm tra, đánh giá ở trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập học sinh của Hiệu trưởng

ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

4 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh ở các trường trung

Trang 13

học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị từ nhiều năm nay tuy đã có nhiều cải tiến nhưng vẫn còn khá nhiều bất cập trên nhiều phương diện Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của học sinh có tính khoa học, hệ thống và phù hợp với thực tiễn nhà trường thì góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu: Nhằm xác lập cơ sở

lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Sử dụng phương pháp này nhằm trao đổi trực tiếp với các chuyên gia; lấy ý

kiến tư vấn, góp ý về vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp quan sát:

Qua quan sát hoạt động dạy và học, hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh từ

đó thu thập thông tin về khả năng tiếp thu kiến thức, mức độ tư duy, sáng tạo, khả năng làm bài kiểm tra của học sinh nhằm đánh giá một số thực trạng về năng lực kiểm tra của giáo viên, năng lực làm bài kiểm tra, tự kiểm tra, tự đánh giá của học sinh tại các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

* Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:

Thiết kế phiếu hỏi và tiến hành điều tra ở CBQL, GV và học sinh các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng hoạt động KT, ĐG và quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh Đồng thời phương pháp này để xin ý kiến chuyên giá, CBQL, GV về tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Trang 14

* Phương pháp phỏng vấn:

Nhằm thu thập thông tin qua việc trao đổi trực tiếp cán bộ quản lý, giáo viên

và học sinh tại các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị để làm rõ thêm thực trạng hoạt động KT, ĐG và công tác quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh

* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm:

Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu của CBQL, GV, HS trong hoạt động KT, ĐG và quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh để hiểu rõ hơn về thực trạng hoạt động KT, ĐG và quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Nhằm xử lý kết quả nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi các trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị, gồm 05 trường THPT: THPT số 2 Đakrông, THPT Đakrông, THPT A Túc, THPT Hướng Phùng và THPT Hướng Hóa

- Đề tài tìm kiếm các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cho Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

8 Cấu trúc luận văn

- Mở đầu:

- Nội dung: Gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá học tập của

học sinh ở các trường trung học phổ thông

Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

của học sinh ở các trường THPT trên địa bàn miền núi tỉnh Quảng Trị

- Kết luận và khuyến nghị

-Tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA,

ĐÁNH GIÁ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THPT

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

Một trong những mục tiêu quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông là nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh Để thực hiện mục tiêu này, các hình thức kiểm tra, đánh giá khả năng nhận thức của người học cũng xuất hiện

1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở ngoài nước

Hình thức kiểm tra, đánh giá có khác nhau theo từng thời kỳ, từng khu vực Thời kỳ phong kiến, ở phương Đông, việc KT, ĐG là chọn ra người tài giỏi để làm quan Ở phương Tây, việc kiểm tra, đánh giá là để chọn ra người có năng lực làm công tác khoa học, làm người quản lý, lãnh đạo đất nước Cho đến nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học, luôn coi trọng biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá Tại một số nước có nền giáo dục tiên tiến, có điều kiện giảng dạy và học tập tốt, ngày càng coi trọng quản lý công tác kiểm tra và đánh giá

J.A Comenxki (1592-1670) là người đầu tiên đưa ra quan điểm về hệ thống trong thế giới cận đại Theo ông, quá trình dạy học được xem xét dưới dạng lý thuyết

hệ thống bao gồm: mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức, các nguyên tắc dạy học với 2 yếu tố quan trọng là người dạy và người học Do đó, kết quả của quá trình dạy học phải được thông qua việc kiểm tra và đánh giá Kiểm tra và đánh giá sẽ góp phần điều chỉnh các yếu tố mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức người dạy với người học sao cho hiệu quả và chất lượng V.A.Xukhomlinxki đưa ra vấn đề đánh giá cho điểm tốt hoặc không cho điểm Theo ông, chỉ nên cho điểm tốt (điểm trên trung bình) đối với kết quả bài làm tốt của học sinh; còn không cho điểm xấu (điểm dưới trung bình) đối với kết quả không tốt Tác giả cho rằng, điểm là phần thưởng cho hoạt động sáng tạo của người học vì chỉ có như thế điểm số mới mang ý nghĩa giáo dục đáng kể Đây là một quan điểm mang tính nhân văn trong giáo dục

Trang 16

Đến thế kỷ XVIII, hệ đánh giá chất lượng giáo dục đầu tiên được áp dụng phổ biến trong các nhà trường Lúc đầu hệ đánh giá có 3 bậc chính: Tốt, trung bình, kém sau đó chia nhỏ thành 5 bậc: Tốt, khá, trung bình, yếu, kém Tuy nhiên, có thể đánh giá được theo 5 bậc chất lượng học sinh thì kiểm tra phải như thế nào để đánh giá được chính xác, phù hợp với năng lực học tập của học sinh nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy- học mới là vấn đề được các Nhà giáo dục quan tâm

Từ những năm 1970 trở lại đây có rất nhiều những công trình nghiên cứu từng vấn đề cụ thể, trong đó xác định một cách khoa học nội dung đánh giá KQHT của học sinh như: Những vấn đề lý luận dạy học của việc đánh giá tri thức (V.M.Palomxki); Con đường hoàn thiện việc kiểm tra tri thức kỹ năng (X.V.Uxova)… Cũng trong giai đoạn này nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu các nguyên tắc của việc KT, ĐG nhằm đảm bảo tính khách quan như: Các hướng nâng cao tính khách quan trong việc đánh giá tri thức học sinh(N.D.Levitov) Cơ sở lý luận về công cụ KT, ĐG có thể kể đến quan điểm của tác giả Rowntree: mục đích của đánh giá là nhằm đánh giá thành tích, năng lực và sự tiến bộ của người học, khái niệm này bao hàm luôn cả những yếu tố của hoạt động dạy học có tác động đến chất lượng giáo dục

Xu hướng nghiên cứu KT, ĐG KQHT của học sinh trên thế giới hiện nay là hoàn toàn giao cho giáo viên và học sinh chủ động Phương pháp đánh giá được sử dụng đa dạng, sáng tạo và linh hoạt Đánh giá dựa theo năng lực, tức là đánh giá khả năng tiềm ẩn của học sinh dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc học sinh đã thực hiện thành công các sản phẩm đó Đánh giá năng lực nhằm giúp giáo viên có thông tin kết quả của học sinh

để điều chỉnh hoạt động giảng dạy; giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập; giúp giáo viên và nhà trường xác nhận, xếp hạng KQHT

Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh đánh giá quá trình bằng các hình thức, phương pháp đánh giá không truyền thống như: quan sát, phỏng vấn, hồ sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều người cùng tham gia, HS tự đánh giá….Đánh giá KQHT thông qua dự

án hoặc nghiên cứu nhóm được chú trọng Với cách này học sinh có quyền tự do làm bài theo hiểu biết của mình, trao đổi, tương tác với nhau, tìm hiểu từ thực tế, vận dụng nhiều kiến thức của nhiều môn học khác nhau, hợp tác nghiên cứu có thể đưa ra nhiều nhận định sáng tạo Đây là hình thức học tập mang tính tích hợp cao, giáo viên và học sinh cùng tham gia đánh giá kết quả của từng nhóm

Trang 17

1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước

Tại Việt Nam việc quản lý hoạt động đánh giá KQHT của người học được đặt

ra từ rất sớm Ngay từ năm 1076, nhà Lý mở khoa thi đầu tiên để chọn hiền tài phục

vụ cho quốc gia, việc này được thực hiện trong suốt thời kì phong kiến và hình thức thi, kiểm tra, đánh giá này tồn tại cho đến năm 1919 Nội dung thi chủ yếu là thi văn, thi võ, thi Lại viên Việc quản lý và đánh giá KQHT của người học vô cùng chặt chẽ, nhưng cách quản lý, đánh giá cũng bộc lộ nhiều hạn chế, kết quả quản lý việc kiểm tra, đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người đánh giá, dẫn đến hạn chế khả năng của người học, hạn chế khả năng sáng tạo ở các lĩnh vực khoa học tự nhiên kỹ thuật

