Thừa hưởng và phát huy truyền thống của một vùng đất lịch sử, văn hóa, nhân dân Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng luôn thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất, liên tục tạ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Bố cục nội dung của luận văn 7
CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ SAU NGÀY 1/11/1963 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19/6/1965 8
1.1 Khái quát phong trào sinh viên, học sinh Huế trước ngày 1/11/1963 8
1.1.1 Mảnh đất và con người Huế 8
1.1.2 Truyền thống yêu nước và cách mạng của học sinh Huế trước năm 1954 10 1.2 Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ sau ngày 1/11/1963 đến trước ngày 19/6/1965 20
1.2.1 Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế 20
1.2.2 Chủ trương của Đảng 26
1.2.3 Diễn biến phong trào 30
CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ NGÀY 19/6/1965 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 31/1/1968 41
2.1 Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế từ ngày 19/6/1965 đến trước ngày 31/1/1968 41
2.1.1 Khái quát tình hình miền Nam Việt Nam 41
2.1.2 Chính sách thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế từ ngày 19/6/1965 đến trước ngày 31/1/1968 43
2.2 Chủ trương của Đảng 46
2.2.1 Chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy Trị - Thiên 46
2.2.2 Chủ trương của Tỉnh ủy Thừa Thiên 48
Trang 22.3 Diễn biến phong trào 51
2.3.1 Giai đoạn 1: Đấu tranh chống Mỹ và Thiệu - Kỳ mở rộng chiến tranh (từ ngày 19/6/1965 đến ngày 11/3/1966) 51
2.3.2 Giai đoạn 2: Phong trào sinh viên, học sinh Huế ủng hộ sĩ quan, binh lính ly khai chính quyền Sài Gòn (từ ngày 12/3/1966 đến ngày 21/6/1966) 54
2.3.3 Giai đoạn 3: Khôi phục và củng cố phong trào từ ngày 22/6/1966 đến trước Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 (31/1/1968) 67
CHƯƠNG 3: TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ NĂM 1963 ĐẾN NĂM 1968 73
3.1 Tính chất của phong trào 73
3.2 Đặc điểm của phong trào 75
3.2.1 Quy mô của phong trào 75
3.2.2 Sự quyết liệt của phong trào 76
3.2.3 Hình thức và biện pháp đấu tranh của phong trào 77
3.3 Ý nghĩa lịch sử của phong trào 78
3.3.1 Phong trào góp phần vào sự phát triển của phong trào cách mạng Thừa Thiên Huế nói riêng, cách mạng miền Nam nói chung trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 78
3.3.2 Phong trào chứng minh tinh thần đấu tranh bất khuất của sinh viên, học sinh Huế 80
3.3.3 Phong trào để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho cách mạng miền Nam và cách mạng Việt Nam 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), phong trào đô thị
là một mũi nhọn sắc bén góp phần quan trọng đưa sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đi đến thắng lợi hoàn toàn
Phong trào đô thị luôn lôi kéo nhiều giai cấp và tầng lớp xã hội tham gia, trong
đó, đông đảo nhất và đóng vai trò quan trọng nhất là sinh viên, học sinh Hay nói cách khác, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh là một bộ phận quan trọng của phong trào đô thị
Có thể nói, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Huế và Sài Gòn là hai đô thị ghi nhiều dấu ấn với phong trào sinh viên, học sinh tranh đấu đòi dân sinh, dân chủ, độc lập, hòa bình và thống nhất đất nước Và có thể khẳng định rằng, Huế là một trong những địa phương mà phong trào đô thị diễn ra sớm, sôi nổi
và quyết liệt góp phần vào thắng lợi của cách mạng miền Nam nói chung và cách mạng Thừa Thiên Huế nói riêng
Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu về phong trào sinh viên, học sinh miền Nam nói chung, Huế nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống Do đó, việc nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
1963 đến 1968 có ý nghĩa hết sức thiết thực
Về ý nghĩa khoa học, nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh Huế từ 1963
đến 1968 góp phần làm rõ nguyên nhân, diễn biến, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào sinh viên, học sinh, từ đó làm rõ vai trò của sinh viên, học
sinh Huế trong việc góp phần làm thất bại chiến lược“Chiến tranh đặc biệt” và
“Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, cũng như vai trò đối với
phong trào đô thị nói chung và phong trào sinh viên, học sinh miền Nam nói riêng
Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh Huế từ 1963
đến 1968 góp phần cung cấp thêm nguồn tư liệu về phong trào đô thị nói chung và phong trào sinh viên, học sinh Huế nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giúp các nhà sử học khi nghiên cứu lịch sử Huế; làm tư liệu cho việc giảng
Trang 4dạy lịch sử địa phương ở các trường trung học trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước và cách mạng cho sinh viên, học sinh; giáo dục thế hệ trẻ nhận thức được vai trò của bản thân đối với sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước trong giai đoạn đổi mới và hội nhập hiện nay
Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề “Phong trào sinh viên, học sinh Huế trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến 1968” làm đề tài luận văn Thạc
sĩ của mình
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Liên quan đến đề tài có một số công trình như:
- Thích Nữ Diệu Không (1966), Pháp nạn 66 do chính tác giả xuất bản tại
Huế Trong tác phẩm này, tác giả đã chỉ ra một số nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh phong trào đô thị Huế, trong đó có phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh như chính sách xâm lược và âm mưu thiết lập chế độ độc tài quân phiệt của chính quyền
do Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đứng đầu
- Trần Văn Giàu (1970), Miền Nam giữ vững thành đồng, Tập IV, Nhà xuất
bản (NXB) Khoa học Xã hội, Hà Nội, đề cập một cách khá rõ nét phong trào đô thị miền Nam, trong đó có nhiều tư liệu liên quan đến phong trào sinh viên, học sinh Huế từ 1963 đến 1968
- Lê Cung (2001), Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ
(1954-1975), NXB Thuận Hóa, Huế, nghiên cứu một cách có hệ thống về nguyên nhân,
diễn biến, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), trong đó phong trào sinh viên, học sinh Huế cũng được đề cập đến ở một mức độ nhất định
- Nhiều tác giả (2012), Phong trào đô thị thời quật khởi (1954 – 1975), NXB
Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, gồm các bài viết về phong trào đô thị miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) cung cấp thêm một số tư liệu quan trọng về phong trào đô thị Huế, trong đó có phong trào sinh viên, học sinh giai đoạn (1954 – 1975)
- Nhiều tác giả (2015), Lịch sử phong trào đô thị Huế 1954 - 1975, NXB Trẻ,
Thành phố Hồ Chí Minh Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về
Trang 5phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) với nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến nội dung của luận văn
Ở Thừa Thiên Huế, việc nghiên cứu về lịch sử địa phương cũng được quan tâm, trong đó có một số công trình, đề tài, sách chuyên khảo liên quan đến luận văn
như Thành Đoàn Huế (1989), Những sự kiện lịch sử trong phong trào đấu tranh đô
thị của thanh niên, sinh viên, học sinh Huế (1954 - 1975), Huế Công trình được thể
hiện dưới dạng biên niên đã liệt kê một cách cụ thể các sự kiện liên quan đến cuộc đấu tranh của thanh niên, sinh viên, học sinh Huế trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) theo diễn tiến thời gian; Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa
Thiên Huế (1995), Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, Tập II (1954 - 1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (1995), Thừa
Thiên Huế kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975),NXB Chính trị Quốc
gia, Hà Nội; Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), Tổng kết công tác binh vận trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), NXB Thuận Hóa, Huế; Tỉnh
ủy Thừa Thiên Huế (2008), Lịch sử công tác tuyên giáo của Đảng bộ Thừa Thiên
Huế (1930 - 2005), NXB Thuận Hóa, Huế; v.v… Tuy chưa đề cập một cách cụ thể
về phong trào sinh viên, học sinh Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
1963 đến 1968, nhưng những công trình trên đã khái quát được phong trào đô thị ở Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) làm cơ sở để tác giả hoàn thành luận văn
Đặc biệt, liên quan đến luận văn còn có nhiều bài nghiên cứu đăng trên các kỷ yếu, tạp chí chuyên ngành như Lê Cung (1992), “Một trăm ngày đấu tranh chính trị (3/1966 - 6/1966) ở các đô thị miền Nam trong thời kỳ Mỹ tiến hành “Chiến tranh
cục bộ” (1965-1968)”, Kỷ yếu Hội thảo giảng dạy lịch sử của Đại học Sư phạm
Huế; “Về nguyên nhân của phong trào Phật giáo trong những năm 1964 - 1966”,
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2, 2003; “Phong trào đấu tranh ở đô thị miền Nam
Việt Nam năm 1966”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 6, 2006;… Lê Văn Lân (2012),
“Những dấu ấn độc đáo trong phong trào đô thị Huế”, Tạp chí Sông Hương, số 280
Những công trình trên đã cung cấp những tư liệu quý giá cùng một số nhận định, đánh giá về phong trào đô thị Huế nói chung và phong trào sinh viên, học sinh Huế nói riêng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trang 6Ở nước ngoài, đặc biệt là ở Mỹ cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam của người Việt Nam và cả người nước ngoài, ít
nhiều liên quan đến đề tài như Đỗ Mậu (1993), Việt Nam máu lửa quê hương
tôi,NXB Văn nghệ Westminter, CA, USA; Robert S McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam do NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội dịch và phát hành Những công trình này đề cập đến những chính sách và thủ đoạn của Nhà Trắng đối với chiến tranh Việt Nam cũng như những nguyên nhân thất bại của Mỹ ở Việt Nam
Bên cạnh đó, còn có một số luận văn Thạc sĩ như Phạm Thị Quỳnh Dao
(2004), Phong trào Phật giáo miền Nam năm 1966, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế, nghiên cứu về phong trào Phật giáo miền Nam năm 1966, trong đó có đề cập đến sự tham gia của sinh viên, học sinh Huế; Trần Thị Thơm (2006), Phong
trào đấu tranh chính trị ở Thừa Thiên Huế (1954 - 1963), Trường Đại học Khoa
học - Đại học Huế và Trần Thanh Thủy (2015), Phong trào đấu tranh chính trị ở
Trị - Thiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1963 - 1965,
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, đã đề cập tương đối rõ nét về phong trào
đấu tranh chính trị ở Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 1954 - 1968; Lê Văn Dự
(2007), Phong trào đô thị Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai
đoạn 1965 – 1968, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế và Lại Thị Phương
Thảo (2014), Phong trào đô thị Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai
đoạn 1961 - 1965, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế, nghiên cứu khá toàn
diện về âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, chủ trương của Đảng, diễn biến, tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào đô thị Huế giai đoạn
1961 - 1968 Các công trình trên đi sâu nghiên cứu phong trào đô thị Huế và cung cấp thêm nhiều tư liệu quan trọng liên quan đến luận văn