Từ khi thực dân Pháp đô hộ Việt Nam, nền giáo dục Việt Nam bước vào giai đoạn mới, triết lý giáo dục có sự thay đổi, dẫn đến việc quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá cũng thay đổi, với chủ trương quản lý kiểm tra, đánh giá nhằm đào tạo một

số ít người làm tay sai, quan lại phục vụ cho bộ máy cai trị còn đại đa số nhân dân

là mù chữ, thất học Song cũng phải thừa nhận về cách tổ chức quản lý kiểm tra, đánh giá rất nghiêm túc

Sau khi nước Việt Nam ra đời năm 1945 đến nay, các biện pháp quản lý việc kiểm tra, đánh giá đã thay đổi so với chế độ xã hội thực dân Nền giáo dục Việt Nam đã trải qua 3 lần cải cách, mỗi lần cải cách, biện pháp quản lý kiểm tra, đánh giá được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình giáo dục của nước nhà Trong những năm gần đây, trước sự tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự tác động

về giáo dục của những nước có nền giáo dục phát triển, hoạt động quản lý kiểm tra, đánh giá đã có những phát triển mới, với những thay đổi căn bản cả về triết lí, quan điểm, phương pháp, và các hoạt động quản lý cụ thể Những thay đổi trong xu hướng quản lý kiểm tra, đánh giá KQHT có thể tóm lược trong bảng sau:

Stt Xu hướng quản lý cũ Xu hướng quản lý mới

1 Quản lý việc KT, ĐG kết quả thi trên

giấy được thực hiện vào cuối kỳ

Quản lý việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện đa dạng trong suốt quá trình học

2 Quản lý nhấn mạnh đến vai trò

của người kiểm tra, đánh giá

Quản lý nhấn mạnh vào vai trò chủ động, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS

3 Quản lý việc lựa chọn câu hỏi và

tiêu chí ĐG không được nêu trước

Quản lý lựa chọn câu hỏi và tiêu chí đánh giá được nêu rõ từ trước

Trang 18

Stt Xu hướng quản lý cũ Xu hướng quản lý mới

4 Quản lý nhấn mạnh sự cạnh tranh Quản lý nhấn mạnh sự hợp tác, khuyến khích

học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau

5 Quản lý quan tâm đến mục tiêu

cuối cùng của việc giảng

Quản lý quan tâm đến kinh nghiệm học tập của học sinh

6 Quản lý chú trọng sản phẩm Quản lý chú trọng quá trình

7 Quản lý tập trung vào kiến thức

sách vở Quản lý tập trung vào năng lực thực tế Những thay đổi vừa nêu phản ánh rõ nét quan điểm mới về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh, trong đó người học (learner) và quá trình học tập (learning) là trung tâm của toàn bộ các hoạt động kiểm tra, đánh giá Sự ra đời của quan điểm này cùng với các xu hướng mới trong quản lý kiểm tra, đánh giá

đã tạo ra một sự thay đổi căn bản trong hệ thống lý luận về quản lý KT, ĐG

Gần đây, một số tác giả đã có những nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh về việc quản lý kiểm tra, đánh giá thể hiện ở các công trình sau:

Năm 1995, hai tác giả Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc đã nghiên cứu khá chi tiết những cơ sở lý luận của việc kiểm tra, đánh giá thành quả học tập của học sinh, các nội dung này được tập hợp qua công trình “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh” Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về kiểm tra, đánh giá, các tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông

Tác giả Nguyễn Đức Chính, Đinh Thị Kim Thoa (2005), đã xuất bản công trình “Kiểm tra, đánh giá theo mục tiêu” Trong công trình tác giả nhấn mạnh đến mục tiêu của kiểm tra, đánh giá là hướng đến người học, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá ở người học bằng các tiêu chuẩn cụ thể

Năm 2005, tác giả Dương Thiệu Tống đã đưa ra cách đánh giá trong giáo dục qua công trình “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập” Nội dung tuy không phải là mới nhưng đã có tác động nhất định đến việc đánh giá và đo lường KQHT của học sinh với các chỉ dẫn về thống kê đánh giá kết quả bài kiểm tra của học sinh Tác giả Trần Bá Hoành (năm 2005) đã chỉ ra những cơ sở lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong các nhà trường, toàn bộ nghiên cứu được trình bày khá kỉ trong công trình “Đánh giá trong giáo dục” Đánh giá nhằm mục đích nâng cao chất lượng giáo dục, đánh giá một cách khách quan, toàn diện

Trang 19

Trên cơ sở những nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục, năm 2006 tác giả Nguyễn Kế Hào đã cho rằng giáo dục nước ta cần tiến hành đổi mới, toàn bộ quan điểm của tác giả được thể hiện rõ qua công trình “Đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá đối với giáo dục phổ thông, cao đẳng và đại học sư phạm Đã đến lúc chương trình và nội dung giáo dục từ phổ thông đến đại học phải được cải tiến theo hướng khoa học, hiện đại

Cũng trong năm 2006, tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng việc đánh giá thành quả học tập của học sinh là cần thiết và phải có những công cụ đo lường một cách khách quan, quan điểm của tác giả được đề cập qua nghiên cứu “Đo lường và đánh giá thành quả học tập”

Tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (2007) đã nghiên cứu một cách khá toàn diện việc đo lường và đánh giá KQHT của người học qua công trình “Đo lường và đánh giá KQHT” Trong công trình, tác giả đã nghiên cứu khá chi tiết về cách thức đánh giá KQHT của học sinh từ góc độ thống kê, đem lại những kết quả tin cậy, đảm bảo được tính chính xác, khoa học

Những nghiên cứu trên đều tập trung vào việc kiểm tra, đánh giá nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các trường Các tác giả chưa đề cập đến quản lý cách

KT, ĐG KQHT của học sinh Gần đây, có một số nghiên cứu đề cập đến vấn đề này một cách hệ thống và tương đối chi tiết, trên cơ sở những nghiên cứu lý luận, các tác giả đã chỉ ra thực trạng quản lý hoạt động KT, ĐG ở các trường phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế thể hiện qua nghiên cứu trong các luận văn: Nguyễn Khắc Mãnh (2009) biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác KT, ĐG KQHT của HS các trường THPT tỉnh ĐakNông Tạ Thị Bích Liên (2011), quản lý hoạt động KT,

ĐG KQHT của HS ở các trường THPT thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay; Phạm Đại Cảnh (2011), biện pháp quản lý công tác KT, ĐG KQHT của HS các trường THPT tỉnh Kon Tum Điêu Bình Dương; Biện pháp chỉ đạo việc

KT, ĐG KQHT ở trường trung học cơ sở của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên Triệu Trung Kiên (2013), “Biện pháp quản lý hoạt động

KT, ĐG KQHT của HS ở trung tâm giáo dục thường xuyên Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” Các công trình nghiên cứu các luận văn trên đã tập trung vào một số nội dung nâng cao quản lý chất lượng hoạt động kiểm tra, đánh giá ở các nhà trường phổ thông

và trung tâm giáo dục thường xuyên Kết quả các nghiên cứu này có ý nghĩa lý luận cũng như trong thực tiễn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trường phổ thông và

Trang 20

đặc thù ở các địa phương Tuy nhiên trên địa bàn miền núi, tỉnh Quảng Trị chưa có tác giả nào nghiên cứu về quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh THPT Do vậy,

đề tài nghiên cứu của luận văn là cần thiết trong việc quản lý hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập của người học

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học

1.2.1.1 Quản lý

Nguồn gốc phát triển của loài người là lao động Mọi hoạt động của con người trong đời sống xã hội đều cần đến quản lý Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật trong việc điều khiển tổ chức với tư cách là một hệ thống xã hội cả ở tầm

vi mô và vĩ mô Theo K.Mark: “Quản lý là một chức năng tất yếu của lao động xã hội, nó gắn chặt với sự phân công và phối hợp…” Ông viết: “Một nghệ sĩ vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”

Chính vì lý do đó, một số tổ chức muốn hoạt động có hiệu quả thì nhất thiết cần phải có người đứng đầu điều khiển để tổ chức các hoạt động, tác động đến từng đơn vị, từng cá nhân Và người đứng đầu đó ta gọi là người quản lí Người quản lí

có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn nhân lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích Sự

tổ chức, tác động, điều khiển của người quản lí đó gọi là hoạt động quản lí

Theo tâm lí học, quản lí là sự tác động có định hướng, mục đích, kế hoạch và

có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể Ta có thể tham khảo những khái niệm quản lí của nhà giáo dục

Trong cuốn “Quản lí giáo dục” các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lí có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh,

là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức” [11, tr.13] Tác giả Trần Kiểm đưa ra khái niệm: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [16, tr 8]

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lí là tác động

có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho một tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình” [9, tr.1]

Như vậy, có thể hiểu rằng: Quản lí chính là quá trình tác động có chủ đích của

Trang 21

chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các

cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện biến động của môi trường Yếu tố mục tiêu quản lý có ý nghĩa rất quan trọng Mục tiêu có thể do

xã hội đặt ra, hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý từ đó làm nảy sinh quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý

1.2.1.2 Quản lí giáo dục

Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển Để đạt được mục đích trên thì giáo dục phải có tổ chức, quản lí giáo dục

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì: “Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên quản lí giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [11, tr.6]

Từ ý kiến của các nhà khoa học quản lí giáo dục trên, chúng ta có thể quan niệm quản lí giáo dục: “Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có hướng đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí ở các cơ sở quản lí giáo dục khác nhau trong toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm phát triển quy mô cả về số lượng và chất lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục”

Quản lí giáo dục trong xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Ở cấp độ nhân cách, quản lí giáo dục là quản

lí sự hình thành và phát triển nhân cách

1.2.1.3 Quản lí nhà trường

Nhà trường (trường học) là tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, là nơi trực tiếp công tác đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ Khái niệm quản lí trường học đã được các nhà lí luận quản lí giáo dục giải thích như sau:

Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Quản lý trường học là hoạt động của cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục [31, tr.205]

Tác giả Phạm Viết Vượng đã nêu: “Quản lí nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo

Trang 22

dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” Hoặc “Quản lí trường học chính là những công việc của nhà trường

mà người quản lí trường học thực hiện những chức năng quản lí để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của của chủ thể quản lí tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học”.(31, tr.8)

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo cụ để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh

Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lí trường học

Từ đó có thể hiểu: “Quản lí trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lí và có hướng đích của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội trong và ngoài trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đã đề ra”

1.2.2 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT

1.2.2.1 Kiểm tra

Từ điển Tiếng Việt, Tác giả Hoàng Phê -Viện ngôn ngữ học 2016, “kiểm tra” được định nghĩa như sau: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [18, Tr.661]

Trong quá trình dạy học, kiểm tra là đo lường KQHT của HS giúp nắm được thông tin về trạng thái và KQHT của HS, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục, củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy - học

Thi là một kỳ kiểm tra quan trọng được tiến hành sau một quá trình học tập, mỗi kỳ thi được qui định bằng một qui chế riêng

Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu: “Kiểm tra là một hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức Xã hội (bao gồm kiểm tra nội bộ, tự kiểm tra) để nhìn nhận khách

GD

Mục tiêu

Trang 23

quan bản chất của sự việc, hiện tượng có trong các hoạt động chính của cơ quan, tổ chức nhằm điều chỉnh cho các hoạt động ấy để phù hợp với trạng thái định trước” Trong giáo dục: “Kiểm tra là việc thực hiện chức năng quản lí của các công tác quản lí giáo dục nhằm xem xét mọi hoạt động hoặc một lĩnh vực hoạt động của cơ quan giáo dục, của cá nhân trong cơ sở đó Từ đó phát hiện ra mặt tích cực để phát huy, sai lệch để điều chỉnh hoặc xử lý” [8, tr.27]

Kiểm tra là một khâu tất yếu trong quá trình đánh giá, kiểm tra những thu nhập

và cung cấp những dữ kiện, những thông tin về đối tượng làm cơ sở cho việc đánh giá Trong giáo dục, đối tượng kiểm tra là học sinh Để đánh giá học sinh một cách khách quan và tạo động lực thúc đẩy học sinh phát triển không ngừng thì việc học sinh phát triển không ngừng thì việc kiểm tra phải hết sức chú trọng và phải thực hiện theo nhiều hình thức

Như vậy, vấn đề kiểm tra có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng nhìn chung là thu thập thông tin để phán đoán, xác định và làm cơ sở cho việc đánh giá Trong lĩnh vực giáo dục, kiểm tra là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để phán đoán, xác định mỗi người học sau khi học đã nắm được gì (kiến thức), làm được gì (kĩ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao, đồng thời có những thông tin phản hồi để hoàn thiện quá trình dạy học

1.2.2.2 Đánh giá

Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá:

Theo Trần Kiểm: “Đánh giá trong QLGD là nhằm xem xét hoạt động của cá nhân

và tổ có phù hợp với nhiệm vụ đề ra hay không, xem xét ưu điểm, thiếu sót và những nguyên nhân tương ứng để kịp thời điều chỉnh quyết định quản lý” [16, tr.131]

Theo Trần Bá Hoành, “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [14, tr.295]

Tác giả Nguyễn Phúc Châu cho rằng: “Đánh giá trong QTGD là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lí theo chuẩn mực có trong mục tiêu quản lí đã định Nó bao gồm sự mô

tả định tính và định lượng kết quả quản lí thông qua những nhận xét so sánh với mục tiêu quản lí” [8, tr.47]

Trang 24

Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh nhận định: “Đánh giá là nhiệm vụ căn bản của nhà giáo dục, là mặt thống nhất của việc soạn thảo chương trình học và giảng dạy tạo mối quan hệ tương hỗ giữa các yếu tố: mục tiêu giáo dục, nội dung học tập và các phương pháp đánh giá trong một chương trình giáo dục” nhằm xác định mức

độ, trình độ của người học [10, tr.56]

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Đánh giá khâu cuối cùng của quá trình sư phạm cũng là khâu cuối cùng của chu trình đánh giá “Đánh giá giáo dục được hiểu là quá trình mà người dạy đưa ra những nhận định, phán đoán về trình độ thực của người học đạt được sau một quá trình học tập trên cơ sở phân tích thông tin thu được, so sánh đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, chỉ ra những ưu điểm, nhược điểm, đồng thời đề xuất những phương pháp hay biện pháp để giúp học sinh khắc phục những yếu kém, sửa chữa những sai sót hoặc phát huy những mặt mạnh để đạt được tiến bộ ngày càng cao” [11, tr.141]

Dù định nghĩa theo những cách tiếp cận cận khác nhau, nhưng nhìn chung những định nghĩa đều có chung quan điểm là: “Đánh giá là hoạt động chủ thể của quản lí nhằm xác định độ đạt được của đối tượng quản lí so với mục tiêu đề ra để kịp thời điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu mong muốn”

1.2.2.3 Kết quả học tập (KQHT)

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, kết quả dạy học là những trình độ phát triển mới trong nhân cách người học đạt được sau mỗi quá trình dạy học Trình độ phát triển mới là tri thức mới, thái độ mới người học đạt được sau quá trình học tập Trình độ phát triển mới là một phạm trù trừu tượng, có nội hàm rộng và khó đo lường Quá trình dạy học theo cách tiếp cận hệ thống bao gồm 7 thành tố: “Mục đích - nội dung - phương pháp - phương tiện - giáo viên và hoạt động học - kiểm tra, đánh giá kết quả”[11, tr.132]

Như vậy, KQHT là một bộ phận của quá trình dạy học, có quan hệ biện chứng với các thành tố khác trong hệ thống cấu trúc với các yếu tố khác với bên ngoài như môi trường xã hội, gia đình