Nhìn chung, tất cả những công trình trên ở những mức độ khác nhau đều đề cập đến phong trào đô thị Huế, trong đó có phong trào sinh viên, học sinh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến 1968, cung cấp khá nhiều tư liệu cần thiết, quan trọng và góp phần đáng kể để tác giả có thể hoàn thành luận văn
Trang 73 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phong trào sinh viên, học sinh Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến 1968
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Về không gian, luận văn nghiên cứu phong trào sinh viên, học sinh trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn hành chính của Huế hiện nay
Về thời gian, từ năm 1963 đến năm 1968, nhưng giới hạn từ sau ngày chính
quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ (1/11/1963) đến trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 (31/1/1968) Tuy nhiên, khi cần làm rõ một số nội dung, luận văn có thể mở rộng thêm giai đoạn về phía trước
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn khôi phục lại bức tranh về phong trào sinh viên, học sinh Huế từ
1963 đến 1968 Từ đó, khẳng định vai trò quan trọng của sinh viên, học sinh Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975)
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở thu thập tài liệu, luận văn làm rõ nguyên nhân, diễn biến và mục tiêu đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế từ 1963 đến 1968, sự liên hệ của phong trào sinh viên, học sinh với phong trào đấu tranh của các giai cấp, tầng lớp nhân dân khác Từ đó, rút ra tính chất, đặc điểm và những đóng góp của phong trào sinh viên, học sinh Huế từ 1963 đến 1968 đối với cách mạng Thừa Thiên Huế nói riêng, cách mạng miền Nam nói chung
5 NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi tiếp cận và sử dụng nhiều nguồn tư liệu khác nhau, gồm các văn kiện của Trung ương Đảng, Đảng bộ Thừa Thiên Huế và Đảng
bộ thành phố Huế, một số công trình nghiên cứu lịch sử địa phương ở Thừa Thiên Huế đã được công bố, các sách, báo, kỷ yếu, tạp chí đã xuất bản trong và ngoài nước Đây là nguồn tư liệu quan trọng vì ít nhiều đề cập đến các sự kiện cơ bản liên quan đến nội dung luận văn
Trang 8Đặc biệt, chúng tôi đã tập trung khai thác nguồn tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TTLTQG II) ở thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục Văn thư – Lưu trữ Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Văn phòng Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Ban Tuyên giáo thành phố Huế, v.v… Các nguồn tài liệu này bao gồm những báo cáo, nghị quyết, biên bản, chỉ thị, kiến nghị, công điện, tuyên ngôn, phiếu trình, v.v… Đây là nguồn tư liệu chủ yếu để tôi hoàn thành luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau, chủ yếu là phương pháp luận sử học mác-xít kết hợp với phương pháp lô-gic, trình bày nội dung từng vấn đề theo diễn tiến thời gian Ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phỏng vấn để rút ra những kết luận khoa học chính xác
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Một là, luận văn là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống về phong trào
sinh viên, học sinh Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ 1963 đến
1968, góp phần minh chứng cho truyền thống yêu nước và cách mạng hào hùng của nhân dân Thừa Thiên Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng Luận văn trình bày, phân tích, làm rõ chính sách cai trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn từ
1963 đến 1968 đối với nhân dân Huế, trong đó có sinh viên, học sinh nhằm thực hiện mưu đồ đẩy lùi phong trào cách mạng ở Thừa Thiên Huế nói riêng và phong trào cách mạng miền Nam nói chung, từ đó, hiểu rõ nguyên nhân làm bùng nổ phong trào sinh viên, học sinh Huế trong giai đoạn này
Hai là, thông qua việc nghiên cứu nguyên nhân, diễn biến, hình thức đấu
tranh, cũng như tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào, luận văn góp phần làm rõ vai trò của sinh viên, học sinh Huế trong cuộc đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn từ 1963 đến 1968 vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước
Ba là, luận văn là tài liệu quan trọng trong việc phục vụ giảng dạy lịch sử địa
phương, có thể sử dụng ở các cấp học, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, cách mạng cho các thế hệ sinh viên, học sinh, qua đó giúp các em nhận thức sâu sắc
về vai trò và sứ mệnh của mình đối với quê hương, đất nước
Trang 97 BỐ CỤC NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu (07 trang), kết luận (03 trang), mục lục (02 trang) và tài liệu tham khảo (09 trang), nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ sau ngày 1/11/1963 đến trước ngày 19/6/1965 (33 trang)
Chương 2: Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ ngày 19/6/1965 đến trước ngày 31/1/1968 (32 trang)
Chương 3: Tính chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của phong trào sinh viên, học sinh Huế từ năm 1963 đến năm 1968 (10 trang)
Trang 10CHƯƠNG 1 PHONG TRÀO SINH VIÊN, HỌC SINH HUẾ TỪ SAU NGÀY
1/11/1963 ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19/6/1965
1.1 Khái quát phong trào sinh viên, học sinh Huế trước ngày 1/11/1963
1.1.1 Mảnh đất và con người Huế
Về địa lý tự nhiên, Huế ở vào khoảng 16,31 – 16,29 độ vĩ Bắc và 107,32 – 107,37 độ kinh Đông Ngày nay, thành phố Huế có diện tích khoảng 77,99 km²:, phía Đông giáp huyện Phú Vang và thị xã Hương Thủy, phía Tây và Bắc giáp thị xã Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương Thủy, cách Hà Nội 657 km về phía Bắc và thành phố Hồ Chí Minh 1.084 km về phía Nam
Suốt chiều dài lịch sử, Huế luôn là vùng đất có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Huế nối liền hai miền Nam – Bắc, từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, rồi là kinh đô của đất nước dưới thời Tây Sơn và triều Nguyễn (1802 – 1945)
Địa danh Huế thường được dùng với hai ý nghĩa, một là mang tính văn hóa, chỉ chung toàn địa bàn châu Hóa xưa, hai là mang tính hành chính địa phương, chỉ riêng địa bàn phủ Phú Xuân ngày xưa – thành phố Huế ngày nay Xét về cả hai tính chất, Huế là vùng đất lịch sử, giữ vị trí trung tâm của một địa phương, của một vùng
và hơn nữa là kinh đô của đất nước
Vào thời Trần, năm 1301, Trần Nhân Tông vân du Cham-pa và hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân, đổi lại Đại Việt được châu Ô và châu Rí (Lý) Năm 1306, vua Trần Anh Tông cử phái đoàn đưa công chúa Huyền Trân sang làm dâu Cham-pa, tiếp nhận đất đai và đổi châu Ô thành châu Thuận và châu Rí thành châu Hóa cùng thuộc phủ Lâm Bình, chọn người bản thổ, đặt chức quan cai trị, cấp ruộng đất và miễn tô thuế ba năm cho nhân dân Huế thuộc châu Hóa, cư dân mới
cũ cùng sinh tụ, lập thành làng xã Trong đó, địa bàn thành phố Huế ngày nay chủ yếu là hai xã Hà Khê và Thụy Lôi thời Trần - Lê
Đến thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên, sau khi tạo dựng được một tiềm lực đủ mạnh để có thể đối đầu với họ Trịnh, ông quyết định dời dinh vào Phúc An (làng Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế), đến thời chúa Nguyễn Phúc Lan dời vào phủ Kim Long (nay không còn dấu tích gì) Năm 1687,
Trang 11chúa Nguyễn Phúc Thái quyết định dời sang phủ Phú Xuân (tức là kinh thành Huế ngày nay)
Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở núi Bân, lấy hiệu là Quang Trung, tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh xâm lược, giải phóng Thăng Long, Phú Xuân trở thành kinh đô của nước Đại Việt
Năm 1802, sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu là Gia Long, lập ra nhà Nguyễn, tiếp tục chọn Phú Xuân làm kinh đô
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Uỷ ban Nhân dân cách mạng chia thành phố Huế làm 8 khu phố (1+2: Nội thành; 3: nay Phú Hòa; 4: Bãi Dâu; 5: Vĩ Dạ; 6: Phú Hội; 7: Phú Nhuận, Vĩnh Ninh, Trường An; 8: thủy diện với cồn Hến và cồn Dã Viên); nhưng khi thực dân Pháp tái chiếm ngày 5/2/1947, chúng chia thành phố Huế thành 3 quận, 8 khu phố (quận Nhất: Nội Thành; quận Nhì: tả ngạn sông Hương, gồm các khu phố 3, 4; quận Ba: hữu ngạn sông Hương, gồm các khu phố 5, 6, 7, 8)
Trong giai đoạn 1954 – 1955, chính quyền Sài Gòn vạch lại ranh giới, chia làm các quận và thành phố Ngày 19/6/1967, chính quyền Sài Gòn cho phép thị xã Huế lập 3 quận (quận Nhất ở khu vực Nội Thành gồm 11 phường; quận Nhì ở tả ngạn sông Hương gồm 7 phường và 11 vạn đò; quận Ba ở hữu ngạn sông Hương) Sau ngày giải phóng (25/3/1975), thành phố Huế nhiều lần được sắp xếp lại để đáp ứng với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội như tháng 12/1975, thành phố Huế gồm 11 phường; năm 1977, có 11 phường và 6 xã; năm 1981 gồm 15 phường,
24 xã; năm 1989, có 18 phường, 25 xã; năm 1990, có 18 phường, 5 xã
Cư dân Huế - người Việt, xuất phát từ cái nôi văn minh cổ đại, đồng bằng Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ, du nhập vào đây qua từng thời kỳ đã mang theo những truyền thống nghìn đời của dân tộc Việt Nam
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Huế là nơi tụ hội biết bao nhân tài của đất nước Trong những thập niên đầu thế kỷ XX, Huế đã đón nhận và đào tạo hàng loạt chí sĩ, nhà hoạt động cách mạng như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Tất Thành, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, v.v… Huế trở thành nơi bảo bọc, nuôi dưỡng và là nơi hoạt động của nhiều nhà cách mạng
Trang 12Ở Huế, nền giáo dục cũng khá phát triển Xứ Huế qua các thời kỳ lịch sử vẫn
nổi tiếng là “xứ học”, sản sinh ra biết bao thế hệ hay chữ, đóng góp nhân tài cho đất
nước như Nguyễn Khoa Chiêm, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Cư Trinh, Trần Văn Kỷ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Văn Duy, v.v…
Dưới thời Nguyễn, Huế có trường Quốc Tử Giám, một trong hai trường đại học lúc bấy giờ ở nước ta chuyên đào tạo nhân tài cho đất nước Thời Pháp thuộc, Huế có thêm một loạt trường như trường Kỹ nghệ thực hành1, trường Khải Định2, trường Đồng Khánh3, v.v… con em miền Trung quy tụ về đây học tập
Năm 1957, Viện Đại học Huế ra đời Vượt khỏi âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Đại học Huế cùng đội ngũ sinh viên, học sinh và tầng lớp trí thức đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), đặc biệt là trong phong trào đấu tranh đô thị
Thừa hưởng và phát huy truyền thống của một vùng đất lịch sử, văn hóa, nhân dân Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng luôn thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất, liên tục tạo ra các phong trào đấu tranh chống lại sự thống trị của
Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Nói tóm lại, Huế là mảnh đất địa linh nhân kiệt, là nơi dựng nghiệp của vua chúa, là đất hội tụ của nhân tài, nhờ đó đã tạo cho Huế một nền tảng, một kho tàng văn hóa to lớn, quý báu và truyền thống yêu nước ngoan cường Tất cả những yếu
tố đó đã hình thành nên một vùng đất văn hiến có bề dày về văn hóa, có chiều sâu
về lịch sử và giàu truyền thống về tinh thần yêu nước ngoan cường, bền bỉ đấu tranh trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc
1.1.2 Truyền thống yêu nước và cách mạng của học sinh Huế trước năm 1954 1.1.2.1 Giai đoạn trước năm 1930
Có thể nói, cũng như nhân dân cả nước, truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Huế nói chung và sinh viên, học sinh Huế nói riêng được hình thành
từ rất sớm
1 Nay là trường Cao đẳng Công nghiệp Huế
2 Nay là trường THPT Chuyên Quốc Học