Khi xem xét quá trình dạy học từ góc độ người dạy là quá trình truyền kinh nghiệm khoa học của nhân loại từ thế hệ trước cho thế hệ sau, từ góc độ người học

là quá trình chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng và hình thành thái độ thì khái niệm KQHT được tiếp cận với cấu trúc cụ thể hơn

Trang 25

Theo tác giả Trần Bá Hoành, “KQHT là những nhận thức được cấu thành từ những kiến thức và kĩ năng mà học sinh thu được trực tiếp sau mỗi môn học hoặc sau mỗi khóa học” [14, tr.93]

Ở khái niệm trên tác giả chưa đề cập đến thái độ, nhưng đã nêu được thành phần kiến thức, kĩ năng Từ đó theo tác giả để đo KQHT của học sinh phải dựa vào các mức độ nhận thức về kiến thức và kĩ năng tiếp thu ở người học, gắn với quá trình dạy của thầy và trò qua các môn học, kỳ học

Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: KQHT được đánh giá dựa vào: Kiến thức, kĩ năng

và thái độ là tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng sản phẩm đào tạo

Như vậy, học tập của học sinh luôn có mối liên hệ biện chứng với mục tiêu đào tạo Để có KQHT tốt, mục tiêu đào tạo cần được cụ thể hóa thành các mức độ về nhận thức (kiến thức cần ghi nhớ, kiến thức gì cần hiểu, cần áp dụng, ), về kĩ năng (Việc gì học sinh bắt chước làm được, việc gì học sinh phải làm được chính xác, thuần thục, có biến hóa, ), về thái độ (hoạt động nào cần nghiêm túc, hoạt động nào cần tự giác, tinh thần trách nhiệm cao, ) trong từng bài học, môn học đó là nền tảng để thiết kế bài kiểm tra hợp lí Mặt khác KQHT của học sinh còn phản ánh kết quả dạy và học, vì thế đánh giá KQHT của học sinh phải được tiến hành thường xuyên, có hệ thống nhằm giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy, lựa chọn phương pháp dạy phù hợp, giúp học sinh lựa chọn được phương pháp học mang lại kết quả cao

1.2.2.4 Quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT

Xét về mặt quản lí, có thể hiểu quản lí hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh đúng kế hoạch, chính xác, khách quan, phản ánh trung thực chất lượng dạy học Từ

đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng dạy học Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng dạy học cũng như chất lượng giáo dục tổng thể

Người quản lý là tốt công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của

HS sẽ có được thông tin chính xác, kịp thời, có hệ thống, đảm bảo tính pháp lí… về chất lượng quá trình dạy học, quá trình giáo dục, mức độ đạt được mục tiêu quản lý

đã đề ra cũng như hiệu quả quản lý

Kết quả của KT, ĐG KQHT là cơ sở để chứng thực KQHT xếp loại học lực của HS, đánh giá năng lực và hiệu quả giảng dạy cũng như việc đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá việc sử dụng các nguồn lực trong và ngoài nhà trường… và sau đó là đánh giá hiệu quả quản lý

Trang 26

Như vậy, người quản lí cần có những tác động tích cực vào hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS được chính xác, khách quan, trung thực phản ánh đúng thực trạng chất lượng dạy học Người quản lí cần động viên khích lệ những mặt tốt, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục mặt chưa tốt để nâng cao chất lượng đào tạo

1.3 Chủ trương của Đảng, Nhà nước và ngành giáo dục về vấn đề kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh

Trong Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1991, sửa đổi và bổ sung năm 2011 khẳng định vai trò của giáo dục và đào tạo với các nội dung lớn: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời

Văn kiện đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch,

kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục, đào tạo Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng GD&ĐT

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục là một trong chín nhiệm vụ giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp

sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội

Thực hiện luật giáo dục, quá trình xây dựng khung chương trình và chương trình phổ thông, Bộ GD & ĐT đã chú trọng đến kiểm tra, đánh giá, ban hành nhiều văn bản về đánh giá, xếp loại học sinh và khẳng định KT, ĐG là một khâu rất quan trọng trong quá trình dạy và học Công tác chỉ đạo kiểm tra, đánh giá của Bộ GD&ĐT đối với cấp trung học phổ thông thông qua hệ thống văn bản sau:

Thông tư số 58/2011/TT-BGD&ĐT, ngày 12/12/2011, ban hành quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh THPT Trong đó quy định rõ về mục đích, căn cứ và nguyên tắc đánh giá, xếp loại hạnh kiểm; đánh giá xếp loại học lực

Trang 27

Công văn số 8773/BGDĐT-GDTrH ngày 30/12/2010 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn soạn đề kiểm tra và một số quyết định thông tư liên quan đến tuyển sinh trung học phổ thông, thi tốt nghiệp trung học phổ thông Một số yêu cầu được đặt ra như sau: Kiểm tra, đánh giá dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình trung học cơ sở trung học phổ thông đã được Bộ ban hành; tăng cường câu hỏi mức độ thông hiểu, sáng tạo; ra đề bằng ma trận kiến thức, kỹ năng; khuyến khích đánh giá bằng nhiều phương pháp

Các văn bản trên của Bộ Giáo dục đều đề cập đến công tác kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh theo hướng mới hiện nay là ra đề kiểm tra theo hướng “mở” để tạo điều kiện cho học sinh cơ hội thể hiện suy nghĩ và sáng tạo của mình Việc đánh giá KQHT của học sinh đều có những hướng dẫn cụ thể như việc chấm điểm, đánh giá với từng môn học, từng loại bài kiểm tra

Tóm lại, cùng với đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, việc KT, ĐG KQHT của HS đã được Đảng và nhà nước khẳng định là một khâu quan trọng trong quá trình dạy và học Nhiều cải tiến theo xu hướng khoa học KT, ĐG của thế giới đã chỉ đạo thực hiện và được triển khai và mang lại kết quả bước đầu

1.4 Hoạt động KT, ĐG KQHT ở trường THPT

1.4.1 Mục đích, ý nghĩa của KT, ĐG KQHT ở trường trung học phổ thông

* Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá

- Công khai hoá nhận định về năng lực và KQHT của một học sinh và tập thể lớp, tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình; khuyến khích, động viên việc học tập

- Giúp cho giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh và điểm yếu của mình, tự hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học

Như vậy, đánh giá không chỉ nhằm nhận định thực trạng và định hướng, điều chỉnh hoạt động của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định ra thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

* Ý nghĩa của việc kiếm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng

quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đối với cán bộ quản lí

- Đối với học sinh: Việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên, cung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” giúp người học điều chỉnh hoạt động học

Trang 28

+ Về giáo dưỡng: Kiểm tra, đánh giá chỉ cho học sinh thấy mình đã tiếp thu điều vừa học đến mức độ nào, còn thiếu sót nào cần bổ khuyết

+ Về mặt phát triển năng lực nhận thức: Kiểm tra, đánh giá giúp học sinh có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức, tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế

+ Về mặt giáo dục: KT, ĐG giúp học sinh có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập; có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn; củng cố lòng tin vào khả năng của mình; nâng cao ý thức tự giác; khắc phục tính chủ quan tự mãn trong học tập

- Đối với giáo viên: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho giáo viên những thông tin “liên hệ ngược” ngoài giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy

- Đối với cán bộ quản lí giáo dục: Kiểm tra, đánh giá cung cấp cho cán bộ quản lí giáo dục những thông tin vê thực trạng dạy và học trong một đơn vị giáo dục

để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục

* Đối với xã hội: KT, ĐG KQHT là một chứng thực để các đơn vị, tổ chức xã hội sử dụng lao động sắp xếp vào các lĩnh vực, vị trí phù hợp để đảm bảo sự phát triển về cá nhân và xã hội Đồng thời giúp nhà nước xã hội có định hướng trong đầu

tư và giáo dục, xây dựng mục tiêu tiếp theo

Như vậy, trong nhà trường hiện nay, việc dạy học không chỉ chú trọng đến dạy cái gì mà cần quan tâm đến dạy học như thế nào Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách có tính chất đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ từ đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học cho đến kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học Kiểm tra, đánh giá có vai trò rất to lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Kết quả của kiểm tra, đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lí giáo dục Nếu kiểm tra, đánh giá sai sẽ dẫn đến nhận định sai về chất lượng đào tạo, tác hại to lớn trong việc sử dụng nguồn nhân lực Vậy, đổi mới kiểm tra, đánh giá trở thành nhu cầu bức thiết của ngành Giáo dục và toàn xã hội ngày nay Kiểm tra, đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học tập

Trang 29

1.4.2 Chức năng kiểm tra, đánh giá KQHT ở trường trung học phổ thông

1.4.2.2 Chức năng định hướng

Qua việc xử lí thông tin KT, ĐG có thể đưa ra các nhận định về mức độ xác thực, xu thế phát triển, dự đoán kết quả đạt được trong chu trình dạy học tiếp theo Giúp người dạy, người học, nhà quản lí có định hướng kế hoạch của mình trong quá trình dạy học

1.4.2.3 Chức năng hỗ trợ

KT, ĐG thực hiện chức năng hỗ trợ đòi hỏi phải có cách xử lý thông tin về vừa để kiểm tra lại quá trình học tập, vừa thúc đẩy, vừa củng cố, mở rộng chất lượng vốn kiến thức, chỉnh lí, sửa chữa và nâng cao Nó cho phép tạo lập mối liên

hệ chặt chẽ giữa chất lượng của hành trình đã được thực hiện với yêu cầu hành trình KT, ĐG hỗ trợ cho học tập, đòi hỏi giáo viên và học sinh cùng tham gia tổ chức để đảm bảo cho sự thành công của quá trình dạy học Chức năng hỗ trợ sẽ đặt học sinh đứng trước trình độ học lực của họ, đồng thời tạo điều kiện giúp đỡ họ cải thiện, nâng cao về số lượng và chất lượng tri thức, xác định được thiếu sót của từng học sinh và giúp họ khắc phục

1.4.2.4 Chức năng phát hiện lệch lạc, điều chỉnh

Trên cơ sở đánh giá KQHT, giáo viên có thể phát hiện những mặt tốt, mặt chưa tốt, những khó khăn, vướng mắc của học sinh và tìm ra nguyên nhân của những sai sót trong quá trình dạy học Tự chỗ phát hiện đuợc những lệch lạc, sai sót trong quá trình, giáo viên, người học, các nhà quản lí sẽ tìm ra biện pháp điều chỉnh quá trình học tập của học sinh, đồng thời bổ sung, tự hoàn thiện hoạt động dạy, học, quản lí của mình và đưa ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời, giúp quá trình dạy học hoàn thiện theo hướng tích cực hơn Ngoài ra, còn giúp cho cơ sở đào tạo điều chỉnh mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp, phương tiện, điều kiện, môi trường phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu xã hội

Trang 30

Bốn chức năng này liên kết, thống nhất với nhau Đối với học sinh, việc công khai KQHT giúp các em nhận ra những thành tích và thiếu sót của mình để rút ra bài học cho chính bản thân Như vậy, kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục

1.4.3 Yêu cầu của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT ở trường trung học phổ thông

- Giáo viên đánh giá sát, đúng trình độ học sinh với thái độ khách quan, công minh và hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá năng lực của mình

- Trong quá trình dạy học, cần kết hợp một cách hợp lí hình thức tự luận với hình thức trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh, chuẩn bị tốt cho việc đổi mới các kì thi theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Thực hiện đúng quy định của quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tiến hành đủ số lần kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì, kiểm tra học kì cả lý thuyết và thực hành

* Định hướng chỉ đạo về đổi mới kiểm tra, đánh giá đảm bảo các yêu cầu sau:

1.4.3.1 Đảm bảo tính khách quan

Đảm bảo tính khách quan là một trong những yêu cầu quan trọng trong KT,

ĐG, yêu cầu này đòi hỏi quá trình KT, ĐG phải tạo điều kiện cho người học thể hiện thực chất cá nhân, trình độ của mình Đảm bảo tính khách quan sẽ ngăn chặn mọi hành vi thiếu trung thực trong quá trình học tập và KT, ĐG Nội dung KT, ĐG phải phù hợp với chương trình đề ra, tổ chức phải nghiêm túc theo quy chế, xử phạt nghiêm minh các trường hợp vi phạm

1.4.3.2 Đảm bảo tính toàn diện

Nội dung KT, ĐG phải đảm bảo tính toàn diện Phương pháp, phương tiện phải đa dạng, đủ các mặt, các khía cạnh để thu được thông tin đầy đủ về mặt tri thức, thái độ ứng xử, kĩ năng thực hành, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn trong một giai đoạn và toàn bộ quá trình dạy học

1.4.3.3 Đảm bảo tính hệ thống

KT, ĐG phải được tiến hành liên tục, đều đặn, có hệ thống, theo kế hoạch nhất định nhằm đảm bảo tính khoa học và hiệu quả trong quá trình dạy học

1.4.3.4 Đảm bảo tính công khai, công bằng

Mục đích, yêu cầu, thời gian, bộ chuẩn, hình thức KT, ĐG phải thông báo cho mọi người có liên quan biết rõ Kết quả KT, ĐG được công khai để: Thứ nhất,

Trang 31

mang tính khách quan; Thứ hai, người học có điều kiện so sánh, đối chiếu bản thân với yêu cầu đề ra Từ đó, người học có sự nhận xét, đánh giá đúng hơn về năng lực bản thân và nhận xét, đánh giá của bạn bè; đồng thời người dạy cũng có điều kiện

so sánh kết quả dạy học của mình so với mục tiêu đề ra

1.4.3.5 Đảm bảo tính phát triển

Quá trình học luôn luôn vận động và phát triển liên tục theo sự phát triển của

xã hội Việc KT, ĐG tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cho người học phải theo hướng phát triển của người học Hoạt động KT, ĐG phải toàn diện, liên tục ở từng khâu, từng giai đoạn, không chỉ sau quá trình mà cả trong quá trình dạy học Sau quá trình dạy học, người dạy học phải luôn luôn tạo được động lực khuyến khích, động viên người học theo hướng tích cực để tạo niềm tin cho người học tiếp tục phát triển Các yêu cầu trong hoạt động KT, ĐG có liên quan, hỗ trợ, bổ sung cho nhau Tùy mục đích, nội dung, đối tượng, điều kiện mà chủ thể quản lí vận dụng hoặc phối hợp tối ưu giữa chúng một cách linh hoạt và sáng tạo nhằm mang lại hiệu quả của hoạt động KT, ĐG

Từ những yêu cầu trên phải có sự hướng dẫn, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp quản lí giáo dục, sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhất là giáo viên cùng bộ môn, cần lấy

ý kiến xây dựng của học sinh để từ đó hoàn thiện phương pháp dạy học và KT, ĐG KQHT của HS

1.4.4 Các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT ở trường THPT

1.4.4.1 Các hình thức kiểm tra, đánh giá KQHT

Trong nhà trường phổ thông, hoạt động dạy học chính là hoạt động trung tâm, KQHT của học sinh phản ánh tập trung nhất kết quả hoạt động dạy học KT, ĐG KQHT của học sinh là quá trình xác định mức độ đạt được của học sinh về kiến thức, kĩ năng, thái độ thông qua việc đối chiếu với yêu cầu mục tiêu dạy học Các hình thức KT, ĐG:

Kiểm tra, đánh giá thường xuyên (KT miệng, KT 15 phút) được GV tiến hành hàng ngày nhằm kịp thời điều chỉnh hoạt động của cả GV và HS, thúc đẩy học sinh cố gắng, tích cực, có kế hoạch học tập một cách liên tục, có hệ thống; đồng thời tạo điều kiện để quá trình dạy học chuyển sang bước phát triển cao hơn Việc KT, ĐG thường xuyên thông qua quan sát có hệ thống hoạt động của học sinh, qua kiểm tra bài cũ, qua quá trình giảng bài mới, qua củng cố bài, qua việc vận dụng tri thức vào thực tiễn KT,