3 Nay là trường THPT Hai Bà Trưng
Trang 13Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của cuộc vận động Duy Tân do Phan Châu Trinh đề xướng, năm 1908, phong trào chống thuế diễn ra mạnh mẽ ở Trung Kỳ, trong đó có Huế
Ngày 11/8/1908, nông dân các huyện ngoại thành đồng loạt kéo vào Huế biểu tình chống thuế Học sinh trường Khải Định đã bãi khóa để cùng đồng bào kéo về Tòa khâm sứ Trung Kỳ1 yêu cầu giảm thuế Một số học sinh, trong đó có cậu học trò Nguyễn Tất Thành đã tự nguyện viết đơn bằng tiếng Pháp gửi lên Tòa Khâm sứ Trung Kỳ Phong trào vì không có đường lối lãnh đạo đúng đắn nên nhanh chóng bị thực dân Pháp và phong kiến tay sai đàn áp Một số học sinh bị đuổi khỏi trường nhưng tinh thần chống Pháp được khơi dậy trong lòng học sinh và trí thức ở Huế Tiếp đó, đêm mùng 3 rạng ngày mùng 4/5/1915, học sinh và nhân dân Huế tham gia cuộc khởi nghĩa do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo nhằm khôi phục lại nền độc lập cho đất nước Cuộc khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp quay sang đàn áp bắt bớ nhân dân, nhiều người bị giết hại, bị bắt giam Thái Phiên và Trần Cao Vân bị chém ở An Hòa Từ thực tế đó, học sinh và trí thức Huế ngày càng nhận thức được trách nhiệm và nghĩa vụ lớn lao của mình
Phong trào học sinh và nhân dân Huế lên mạnh khi Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình (1925) và Phan Châu Trinh mất ở Sài Gòn (1926) Cùng với phong trào đấu tranh chung của nhân dân cả nước, nhân dân và học sinh Huế nổi dậy đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu và để tang Phan Châu Trinh Học sinh các trường Khải Định, Đồng Khánh, Kỹ nghệ thực hành đã đồng loạt bãi khóa Trước sức mạnh đấu tranh của nhân dân, trong đó có Huế, thực dân Pháp buộc phải
bõ án tử hình cho Phan Bội Châu và đưa cụ về an trí ở Huế
Tháng 3/1926, học sinh trường Kỹ nghệ thực hành bãi khóa để chống lại tên hiệu trưởng người Pháp dùng roi vọt đánh đập, mắng nhiếc học sinh Cuộc bãi khóa
nhận được sự ủng hộ của học sinh các trường trong thành phố “Toàn thể học sinh
kéo đến Tòa khâm sứ Trung Kỳ để đưa yêu sách đòi không được đánh đập, chửi mắng học sinh; nâng cao đời sống cho học sinh nội trú, cách chức tên hiệu trưởng độc ác”[101, tr 5] Để xoa dịu phong trào, thực dân Pháp hứa sẽ giải quyết những
yêu sách của học sinh mà trước hết là cách chức tên hiệu trưởng người Pháp Mặt
1 Nay là trường Đại học Sư phạm Huế
Trang 14khác, để đối phó với phong trào đấu tranh của học sinh, thực dân Pháp cho mật thám hoạt động trong trường để dò la các hoạt động của học sinh, bắt bớ học sinh cầm đầu, đuổi những học sinh tham gia tích cực, chia rẻ nội bộ học sinh Đến tháng 9/1926, thực dân Pháp đàn áp được phong trào đấu tranh của học sinh trường Kỹ nghệ thực hành và ổn định lại tình hình
Từ năm 1927, do ảnh hưởng của những luồng tư tưởng tiến bộ của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng, phong trào đấu tranh của học sinh và tuổi trẻ thành phố lại lên cao Nhiều cuộc bãi khóa và tổng bãi khóa đã
nổ ra Tháng 4/1927, “cuộc bãi khóa của học sinh trường Khải Định đã nổ ra do
giáo sư người Pháp sĩ nhục học sinh và xúc phạm tinh thần dân tộc Hưởng ứng phong trào, học sinh trường Đồng Khánh, trường Kỹ nghệ thực hành, trường tiểu học Paulbert 1 , trường Chaigneau 2 cùng các trường khác trong nội thành tham gia đấu tranh, phản đối chế độ giáo dục hà khắc, đòi tự do đọc sách báo, kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ phong trào bãi khóa” [101, tr 9] Thực dân Pháp tiến
hành đàn áp dã man, “bắt những người lãnh đạo phong trào, đuổi 37 nam sinh và 7
nữ sinh, cách chức hoặc điều đi nơi khác những giáo viên ủng hộ phong trào” [101,
tr 10]
Tháng 7/1927, Tỉnh bộ lâm thời Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Huế được thành lập do Nguyễn Đức Tịnh làm Bí thư Hội viên của Hội trong trí thức,
học sinh ngày càng tăng, “nâng tổng số hội viên lên khoảng 20 người” [2, tr 75]
Một số cơ sở của Tỉnh bộ Thanh niên được xây dựng ở trường Kỹ nghệ thực hành, trường Đồng Khánh, v.v…
Tháng 3/1928, học sinh trường Đồng Khánh tiến hành bãi khóa để chống lại tên giáo sư người Pháp đánh đập và đuổi một số học sinh có tư tưởng tiến bộ Phong trào đấu tranh của nữ sinh Đồng Khánh đã lôi cuốn được sự tham gia của học sinh Khải Định và một số trường khác Nhân dân Huế đã ủng hộ học sinh bằng cách giúp đỡ tiền bạc cho những học sinh bị đuổi học Mật thám Pháp hoạt động ráo riết lùng bắt học sinh khắp nơi, một vài học sinh bị kết án tù chung thân
1 Nay là trường Tiểu học Phú Hòa
2 Nay là trường Tiểu học Lê Lợi
Trang 15Qua phong trào đấu tranh này, một số học sinh trung kiên được giác ngộ cách mạng, thoát khỏi sự lùng bắt của mật thám Pháp được cử sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức Đây là những hạt nhân để sau này về nước lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, thanh niên Huế
1.1.2.2 Giai đoạn 1930-1945
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo của cách mạng Việt Nam Tháng 4/1930, Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế thành lập do Lê Viết Lượng làm Bí thư Từ đây, phong trào đấu tranh của nhân dân Thừa Thiên Huế đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế
Ngày 26/3/1931, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương ra đời Dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Đoàn, phong trào đấu tranh của học sinh, thanh niên Huế lại bùng nổ mạnh mẽ
Năm 1931, thực dân Pháp đàn áp đẫm máu phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, học sinh các trường trong toàn thành phố tham gia mít-tinh cùng nhân dân Huế tố cáo hành động, tội ác của thực dân Pháp đối với đồng bào Nghệ - Tĩnh, yêu cầu chúng chấm dứt khủng bố
Trong phong trào dân chủ 1936 – 1939, thực hiện chủ trương đấu tranh mới của Đảng, lại được bổ sung thêm một số cán bộ, đảng viên vừa ra khỏi nhà tù như Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, Lê Duẩn nên phong trào dân chủ ở Huế diễn ra với những hình thức phong phú như phong trào Đông Dương Đại hội, phong trào đón Godart, phong trào vận động nghị viện dân biểu, phong trào đấu tranh của công nhân, thanh niên, học sinh Huế
Thanh niên, học sinh Huế đã đóng vai trò tích cực trong phong trào Đông Dương Đại hội và đón Godart, cử đại diện vào ban tổ chức các đoàn biểu tình, bất chấp mọi sự ngăn cấm của chính quyền thực dân Học sinh trường Kỹ nghệ thực hành vượt qua sự ngăn cản của giám thị và cảnh sát, hàng ngũ chỉnh tề đẩy tung cổng trường, đẩy lùi cảnh sát để dự mít-tinh Học sinh các trường Phú Xuân, Hồ
Trang 16Đắc Hàm1 cùng thanh niên thành phố và các huyện tham gia chung một cuộc biểu tình Qua đấu tranh, nhiều thanh niên được giác ngộ, dẫn đến sự thành lập Đoàn Thanh niên dân chủ Thừa Thiên Huế do Tố Hữu làm Bí thư (26/3/1937)
Sang năm 1938, ở Huế nổi lên phong trào đọc sách báo yêu nước, tiến bộ Trong các trường Khải Định, Kỹ nghệ thực hành, Đồng Khánh, v.v… học sinh truyền cho nhau đọc các bài thơ của Tố Hữu, Xuân Thủy, v.v… và một số sách của
K Marx, F Engels, V Lenin Nhiều học sinh, đoàn viên, đảng viên có mặt trong nhà trường đã giác ngộ học sinh về ý thức hệ của giai cấp vô sản Một số học sinh
và giáo viên đã tự nguyện theo Đảng
Năm 1943, Hội Văn hóa cứu quốc được thành lập Chính sách văn hóa của Đảng được truyền vào giới trí thức và học sinh Huế, nhiều người tự nguyện tham gia Hội Văn hóa cứu quốc do Đảng lãnh đạo nhằm góp phần chống lại chính sách văn hóa nô dịch phản động của Nhật – Pháp
Ngày 13/8/1945, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến có lợi cho cách mạng Việt Nam, cơ hội ngàn năm có một cho nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền đã tới Theo lệnh của Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc, ngày 14/8/1945,
Uỷ ban Khởi nghĩa Huế được thành lập
Ngày 23/8/1945, học sinh, thanh niên Huế đã hòa vào dòng người của nhân dân thành phố kéo về Sân Vận Động Huế dự cuộc mít-tinh mừng khởi nghĩa thắng lợi trong toàn tỉnh, Ủy ban Khởi nghĩa tuyên bố xóa bỏ chế độ phong kiến thực dân, thành lập Uỷ ban Cách mạng lâm thời do Tố Hữu làm Chủ tịch
Có thể nói, Cách mạng tháng Tám thành công ở Huế có sự đóng góp không nhỏ của thanh niên, học sinh Huế Từ đây, nhân dân và học sinh Huế vui hưởng hòa bình và ra sức đóng góp sức mình để bảo vệ chính quyền dân chủ nhân dân đang còn non trẻ
Trang 17Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập phải đương đầu với vô vàn những khó khăn, thử thách
Thực hiện chủ trương của Đảng và Bác Hồ, nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Huế nói riêng tập trung vào nhiệm vụ cấp bách là diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, coi đó là ưu tiên hàng đầu của chính quyền cách mạng trong việc xây dựng và bảo vệ chế độ mới
Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp đánh chiếm Sài Gòn với dã tâm xâm lược nước ta lần nữa Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ về ủng hộ sức người, sức của cho Nam Bộ kháng chiến, nhân dân Huế đã động viên con em mình
vào Nam Bộ chiến đấu Nhiều học sinh tự nguyện xung phong đi “Nam tiến” Nhiều hoạt động ủng hộ phong trào “Nam tiến” được tổ chức như các mẹ, các chị ở Huế thành lập các quán cơm “Nhân dân” phục vụ các đoàn quân vào Nam chiến
đấu; Đoàn thanh niên tổ chức các cuộc đón tiếp, tiễn đưa đầy cảm động Một số học sinh tham gia tự vệ thành phố và chính quyền cách mạng
Đáp lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 2 giờ 30 phút sáng ngày 20/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp ở Huế và Trị - Thiên bùng nổ Phối hợp với bộ đội, tự vệ thành phố trong đó có học sinh đã đồng loạt tấn công vào các cơ quan đầu não của thực dân Pháp ở Huế như Tòa Khâm sứ, Khách sạn Morin, trường Thiên Hữu1, v.v… Tuy nhiên, do tương quan lực lượng quá chênh lệch nên sau 50 ngày đêm bao vây quân Pháp trong thành phố, đến đầu tháng 2/1947, lực lượng cách mạng rút ra ngoài thành phố để tiến hành kháng chiến lâu dài
Từ năm 1947, thành phố Huế bị thực dân Pháp chiếm đóng Tuy nhiên, tại Hội nghị Nam Dương (Quảng Điền) vào tháng 3/1947, đồng chí Nguyễn Chí Thanh –
Bí thư Tỉnh ủy đã khẳng định: “Mất đất chưa phải mất nước Chúng ta phải tranh
thủ từng người, từng thôn Chúng ta không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở Chúng ta nhất định thắng lợi” [2, tr 245]
Để thúc đẩy phong trào, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tháng 7/1948, Thị
ủy Huế được thành lập ra sức củng cố, phát triển và đưa phong trào đấu tranh của
1 Nay là trường Đại học Khoa học Huế
Trang 18nhân dân Huế đi vào chiều sâu Thị ủy Huế đã xây dựng các cơ sở nội thành trong thanh niên, học sinh, công nhân, trí thức, v.v…
Ngày 12/7/1949, để thăm dò sự ủng hộ của nhân dân đối với mình, Bảo Đại
đến Huế, thực hiện chỉ thị của Thị ủy, nhân dân Huế thờ ơ, lãng tránh, “bọn cảnh
sát phải dùng lưỡi lê ép buộc, cuối cùng chỉ bắt được một số công chức cùng một số học sinh tiểu học đi đón Bảo Đại mà thôi” [2, tr 272]
Tiếp đó, từ ngày 17/1 đến ngày 23/1/1950, Ban Chấp hành học sinh kháng chiến đã phát động thanh niên, học sinh Huế hưởng ứng cuộc đấu tranh truy điệu Trần Văn Ơn1 của học sinh Sài Gòn Cuộc vận động đã được đông đảo thanh niên, học sinh Huế tham gia Tiêu biểu là cuộc mít-tinh ngày 18/1/1950 được tổ chức tại
trường Quốc Học “đã có 500 học sinh tham gia, trong đó có 30 học sinh Pháp, học
sinh Hoa kiều” [2, tr 285].