ĐG thường xuyên, liên tục giúp cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS, để thấy

Trang 32

được hiệu quả của giảng dạy hỗ trợ nâng cao chất lượng của quá trình dạy học

KT, ĐG định kỳ (KT 45 phút, KT 90 phút) thường được tiến hành sau từng chương, từng chuyên đề của chương trình giảng dạy nên tùy thuộc vào từng môn học (Thực hiện theo phân phối chương trình của Bộ Giáo Dục)

Kiểm tra định kỳ (kiểm tra tổng kết) thường được sử dụng để đánh giá tổng kết tiến hành khi kết thúc môn học, khóa học bằng những kỳ thi nhằm đánh giá tổng quát KQHT, đối chiếu với những mục tiêu đề ra Thi là một hình thức đặc biệt của kiểm tra tổng kết Nếu kì thi tổ chức đúng đắn sẽ là yếu tố tích cực tạo điều kiện cho mỗi học sinh nhìn lại cả một quá trình học tập của mình để phát hiện ra những lỗ hỏng trong kiến thức, phương pháp học cũng như động cơ, mục đích học tập Kì thi cũng là dịp để giáo viên đánh giá đúng đắn kết quả giảng dạy và giáo dục của mình Căn cứ vào mục đích đánh giá mà người ta phân thành 3 loại hình khác nhau:

Đánh giá chẩn đoán: Được tiến hành trước một giai đoạn giáo dục nhất định

nhằm đưa ra các chứng cứ để có thể dự kiến KQHT cho giai đoạn đó như: đánh giá đầu vào, đầu năm học

Đánh giá định kì: Được tiến hành trong quá trình giáo dục nhằm cung cấp

thông tin về những gì HS đã học được, vạch ra hành động tiếp của quá trình dạy học

đó như: đánh giá sau kết thúc một bài, một phần, một chương…

Đánh giá tổng kết: Được tiến hành cuối mỗi giai đoạn học tập, một học kỳ,

một năm học, một khóa học, cấp học Việc đánh giá này nhằm tổng kết thành tích học tập của HS một cách có hệ thống, góp phần quan trọng để cung cấp chứng cứ cho việc lập kế hoạch giáo dục trong giai đoạn tiếp theo

Ba hình thức trên dù có những tính chất và yêu cầu khác nhau nhưng chúng luôn hỗ trợ và bổ sung cho nhau, tạo điều kiện cho giáo viên đánh giá học sinh một cách toàn diện, chính xác Vì vậy, không nên xem nhẹ hình thức KT, ĐG nào mà cần phối hợp chặt chẽ để đánh giá đúng thực chất trình độ học sinh

1.4.4.2 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT

Có nhiều cách phân loại các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT của HS Theo các hình thức thực hiện việc kiểm tra, đánh giá KQHT có thể phân chia thành các phương pháp sau:

Trang 33

Sơ đồ 1.2 Các phương pháp KT - ĐG KQHT

Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp rất phổ biến trong dạy học hay

giáo dục, có thể tiến hành trong lớp hoặc ngoài lớp, thích hợp với học sinh ở mọi độ tuổi, nhất là học sinh ở lứa tuổi nhỏ, thuận lợi cho việc thu thập thông tin để đánh giá về giá trị, thái độ hay kỹ năng của học sinh

Phương pháp kiểm tra viết

Trắc nghiệm tự luận: Kiểm tra viết là một phương pháp kiểm tra mà học sinh phải trả lời câu hỏi bằng một bài viết trong khoảng thời gian nhất định nào đó Tùy vào yêu cầu kiểm tra, mục đích kiểm tra, thời gian kiểm tra mà số câu hỏi nhiều hay

ít, mức độ cao hay thấp Thông thường bài tự luận đòi hỏi học sinh phải thu thập thông tin và tái hiện kiến thức cũng như năng lực trí tuệ của mình để trả lời câu hỏi hay giải quyết các vấn đề đặt ra bằng cách riêng của mình thể hiện sự hiểu biết lập luận, phân tích, đánh giá, trình bày, diễn đạt theo phong cách riêng tạo thành một văn bản có tính hoàn chỉnh Phương pháp kiểm tra viết có thể kiểm tra đồng loạt, đồng thời nhiều học sinh trong cùng một lớp, toàn khối lớp trong trường, nhiều trường hay toàn quốc trong cùng một đơn vị thời gian Phương pháp này có thể đánh giá được trình độ chung của học sinh do đó có thể phân loại và phân hóa được học sinh Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có khả năng đánh giá mức độ nắm tri thức lí thuyết khó có điều kiện đánh giá kỹ năng liên quan đến hoạt động thực hành thí nghiệm hay sử dụng công cụ kỹ thuật

nhà Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Trắc nghiệm

khách quan

Trắc nghiệm tự luận

Tự do Theo cấu trúc

Ghép đôi Điền khuyết Trả lời ngắn Đúng/sai Nhiều lựa

chọn

Trang 34

Trắc nghiệm khách quan: Phương pháp trắc nghiệm khách quan là dạng trắc nghiệm trong đó mỗi câu hỏi có kèm theo những câu trả lời sẵn Trắc nghiệm khách quan phải được xây dựng sao cho mỗi câu hỏi chỉ có một câu trả lời đúng hoặc là một câu trả lời tốt nhất Phương pháp này cho phép trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều đơn vị kiến thức, đi vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức Phạm vi kiểm tra kiến thức trắc nghiệm khá rộng nên có thể chống lại khuynh hướng học tủ, học lệch Trắc nghiệm gây được hứng thú với tính tích cực học tập cho học sinh vì đây là một hình thức kiểm tra mới so với hình thức kiểm tra

cổ truyền Tuy nhiên bên cạnh các bài trắc nghiệm kiểm tra kiến thức người ta đã có những thích ứng với mục tiêu đánh giá kỹ năng, năng lực hay thái độ nhưng trắc nghiệm không phải là phương pháp vạn năng, không thể thay thế cho những phương pháp KT, ĐG cổ truyền mà cần được sử dụng phối hợp một cách hợp lý

Phương pháp kiểm tra vấn đáp: Đây là phương pháp được áp dụng rộng rãi

trong hình thức kiểm tra thường xuyên và đánh giá từng phần Phương pháp này thường dùng để kiểm tra bài cũ bằng những câu hỏi ngắn trước khi bắt đầu bài mới hoặc sử dụng cuối mỗi bài học nhằm đánh giá mức độ nắm kiến thức mới và thực hiện chức năng củng cố Đây là phương pháp giúp giáo viên thu được những thông tin ngược một cách trực tiếp và nhanh chóng để đánh giá mức độ nắm kiến thức và kịp thời điều chỉnh học sinh, để giáo viên có những biện pháp điều chỉnh hoạt động dạy học, giúp học sinh bổ khuyết những sai sót

Phương pháp kiểm tra thực hành: Đây là phương pháp đánh giá sự trình diễn

của học sinh, tạo cơ hội cho học sinh trình bày hay biểu diễn một thí nghiệm, các thao tác kĩ thuật với công cụ, một động tác thể dục, một trò chơi đóng vai…Với phương pháp này, học sinh vừa thể hiện sự nắm vững tri thức về hành động, vừa có khả năng thể hiện tổng hợp hành động trong điều kiện thực của đời sống Do đó, phương pháp này có thể cung cấp những thông tin xác thực cho việc đánh giá kỹ năng, thái độ của học sinh, đặc biệt trong các môn tự nhiên, kỹ thuật, thể dục, tin học

Phương pháp giao bài tập về nhà: Giáo viên có thể viết bài tập trên bảng hoặc

đọc để cho học sinh chép vào vở Những bài tập ở nhà cần được chữa tại lớp vào đầu tiết học hoặc trong tiết chữa bài tập Đây là phương pháp giúp giáo viên thực hiện và phát hiện kịp thời những thiếu sót của học sinh để bổ sung và có kế hoạch giúp đỡ riêng đối với những học sinh yếu, kém để các em tiếp thu thuận lợi những bài học tiếp theo Phương pháp giao bài tập ở nhà không chỉ có tác dụng giúp cho

Trang 35

học sinh vận dụng tri thức vào thực hành để hình thành kỹ năng mà còn giúp cho học sinh tự đánh giá trình độ tri thức, kỹ năng của mình; giúp cho giáo viên nhanh chóng nắm được KQHT của học sinh

1.4.5 Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh ở trường THPT

Thực tiễn GD đã chỉ ra rằng, để đánh giá toàn diện, chính xác và hiệu quả của việc thực hiện chương trình, nội dung và phương pháp dạy- học, khâu quan trọng quyết định cuối cùng là KT, ĐG Làm thế nào để việc kiểm tra, đánh giá đơn giản,

dễ dàng nhưng đảm bảo tính chính xác, phản ánh đúng thực tế quá trình dạy học, thực hiện trung thực kết quả thực hiện mục tiêu GD đó là điều mong muốn khi thực hiện việc đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy

KT, ĐG KQHT của người học phải đảm bảo đúng nguyên tắc, loại bỏ các yếu

tố tiêu cực do chủ quan con người tác động và tạo điều kiện để người học có thể đánh giá được KQHT của mình Ngoài việc KT, ĐG bằng điểm số trên bài kiểm tra còn đánh giá được thái độ, hành vi ứng xử cả người học

1.4.5.1 Đổi mới quan niệm về kiểm tra, đánh giá

Một trong những điểm được đặc biệt quan tâm hiện nay là việc thay đổi từ chương trình dạy học định hướng nội dung sang chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra Mục đích chính là nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các vấn đề của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình dạy học định hướng kết quả đầu ra không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình đào tạo, trên cơ sở đưa ra những hướng dẫn chung

về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả đầu ra mong muốn KQHT mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu

ra Vì lẽ đó, hoạt động KT, ĐG phải đặc biệt chú trọng đến KT, ĐG quá trình và KT,

ĐG năng lực thực hành, thí nghiệm, tự học của học sinh

1.4.5.2 Đổi mới về mục đích, mục tiêu kiểm tra, đánh giá

KT, ĐG là một hoạt động thu thập thông tin về mức độ thực hiện mục tiêu, từ

đó đánh giá hiệu quả hoạt động dạy học và giáo dục Mục tiêu dạy học chi phối toàn

bộ quá trình dạy học, trong khi đó KT, ĐG là đánh giá mục tiêu dạy học Như vậy,

Trang 36

KT, ĐG có tác dụng chi phối quá trình dạy học Mục tiêu chung của dạy học hiện nay không chỉ nhằm phát triển năng lực toàn diện của học sinh mà còn nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Đây chính là điểm mới trong mục đích và mục tiêu KT, ĐG của GV ngày nay

1.4.5.3 Đổi mới về hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá

Đa dạng các hình thức KT, ĐG mang tính thực tiễn và sáng tạo Một mặt nâng cao chất lượng các bài kiểm tra trên giấy, với hai hình thức trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan nhằm đánh giá mức độ nắm vững và vận dụng kiến thức; kỹ năng trình bày, diễn đạt, lập luận logic, kỹ năng giải quyết vấn đề của HS Mặt khác cần tăng cường các hình thức KT nhằm đánh giá những kỹ năng như trình bày một vấn đề trước đám đông, xử lý tình huống, kỹ năng hợp tác, độc lập sáng tác, kĩ năng xử lí thông tin…nhằm thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT Nghĩa là cần phải tăng cường đổi mới KT, ĐG theo hướng sử dụng đa dạng các hình thức như: Tự đánh giá; đánh giá đồng đẳng; phỏng vấn; thực hành thí nghiệm ở các môn vật lí, hóa học, sinh học; kĩ năng nghe và nói ở các môn ngoại ngữ…

1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh THPT

1.5.1 Xây dựng kế hoạch hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tâp

Xây dựng kế hoạch KT, ĐG KQHT của học sinh là một nội dung quan trọng trong công tác quản lí hoạt động dạy Kế hoạch KT, ĐG KQHT của học sinh được xây dựng cụ thể, chi tiết mục tiêu và biện pháp thực hiện kế hoạch KT, ĐG phù hợp với tình hình thực tế của trường sẽ giúp việc thực hiện kế hoạch dễ dàng và mang lại hiệu quả cao

Kế hoạch KT, ĐG KQHT của HS gồm:

Kế hoạch nhà trường: Đầu năm học nhà trường phải xây dựng kế hoạch KT,

ĐG KQHT của HS, kế hoạch KT, ĐG KQHT phải xác định rõ mục tiêu về mức độ tiếp thu về nhận thức, kĩ năng, thái độ của HS trong quá trình học tập (người học cần phải nắm bắt được gì?) ĐG KQHT của học sinh là đánh giá theo mục tiêu xác định trước, là cơ sở để kết luận năng lực ĐT, chất lượng ĐT, từ đó điều chỉnh quá trình dạy học và học hợp lí hơn, hoàn thành tốt mục tiêu GD&ĐT của nhà trường

Tổ bộ môn trực tiếp quản lí điều hành, GV thực hiện đúng chương trình theo kế hoạch của nhà trường

Kế hoạch của GV: Trong quá trình dạy học, GV xây dựng kế hoạch KT, ĐG KQHT của học sinh dựa vào kế hoạch chung của nhà trường, theo hướng dẫn của

Sở và quy định của Bộ GD&ĐT

Trang 37

Khi lập kế hoạch KT, ĐG KQHT của học sinh căn cứ vào phân phối chương trình môn học của Bộ GD&ĐT; thể hiện mục tiêu KT, số tiết KT, thời gian phân bố

KT, ĐG; tiêu chuẩn ĐG về các mức độ tiếp thu về nhận thức, kĩ năng, thái độ của

HS đối với từng nội dung ĐG

Kế hoạch kiểm tra, đánh giá KQHT của HS có thể tách riêng hoặc nằm trong

kế hoạch tổng thể của nhà trường, được xây dựng theo năm học, học kỳ; được hội đồng giáo dục trường thông qua và quản lý cấp trên trực tiếp phê duyệt

1.5.2 Tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh

Tổ chức hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh là quá trình người CBQL thực hiện việc phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu trong kế hoạch hoạt động KT, ĐG đã đề ra (người CBQL sẽ thực hiện hoá mục tiêu kế hoạch kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh) Tổ chức hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh gồm các công việc sau: Phân cấp, phân quyền chỉ đạo KT, ĐG KQHT của học sinh có cơ cấu hợp lí; Triển khai thực hiện kế hoạch KT, ĐG KQHT của HS (ra đề, quản lí đề, chấm thi,…) khoa học, hiệu quả;

Sắp xếp, bố trí phân công cán bộ, giáo viên thực hiện KT, ĐG KQHT của học sinh một cách hợp lí;

Phân công nhiệm vụ cụ thể cho Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, phòng khảo thí, bộ phận văn phòng, giáo viên…Chỉ rõ nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, giáo viên, các bộ phận tham gia KT, ĐG KQHT của học sinh;

Tập huấn hướng dẫn cho giáo viên thực hiện hoạt động KT, ĐG KQHT của

HS Xây dựng, hoàn thiện và ban hành các quy chế, quy định, các văn bản hướng dẫn hoạt động KT, ĐG KQHT của HS

1.5.3 Chỉ đạo hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh

Chỉ đạo hoạt động KT, ĐG là quá trình tác động cụ thể của hiệu trưởng tới mọi cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên trong nhà trường, nhằm biến những nhiệm

vụ chung về kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh của nhà trường thành hoạt động thực tiễn của từng người