Đầu tháng 6/1954, Thị ủy Huế đã lãnh đạo gần 20 cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân Đặc biệt, ngày 17/6/1954, có hơn 2 vạn học sinh, tiểu thương
và cả lính ngụy tham gia biểu tình với các khẩu hiệu đòi hòa bình, đòi chồng con đi lính trở về, ủng hộ lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Genève
Ngày 21/7/1954, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Genève công nhận các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương, rút quân về nước Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi Đây là thắng lợi chung của nhân dân cả nước, nhân dân Huế nói chung và của học sinh, thanh niên Huế nói riêng
1.1.2.4 Giai đoạn từ sau năm 1954 đến trước ngày 1/11/1963
Như đã đề cập ở trên, Hiệp định Genève năm 1954 đánh dấu sự thất bại của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, buộc chúng phải rút quân
về nước Tuy nhiên, ngay sau đó, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp ở miền Nam Việt Nam nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của Mỹ Huế một lần nữa lại nằm trong vòng kìm kẹp của đế quốc và tay sai
1 Là học sinh trường Pétrus Ký (nay là trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong) đã bị chính quyền Pháp nổ súng bắn chết trong phong trào biểu tình của học sinh sinh viên Sài Gòn vào ngày 9/1/1950
Trang 19Tháng 7/1954, hòa nhịp với các cuộc đấu tranh của nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn đòi hòa bình, đòi tự do dân chủ, học sinh các trường Quốc Học, Hàm Nghi đã cùng đồng bào thành phố Huế tổ chức mít-tinh đòi tự do đi lại, tự do báo chí, miễn thuế đò, thuế chợ, v.v… Bốn tháng sau, thầy và trò trường Quốc Học đã đồng loạt tiến hành bãi giảng, bãi khóa để phản đối chương trình giáo dục của chính quyền Ngô Đình Diệm vì chương trình này đã cóp nhặt nguyên xi thời Pháp nên đã gây trở ngại cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh Họ đưa kiến nghị đòi sửa đổi lại chương trình cho phù hợp với trình độ của học sinh
Đầu năm 1955, học sinh các trường ở Huế hòa vào dòng người đấu tranh của nhân dân thành phố tiến về Tòa Đại biểu Chính phủ Trung Phần1 và dinh Ngô Đình Cẩn2 đòi cải thiện đời sống, cải thiện chế độ làm việc, chống khủng bố, bắt bớ
những người yêu nước, chống trò hề “trưng cầu dân ý” Trước sức mạnh đấu tranh
của quần chúng và học sinh Huế, Ngô Đình Cẩn phải ra tiếp đoàn và nhận kiến nghị của họ
Năm 1956, phong trào đấu tranh của học sinh Huế diễn ra sôi nổi thu hút được nhiều tầng lớp tham gia, phong trào còn liên kết với phong trào đòi hòa bình ở Gòn – Chợ Lớn Trước sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của phong trào, chính quyền Ngô Đình Diệm hoảng sợ, vội huy động quân đội và cảnh sát đến uy hiếp và giải tán các cuộc hội họp đông người để dần dần làm tan rã phong trào Song, thủ đoạn của chúng không thực hiện được, phong trào vẫn tiếp tục diễn ra Trước tình hình
đó, Ngô Đình Diệm phải đích thân ra Huế để giải quyết yêu sách cho học sinh và nhân dân Huế nhằm xoa dịu phong trào Cũng trong năm này, Ngô Đình Diệm còn
âm mưu đổi tên trường Quốc Học thành trường mang tên mình và dựng bia ghi công của cha là Ngô Đình Khả tại Huế Nhưng, âm mưu này của Ngô Đình Diệm bị thất bại trước sự đấu tranh kiên trì của học sinh và nhân dân Huế
Đối với Huế, một thành phố có đội ngũ học sinh đông đảo lại ở gần miền Bắc
xã hội chủ nghĩa nên những yếu tố tiến bộ, lành mạnh của nền văn hóa giáo dục miền Bắc có điều kiện thuận lợi ảnh hưởng vào đây hơn nơi nào hết Vì thế, năm
1957, Mỹ và chính quyền Sài Gòn cho thành lập Viện Đại học Huế Ngô Đình
1 Nay là Nhà khách Chính phủ (số 5 – Lê Lợi – Huế)
2 Gần nhà thờ Phủ Cam, thuộc phường Phước Vĩnh, Huế
Trang 20Diệm đã nêu ra hai lý do cơ bản về sự cần thiết phải lập ở Huế một Viện Đại học
như sau: “Thứ nhất là Huế từ trước đã có một trung tâm văn hóa của nước ta Ở
Huế đã có những truyền thống văn hóa sâu đậm, có những cơ sở văn hóa lâu đời, như trường Quốc Tử Giám, các cuộc thi Hán học Dân miền Trung lại hiếu học mà nghèo, có bao nhiêu thanh niên ưu tú muốn học lên đại học mà không thể vào Sài Gòn học tiếp Thứ hai là hiện nay dân chúng xôn xao đồn đại rằng chính phủ một ngày nào đó có thể bỏ Huế, vì hiện nay Huế không quan trọng lắm về phương diện chính trị, kinh tế Vậy lập Viện Đại học Huế là chứng minh cụ thể với dân chúng, với quốc tế cũng như với bên kia rằng chính phủ nhất định bảo vệ Huế Huế chỉ cách vĩ tuyến 17 khoảng 100 cây số, lập ở đây một đại học lớn chẳng khác nào thách đố với bọn cộng sản” [56, tr 278] Như vậy, Mỹ và chính quyền Sài Gòn
xem Viện Đại học Huế là một pháo đài chống lại chủ nghĩa Marx – Lenin, chống lại nền văn hóa, giáo dục của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời là nơi đào tạo những con người phục vụ đắc lực cho chính quyền Diệm – Nhu Tuy nhiên, trái với
ý đồ của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, Viện Đại học Huế sau khi thành lập đã trở thành nơi tập hợp lực lượng tuổi trẻ đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm
Sang năm 1959, Mỹ - Diệm tăng cường chiến dịch “tố Cộng, diệt Cộng”, gây
ra không biết bao nhiêu đau thương mất mát, tang tóc cho các gia đình cách mạng, gia đình của những người tham gia kháng chiến Trước tình hình đó, tháng 12/1959, học sinh Huế đã đồng loạt bãi khóa, yêu cầu Mỹ - Diệm phải trả tự do cho những người yêu nước đang bị giam cầm, tra tấn, không được trả thù những gia đình có con em đi tập kết, v.v…
Từ năm 1960, một số tổ chức của Đảng được thành lập trong sinh viên như
nhóm Chuyển ngữ ở trường Đại học Khoa học (1960) với mục tiêu đòi sử dụng tiếng Việt trong giảng dạy, nhóm Văn nghệ ở trường Đại học Văn khoa (1961), hội
Cờ tướng, v.v… Bên cạnh đó, sinh viên Huế còn tổ chức các cuộc hội thảo như hội
thảo chống lệnh tổng động viên của 200 sinh viên trường Đại học Khoa học năm
1960, hội thảo của sinh viên Đại học Huế nhằm lên án chính sách phản dân tộc của chính quyền Ngô Đình Diệm được tổ chức tại giảng đường C trường Đại học Khoa học năm 1962
Trang 21Do làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của sinh viên, học sinh Huế cùng nhân dân miền Nam đã thúc đẩy nội bộ chính quyền Ngô Đình Diệm vốn đã lục đục nay lại càng chia rẽ Ngày 11/11/1960, Nguyễn Chánh Thi tiến hành cuộc đảo chính lật đổ anh em Diệm – Nhu Cuộc đảo chính tuy thất bại nhưng đã chứng minh rằng chính quyền Ngô Đình Diệm đang ở thế lung lay và bước vào thời kỳ suy sụp
Để cứu vãn tình hình, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức siết chặt ách kìm kẹp trong nhà trường, củng cố mạng lưới Cần lao, đàn áp mạnh mẽ các tôn giáo, mua chuộc, dụ dỗ nữ sinh tham gia đội nữ binh Trần Lệ Xuân, đưa thêm công an, mật vụ đội lốt giáo sư, giám thị vào các trường học để theo dõi sinh viên, học sinh
Chúng tổ chức ra Thanh niên Cộng hòa, đem quốc sách “ấp chiến lược” vào làm môn học trong nhà trường, bắt sinh viên, học sinh “đi cắm trại”, v.v… Tuy vậy,
chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn không kiểm soát và giải tán được các cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh mà trái lại, phong trào ngày càng phát triển với mức độ cao hơn
Năm 1962, nhân việc chính quyền Sài Gòn đưa hai sinh viên Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh ra xét xử và đày đi Côn Đảo, sinh viên, học sinh Sài Gòn đã xuống đường phản đối hành động này của Mỹ - Diệm Để ủng hộ phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn, sinh viên học sinh Huế đã biểu tình lên án chế độ phát xít của chính quyền Ngô Đình Diệm, đồng thời gửi thư vào cho sinh viên, học sinh Sài Gòn tán thành và ủng hộ phong trào đấu tranh đòi trả tự do cho hai sinh viên bị bắt
Sang năm 1963, phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi và rầm rộ hơn mà tiêu biểu nhất là sinh viên, học sinh Huế tham gia và giữ vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp phong trào Phật giáo với một loạt các hoạt động như ngày 30/5/1963, sinh viên thuộc các phân khoa Đại học Huế, Viện Hán học, trường Cán sự y tế và điều dưỡng, trường Nữ hộ sinh Quốc gia, trường Cao đẳng mỹ thuật, trường Âm nhạc do Phan Đình Bính làm đại diện đã gửi thư cho sinh viên toàn quốc hô hào ủng hộ Phật giáo và một bản kiến nghị gửi lên chính quyền Ngô Đình Diệm yêu cầu nhà cầm quyền phải giải quyết các nguyện vọng của Phật giáo; ngày 3/6/1963, 500 sinh viên Huế biểu tình trước Tòa Đại biểu Chính phủ Cuộc biểu tình đã bị cảnh sát đàn áp và giải tán bằng hơi cay Tuy vậy,
Trang 22sinh viên và quần chúng không nao núng, họ kéo về chùa Từ Đàm để tiếp tục cuộc đấu tranh Khi đến cầu Bến Ngự, họ bị lực lượng vũ trang của chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man làm cho 142 người bị thương, trong đó có 49 người bị thương nặng, 35 người khác bị bắt; ngày 17/8/1963, 1.000 sinh viên, học sinh Huế biểu tình phản đối chính quyền Diệm đàn áp tôn giáo, v.v…
Phong trào đấu tranh của Phật giáo và sinh viên, học sinh diễn ra mấy tháng đã góp phần làm cho tình hình chính trị, xã hội ở Huế không khi nào ổn định, bộ mặt phản dân hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm đã bị vạch trần Phong trào sinh viên, học sinh Huế cũng đã góp phần thúc đẩy chế độ độc tài Ngô Đình Diệm
đi vào chỗ khốn đốn, lục đục, nội bộ chia rẽ nhau Mỹ buộc phải thay ngựa giữa dòng giết chết anh em Diệm – Nhu (1/11/1963) đưa Dương Văn Minh sau đó là Nguyễn Khánh lên thay
Nhìn chung, phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế sau năm 1954 đến trước ngày 1/11/1963 với các mục tiêu chính là đòi tự do tín ngưỡng bình đẳng tôn giáo, đòi hòa bình, thống nhất đất nước, đấu tranh chống ách thống trị tàn bạo của Mỹ - Diệm với nhiều hình thức đấu tranh như bãi khóa, biểu tình, đưa kiến nghị, hội thảo, v.v… Tuy nhiên, phong trào sinh viên, học sinh Huế giai đoạn này chưa mang tính chất của một phong trào đấu tranh độc lập mà sinh viên, học sinh Huế chỉ mới tham gia phong trào đấu tranh chung của nhân dân thành phố và giữ một vị trí quan trọng trong các cuộc đấu tranh nhưng không phải là lực lượng lãnh đạo phong trào Các cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế giai đoạn này đã góp phần làm cho chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ, góp phần làm thất bại các
âm mưu của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ ở miền Nam Và
đây cũng là phong trào đấu tranh mở màn của sinh viên, học sinh Huế chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh mạnh mẽ trong những năm sau
1.2 Phong trào sinh viên, học sinh Huế từ sau ngày 1/11/1963 đến trước ngày 19/6/1965
1.2.1 Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế
1.2.1.1 Khái quát chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam
Trang 23Sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm (1/11/1963) và sự thất bại của kế hoạch Staley – Taylor, Mỹ vẫn chủ trương đẩy mạnh chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam Trong báo cáo gửi Tổng thống Johnson tháng 12/1963,
Mc Namara đã khẳng định tình hình miền Nam Việt Nam rất rắc rối và nếu không
có gì thay đổi trong hai, ba tháng tới thì có nhiều khả năng Nam Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia dưới quyền kiểm soát của cộng sản
Tiếp đó, ngày 16/3/1964, Mc Namara tiếp tục trình lên Tổng thống Mỹ bản báo cáo về tình hình miền Nam Việt Nam và đề ra kế hoạch để điều chỉnh chiến
lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới gồm hai
bước: Bước một, từ ngày 1/4/1964 đến ngày 31/12/1965, hành quân càn quét kết
hợp dồn dân, lập “ấp tân sinh” trên các địa bàn trọng điểm ở 4 vùng chiến thuật;
Bước hai, bắt đầu từ năm 1966, tiến công vào các vùng căn cứ, tiêu diệt các đơn vị chủ lực Quân giải phóng, phá hủy các cơ sở quân sự của ta Và kế hoạch này đã
được Johnson chính thức thông qua vào ngày 17/3/1964 nên có tên là “Kế hoạch
Johnson - Mc Namara”
Để hiện thực hóa kế hoạch, Johnson bổ nhiệm tướng W Westmoreland giữ chức Tư lệnh các lực lượng quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam Lực lượng cố vấn Mỹ được tăng cường từ 22.400 người (năm 1963) lên 26.200 người (năm 1964), quân đội Sài Gòn năm 1963 là 417.000 người tăng lên 561.000 người năm 1964, đồng thời tăng cường thêm trang bị kĩ thuật và phương tiện chiến tranh
Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963 càng lâm vào khủng hoảng trầm trọng hơn1 Dĩ nhiên, cuộc khủng hoảng này không chỉ
do mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn mà “chủ yếu là sự phát triển như
vũ bão của phong trào cách mạng miền Nam ở cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn – đồng bằng và đô thị” [27, tr 35]
Ngày 30/1/1964, bằng cuộc chỉnh lý, Nguyễn Khánh lật đổ Dương Văn Minh rồi lần lượt phục hồi chức vụ và quyền hành cho các phần tử thuộc dư đảng Cần lao Đồng thời, để phù hợp với chương trình bình định mới của Mỹ, ngày 9/3/1964,
Nguyễn Khánh ra Sắc lệnh giải tán Uỷ ban liên bộ đặc trách “ấp chiến lược” và Uỷ
1 Chỉ trong vòng 18 tháng (từ 1/11/1963 đến tháng 6/1965) đã diễn ra 10 cuộc đảo chính lớn nhỏ, 8 lần thay đổi chính phủ
Trang 24ban đặc trách “ấp chiến lược”, thay tên gọi “ấp chiến lược” bằng “ấp tân sinh”, lập Tổng Nha Tân sinh nông thôn thay cho Ban Thường vụ “ấp chiến lược” cũ Đặc biệt, ngày 16/8/1964, Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến chương Vũng
Tàu”, trong đó Nguyễn Khánh nắm ba chức vụ cao nhất của Việt Nam Cộng hòa là
Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa kiêm Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch Hội đồng quân
lực, đánh dấu việc thiết lập chế độ độc tài quân phiệt
Ngày 25/10/1964, để đối phó với phong trào đấu tranh chống chính quyền Nguyễn Khánh của nhân dân miền Nam Việt Nam, Mỹ đưa Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng Và ngày 31/10/1964, Phan Khắc Sửu bổ nhiệm Trần Văn Hương giữ chức vụ Thủ tướng
Ngay khi mới lên cầm quyền, Trần Văn Hương đã đề ra đường lối chiến tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội để chống lại cộng sản; đồng thời, tuyên bố tách chính trị ra khỏi tôn giáo và học đường với mục đích nhằm ngăn cấm Phật tử, sinh viên, học sinh đấu tranh chống chính quyền Sài Gòn
Do phong trào đấu tranh chống Trần Văn Hương lên cao ở các đô thị miền Nam nên ngày 27/1/1965, Nguyễn Khánh tiến hành đảo chính, giải tán chính phủ dân sự Trần Văn Hương và chỉ định nội các mới do Phan Huy Quát làm Thủ tướng (16/2/1965) Tuy nhiên, ba ngày sau (19/2/1965), Nguyễn Khánh bị lật đổ và lưu vong ra nước ngoài
Tới ngày 14/6/1965, Hội đồng quân lực họp tại Sài Gòn quyết định thành lập
Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, bầu Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ tịch Ủy ban (Quốc
trưởng), Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Ủy viên phụ trách hành pháp (Thủ tướng) Ngày
19/6/1965, Nguyễn Văn Thiệu thành lập Nội các chiến tranh gọi là Ủy ban Hành
pháp Trung ương do Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch
1.2.1.2 Chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Huế
Có thể khẳng định rằng, Huế luôn là điểm nóng của phong trào đô thị miền Nam Trong những năm 1954 – 1963, phong trào đấu tranh của nhân dân Huế chống Mỹ và chính quyền tay sai diễn ra hết sức sôi nổi Đặc biệt, trong năm 1963, nhân dân Huế bao gồm sinh viên, học sinh, trí thức, người lao động đã hưởng ứng
Trang 25mạnh mẽ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật tử Họ đã góp phần không nhỏ cho sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm
Chính vì lẽ đó, sau cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thi hành nhiều chính sách trên tất cả các lĩnh vực để ổn định tình hình ở Huế, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, trong đó có phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh Huế
Về chính trị - quân sự, ngay sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ,
chính quyền Sài Gòn đã “thay thế hàng loạt các chức vụ chủ chốt như Tỉnh trưởng,
Phó Tỉnh trưởng, Chánh văn phòng, Chủ sự chính trị sự vụ, Ty trưởng Công an, Thanh niên, Thông tin” [117, tr 2]
Bộ máy chính quyền Sài Gòn ở Huế được phục hồi và hoạt động trở lại Các lực lượng như hiến binh, cảnh sát, quân cảnh, an ninh quân đội được củng cố và tăng cường Mặt khác, chúng còn cho tay sai hoạt động trong các tổ chức nghiệp đoàn, hiệp hội, sinh viên, học sinh, v.v… Tình báo, gián điệp của chúng tiền hành ráo riết các hoạt động điều tra, bắt cóc, uy hiếp, gây tâm lý chiến tranh làm quần
chúng hoang mang, dao động Đặc biệt, quân đội Sài Gòn là “lực lượng chính trong
các cuộc đàn áp biểu tình của Phật giáo và đồng bào, tổng tấn công vào các chùa lớn, bắt cóc, lục soát, gây nên một cuộc khủng hoảng lớn” [72, tr 1]
Lợi dụng tình hình này, một số đảng phái chính trị phản động như Quốc dân Đảng, Đại Việt dựa vào chính quyền Nguyễn Khánh để củng cố, phát triển lực lượng, tranh chấp với quần chúng cách mạng, nhất là đối với sinh viên, học sinh và
trí thức Tiêu biểu nhất là tháng 1/1964, “bọn Quốc dân đảng có cho rải truyền đơn,
khẩu hiệu kêu gọi quần chúng, tổ chức lễ truy điệu Nguyễn Trường Tam cùng nhiều sách báo, truyện, tuyên truyền cho thế lực Quốc dân đảng được lưu hành công khai” [72, tr 3] Đây thực chất là một vấn đề quan trọng trong âm mưu chính trị của
Mỹ và chính quyền tay sai, gây khó khăn và phức tạp cho ta
Đồng thời, chính quyền Sài Gòn từ Dương Văn Minh đến Nguyễn Khánh còn ráo riết thực hiện âm mưu mua chuộc, mị dân, đánh lừa quần chúng, đặc biệt là đối
với tầng lớp trên, sinh viên, học sinh và Phật tử “Luận điệu bịp bợm quần chúng
của địch nhằm đổ dồn tội ác cho anh em gia đình Diệm, đề cao công lao thanh thế của chúng dưới các danh từ “Cách mạng”, “Tự do”, v.v…” [72, tr 2]
Trang 26Để xoa dịu phong trào đấu tranh của nhân dân, chính quyền Sài Gòn ở Huế cho lập tòa án để xét xử những nhân vật có liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm như xử tử và tịch thu tài sản của Phan Quang Đông, Ngô Đình Cẩn, phạt tù và yêu cầu bồi thường 1.500.000 đồng cho các gia đình nạn nhân đối với Đặng Sĩ – Nguyên Phó Tỉnh trưởng Nội an Thừa Thiên, người trực tiếp chỉ huy cuộc đàn áp Phật tử tại Đài phát thanh Huế đêm 8/5/1963
Ngoài ra, việc tổ chức bộ máy kìm kẹp cũng được chú trọng Từ sau đảo chính 1/11/1963, chính quyền Sài Gòn duy trì lực lượng quân cộng hòa, bảo an và biệt
động để bảo vệ thành phố Huế, tập hợp và chuyển số còn lại trong lực lượng “Vũ
trang nhân dân” của Ngô Đình Cẩn thành “Dân vệ đặc biệt” và tích cực xây dựng
lực lượng biệt kích mới gọi là “Biệt kích Việt – Mỹ”
Từ cuối tháng 12/1963, chính quyền Sài Gòn ở Huế tăng cường bắt lính, bắt sinh viên, học sinh, công chức đào tạo sĩ quan các loại Và khi Nguyễn Khánh lên cầm quyền thay cho Dương Văn Minh sau cuộc chỉnh lý ngày 30/1/1964, dư đảng Cần lao trở lại nắm chính quyền, ra sức trả thù Phật tử, sinh viên, học sinh và nhân dân Huế
Mặt khác, sau khi lên cầm quyền (31/10/1964), chính quyền Trần Văn Hương tiếp tục xuyên tạc Phật giáo, phủ nhận đấu tranh vì tự do dân chủ của nhân dân Ngày 25/1/1965, Trần Văn Hương ra Sắc lệnh thiết quân luật ở Huế và Thừa Thiên trong hai tháng, đe dọa sử dụng tòa án quân sự để xét xử các vi phạm liên quan đến trật tự anh ninh công cộng và an ninh quốc gia giao cho Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh vùng I chiến thuật thực hiện
Về kinh tế - xã hội, Nguyễn Khánh cho rằng bình định là vấn đề chủ yếu để
giải quyết chiến tranh ở miền Nam nên đã chủ trương thiết lập “ấp tân sinh” để tạo thành vòng đai ngăn chặn sự đột nhập của Việt cộng Vì thế, tháng 3/1964, Hội
đồng Quân đội cách mạng điều nhiều đoàn cán bộ về các địa phương để xây dựng
“ấp tân sinh” Đây thực chất là tiếp tục “ấp chiến lược” thời Ngô Đình Diệm
Đồng thời, để mua chuộc sự ủng hộ của nhân dân, chính quyền Sài Gòn tổ
chức cấp gạo, phân hóa học, thuốc trừ sâu, v.v… cho nông dân; tổ chức “Hội cứu tế
dân nghèo”, cho công an đi sâu vào quần chúng động viên, thăm hỏi những gia
đình nghèo khổ Mặt khác, chính quyền Sài Gòn “tung ra nhiều tiền bạc, hàng hóa
Trang 27đem phân phát cho dân, đề ra chương trình xây dựng, cải tiến thành phố, đường sá, điện nước, chợ búa, tỏ ra quan tâm đến đời sống quần chúng, v.v… Thủ đoạn này của địch rất nguy hại, làm cho một số quần chúng bị lầm tưởng, lập lờ về bản chất của đế quốc Mỹ và bọn tay sai mới” [72, tr 2] Đây là âm mưu lớn hết sức nguy
hiểm của Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Về văn hóa – giáo dục, Mỹ tiếp tục tăng cường truyền bá văn hóa phương Tây vào Việt Nam hòng lôi kéo thanh niên miền Nam, trong đó có thanh niên, sinh viên,
học sinh Huế vào lối “sống gấp”, quên đi nghĩa vụ của mình đối với quê hương, đất
nước
Cơ quan thông tin văn hóa Mỹ đặt trụ sở ở số 8 Lý Thường Kiệt1 với nhiều nhân viên văn hóa, giáo dục làm việc, được Mỹ cấp tiền mua hai vạn cuốn sách Đây là cơ quan tuyên truyền các chính sách văn hóa, giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; đồng thời, cũng là nơi in ấn những sách báo chống Cộng, sách báo
đồi trụy, sách báo quảng cáo về sự “văn minh”, “hiện đại” của Hoa Kỳ nhằm phục
vụ cho mưu đồ thực dân kiểu mới ở Huế
Đặc biệt, điểm đáng chú ý là “tình trạng lưu manh, đồi trụy, thất nghiệp phát
triển ngày càng nghiêm trọng Nạn trộm cướp, cao bồi, dâm ô, trụy lạc, cờ bạc lan tràn Những thuyết “hiện sinh”, “sống gấp” như một khẩu hiệu sống của một số thanh niên Phim ảnh, sách truyện hoang dâm, kiếm hiệp lưu hành, truyền bá ngày càng nhiều làm cho một số thanh niên tiêm nhiễm, chịu ảnh hưởng xấu” [72, tr 5]
Vì thế, họ đi theo lối “sống gấp”, ăn chơi sa đọa, lãng quên nhiệm vụ với Tổ quốc
Bên cạnh đó, báo chí, thơ ca của những tổ chức yêu nước bị kiểm duyệt gắt
gao như Báo Lập trường số 21, xuất bản ngày 8/8/1964 bị kiểm quyệt 16 trang chỉ còn lại vài dòng của bài xã luận, Báo Dân bị đình bản khi mới chỉ xuất bản được 3
số, Trần Quang Long2 bị đưa ra tòa án quân sự xét xử và bị kết án 8 tháng tù giam
vì sáng tác thơ ca với nội dung chống chiến tranh
Tình hình trên đã ảnh hưởng đến đời sống của quần chúng, trở thành mối đe dọa đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo nhân dân lao động cũng như các tầng lớp khác Âm mưu trụy lạc hóa, lưu manh hóa và bần cùng hóa quần chúng
1 Nay là khách sạn Công Đoàn (số 13 – Lý Thường Kiệt – Thành phố Huế)
2 Sinh viên Đại học Sư phạm
Trang 28của địch đã gây khó khăn về nhiều mặt cho nhân dân, trong đó có thanh niên, sinh viên, học sinh
Về tôn giáo, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chính quyền Sài Gòn nối tiếp nhau tiếp tục thi hành chính sách kỳ thị Phật giáo Những vụ hành hung Phật tử, đốt phá chùa chiền vẫn diễn ra nhiều nơi ở Huế và Thừa Thiên như
“Nhiều Phật tử trong khi bị tra hỏi còn đau lòng nghe những tiếng nguyền rủa:
“Thằng này năm ngoái đấu tranh Phật giáo hăng lắm đấy” và đau đớn hơn nữa là một Phật tử khác, tên Phạm Bá Đông khi bị bắt giam tại xã, đã bị bắn chết vào lúc
10 giờ đêm tháng 5 âm lịch chẳng ai biết rõ lý do gì Xác quăng nằm giữa đồng ruộng, sáng ngày thân nhân biết được, chỉ ra nhận về chon không dám hé môi than thở trước cái chết vô cùng ám muội,…”[27, tr 59-60], hay, “một số tay sai chế độ
cũ đã cho theo dõi hoạt động của anh em sinh viên Phật giáo Vinh Lộc, đã đưa bọn
ác ôn từng bị nhân dân đả đảo, chán ghét vào hàng ngũ cán bộ chính trị, công an như ở Quảng Điền, Phú Vang cách đây hai tháng” [27, tr 60] Chính vì thế, tăng
Ni, Phật tử cùng sinh viên, học sinh Huế trở thành lực lượng chủ yếu trong phong trào đô thị chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Nói tóm lại, từ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ đến trước ngày 19/6/1965, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục thi hành chính sách thống trị trên tất
cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhằm tiếp tục thực hiện âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, đã làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với Mỹ và chính quyền tay sai ngày càng gay gắt Đây chính là nguyên nhân sâu xa đưa đến phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền tay sai trên toàn miền Nam thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, trong đó có phong trào sinh viên, học sinh Huế
Trang 29Trung ương Đảng đối với đấu tranh chính trị và đấu tranh ở các đô thị cũng bao gồm chủ trương đối với sinh viên, học sinh Huế
Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, tháng 12/1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 9 ra Nghị quyết khẳng định cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân miền Nam là cuộc chiến đấu lâu dài, dựa vào sức
mình là chính; đồng thời nhấn mạnh cần “kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh
vũ trang một cách linh hoạt tùy theo từng vùng và từng thời kỳ khác nhau” [33, tr
827] Bên cạnh đó, Hội nghị cũng nêu rõ cần phát huy đấu tranh chính trị vì quần chúng nhân dân miền Nam, trong đó có nhân dân Huế đã có truyền thống và có kinh nghiệm đấu tranh chính trị từ lâu và phương châm hoạt động của ta ở vùng đô thị lấy đấu tranh chính trị là chủ yếu Mặt khác, Hội nghị cũng chủ trương dùng mọi hình thức đấu tranh chính trị để phá tan mọi hình thức khủng bố, kìm kẹp và làm tan
rã phần lớn các “ấp chiến lược” của địch
Tiếp đó, tháng 3/1964, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ hai họp cũng khẳng định những thắng lợi về quân sự và chính trị từ cuối năm 1963 đến đầu năm 1964 đã tạo điều kiện thuận lợi để củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc Những khẩu hiệu đòi dân sinh dân chủ, hòa bình trung lập, đòi Mỹ đình chỉ chiến tranh xâm lược, rút khỏi miền Nam Việt Nam đã kích thích mạnh mẽ phong trào đấu tranh ở đô thị và ảnh hưởng lớn đến Tăng Ni, Phật tử, sinh viên, học sinh, trí thức, binh lính, sĩ quan, làm phân hóa hàng ngũ kẻ thù
Từ đó, Trung ương Cục miền Nam chủ trương phải tiếp tục phát động đấu trnah chính trị ở khắp nông thôn, đô thị nhằm làm thất bại các chính sách phản động của địch, bảo vệ và giành lấy các quyền dân sinh dân chủ, nêu cao khẩu hiệu chống xâm lược Mỹ đòi hòa bình, độc lập, trung lập, đẩy chiến tranh cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng
Đặc biệt, khi phong trào đấu tranh chống chính quyền Nguyễn Khánh lên cao, trong hai ngày 25 và 26/9/1964, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp đề ra nhiệm vụ
trước mắt là “Đảng phải giành cho được quyền lãnh đạo phong trào đấu tranh của
quần chúng ở đô thị, đặc biệt là trong phong trào công nhân và nhân dân lao động, trong thanh niên, phụ nữ và sinh viên, học sinh,…” [34, tr 733]
Trang 30Về phía Liên Khu ủy V, trong khi phong trào Phật giáo miền Nam năm 1963 đang diễn ra mạnh mẽ ở khắp các đô thị, Hội nghị Liên Khu ủy mở rộng lần thứ ba họp từ ngày 15 đến ngày 31/7/1963 để bàn về phương hướng, nhiệm vụ của cách mạng khu V nửa cuối năm 1963 và năm 1964 Hội nghị quyết định cần mở rộng và đẩy mạnh hơn nữa phong trào đấu tranh ở các đô thị Về hình thức đấu tranh, Hội nghị cũng nhấn mạnh phải tận dụng mọi hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp trong các đô thị
Quán triệt chủ trương của Trung ương và của Liên Khu ủy V đối với phong trào đô thị, từ ngày 15/2 đến ngày 24/2/1964, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên họp và
khẳng định cùng với việc lãnh đạo quần chúng phá thế kìm kẹp, phá “ấp chiến
lược”, củng cố và mở rộng căn cứ địa miền núi làm chỗ dựa cho đấu tranh ở đồng
bằng, còn cần “quyết tâm xây dựng thực lực mở rộng phong trào đô thị” [54, tr
18]
1.2.2.2 Chủ trương của Tỉnh ủy Thừa Thiên
Trên cơ sở chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, Liên Khu ủy V, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên và căn cứ tình hình thực tế của địa phương, Tỉnh ủy Thừa Thiên đã đề ra những chủ trương phù hợp với thực tiễn và
kịp thời phát động phong trào đấu tranh trong tình hình mới
Như đã trình bày ở trên, sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ (1/11/1963), chính quyền Sài Gòn ở Huế tăng cường đàn áp, phòng ngừa ở thành
phố, “thường xuyên tuần tiểu, kiểm soát cả nội thành và ngoại ô, gây không khí hết
sức căng thẳng ở thành phố,… Việc bố phòng, công sự được củng cố thêm bằng nhiều hàng rào dây kẽm gai, ngay cả các nơi tập trung cố vấn Mỹ” [72, tr 1] Mặt
khác, chính quyền Sài Gòn còn tiếp tục bắt lính, bắt sinh viên, công chức đào tạo sĩ quan các loại Trước tình hình đó, Ban Cán sự thành phố đã họp đánh giá và bàn về
việc “xây dựng, phát triển Đảng và các cơ sở cách mạng trong công nhân, tiểu
thương, trí thức, sinh viên, học sinh, công chức và cả nội tuyến trong ngụy quân, ngụy quyền; đồng thời quyết định đưa một số Thành ủy viên vào bên trong hoạt động nội thành để xây dựng thực lực, phát động phong trào đấu tranh khi có điều kiện” [1, tr 217-218]
Trang 31Tiếp đó, đầu năm 1964, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên họp và đề ra chủ
trương: “Phát huy sức mạnh của quần chúng, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang,
lợi dụng sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn và tổ chức lực lượng tiến công mạnh mẽ đều khắp làm tan rã và tê liệt về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phá “ấp chiến lược” chuẩn bị cho phá thế kìm kẹp của địch” [1, tr 220]
Cũng trong thời gian này, Thành ủy Huế cũng tổ chức họp, đánh giá và nhận thức thêm về vai trò của mỗi tầng lớp nhân dân trong phong trào đấu tranh đô thị, đặc biệt là vai trò của trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh trong đấu tranh chống
Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Bên cạnh đó, trên cơ sở chủ trương của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam, Liên Khu ủy V và Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên, Tỉnh ủy Thừa Thiên đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm trong năm 1964 là giành lại nông thôn – đồng bằng;
từ đó, động viên toàn Đảng và toàn dân tỉnh Thừa Thiên ra sức “xây dựng thực lực
chính trị và vũ trang, đặc biệt là xây dựng Đảng Đẩy mạnh tấn công chính trị, quân sự, binh vận tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch,… Dùng chính trị làm chính, có quân sự phối hợp, quyết tâm phá hết “ấp chiến lược”, giành lại nông thôn – đồng bằng” [102, tr 6]
Mặt khác, Tỉnh ủy Thừa Thiên cũng quyết định: “Chuyển phong trào đấu
tranh chính trị với một thế tiến công địch quyết liệt, quy mô lớn hơn và đều khắp, kết hợp nông thôn và thành thị Tấn công làm tan rã từng bộ phận địch, làm cho chúng suy yếu, cô lập, khủng hoảng trầm trọng hơn,… Phối hợp với thành phố tùy nơi, tùy lúc xen vào các khẩu hiệu chống Mỹ” [102, tr 9]
Vì vậy, việc xây dựng và củng cố đội quân chính trị của quần chúng trở thành vấn đề rất cấp thiết cho cả trước mắt và lâu dài Tỉnh ủy Thừa Thiên đã khẳng định
“Nếu không có đội quân đó thì không thể đảm bảo giành thắng lợi quyết định cũng như tổng công kích, tổng khởi nghĩa… thành phần chủ yếu của đội quân ấy là công nhân, lao động, thanh niên, sinh viên, phụ nữ tại chỗ làm nòng cốt cho phong trào”
[72, tr 10]
Những chủ trương đúng đắn, kịp thời trên đây đã góp phần soi sáng phong trào đô thị Huế nói chung và phong trào sinh viên, học sinh Huế nói riêng phát triển mạnh hơn sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1/11/1963)
Trang 321.2.3 Diễn biến phong trào
1.2.3.1 Phong trào chống chính quyền Nguyễn Khánh
Có thể nói, Nguyễn Khánh là một sĩ quan cấp cao thuộc Đảng Cần lao, cúc cung tận tụy phục vụ chính quyền Ngô Đình Diệm, hiểu rõ sức mạnh quật khởi của quần chúng trong phong trào chống Ngô Đình Diệm năm 1963 Vì thế, khi lên nắm
quyền, Nguyễn Khánh “vừa thâu tóm quyền lực theo cách hành xử của một nhà
chính trị độc tài, vừa tỏ ra mị dân để thu phục nhân tâm mà mục đích là củng cố quyền lực, giữ vững ngôi vị Do đó, ông đã có thái độ thân thiện với các đảng phái chính trị, gần gũi với lãnh đạo các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và lôi kéo, mua chuộc sinh viên” [65, tr.144-145]
Để mua chuộc sinh viên, Nguyễn Khánh tuyên bố chính phủ Khánh là chính phủ trẻ nên cần sự ủng hộ của sinh viên, học sinh nên chúng đã bỏ tiền ra tổ chức trại hè, ăn chơi linh đình cho sinh viên tại Đà Lạt, thậm chí là mời cả ủy ban sinh viên Huế vào ăn Tết với mình tại Sài Gòn
Tuy nhiên, trên thực tế, phong trào đấu tranh chống chế độ Nguyễn Khánh đã
diễn ra mạnh mẽ, nhất là ở Huế và Sài Gòn Ở Huế, “lực lượng yêu nước đi sâu
tuyên truyền, vạch trần âm mưu duy trì chế độ Diệm không có Diệm của Mỹ cùng bản chất phản động của chính quyền tay sai” [71, tr 29] Lực lượng đó là thanh
niên, sinh viên, học sinh và quần chúng đã tham gia tích cực trong phong trào chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm
Mở đầu cho phong trào đấu tranh chống chính quyền Nguyễn Khánh là các cuộc biểu tình đòi xử tội Ngô Đình Cẩn và Phan Quang Đông Trước áp lực đấu tranh của quần chúng, Nguyễn Khánh phải cho lập tòa án để xét xử Phan Quang Đông ở Huế và xử tội Ngô Đình Cẩn tại Sài Gòn
Ngày 26/3/1964, “hơn hai vạn đồng bào và thanh niên, sinh viên, học sinh
Huế đã tập trung từ bên trong khuôn viên Tam tòa, sang trường tiểu học Trần Quốc Toản đến cửa Thượng Tứ và các khu vực lân cận Đoàn người giương cao những biểu ngữ ghi các dòng chữ “Gây máu phải trả máu”” [71, tr 29-30], đòi xử tử
Phan Quang Đông, đòi đưa Ngô Đình Cẩn ra xử án tại Huế Trong điện khẩn gửi
Nguyễn Khánh, sinh viên Huế khẳng định: “Toàn thể sinh viên chúng tôi nguyện
Trang 33sát cánh cùng toàn thể đồng bào Huế yêu cầu Chính phủ xử tử Ngô Đình Cẩn và bè
lũ Ngô triều trước mặt dân chúng thành phố Huế” [17, tr 18]
Tiếp đó, ngày 9/5/1964, Nguyễn Khánh ra Huế dự lễ tấn phong cấp chuẩn tướng cho Nguyễn Chánh Thi nhưng thực ra là để thăm dò sự ủng hộ của nhân dân
Huế đối với mình Cuộc “đón tiếp” Nguyễn Khánh diễn ra tại Sân vận động Tự Do
Huế thu hút sự tham gia của hàng vạn đồng bào mà đông nhất là sinh viên, học sinh với những biểu ngữ lên án dư đảng Cần lao, mật vụ tay sai của chế độ Ngô Đình Diệm, đòi xử tử Phan Quang Đông và nhất là đưa Ngô Đình Cẩn ra xử tử ở Huế
trước sự chứng kiến của đồng bào Đặc biệt, “trong khi Nguyễn Khánh đang đọc
diễn văn, bất ngờ một số thanh niên, sinh viên nhảy lên khán đài cướp micro chất vấn ông ta vì sao không xử tử Ngô Đình Cẩn và Phan Quang Đông, vì sao bao che cho Cần lao ác ôn Đồng bào bao vây khán đài la ó, hô vang khẩu hiệu đá đảo Cần lao và ném các tấm viết khẩu hiểu bằng nia, cót, vải,… lên khán đài” [65, tr 148]
Trước áp lực đấu tranh của quần chúng, ngay trưa hôm ấy, chính quyền Nguyễn Khánh buộc phải xử tử Phan Quang Đông tại Sân vận động Tự Do Huế và xin đồng bào cho xử tử Ngô Đình Cẩn tại khám Chí Hòa (Sài Gòn) vào buổi chiều cùng ngày
Ngày 11/5/1964, đại diện của Tổng hội sinh viên Huế từ Sài Gòn ra xác nhận
Ngô Đình Cẩn đã bị xử bắn nên các cuộc biểu tình tạm thời lắng xuống Tổng hội
sinh viên Huế và Đoàn Sinh viên Phật tử tranh thủ củng cố lực lượng cho những
hoạt động sắp tới
Sang tháng 6 và 7/1964, phong trào sinh viên, học sinh Huế có phần lắng dịu
Trong thời gian này, Ban Chấp hành Tổng hội sinh viên Huế do Vĩnh Kha làm chủ
tịch lo xây dựng kế hoạch kỷ niệm một năm ngày sinh viên Huế chống bạo quyền
(17/8/1963 – 17/8/1964), còn Đoàn Sinh viên Phật tử thì tham gia hoạt động kỷ
niệm một năm ngày Pháp nạn (21/8/1963 – 21/8/1964)
Trong khi đó, ngày 16/8/1964, Nguyễn Khánh ban hành “Hiến chương Vũng
Tàu”, tự phong cho mình làm Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa, kiêm Thủ tướng Chính
phủ và Chủ tịch Hội đồng quân đội, thiết lập chế độ độc tài quân phiệt
Trang 34Ngay lập tức, làn sóng phản đối của nhân dân dấy lên trên toàn miền Nam Ở Huế, phong trào chống chế độ độc tài quân phiệt Nguyễn Khánh diễn ra sôi nổi, thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia, nhất là sinh viên và học sinh
Ngày 17/8/1964, Tổng hội sinh viên Huế tổ chức kỷ niệm một năm ngày chống bạo quyền, sinh viên Huế ra tuyên ngôn khẳng định: “Quyết tâm tố cáo mọi
âm mưu phản dân chủ, phản cách mạng nhằm đưa toàn dân trở lại con đường độc tài, áp bức như chế độ cũ” [17, tr 79]
Ngày hôm sau, sinh viên Luật khoa tổ chức hội thảo về “Hiến chương Vũng
Tàu”, tuyên bố không thừa nhận tính pháp lý của bản Hiến chương
Tiếp đó, ngày 21/8/1964, sinh viên Huế tổ chức hội thảo tại Giảng đường C trường Đại học Khoa học1, xác định lập trường đấu tranh chống Nguyễn Khánh, sau
đó sinh viên xuống đường biểu tình đòi xé bỏ “Hiến chương Vũng Tàu” và được
đồng bào tiểu thương chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự, chợ An Cựu bãi thị hưởng ứng Ngày 22/8/1964, sinh viên, học sinh và quần chúng tập trung tại trường Đại học Khoa học2 để nghe đọc tuyên cáo, lời kêu gọi, sau đó tham gia biểu tình rầm rộ
trên đường phố, hô to các khẩu hiệu: “Đả đảo chế độ độc tài quân phiệt”, “Phản
đối Hiến chương ngày 16/8/1964”, “Tận diệt Cần lao”, v.v…
Để thống nhất các lực lượng đấu tranh, cũng trong ngày 22/8/1964, một tổ
chức được thành lập lấy tên Lực lượng Học sinh Sinh viên tranh đấu thành phố Huế
do Vĩnh Kha làm chủ tịch và ra báo Lực lượng Học sinh Sinh viên tranh đấu nhằm
kịp thời động viên tinh thần đấu tranh của nhân dân Huế Các tổ chức đấu tranh
khác như Học sinh đấu tranh, Lực lượng nhân dân đấu tranh, Đoàn giáo chức Viện
Đại học Huế, v.v…được thành lập cùng sát cánh với sinh viên, học sinh “tạo thành một lực lượng hùng hậu trong các cuộc mít tinh, biểu tình khiến cho chính quyền Nguyễn Khánh không dễ gì để đàn áp được” [65, tr 155] Mặt khác, sự xuất hiện
hàng loạt các tổ chức đấu tranh như vậy còn cho thấy sự phẫn nộ của nhân dân Huế đối với sự ngoan cố của chính quyền Nguyễn Khánh đã vượt qua giới hạn
Ngày 23/8/1964, giáo chức Viện Đại học Huế cũng ra tuyên ngôn nêu rõ việc
Hội đồng quân đội cách mạng đã vi phạm đến tự do của dân tộc và không còn đủ
1 Nay là tầng 2 khách sạn Sài Gòn - Morin (hướng ra đường Hùng Vương, Trương Định)
2 Nay là khách sạn Sài Gòn – Morin
Trang 35khả năng lãnh đọa quốc gia; Hiến chương ngày 16/8/1964 phản lại tinh thần dân chủ, mở đường cho sự thành lập chế độ độc tài quân phiệt, dư đảng Cần lao của chế
độ Ngô Đình Diệm được chính quyền hiện tại dung dưỡng đã trở lại nắm quyền và đang đe dọa sự an ninh của mọi tầng lớp dân chúng; vì vậy, phải giải tán Hội đồng
quân đội cách mạng để thành lập chính quyền dân sự Trên tường của các trường
đại học viết đầy các khẩu hiệu như “Đả đảo Nguyễn Khánh”, “Đả đảo độc tài quân
phiệt”, “Xé bỏ Hiến chương Vũng Tàu”, v.v…
Chiều ngày 24/8/1964, tại ngã tư cầu Trường Tiền và đường Lê Lợi gần Đài phát thanh Huế1, sinh viên, học sinh Huế và quần chúng tập trung để nghe chương
trình phát tranh của Lực lượng sinh viên học sinh tranh đấu phản đối độc tài, ra
tuyên ngôn đòi tự do dân chủ Tiếp đó, học sinh và sinh viên chiếm Đài phát thanh Huế, tổ chức phát thanh lên án Nguyễn Khánh, thu hút hàng ngàn người nghe
Ngày 25/8/1964, cùng với cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh Sài Gòn, Lực
lượng sinh viên học sinh tranh đấu qua Đài phát thanh Huế phát đi tuyên bố không
thừa nhận quyền bầu nguyên thủ quốc gia của Hội đồng quân đội cách mạng, đòi
Nguyễn Khánh phải giải tán hội đồng này trong vòng 24 giờ Trước tình hình đó,
Mỹ - Khánh buộc phải “xuống thang” bằng việc thu hồi “Hiến chương Vũng Tàu”
Ngày 26/8/1964, tình hình ở Huế tiếp tục căng thẳng, nhiều cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh và đồng bào Huế tiếp diễn suốt ngày hô vang khẩu hiệu chống Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí, Đỗ Mậu là những người chủ mưu duy trì chế độ quân phiệt
Ngày 28/8/1964, Hội đồng Nhân dân cứu quốc ra đời tập hợp hầu hết các lực lượng đấu tranh chống chính quyền Nguyễn Khánh tại Huế gồm Lực lượng sinh
viên, học sinh đấu tranh, Lực lượng công chức, Lực lượng giáo chức trung tiểu học, Lực lượng nhân dân đấu tranh, Đoàn giáo chức Viện Đại học Huế, Liên đoàn lao động thành phố, Nghiệp đoàn thương gia, Đoàn tiểu thương, các nghiệp đoàn Hội
đồng công khai đứng ra lãnh đạo phong trào chống dư đảng Cần lao, chống chính quyền quân phiệt Nguyễn Khánh
1 Trước đây ở đầu cầu Trường Tiền, phía Nam sông Hương; nay ở số 58 – Hùng Vương – Huế
Trang 36Như vậy, những ngày cuối tháng 8/1964, phong trào đấu tranh chống Hiến
chương Vũng Tàu diễn ra khá rầm rộ, quyết liệt ở Huế, thực chất là chống dư đảng
Cần lao, chống chính quyền quân phiệt Nguyễn Khánh Đặc biệt, thời gian này
“sinh viên đã bắt đầu đặt vấn đề nặng nhẹ và bóng gió với Mỹ bằng các khẩu hiệu:
“Người Mỹ không nên sai lầm lần 2 như trong chế độ Diệm”, “Hãy để chúng tôi xem Mỹ như bạn chứ không như kẻ thù”,…” [65, tr 157] Có thể nói, đây là tiêu đề
cho những khẩu hiệu và phương thức chống Mỹ ngày càng gay gắt về sau của sinh viên, học sinh Huế
Để xoa dịu tình hình, ngày 30/10/1964, Nguyễn Khánh cho lập Thượng hội
đồng do Phan Khắc Sửu làm Chủ tịch và Trần Văn Hương làm Thủ tướng Đây là
chiến thuật “một mũi tên, trúng hai đích” để “cho dư luận thấy rằng giải pháp một
chính phủ dân sự cho Sài Gòn đang hình thành và hai con chim đầu đàn của Hội đồng nhân dân cứu quốc và báo Lập trường sẽ dần dần bị đưa ra khỏi Huế, tách rời khỏi môi trường đấu tranh để họ dễ dàng “vặt lông”!” [65, tr 162]
Tuy nhiên, ngay khi vừa lên cầm quyền, Trần Văn Hương đã đưa ra đường lối
khẳng định: “Chiến tranh toàn diện phải được thực hiện không những trên mặt trận
quân sự mà còn về phương diện chính trị, kinh tế và xã hội nữa để chống lại cộng sản…” [38, tr 302-303] Đồng thời, Trần Văn Hương còn đề ra cái gọi là “bài trừ
bè phái”, “thanh niên phải tòng quân”, “tách chính trị ra khỏi học đường” thực
chất là để bóp chết phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh chống lại chính quyền, bắt thanh niên đi lính nhiều nhất cho Mỹ
Và rõ ràng, với những luận điệu và lập trường nêu trên, chính phủ Trần Văn Hương không thể tránh khỏi sự tấn công của sinh viên, học sinh Huế
Tóm lại, từ sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị sụp đổ (1/11/1963) đến ngày 30/10/1964, phong trào sinh viên, học sinh Huế diễn ra khá rầm rộ, quyết liệt
nhằm chống Hiến chương Vũng Tàu nhưng thực chất là chống chế độ độc tài quân
phiệt Nguyễn Khánh, chống dư đảng Cần lao Có thể nói, phong trào đã giành thắng
lợi bước đầu khi buộc chính quyền Nguyễn Khánh phải thu hồi Hiến chương Vũng
Tàu Đây là thắng lợi có ý nghĩa quan trọng, góp phần làm thất bại âm mưu thiết lập
chế độ độc tài quân phiệt của Mỹ - Khánh, đồng thời là nguồn cổ vũ cho phong trào
ở giai đoạn sau, mà trước hết là phong trào chống chính quyền Trần Văn Hương
Trang 371.2.3.2 Phong trào chống chính quyền Trần Văn Hương
Có thể khẳng định rằng, chính phủ Trần Văn Hương với nội các gồm những thành viên hoàn toàn dân sự là một giải pháp mới của Mỹ để thay cho chế độ độc tài quân phiệt Nguyễn Khánh trước đó vốn đã vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân miền Nam nói chung và nhân dân Huế nói riêng, trong đó có đông đảo sinh viên, học sinh Tuy vậy, chính phủ Trần Văn Hương cũng không xoa dịu được những cuộc đấu tranh của nhân dân, nhất là của sinh viên, học sinh
Ở Huế, ngay sau khi Trần Văn Hương được bổ nhiệm Thủ tướng, sinh viên
Huế lập tức có phản ứng Ngày 1/11/1964, sinh viên Huế tổ chức “Đêm không ngủ”
tỏ thái độ không thừa nhận chính phủ Trần Văn Hương
Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, chính phủ Trần Văn Hương ban hành
lệnh thiết quân luật một tháng, đồng thời tuyên bố “không lùi bước, phải dùng mọi
cách tái lập lại trật tự” [65, tr 64] Tuy nhiên, bất chấp lời tuyên bố có tính đe dọa
đó, với sự hăng say đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, sinh viên, học sinh Huế luôn luôn nhập cuộc với khí thế sôi nổi và được sự ủng hộ nồng nhiệt của các tầng lớp nhân dân lao động
Ngày 17/12/1964, Tổng Đoàn học sinh Huế ra kiến nghị gửi Quốc trường Việt
Nam Cộng hòa và Thượng hội đồng quốc gia yêu cầu chấm dứt ngay nhiệm vụ của
Thủ tướng Trần Văn Hương và khai trừ ông Trần Văn Văn1 ra khỏi Thượng hội
đồng
Ngày 18/12/1964, tại chùa Diệu Đế diễn ra buổi lễ cầu nguyện để sớm thoát khỏi chế độ phản bội và bạo tàn của Trần Văn Hương do Hòa thượng Thích Đôn
Hậu làm chủ lễ, “đến tham dự có các vị Tăng Ni, gia đình Phật tử, sinh viên, học
sinh và đồng bào các giới, ước độ 4.000 người” [90]
Ngày 19/12/1964, Tổng hội sinh viên Huế và sinh viên Đại học Luật khoa ra tuyên ngôn đòi chính phủ Trần Văn Hương phải “từ chức toàn bộ trong vòng 48
tiếng đồng hồ kể từ 9 giờ sáng ngày 19/12/1964, quá hạn trên trường Đại học Luật khoa sẽ tỏ thái độ quyết liệt hơn” [68] Trong khi đó, Tổng đoàn học sinh Huế ra
thông cáo yêu cầu toàn thể học sinh tiếp tục bãi khóa cho đến khi kiến nghị gửi
Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa cùng Thượng hội đồng quốc gia ngày 17/12 được
1 Em ruột của Trần Văn Hương
Trang 38giải quyết thỏa đáng Cùng lúc này, “hầu hết các trường trung tiểu học công lập
cũng như tư thục tại thị xã Huế (trừ các trường Công giáo) đều bãi khóa để phản đối chính phủ Trần Văn Hương… Đến 10 giờ có một chiếc xe Traction không số, trên xe có 4, 5 học sinh ngồi và có gắn máy phóng thanh chạy khắp các khu vực trong thị xã kêu gọi hoc sinh sinh viên bãi khóa để phản đối chính phủ phản cách mạng Trần Văn Hương, cho đến lúc nào chính phủ này chấm dứt nhiệm vụ, lúc đó mới tiếp tục đi học lại” [65, tr 165]
Sang ngày 20/12/1964, sinh viên Đại học Huế tổ chức cuộc họp tại giảng đường Đại học Luật khoa1 để phản đối tuyên cáo của Hội đồng quân lực Việt Nam
Cộng hòa Sau đó, sinh viên phát hành bản tuyên ngôn phản đối tuyên cáo Chiều cùng ngày, sinh viên Phật tử Huế tổ chức buổi họp tại giảng đường chùa Từ Đàm
gồm 1.000 người tham dự để thảo luận bản tuyên cáo Hội đồng quân lực và tình
hình chính trị Để đề phòng bãi khóa và biểu tình, Nguyễn Chánh Thi ra lệnh đóng cửa các trường
Lúc 9 giờ sáng 21/12/1964, tại giảng đường C trường Đại học Khoa học diễn
ra cuộc họp bất thường của toàn thể sinh viên Đại học Huế (khoảng 1.500 người) để bày tỏ thái độ với chính phủ Trần Văn Hương Tại cuộc họp này, toàn thể sinh viên quyết định bãi khóa một tuần lễ kể từ ngày 21/12/1964 để cảnh cáo chính phủ, lập bản tuyên ngôn với nội dung yêu cầu chính phủ Trần Văn Hương từ chức toàn bộ
và cảnh cáo chính phủ Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về khủng hoảng chính trị tại Việt Nam
Tiếp đó, sáng sớm ngày 31/12/1964, “một số thanh niên Phật tử đã chia nhau
đứng chặn tất cả các ngã đường vào thành phố để vận động đồng bào ngoại ô hưởng ứng đình công, bãi thị,… Ngoài ra, có nhiều thanh thiếu niên mang biểu ngữ đến chặn từ sáng sớm tất cả các cửa công sở không cho công chức vào Nội dung biểu ngữ như sau: “Trần Văn Hương bóp chết tự do, đốt phá Viện Hóa đạo, đánh đập thanh niên Phật tử, quý vị công chức nghĩ sao?”…” [60, tr 1] Cùng ngày,
“các trường tiểu học công tư, học sinh đã viết một số khẩu hiệu lên tường như sau:
“Bãi khóa để đòi giải tán toàn bộ chính phủ Trần Văn Hương”, “Học để làm gì khi quốc gia đang bị bọn phản quốc thao túng”, “Học để làm gì khi vận mạng nước
1 Nay là Trung tâm Giáo dục Quốc tế - Đại học Huế (số 4 Lê Lợi – Thành phố Huế)
Trang 39Việt Nam không ở trong tay người Việt”, “Chúng ta bãi khóa để phản đối tập đoàn thư lại Trần Văn Hương”, “Bãi khóa để đập tan âm mưu Nam Kỳ quốc của tập đoàn Trần Văn Hương”, “Bãi khóa để tranh đấu cho tự do, dân chủ, công bằng xã hội”, …” [60, tr 2]
Sang năm 1965, phong trào đấu tranh chống nội các Trần Văn Hương tiếp tục diễn ra mạnh mẽ ở cả hai trung tâm Huế và Sài Gòn, đồng thời kích thích phong trào ở một số nơi khác như Đà Lạt, Đà Nẵng, v.v…
Ở Huế, ngày 4/1/1965, sinh viên, học sinh bắt đầu bãi khóa Những ngày tiếp theo, từ 7/1 đến 17/1/1965, phong trào chống chính phủ Trần Văn Hương diễn ra liên tục, sinh viên và học sinh tổng bãi khóa, tiểu thương các chợ đình công, bãi thị làm cho mọi hoạt động gần như bị tê liệt Theo Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, tình
hình Huế trong ngày 9/1/1965 như sau: “Hồi 7 giờ 30, một số sinh viên, học sinh
mang biểu ngữ trên xe Lambretta 3 bánh đến trước các công tư sở ở Huế yêu cầu đình công và treo các biểu ngữ trước các công sở” [121, tr 1]
Ngày 23/1/1965, sinh viên cùng nhân dân thành phố khoảng 10.000 người tập trung trước Nhà Hát lớn1 biểu tình hô vang các khẩu hiệu: “Độc lập hay là chết”,
“Đả đảo Taylor”, “Mc Namara hãy cút đi”, “Người Mỹ cút đi”, “Vấn đề Việt Nam phải do người Việt Nam giải quyết”,… [125, tr 436] Sau đó, “đoàn biểu tình kéo đến trước Lãnh sự quán Hoa Kỳ và hô to các khẩu hiệu:
- Down with Maxwell Taylor 2
- Kick out Taylor 3
- Taylor go home 4
Tiếp đó, xe phóng thanh đọc một tài liệu mệnh danh là “Cảnh báo người Mỹ” bằng Anh ngữ với nội dung: “Kể từ 00 giờ ngày 24/1/1965 đến 00 giờ ngày 27/1/1965, tuyệt đối chống giao dịch mua bán với người Mỹ; không nhận thư từ của người Mỹ; xe cộ và hàng không không chuyên chở người Mỹ; các Bar không tiếp đón người Mỹ”…” [120, tr 2] Phong trào lên cao dẫn đến các hành động mang
1 Nay là Trung tâm Văn hóa – Thông tin tỉnh Thừa Thiên Huế
2 “Đả đảo Maxwell Taylor”
3 “Tống cổ Taylor”
4 Taylor cút về nước”
Trang 40tính bạo động như đốt Tòa Lãnh sự Mỹ1 ở đường Đống Đa và phòng Thông tin – Văn hóa Mỹ2 (đường Lý Thường Kiệt), cờ Mỹ cùng hai vạn cuốn sách Mỹ cũng bị đốt cháy
Lúc 18 giờ ngày 24/1/1965, tại Giảng đường Đại học Sư phạm, Ủy ban Lãnh
đạo sinh viên học sinh tranh đấu tổ chức buổi phát thanh với sự tham dự của 1.500
người tiếp tục đả kích Thủ tướng Trần Văn Hương, xác nhận cuộc biểu tình ngày 23/1/1965 nhằm chống chính phủ Trần Văn Hương và đại sứ Taylor, đồng thời, đọc
bức thư ngõ của Ủy ban Lãnh đạo sinh viên học sinh tranh đấu gửi sinh viên, học sinh và thanh niên với nội dung: “Kêu gọi đoàn kết thành một khối đứng dậy làm
cách mạng để tranh đấu đến cùng” [61, tr 1]
Ngày 25/1/1965, sinh viên và học sinh cùng đồng bào Huế tiếp tục xuống đường biểu tình rầm rộ, hô vang các khẩu hiệu chống Mỹ và chống chính phủ Trần Văn Hương Trước khí thế của phong trào sinh viên, học sinh và nhân dân Huế, Trần Văn Hương ra lệnh thiết quân luật thị xã Huế và Nguyễn Chánh Thi – Tư lệnh Quân đoàn I cũng ra lệnh cấm nhân dân thị xã Huế và tỉnh Thừa Thiên bãi công Tuy nhiên, bất chấp sự đe dọa của Trần Văn Hương và Nguyễn Chánh Thi, phong trào sinh viên, học sinh Huế vẫn tiếp diễn
Để xoa dịu làn sóng đấu tranh, ngày 28/1/1965, Nguyễn Xuân Oánh được cử làm Thủ tướng thay cho Trần Văn Hương và khi Trần Văn Hương bị loại khỏi chức Thủ tướng thì phong trào đấu tranh của nhân dân Huế, trong đó có sinh viên, học sinh cũng tạm thời lắng dịu
Trong khi đó, ngày 7/2/1965, không quân Hoa Kỳ bắt đầu cho máy bay ném bom miền Bắc, một tín hiệu cho thấy Hoa Kỳ sẵn sàng leo thang chiến tranh để cứu
vãn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch Staley – Taylor đang bị phá
sản ở chiến trường miền Nam Các cuộc không kích chủ yếu tập trung vào một số địa bàn gần vĩ tuyến 17 như Đồng Hới, Cồn Cỏ, Vĩnh Linh và bị các lực lượng vũ trang của nhân dân miền Bắc đánh trả quyết liệt
Sinh viên, học sinh và các lực lượng yêu chuộng hòa bình ở miền Nam theo dõi tin tức chiến sự để kịp thời phát động phong trào đấu tranh mới nhằm hỗ trợ cho
1 Nay là trụ sở Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Thừa Thiê Huế (số 12 – Đống Đa – Thành phố Huế)
2 Nay là khách sạn Công Đoàn (số 13 Lý Thường Kiệt, thành phố Huế)