Thực hiện chức năng chỉ đạo là thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh; thường xuyên điều chỉnh, sắp xếp phối hợp và giám sát mọi người và các bộ phận thực hiện tốt kế hoạch theo

sự bố trí đã xác định trong bước tổ chức như: BGH chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch

Trang 38

KT, ĐG KQHT của HS, đặc biệt là kiểm tra, giám sát cách biên soạn ma trận đề kiểm tra của Giáo viên; Tổ chuyên môn chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch KT, ĐG KQHT của HS; Động viên, khích lệ giáo viên, nhân viên và học sinh thực hiện hoạt động KT, ĐG KQHT của HS phù hợp với đối tượng Tuy nhiên, việc ra đề kiểm tra phải tuân thủ theo 4 mức độ yêu cầu: Nhận biết - Thông hiểu -Vận dụng - Vận dụng cao; phát huy vai trò của GV trong hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh

1.5.4 Kiểm tra hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh

Kiểm tra hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh là quá trình người CBQL xem xét thực tiễn để phát hiện, đánh giá thực trạng về hoạt động KT, ĐG nhằm thực hiện các công việc sau: Xây dựng hoàn thiện và ban hành các quy chế, quy định, các văn bản hướng dẫn hoạt động kiểm tra, đánh giá; xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn kiểm tra hoạt động KT, ĐG khoa học, hợp lí; kiểm tra hoạt động KT, ĐG theo kế hoạch; kiểm tra hoạt động bài kiểm tra, đánh giá định kì; Kiểm tra hoạt động kiểm tra, đánh giá đột xuất; sơ kết, tổng kết đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá, thi đua khen thưởng hợp lí kịp thời; đề xuất các biện pháp điều chỉnh hoạt động kiểm tra, đánh giá kịp thời, hiệu quả để đạt được mục tiêu về KQHT của học sinh đã đề ra

Để làm tốt công tác này Ban thanh tra cần tham mưu với người CBQL những biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ tiến độ thực hiện từng nhiệm vụ trong hoạt động KT, ĐG KQHT của HS

1.5.5 Quản lí các điều kiện đảm bảo hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh

Để hoạt động KT, ĐG KQHT một cách có hiệu quả hơn, ngoài các chức năng quản lí phân tích ở trên, người quản lí cần chú trọng đến các điều kiện đảm bảo hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh như sau:

Các chế định Giáo dục & Đào tạo về hoạt động KT, ĐG Đối với hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của học sinh hiện nay có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn, điều chỉnh như văn bản quy phạm pháp luật như luật Giáo dục, văn kiện nghị quyết của Đảng, quyết định và quy chế của Bộ GD& ĐT Quy định cơ sở GD& ĐT

và nhà trường; Bộ máy tổ chức và nhân lực tham gia hoạt động kiểm KT, ĐG Tổ chức nhân sự làm công tác KT, ĐG KQHT của học sinh là điều kiện ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh; Nguồn tài chính và cơ sở vật chất được huy động tham gia hoạt động KT, ĐG Cơ sở vật chất, kinh phí: Cơ sở vật chất trường lớp, phòng thi, máy móc thiết bị…các nguồn tài chính phục vụ cho công tác dạy học của nhà trường, phục vụ cho hoạt động KT, ĐG KQHT của HS; Hệ thống

Trang 39

thông tin và môi trường bao quanh thầy trò trong hoạt động kiểm tra, đánh giá

Ngoài những cơ sở vật chất, thiết bị đã nêu ở trên thì ứng dụng công nghệ thông tin vào trong quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là một điều kiện không thể thiếu trong nhà trường hiện nay

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý KT, ĐG KQHT của học sinh THPT

1.6.1 Các nhân tố chủ quan

Quản lí hoạt động KT, ĐG có thực hiện tốt hay không, đầu tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai trong quá trình thực tiễn của người CBQL Người CBQL phải là người có nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của hoạt động KT, ĐG trong quản lí quá trình dạy học của nhà trường Thực hiện tốt các chức năng quản lí của mình trong quản lí hoạt động KT, ĐG như:

Kế hoạch KT, ĐG được đầu tư nhiều, mục tiêu rất rõ ràng và cụ thể Nếu nhà quản lí chưa đầu tư cho lập kế hoạch, quen công việc cũ hay kế hoạch chưa rõ ràng

sẽ gây nhiều khó khăn trong công tác quản lí; Công tác tổ chức hoạt động KT, ĐG khoa học, chặt chẽ Có sự phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động kiểm tra, đánh giá nhịp nhàng; phân công công việc trong hoạt động kiểm tra, đánh giá hợp lí, khoa học, tránh sự chồng chéo, thiếu chính xác; công tác thi đua khen thưởng đánh giá kết quả hoạt động KT, ĐG thực hiện tốt sẽ tạo động lực cho giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy và học Nếu thiếu biện pháp kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm

và khen thưởng trong hoạt động kiểm tra, đánh giá sẽ không điều chỉnh được hoạt động KT, ĐG không tạo động lực thúc đẩy quá trình dạy học; Trình độ, năng lực chuyên môn, kĩ năng sư phạm, phẩm chất của giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học, vì thế năng lực của giáo viên trong hoạt động KT, ĐG chưa đảm bảo yêu cầu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quản lí hoạt động KT, ĐG

Ngoài ra, uy tín của người CBQL trong tập thể sư phạm có tác dụng như chất xúc tác thúc đẩy sự phát triển của nhà trường

1.6.2 Các nhân tố khách quan

Hệ thống các văn bản, quy định, quy chế…hướng dẫn về kiểm tra, đánh giá Nghị quyết của các đại hội Đảng toàn quốc đã định hướng cho việc đổi mới hoạt động KT, ĐG; các văn bản, chỉ thị của ngành GD&ĐT đã được các cấp quản lí cụ thể hóa và hướng dẫn thực hiện Đây là môi trường pháp lí thuận lợi cho việc quản

lí hoạt động KT, ĐG ở các trường phổ thông hiện nay

Trang 40

Hoạt động KT, ĐG gắn liền với yêu cầu về các phương tiện kĩ thuật hiện đại, về CSVC nói chung, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạt động độc lập hoặc theo nhóm của học sinh Vì vậy, Người CBQL cần có kế hoạch xây dựng CSVC, có biện pháp huy động lực lượng hỗ trợ kinh phí để trang bị đồng bộ từng bước chuẩn hóa, hiện đại hóa hệ thống CSVC theo hướng đổi mới hoạt động KT, ĐG KQHT của HS Nhận thức của học sinh, gia đình và nhà trường về tầm quan trọng của hoạt động KT, ĐG có ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động KT, ĐG Học sinh không thể có phương pháp học tập tốt nếu gia đình không tạo điều kiện, không khuyến khích, giúp

đỡ học sinh trong học tập Truyền thống văn hóa, môi trường đạo đức chung của mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi cộng đồng gần gũi với HS, có thể trở thành tác nhân thúc đẩy hoặc kìm hãm động cơ, thái độ, phương pháp học tập của HS Vì vậy tăng cường vai trò của gia đình, của cộng đồng xã hội, trong việc tạo điều kiện, hướng dẫn HS tự học là vô cùng cần thiết để nâng cao KQHT trong kiểm tra, đánh giá

Trong quá trình nghiên cứu lý luận về QL HĐ KT, ĐG kết quả học tập của học sinh có thể nhận thấy trong quá trình dạy học thì KT, ĐG là một hoạt động tất yếu, không thể thiếu được Hoạt động KT, ĐG nhằm thu được thông tin ngược từ người học đến GV; giúp GV, nhà trường đánh giá được chất lượng dạy học của nhà trường Đồng thời giúp GV, HS có cơ sở tự đánh giá bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh mình theo mục tiêu GD Để quản lí tốt hoạt động KT, ĐG KQHT của HS, người CBQL ở trường cần có kế hoạch cụ thể rõ ràng để tổ chức có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trong đó quản lí hoạt động KT, ĐG KQHT của học sinh là khâu quan trọng rất cần thiết Để làm tốt công tác này người CBQL cần nắm

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm