1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phong trào đồng khởi nông thôn đồng bằng thừa thiên huế (từ nữa sau năm 1964 đến đầu năm 1965

138 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 13,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Phong trào Đồng Khởi 1959 – 1960 đã giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ, làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm, đánh dấu bước phát triển mới

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

MAI THỊ YÊN THI

PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ

(NỬA SAU NĂM 1964 - ĐẦU NĂM 1965)

Chuyên ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Mai Thị Yên Thi

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt khóa đào tạo Thạc sỹ (2016-2018), ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi xin cám ơn sự quan tâm và giúp đỡ của quý thầy cô giáo khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Huế, cùng các cơ quan đơn vị: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế, Chi cục Văn thư - Lưu trữ Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Bảo Tàng lịch sử Thừa Thiên Huế, Thư viện tổng hợp Thừa Thiên Huế, Trung tâm lưu trữ Quốc gia II

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Lê Cung người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn

Xin cám ơn gia đình và tất cả bạn bè đã luôn hỗ trợ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Học viên thực hiện Mai Thị Yên Thi

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Bố cục của luận văn 8

CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ DẪN ĐẾN PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ (NỬA SAU NĂM 1964 - ĐẦU NĂM 1965) 9

1.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9

1.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 11

1.1.3 Truyền thống về đấu tranh cách mạng 13

1.2 ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN ĐỐI VỚI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 20

1.2.1 Về chính trị - quân sự 20

1.2.2 Về kinh tế - xã hội 25

1.2.3 Về văn hóa – giáo dục 28

1.3 PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THỪA THIÊN HUẾ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NỬA ĐẦU NĂM 1964 29

CHƯƠNG 2 DIỄN BIẾN PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ (NỬA SAU NĂM 1964 - ĐẦU NĂM 1965) 36

2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG 36

Trang 5

2.1.1 Chủ trương của Trung ương Đảng 36

2.1.2 Chủ trương Cục miền Nam 38

2.1.3 Chủ trương của Khu ủy V 39

2.1.4 Chủ trương của Tỉnh ủy Thừa Thiên 42

2.2 DIỄN BIẾN ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ (TỪ NGÀY 5/7/1964 ĐẾN 15/9/1964) 45

2.2.1 Huyện Phong Điền 45

2.2.2 Huyện Quảng Điền 48

2.2.3 Huyện Phú Vang 50

2.2.4 Huyện Phú Lộc 52

2.2.5 Huyện Hương Thủy 54

2.2.6 Huyện Hương Trà 56

2.3 DIỄN BIẾN ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ (TỪ 16/9/1964 ĐẾN THÁNG 3/1965) 59

2.3.1 Huyện Phong Điền 59

2.3.2 Huyện Quảng Điền 62

2.3.3 Huyện Phú Vang 63

2.3.4 Huyện Phú Lộc 66

2.3.5 Huyện Hương Thủy 68

2.3.6 Huyện Hương Trà 71

2.4 CÔNG TÁC CỦNG CỐ VÀ XÂY DỰNG VÙNG GIẢI PHÓNG 73

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 80

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA PHONG TRÀO 80

3.1.1 Quy mô của phong trào 80

3.1.2 Hình thức và biện pháp đấu tranh của phong trào 81

3.2 HẠN CHẾ 82

3.3 Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA PHONG TRÀO 83

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Phong trào Đồng Khởi 1959 – 1960 đã giáng đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ, làm lung lay tận gốc chính quyền Ngô Đình Diệm, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế

tiến công Trong tình hình này, đế quốc Mỹ đã triển khai chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam Đảng Lao động Việt Nam chủ trương tiếp tục giữ vững

thế chiến lược tiến công, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nổi dậy trên cả ba vùng chiến lược, tiến công địch bằng cả ba mũi1

Sau thất bại kế hoạch Staley - Taylor, Mỹ đã triển khai kế hoạch Johnson –

McNamara nhằm đẩy mạnh hơn nữa chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” tăng cường

viện trợ quân sự, ổn định chính quyền Sài Gòn, bình định miền Nam có trọng điểm trong 2 năm (1964 - 1965) Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã đẩy cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn đầy thử thách khó khăn Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi từ sau cuộc đảo chính lật độ chế độ Ngô Đình Diệm (1/11/1963), nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế một lần nữa đã tiến hành đồng khởi và giành thắng lợi ở nhiều vùng nông thôn và đồng bằng (1964 - 1965), tạo thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Phong trào Đồng khởi miền Nam nói chung là một trong những dấu ấn lịch sử quan trọng, tạo bước ngoặc cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) Tuy nhiên, trong khi phong trào Đồng khởi 1959 – 1960, hay đồng khởi ở miền núi

đã được tìm hiểu khá kĩ nhưng đồng khởi ở nông thôn đồng bằng nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng trong giai đoạn từ nửa sau năm 1964 – đầu năm 1965 lại chưa được nghiên cứu đầy đủ Một số khía cạnh của vấn đề tuy đã được thể hiện trong các tạp chí, công trình chuyên khảo về phong trào Đồng khởi ở các tỉnh nói chung Song nhiều vấn đề nghiên cứu đặc biệt là từng địa phương chưa được làm sáng tỏ như điều kiện bùng nổ, phương thức tiến hành, sắc thái thể hiện, tác dụng của phong trào Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện phong trào Đồng khởi ở nông thôn

1 Ba mũi: đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận

Trang 7

đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 - đầu năm 1965) là việc làm có

ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học, luận văn sẽ tái hiện một trong những bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Thừa Thiên Huế là phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng từ nửa sau năm 1964 đến đầu năm 1965, góp phần làm sáng tỏ sự năng động sáng tạo của Đảng bộ Tỉnh và các địa phương trong việc vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Trung ương, Khu ủy V Bên cạnh đó cho chúng ta thấy được tinh thần đấu tranh của lực lượng quần chúng nhân dân kiên cường, bất khuất, tự lực, tự cường, chuyển tự bị động sang chủ động, ra sức tiến công địch giành quyền làm chủ

Về ý nghĩa thực tiễn, nghiên cứu phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế 1964 - 1965 góp phần phục vụ cho công tác biên soạn lịch sử địa phương, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, giáo dục truyền thống yêu nước, nâng cao ý thức đoàn kết dân tộc cho thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

Với những ý nghĩa trên, tôi chọn vấn đề “Phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 - đầu năm 1965)” làm luận văn Thạc sĩ

chuyên nhành Lịch sử Việt Nam

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Liên quan đến nội dung luận văn có một số công trình sau: BCH Đảng bộ Thừa

Thiên Huế (1995), Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế (1930 -1954), tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Thị Thu Hương (2003), Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá quốc sách ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở Nam Việt Nam (1961 - 1965), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2005), Địa chí Thừa Thiên Huế, tập 2, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế (2010), Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế (1930 - 2010), NXB Thuận Hóa, Huế Đây là các công trình tổng kết một

cách có hệ thống các vấn đề cơ bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên

Trang 8

chiến trường Thừa Thiên Huế, trong đó có phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 – đầu năm 1965), cung cấp một số tư liệu cần thiết để tôi hoàn thành luận văn Tuy nhiên, phong trào Đồng khởi chỉ được đề cập sơ lược

Đặc biệt chuyên khảo của Lê Hồng Lĩnh (2006), “Cuộc Đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam”, NXB Đà Nẵng Công trình này nghiên cứu khá toàn diện và có

hệ thống về phong trào Đồng khởi ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ Tuy không đề cập đến phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế (nửa sau năm

1964 – đầu năm 1965), nhưng đây là những nguồn tư liệu quý giá, gợi mở nhiều vấn

đề để tôi nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài còn có một số công trình về lịch sử Đảng bộ các địa phương

trong tỉnh như: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hương Thủy (1994), Lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Hương Thủy, NXB Thuận Hóa, Huế; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Quảng Điền (1995), Lịch sử Đảng bộ huyện Quảng Điền, NXB Thuận Hóa, Huế; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Hương Trà (1998), Lịch sử Đảng bộ huyện Hương Trà (1937 - 1975), NXB Chính trị quốc gia,

Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lộc (1998), Lịch sử Đảng bộ huyện Phú Lộc (1930 - 1975), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phong Điền (1999), Lịch sử Đảng bộ huyện Phong Điền (1930 - 1995), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Vang (1999), Đảng bộ huyện Phú Vang 65 năm đấu tranh và xây dựng (1930 - 1995), NXB Chính trị quốc

gia, Hà Nội Các công trình này ít nhiều đều có sự tái hiện quá trình đồng khởi cụ thể của từng địa phương, đồng thời làm rõ vai trò của Đảng bộ các địa phương trong việc

đề ra chủ trương, biện pháp trong việc lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng khởi

Ngoài ra, còn có khóa tốt nghiệp “Phong trào Đồng khởi ở đồng bằng Trị - Thiên giai đoạn 1964 - 1965” (2010), tác giả Lê Văn Huế, Đại học Sư phạm Huế;

“Phong trào Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng Quảng Nam – Đà Nẵng trong kháng chiến chống Mỹ giai đoạn 1964 - 1965” (2012), tác giả Nguyễn Thị Hoàng Vũ, Đại học Sư phạm Huế và luận văn Thạc sĩ “Phong trào Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng Quảng Trị (1964 - 1965)” (2012), tác giả Viên Thị Trang, Đại học Sư phạm Huế; các

Trang 9

chuyện kể của các nhân chứng tại các địa phương đã cung cấp nhiều vấn đề thuộc phạm vi đề tài

Tuy nhiên, phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 – đầu năm 1965) cho đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu, khảo sát một cách có hệ thống và toàn diện

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phong trào Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 - đầu năm 1965)

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

Làm rõ bối cảnh lịch sử, nhân tố dẫn đến phong trào Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế từ nửa sau năm 1964 đến đầu năm 1965, tái hiện một cách có hệ thống về diễn biến của phong trào, làm rõ nghệ thuật chỉ đạo và tổ chức thực hiện Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế Từ đó, rút ra các đặc điểm, kết quả và ý nghĩa phong trào Đồng khởi ở Thừa Thiên Huế đối với cuộc kháng

Trang 10

chiến chống Mỹ, cứu nước; đồng thời đúc kết bài học kinh nghiệm cho công tác vận động quần chúng trong giai đoạn hiện nay

5 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi tiếp cận từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau gồm các văn kiện Đảng từ Trung ương xuống tỉnh, thành phố, huyện, xã Thừa Thiên Huế; một số công trình nghiên cứu lịch sử địa phương ở Thừa Thiên Huế đã được công bố; các sách, báo, tạp chí đã xuất bản Đây là nguồn tư liệu quan trọng vì ít nhiều đề cập đến các sự kiện cơ bản liên quan đến nội dung luận văn

Đặc biệt, tôi đã tập trung khai thác nguồn tài liệu tại Chi cục Văn thư - Lưu trữ

Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế; thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế; Trung tâm lưu trữ Quốc gia II, Các nguồn tài liệu này bao gồm những báo cáo, nghị quyết, biên bản, chỉ thị, kiến nghị, công điện, Đây là nguồn tư liệu chủ yếu để tôi hoàn thành luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic; trình bày nội dung từng vấn đề theo diễn tiến thời gian Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh, phân tích, tổng hợp, phỏng vấn… nhằm đạt được kết quả nghiên cứu cao nhất

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Một là, phản ánh một cách toàn diện, khách quan, có hệ thống về phong trào

Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế (từ nửa sau năm 1964 đến đầu năm 1965)

Hai là, rút ra đặc điểm, đánh giá một cách khách quan, khoa học về tác động và

tầm vóc của Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế (từ nửa sau năm

1964 đến đầu năm 1965) đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung

và Thừa Thiên Huế nói riêng

Ba là, những bài học kinh nghiệm được đúc kết qua nghiên cứu vấn đề này có

thể kế thừa và phát triển trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Trang 11

Bốn là, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung nguồn tư liệu, góp phần

phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương ở các bậc học trên địa bàn Thừa Thiên Huế Thông qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, nâng cao ý thức đoàn kết dân tộc cho thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu (6 trang), Kết luận (3 trang), Tài liệu tham khảo (7 trang)

và Phụ lục (20 trang), nội dung luận văn dài 82 trang gồm 3 chương:

Chương 1: Những nhân tố dẫn đến phong trào Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 - đầu năm 1965) (27 trang)

Chương 2: Diễn biến phong trào Đồng khởi ở nông thôn đồng bằng tỉnh Thừa Thiên Huế (nửa sau năm 1964 - đầu năm 1965) (44 trang)

Chương 3: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm (11 trang)

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG NHÂN TỐ DẪN ĐẾN PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ

(NỬA SAU NĂM 1964 - ĐẦU NĂM 1965)

1.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CÁCH MẠNG

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Thừa Thiên - Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ

Việt Nam, diện tích tự nhiên là 5.053,99 km2 [89, tr 11], nằm ở tọa độ địa lý từ 16 đến 16o8 vĩ độ Bắc và 107o8 đến 108o2 kinh độ Đông Phía Đông giáp biển Đông với chiều dài biển là 120 km , phía Tây giáp với nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp tỉnh Quảng Nam

Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 669 km và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng

1000 km Thừa Thiên Huế có biển Thuận An và cảng Chân Mây, cảng hàng không Phú Bài nằm sát quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh, phía tây có cửa khẩu Hồng Vân – A Đớt (A Lưới) Đây là điều kiện rất thuận lợi để Thừa Thiên Huế mở rộng hợp tác kinh tế trong khu vực, giao thương hàng hóa, vận tải quốc tế, phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ

Địa hình: Vùng rừng núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, vùng trung du chiếm

khoảng 1/2 diện tích, độ cao phần lớn dưới 500 m, có đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải và phần lớn là đồi bát úp, với chiều rộng vài trăm mét Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400 km2 Dọc theo Quốc lộ I về phía Nam có các đèo Phước Tượng, Phú Gia, Hải Vân

Sông ngòi ở đây khá dày đặc, quan trọng nhất là sông Hương, sông Bồ, sông

Truồi, Lợi Nông… Đây là nguồn cung cấp phù sa và nước tưới hàng năm cho vùng đồng bằng

Khí hậu ở Thừa Thiên Huế mang tính chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí

tuyến gió mùa Thời tiết chỉ lạnh khi gió mùa Đông Bắc tràn về và khô khi có ảnh

Trang 13

hưởng của gió Lào Thời tiết lạnh là thời kỳ ẩm vì mùa mưa ở đây lệch về Thu Đông Sang mùa hạ tuy thời tiết khô nhưng thỉnh thoảng vẫn có mưa rào hoặc mưa giông

Tài nguyên khoáng sản: Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế đã phát hiện được 120

mỏ, điểm khoáng sản với 25 loại khoáng sản, tài nguyên nước dưới đất, phân bố đều khắp, trong đó chiếm tỷ trọng đáng kể và có giá trị kinh tế là các khoáng sản phi kim loại và nhóm vật liệu xây dựng

Địa giới hành chính: Thừa Thiên Huế xưa thuộc 2 Châu Ô, Lý mà vua Chămpa

(Chế Mân) cắt dâng cho Đại Việt vào năm 1306 để cưới công chúa Huyền Trân Thời nhà Trần, Nhà nước đã chia các đơn vị hành chính dưới trung ương thành 9 lộ, 4 phủ,

7 trấn Thừa Thiên Huế thuộc Trấn Thuận Hóa Thời vua Lê Thánh Tông, chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên Các đơn vị hành chính trực thuộc dưới cấp trung ương

là thừa tuyên được đổi thành xứ Thừa Thiên Huế thuộc xứ Thuận Hóa (bao gồm: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế)

Đến thời chúa Nguyễn, Thừa Thiên Huế là thủ phủ Đàng Trong Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở núi Bân, chọn Phú Xuân làm kinh đô Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long chia cả nước thành 23 trấn và 4 dinh, Thừa Thiên Huế ngày nay thuộc dinh Quảng Đức Từ năm 1831-1832, Vua Minh Mạng lần đầu tiên chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm 30 tỉnh và 01 phủ, Thừa Thiên Huế ngày nay là phủ Thừa Thiên

Thời Pháp thuộc, Thừa Thiên Huế thuộc Trung Kỳ Từ 1945 - 1954, Thừa Thiên Huế thuộc Trung Bộ Sau hiệp định Genève, Thừa Thiên Huế thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa quản lý Cuối năm 1961, các Quân khu được cải tổ thành các Vùng chiến thuật Quân khu 1 được cải tổ thành Vùng 1 chiến thuật, địa bàn của Vùng 1 được tổ chức thành các Khu chiến thuật: Khu 11 chiến thuật gồm 2 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 theo quyết định của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tỉnh Quảng Bình, khu vực Vĩnh Linh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế được gộp thành tỉnh Bình Trị Thiên Năm 1989, tỉnh Bình Trị Thiên tách ra làm 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế như ngày nay Đến nay, toàn tỉnh gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 6 huyện: thành phố Huế, thị xã Hương

Trang 14

Trà, Hương Thủy và các huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới

Điều kiện về địa lý tự nhiên của Thừa Thiên Huế có những thuận lợi và khó khăn tác động rất lớn trong việc phát triển kinh tế, văn hóa Đặc biệt Thừa Thiên Huế

là tỉnh tiếp nối hai đầu Nam – Bắc có ảnh hưởng đến các cuộc kháng chiến chống chống ngoại xâm của nhân dân nơi đây nói riêng và cả nước nói chung

1.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội

1.1.2.1 Điều kiện kinh tế

Nông nghiệp: Từ năm 1955, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện

“Cải cách điền địa” thực chất là thu lại và trả cho chủ cũ tất cả các vùng đất của địa

chủ mà Việt Minh đã tịch thu không bồi thường chia cho các tá điền, những vùng đất

bị bỏ lại mà nông dân địa phương đã chiếm, mua lại tất cả tài sản từng thuộc về người Pháp Những nông dân bị chính phủ thu hồi đất trả cho chủ cũ trở thành người không

có đất Những mảnh đất này sau đó được chính phủ mua rồi bán lại cho nông dân Rất nhiều đất được bán hoặc cấp cho những người di cư từ miền Bắc thay vì nông dân miền Nam Ở Thừa Thiên Huế việc lấy đất lại hầu như 100 %

Nằm trong vùng địch kiểm soát, Thừa Thiên Huế trở thành một tỉnh tiêu thụ, sống phụ thuộc vào viện trợ Mỹ Chiến tranh đã gây nên cảnh đốt phá, cày ủi san bằng nông thôn, biến nhà cửa ruộng vườn thành những cánh đồng hoang hóa, ngập

cỏ dại lẫn nhiều mìn và mảnh bom đạn, tàn phá đê đập

Nông dân có thể mua giống, phân bón, thuốc trừ sâu, thuê máy bơm thuốc tại các cửa hàng đại lý bán lẻ của các hàng nhập khẩu được mở ngay trong xã, sau đó phải thanh toán bằng tiền hoặc thóc

Lâm nghiệp: Những tháng thiếu việc làm người dân thường đổ xô lên rừng đốn cây, hạ gỗ, làm củi Chính vì vậy dẫn đến những người thợ rừng tăng lên

Phương thức khai thác thô sơ, chặt cây bằng thủ công, vận chuyển bằng sức trâu hay sức người Do đó, trong những năm 60 của thế kỷ trước hầu như rừng đã bị khai thác và tàn phá bởi con người và chiến tranh, diện tích rừng ngày càng giảm Cuộc sống của người dân Thừa Thiên Huế lại thêm phần khó khăn

Trang 15

Ngư nghiệp: Trong đánh bắt thủy hải sản, ngư dân đã biết tiếp thu tiến bộ khoa

học kĩ thuật như sử dụng ghe thuyền có gắn động cơ, dùng lưới bằng sợi nylon Vì vậy, mặc dù chiến tranh đang xảy ra nhưng sản lượng đánh bắt vẫn tiếp tục tăng Tuy nhiên, đời sống của ngư dân không được tăng lên mấy do phải làm công, làm thuê, hoặc phải thuê ngư cụ, bị ăn chặn nhiều khâu nên thu nhập không cao Sản lượng đánh bắt thủy sản năm 1964 đạt 5.420 tấn [77, tr 142] đến năm 1965 tăng lên 7.076 tấn [77, tr 142] Mặc dù sản lượng khai thác tăng nhưng nhìn chung ngư dân vẫn còn đời sống bấp bênh, thiếu thốn

Tiểu thủ công nghiệp - Công nghiệp: Các nhà máy sản xuất công nghiệp tuy có

hoạt động nhưng phần lớn phục vụ cho nhu cầu chiến tranh Do hàng hóa sản xuất công nghiệp có giá thành hạ đã làm cho hoạt động tiểu thủ công nghiệp không phát

triển được mấy

Các ngành tiểu thủ công nghiệp truyền thống cũng bị mai một dần Tuy nhiên một số nghề nổi tiếng vẫn tồn tại và phát triển, như nghề đan lát ở Bao La; nghề gốm

ở Phước Tích; nghề dệt ở làng dệt Mỹ Lợi cũng rất nổi tiếng; các nghề chằm nón, mộc, nề, đan lát cũng được duy trì Một số nghề thủ công mỹ nghệ cũng có điều kiện phát triển ở Huế như chạm ngà, khảm xà cừ, đồ gỗ, bịt vàng bạc

Do chính quyền Sài Gòn tiến hành kế hoạch bình định, phá hoại mùa màng tài sản của quần chúng, bao vây kinh tế, gây khó khăn cho nhân dân trong sản xuất, mua bán vận tải Tuy nhiên, nhân dân có trình độ chính trị khá, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cuối những năm 1964 – đầu năm 1965, vùng căn cứ của ta rộng lớn có sự viện trợ kinh tế của miền Bắc nên có thể khắc phục một số khó khăn trước mắt Các

tổ chức đoàn kết tương trợ sản xuất đang phát triển mạnh, giúp cho nông dân vào con đường làm ăn tập thể, để tăng năng xuất lao động đảm bảo vừa sản xuất vừa phục vụ cách mạng

1.1.2.2 Điều kiện xã hội

Sau khi thay chân Pháp ở Việt Nam, Mỹ vội vàng đưa Ngô Đình Diệm ở nước ngoài về làm Thủ tướng rồi làm Tổng thống, dựng lên ở miền Nam bộ máy chính quyền độc tài phát xít

Trang 16

Ngô Đình Diệm đã liên tục đưa ra những hoạt động chống phá cách mạng để

củng cố bộ máy chính quyền như cưỡng ép di cư, chính sách “Tố cộng”, “Cải cách điền địa”, lập “Khu dinh điền”, lập “Ấp chiến lược”… Tất cả những điều đó đã có tác

động không nhỏ đến tình hình dân số của Tỉnh lúc này

Tình hình dân cư có những biến động Từ năm 1963, dân số Thừa Thiên Huế là 553.100 người [76, tr 80] nhưng đến năm 1964 đã giảm xuống còn 461.900 người [76, tr 80] đến năm 1965 có tăng lên nhưng không đáng kể là 472.300 người [76, tr 80] Qua sự thay đổi về dân số cho ta thấy rằng đã có nhiều yếu tố tác động như tình hình chính trị, xã hội, quân sự tại Thừa Thiên Huế có những biến động

Nguyên nhân của việc giảm dân số do chết tự nhiên, hoặc do các chiến sĩ, bộ đội phải tập kết ra Bắc theo điều khoản quy định của Hiệp định Genève hoặc do hậu quả đánh phá của địch đối với các xã có phong trào kháng chiến đấu tranh mạnh Nguyên nhân của việc tăng là do sinh đẻ, do thủ đoạn chính trị chính quyền miền Nam đã thực hiện chính sách cưỡng ép di cư những người công giáo từ Bắc vào Nam

và định cư tại Thừa Thiên Huế

Từ điều kiện về kinh tế và xã hội cho ta thấy rằng nó đã có một tác động không nhỏ đến ý thức của nhân dân, họ đã bị chèn ép, bị bóc lột nên đời sống của họ không được cải thiện mà càng khó khăn hơn Chính vì vậy, lòng căm thù giặc, muốn đất nước được giải phóng, hòa bình, có cuộc sống khấm khá hơn đã thúc đẩy họ tham gia đấu tranh với nhiều hình thức Đây chính là điều kiện cần và đủ để dẫn đến một cuộc đồng khởi ở Thừa Thiên Huế nửa sau năm 1964 – đầu năm 1965

1.1.3 Truyền thống về đấu tranh cách mạng

Cũng như nhân dân cả nước, truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Huế đã được hình thành từ rất sớm

1.1.3.1 Phong trào yêu nước trước năm 1930

Sau khi Chế Mân chết, công chúa Huyên Trân trở về Đại Việt, lấy cớ này các vua kế vị Chế Mân đem quân đánh châu Thuận và châu Hóa, các vua Trần đã phải nhiều lần cử quân đi đánh dẹp, đề ra nhiều đối sách như giao việc trấn giữ châu Hóa cho các trọng thần hay hoàng thân Năm 1377, với sự kiện vua Trần Duệ Tông tử trận

vì mắc mưu trá hàng của vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga, quân Chiêm Thành đã

Trang 17

chiếm châu Thuận, châu Hóa, châu Tân Bình và Nghệ An trong suốt 12 năm, cho đến khi Chế Bông Nga bị quân Đại Việt bắn chết, quân Chiêm Thành tan vỡ, rút quân khỏi vùng đất này Năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hóa), nhân dân Thuận Hóa lại tiếp tục hưởng ứng cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược

Phong trào Tây Sơn sau khi chiếm được Quy Nhơn (Bình Định) đã tiếp tục tiến quân ra Thuận Hóa Ngày 20/6/1786, quân Tây Sơn đánh thành Phú Xuân Nhân dân

vùng Thuận Hóa đã tham gia đội quân “áo vải cờ đào” để tiếp tục đấu tranh lật đổ

chính quyền phong kiến mục nát của chúa Nguyễn và chính quyền vua Lê – chúa Trịnh, đập tan âm mưu xâm lược nhà Thanh

Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công cửa biển Đà Nẵng Nhân dân Thừa Thiên và triều đình Huế tích cực chuẩn bị cùng nhân dân cả nước kháng chiến chống Pháp Tuy nhiên, về sau triều đình lại không còn đủ quyết tâm, chống lại nhân dân để thỏa thuận thương lượng với Pháp Ngay tại kinh đô Huế, phái chủ chiến và dân chúng lên án thái độ đầu hàng của triều đình, mọi nơi cùng nhau đoàn kết và chiêu mộ nhân dân để tự mình chống Pháp

Dựa vào phong trào kháng chiến của nhân dân, phái chủ chiến đại diện là Tôn Thất Thuyết mạnh tay hành động Đêm mồng 4 rạng sáng 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết

và lực lượng chủ chiến đã ra tay trước Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, song

do chuẩn bị vội vã, thiếu chu đáo nên sức chiến đấu của quân dân nhanh chóng tan

rã Rạng sáng 5/7, quân Pháp phản công và tàn sát nhân dân vô cùng man rợ

Sau sự kiện Kinh đô thất thủ ngày 23/5 năm Ất Dậu (5/7/1885), Tôn Thất Thuyết

hộ giá vua Hàm Nghi tới Sơn phòng Tân Sở Quảng Trị Tại đây, ngày 2/6 năm Ất Dậu (13/7/1885) vua Hàm Nghi đã hạ dụ Cần Vương kêu gọi nhân dân kháng Pháp Phong trào Cần Vương đã bùng nổ mạnh mẽ khắp Trung Kỳ và Bắc Kỳ kéo dài từ

1885 đến 1896

Hưởng ứng dụ Cần Vương, tại Thừa Thiên, Đặng Huy Cát (8/1885) tập hợp nghĩa sĩ của hai huyện Hương Trà, Quảng Điền ngăn chặn việc bắt lính của triều đình, bắt giam phái viên của huyện Quảng Điền, tập kích vào huyện nha Quảng Điền Do lực lượng khởi nghĩa không nhiều lại thiếu kế hoạch cụ thể nên nhanh chóng thất bại

Trang 18

Năm 1916, nhân dân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân Đến ngày hành động nhưng kế hoạch bị lộ, vua Duy Tân bị Pháp bắt đi đày, Trần Cao Vân, Thái Phiên bị thực dân Pháp hành hình Phong trào đấu tranh của nhân dân trong tỉnh tạm thời lắng xuống

Năm 1925, Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải, thực dân Pháp đưa cụ về giam tại Hỏa Lò, Hà Nội Trên cả nước nói chung, Thừa Thiên Huế nói riêng đã bùng phát phong trào đòi thả Phan Bội Châu Trước áp lực mạnh mẽ của quần chúng, ngày 24/12/1925 bản án được hủy bỏ, chính quyền thực dân đưa cụ về giam lỏng ở Huế Ngày 24/3/1926 nhà chí sĩ Phan Chu Trinh qua đời tại Sài Gòn Nhiều cuộc truy điệu để tang Phan Chu Trinh được tổ chức ở Huế để tuyên truyền về lòng yêu nước thu hút đông đảo nhân dân tham gia

Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Thừa Thiên Huế tiếp tục phát triển trong những năm 1926 - 1927, nổi bật là phong trào bãi khóa của trường Kỹ nghệ Thực hành, trường Quốc Học

Phong trào yêu nước còn diễn ra sôi nổi trên lĩnh vực báo chí và nghị trường Trong Viện Dân biểu Trung Kỳ đã có đại biểu của nhân dân: Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đăng Quế

1.1.3.2 Phong trào cách mạng từ năm 1930 đến năm 1945

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào ngày 3/2/1930 Tháng 4/1930, Tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên được thành lập do đồng chí Lê Viết Lượng làm Bí thư Vừa ra đời Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh trong phong trào cách mạng 1930 - 1931 Phương hướng công tác trong giai đoạn này của Tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên là: tuyên truyền, giải thích sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân ý nghĩa của việc thành lập Đảng Cộng sản Việt nam và Đảng bộ Tỉnh; tăng cường vận động, giác ngộ lý tưởng cách mạng trong các tầng lớp nhân dân; phát động phong trào đấu tranh đòi những quyền lợi thiết thực hàng ngày; kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5 bằng một đợt hoạt động kéo dài trong 15 ngày (từ 22/4 đến 7/5/1930)

Trong bối cảnh phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi trong cả nước mà đỉnh cao

là Xô Viết Nghệ - Tĩnh, trong các ngày 4, 12, 13, 16 và 28/9/1930, tại Thừa Thiên Huế, Tỉnh uỷ đã mở một đợt tuyên truyền rộng rãi đưa tin về cuộc đấu tranh của nhân

Trang 19

dân Nghệ - Tĩnh, tố cáo hành động khủng bố dã man của thực dân Pháp Truyền đơn được rải khắp nơi trong nội thành Huế kêu gọi ủng hộ Nghệ - Tĩnh Ngày 30/9/1930,

Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế vạch kế hoạch đẩy mạnh cuộc vận động “bênh vực Nghệ An đỏ”

Từ năm 1936 đến năm 1939, phong trào dân sinh, dân chủ diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ Đảng bộ Tỉnh đã đẩy mạnh hoạt động xây dựng lại phong trào, tiến hành cuộc vận động Đông Dương Đại hội, thu thập nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân gửi lên phái đoàn điều tra của chính phủ Pháp Trong dịp Godart, phái viên của chính phủ Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương, các tổ chức Đảng ở Thừa Thiên

Huế đã mở cuộc tuyên truyền vận động, vạch kế hoạch đón Godart để đưa bản “dân nguyện”

Từ năm 1939 đến ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, phong trào ở Huế từ đấu tranh công khai chuyển sang hoạt động bí mật Bởi thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy cai trị ở Đông Dương Nhiều chiến sĩ cách mạng bị bắt và bị tra tấn dã man nhưng vẫn chiến đấu rất dũng cảm Đêm mồng 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương Ngày 19/3/1945, Viện Cơ Mật do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức Bảo Đại theo lệnh của Nhật thành lập nội các mới, ngày 17/4/1945, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời

Ngày 23/5/1945, Hội nghị Cán bộ toàn tỉnh dưới sự chủ trì của Bí thư Tỉnh ủy

(Lâm thời) Nguyễn Sơn họp ở đầm Cầu Hai (Phú Lộc) đưa ra một số chủ trương: “Ra sức chuẩn bị lực lượng, sẵn sàng cùng cả nước khởi nghĩa giành chính quyền khi có thời cơ; khẩn trương mở rộng khối đại đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh; phân biệt giữa Việt gian thân Nhật và những người vì chưa hiểu mà tham gia các tổ chức Chính phủ Trần Trọng Kim để có sự phân hóa và lôi kéo, vận động những người yêu nước tham gia Việt Minh; xây dựng và phát triển tổ chức tự vệ, dùng những vũ khí tự tạo, sẵn sàng bảo vệ sự nghiệp cách mạng” [75, tr 318]

Sau hội nghị, các cán bộ trở về phụ trách các địa bàn được phân công và thực hiện các chủ trương đã đề ra Phong trào cách mạng trong toàn tỉnh từng bước đi lên

và phát triển Tháng 7/1945, Thường vụ Việt Minh tỉnh triệu tập tại Ngoẹo Giàn Xay (An Cựu) nhận định thời cơ cách mạng đang đến gần Vì vậy, cần phải huy động toàn

Trang 20

dân nổi dậy giành chính quyền Ngày 15/8/1945, Hội nghị Cán bộ toàn tỉnh tại nhà ông Tô Huấn và bà Phan Thị Luận ở 46 Giáp Hạ (Phú Bình, Huế) chủ trương phát động khởi nghĩa toàn tỉnh, quyết định chọn huyện Phú Lộc làm thí điểm để rút kinh nghiệm Phong trào của nhân dân với nhiều hình thức đấu tranh vũ trang, chính trị, binh vận được đẩy mạnh làm bộ máy chính quyền bù nhìn bị tê liệt Từ 18 đến ngày 22/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa các huyện phát động quần chúng giành chính quyền Thắng lợi ở Phong Điền và Phú Lộc đã tạo nhiều động lực, bàn đạp để 4 huyện còn lại vùng lên mạnh mẽ Ngày 23/8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Huế đã kết thúc thắng lợi

16 giờ ngày 23/8/1945, tại Sân vận động Huế một cuộc mit-tinh lớn được tổ chức Thay mặt Ủy ban khởi nghĩa, Tố Hữu đã nêu rõ ý nghĩa, tầm vóc của cuộc khởi nghĩa, tuyên bố từ nay chính quyền thuộc về tay nhân dân

Chiều ngày 30/8/1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại đã được diễn ra tại Ngọ Môn chấm dứt triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam Nhân dân Thừa Thiên Huế từ đây thực sự làm chủ được cuộc sống, làm chủ quê hương mình Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân đã kết thúc thắng lợi

1.1.3.3 Phong trào cách mạng từ năm 1945 đến năm 1954

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thừa Thiên Huế bắt tay xây dựng lại quê hương

Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập đã phải đối đầu với muôn vàn khó khăn thử thách Trong toàn tỉnh, nạn đói, nạn mù chữ, các tệ nạn xã hội còn phổ biến, đời sống vô cùng thiếu thốn, lạc hậu Ngay sau cách mạng tháng Tám năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ (3/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã nêu 3 chủ trương lớn: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm [75, tr 331]

Trên mặt trận cứu đói, chính quyền cách mạng Thừa Thiên Huế cùng với Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc vận động nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi

của Hồ Chủ tịch Phong trào quyên góp, tổ chức “Ngày đồng tâm”, “Hũ gạo cứu

Trang 21

đói” được phát động mạnh mẽ, chính quyền cách mạng còn phát động phong trào

tăng gia sản xuất để giải quyết nạn đói tận gốc

Đi đôi với công tác chống giặc đói là chống giặc dốt, từ tỉnh, huyện đến các làng

xã đều thành lập Ban Bình dân học vụ chuyên lo xoá mù chữ cho dân Sau gần một năm ở Thừa Thiên Huế đã có hàng vạn người thoát nạn mù chữ Xã Phú Hương (nay

là Vinh Thanh) là xã thanh toán nạn mù chữ đầu tiên của huyện Phú Vang [75, tr 333]

Để giải quyết những khó khăn của nền tài chính nước nhà, tại Thừa Thiên Huế,

nhân dân, công chức, bộ đội, công nhân tích cực tham gia “Tuần lễ vàng”, “Tuần

lễ đồng” Chỉ trên dưới một tuần lễ với sự nhiệt tình của quần chúng, thành phố Huế

đã thu được 945 lượng vàng, 6 huyện đóng góp trên 10kg vàng (1kg vàng = 26,66 lượng) [75, tr 332]

Những thắng lợi đầu tiên trong việc chống giặc đói, giặc dốt, xây dựng nền tài chính trên toàn tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc củng cố hệ thống chính trị của chế độ mới

Ngày 19/12/1946, Thường vụ Tỉnh ủy đã họp phiên mở rộng, quán triệt chủ trương đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, đồng thời thông qua kế hoạch tác chiến theo chủ trương của Xứ ủy Trung Bộ và Ủy ban Kháng chiến Hành chính Trung Bộ

Đúng 2 giờ 30 phút, ngày 20/12/1946, chiến dịch Huế mở màn Quân dân ta đã bao vây địch suốt 50 ngày đêm trong thành phố Huế 50 ngày đêm quân và dân Thừa Thiên Huế chiến đấu anh dũng, ngoan cường, thu và phá huỷ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng

Đầu tháng 2/1947, cuộc kháng chiến của quân và dân ta gặp vô vàn khó khăn, thử thách Sau khi chiếm được Huế, thực dân Pháp nhanh chóng triển khai lực lượng đánh chiếm những trọng điểm quan trọng, đánh rộng ra vùng ngoại ô, rồi tràn ra khắp vùng đồng bằng các huyện Hương Thủy, Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc

Ngày 24/3/1947, trung đoàn chủ lực Trần Cao Vân tổ chức đánh đồn Hộ Thành thắng lợi, sau đó tiếp tục đột kích đồn Đất đỏ (29/3/1947) Các đội cảm tử quân của hai huyện Hương Thủy và Phú Vang tấn công tập kích vào đồn Sư Lỗ giành thắng

Trang 22

lợi ngay giữa đồng bằng Ngày 5/7/1947, lực lượng vũ trang Hương Thủy phối hợp với tiểu đoàn 18 trung đoàn Trần Cao Vân phục kích quân Pháp đi càn ở Võ Xá, diệt

33 tên, bắt 16 tên, thu nhiều vũ khí

Sang năm 1948, ngoài những trận đánh có quy mô khá lớn như trận tiến công tiêu diệt đồn Mỹ Lợi (26/7/1948), đồn Hà Thành (8/7/1948), còn có những hoạt động kháng chiến ở thành phố Huế do Đội Công an danh dự của tỉnh và Hội học sinh kháng chiến Thuận Hóa tiến hành

Những tháng đầu năm 1949, ta đã làm thất bại cuộc tiến công của 2.000 tên địch

có máy bay yểm hộ lên chiến khu Dương Hòa, tiến công bốt Vỹ Dạ (2/3), tiêu diệt đồn Vân Trình (18/3), bẻ gãy trận càn lên vùng núi Khe Tre, Nam Đông (4/1949), chiến thắng trận Hói Mít, Phú Lộc (12/1/1949) Qua tháng 5/1949, ta bắt đầu xây dựng lực lượng quân sự cấp tiểu đoàn, trung đoàn để có thể đánh tiêu diệt với quy mô lớn

Trong năm 1950, bộ đội địa phương đã đánh 50 trận, tiêu diệt 92 tên địch Mỗi huyện có một đại đội bộ đội địa phương với tổng số 6 huyện là 931 chiến sĩ Dân quân du kích các xã có 16.224 người Trong năm 1950, hai lực lượng này đã tiến hành 468 trận phục kích, tiêu diệt 600 tên địch, giải tán 35 hội tề Trên cả tỉnh có 2.000 thanh niên vào bộ đội [75, tr 369]

Ngày 12/2/1951, tiêu diệt lô cốt An Gia; ngày 9/3/1951 ta đánh đồn Phổ Lại Vùng giáp ranh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị được khai thông Ngày 13/3/1951, 2 Trung đoàn 101 và 95 đánh bại cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của địch tại Thanh Hương - Mỹ Xuyên

Ngày 6/2/1952, Thường vụ Tỉnh ủy ra chỉ thị vận động tòng quân và đẩy mạnh

du kích chiến Trên đà thắng lợi, quân ta tiếp tục tiến công và tiêu diệt một loạt vị trí địch ở các huyện Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc Vùng

tự do của ba tỉnh Bình - Trị - Thiên nối liền nhau thành một dải dọc Trường Sơn và dọc đường I, từ Phú Lộc ở phía Nam ra Phong Điền ở phía Bắc của tỉnh, nối liền cửa ngõ Huế

Trong cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 -1954, với thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ (7/5/1954), dưới sự lãnh đạo Đảng bộ Thừa Thiên Huế,

Trang 23

quân và dân vẫn tiếp tục tổ chức các cuộc tiến công về quân sự và những đợt đấu tranh chính trị góp phần vào thắng lợi chung của cả nước Ngày 21/7/1954, Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam được ký kết tại Genève Đến ngày 1/8/1954, địch buộc phải ngừng bắn ở Thừa Thiên Huế [75, tr 388] Thắng lợi của cuộc kháng chiến đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời chấm dứt ách thống trị thực dân Pháp trong gần một thế kỉ trên đất nước ta Từ đây phong trào cách mạng của tỉnh Thừa Thiên Huế bước sang một giai đoạn mới, cam go, ác liệt hơn khi đế quốc Mỹ đang dần thay thế Pháp xâm lược nước ta

1.2 ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN ĐỐI VỚI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

1.2.1 Về chính trị - quân sự

Sau Hiệp định Genève (1954), Đế quốc Mỹ ra sức thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương Ngày 25-6-1954, Mỹ đã ép được Pháp đưa Ngô Đình Diệm thay Bửu Lộc lên làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn miền Nam Việt Nam

Ngô Đình Diệm sau khi lên cầm quyền đã thi hành một loạt chính sách phản động, vi phạm các điều khoản trong Hiệp định Genève, tăng cường các lực lượng quân sự, khủng bố trả thù cách mạng

Huế được xem là trung tâm chính trị thứ hai ở miền Nam sau Sài Gòn, chính vì vậy Ngô Đình Diệm đã thiết lập ở đây một bộ máy cai trị mạnh và cho thi hành các chính sách thống trị tàn bạo để dập tắt ngọn lửa cách mạng Huế là nơi đóng chính quyền cấp miền như Tòa Đại biểu Chính phủ Trung Nguyên Trung Phần, Nha Cảnh sát Quốc gia Trung Nguyên Trung Phần, Tòa Tổng lãnh sự Mỹ, Đội công tác đặc biệt miền Trung, đảng Cần lao Nhân vị, Ngoài ra có cả Ngô Đình Thục, anh ruột của Ngô Đình Diệm giữ chức Tổng Giám mục địa phận Huế và Huế được cai trị dưới bàn tay của lãnh chúa miền Trung Ngô Đình Cẩn

Chính quyền Ngô Đình Diệm tăng cường lực lượng quân sự ở Nam Giao, Phú Bài, Thuận An, Thừa Lưu, Tứ Hạ, Hòa Mỹ Tháng 7/1954, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm lập các Trung tâm cải huấn ở Thanh Tân (Phong Điền), Thành nội (Huế) nhằm kiểm soát và kìm kẹp nhân dân

Trang 24

Ngày 8/8/1954, đảng “Cần lao nhân vị” do Ngô Đình Nhu đứng đầu được thành lập, lấy học thuyết “duy linh – nhân vị” làm hệ tư tưởng Tuy nhiên, sự phản động về

tư tưởng, tàn bạo về mặt biện pháp khiến chủ nghĩa nhân vị của gia đình họ Ngô không hợp lòng dân, gây thù địch với người dân Việt Nam

Từ tháng 5/1955, chính quyền Ngô Đình Diệm bắt đầu chiến dịch “tố Cộng”,

chúng tập trung đánh phá các xã có phong trào kháng chiến mạnh ở Phong Điền, Phú

Vang, Hương Thủy, Hương Trà, Quảng Điền và Phú Lộc nhằm để tránh “bỏ sót” cán

bộ cộng sản

Tại các lớp học “tố Cộng”, chúng ra sức nói xấu Đảng, xuyên tạc chủ trương,

chính sách của cách mạng, xé cờ Đảng Đối với quần chúng ở các xã thôn, chính

quyền Sài Gòn tiến hành phân chia làm 3 loại để theo dõi và đưa vào các lớp học “tố Cộng” với mức độ khác nhau Loại A gồm những người vừa tham gia kháng chiến

và gia đình có con em đi tập kết, học ở quận 3 tháng Loại B gồm những người có cảm tình với cách mạng, học ở xã hoặc liên xã 1 tháng Loại C gồm những gia đình

có người tham gia ngụy quân, ngụy quyền, học ở xã trong 10 ngày Cho đến tháng

10/1958, chính quyền Sài Gòn đã mở 53.710 lớp học “tố Cộng” với 230.977 người

học, mở 314 lớp chỉnh huấn bắt 2.907 đảng viên học tập, có 3.658 cán bộ đảng viên

bị tố giác và bị bắt [75, tr 392] Chính sách “tố Cộng” của Mỹ - Diệm đã gây ra tình

trạng hết sức căng thẳng trong nhân dân

Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định Genève Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm không ngoài mục đích tách hẳn một phần lãnh thổ của Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để lập ra một quốc gia riêng biệt, thậm chí là một phần lãnh thổ của nước Mỹ Được sự giúp đỡ của

đế quốc Mỹ, ngày 23/10/1955, Ngô Đình Diệm thực hiện “trưng cầu dân ý”, truất

phế Bảo Đại suy tôn Ngô Đình Diệm làm tổng thống Trong những ngày này, mặc dù

Mỹ và Ngô Đình Diệm phải dùng cảnh sát lùng bắt đồng bào miền Nam đi bỏ phiếu nhưng đồng bào đã tìm mọi cách để chống lại Ở nhiều tỉnh, nhiều thành phố, nhiều

xã nhân dân phá cuộc bỏ phiếu Sau đó, Ngô Đình Diệm đã không thi hành hiệp thương tổng tuyển cử mà thực hiện bầu cử Quốc hội riêng rẽ vào ngày 4/3/1956 Đến

ngày 26/10/1956, ban hành hiến pháp, lấy chủ nghĩa “Nhân vị” làm chuẩn mực: “Xây

Trang 25

dựng dân chủ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cho toàn dân trong sự tôn trọng nhân vị” [23, tr 90] Lập nền “Đệ nhất Cộng hòa” được Mỹ và các nước Đồng minh

của Mỹ công nhận là chính quyền hợp pháp

Từ cuối năm 1957, Ngô Đình Nhu chủ trương phải có một đội quân thuần nhất,

Đảng Cần lao thành Đảng “Cần lao Thiên Chúa giáo”, thành phần chủ yếu là các tín

đồ Thiên Chúa giáo di cư, cha cố, công chức và sĩ quan cấp cao

Ngày 17/5/1958, chính quyền Ngô Đình Diệm chia tỉnh Thừa Thiên Huế thành

9 quận, 3 tổng, 89 xã Chính quyền Ngô Đình Diệm bắt dân rào ấp chiến lược, tiến hành với ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Lập ấp tại các vùng đã kiểm soát và kiểm soát một nữa; Giai đoạn 2: Lập tại những vùng Hồng (vùng tranh chấp và giáp ranh); Giai đoạn 3: Lập tại những vùng Đỏ (vùng căn cứ) kết hợp với càn quét [55, tr 11]… Thực chất đây là nhốt dân vào trong các trại giam trá hình Chúng quy định giờ giấc, phạm vi đi lại trong ấp và ra khỏi ấp rất nghiêm ngặt, nhất là các gia đình có cán bộ

đi tập kết, cán bộ nằm vùng thì chúng bắt bớ, đánh đập những người nộp nguyên vật liệu chậm hoặc không đúng quy cách làm ấp Bên cạnh đó, chính quyền Ngô Đình Diệm còn đưa ra kế hoạch để đối phó Việt Cộng khi tấn công ấp, không những với mục đích chặn đứng mọi tấn công của Việt Cộng mà chính quyền muốn bao vây tiêu diệt lực lượng tấn công không cho rút lui hay tẩu thoát

Để làm chỗ dựa cho chế độ mới, Ngô Đình Diệm đã bổ nhiệm những người

thuộc phe cánh giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền theo chế độ “chỉ định”

Hầu hết các xã trưởng2, thôn trưởng đều nằm trong tay người Cần lao Thiên Chúa

giáo Đồng thời thành lập các tổ chức “Thanh niên Cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới”,

“Nhân dân tự vệ đoàn”, “Liên gia tương trợ”, “Ngũ gia liên bảo” tại các địa phương

Trong tỉnh Thừa Thiên Huế, chúng còn lập khu công giáo di cư như ở Lăng Cô (Giáo

xứ Loan Lý - huyện Phú Lộc) Tính đến năm 1962, tại Thừa Thiên Huế có “trên 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn bảo an, 6 đại đội bảo an biệt lập, 2 đại đội biệt động quân, khoảng 2 tiểu đoàn pháo binh” [55, tr 4 - 5] Bên cạnh đó, Ngô Đình Thục còn

tổ chức một lực lượng vũ trang riêng Tờ Newsweek (New York) ngày 27/5/1963 cho

2 Trước năm 1963, ông Đoàn Quang Châu, người Công Giáo, làm xã trưởng Xuân Long, Hương Trà, Thừa Thiên.

Trang 26

biết: “Ở vùng biển phía Bắc quanh Huế có nhiều đơn vị nhỏ, trong những đoàn quân

ấy được mệnh danh là “quân đội Tổng Giám mục” chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng Giám mục và có trách nhiệm chủ yếu là để bảo vệ nhà thờ và linh mục các linh mục được trang bị bằng vũ khí Hoa Kỳ và phần nào được cố vấn Mỹ huấn luyện”

Mọi chức vụ chủ chốt từ trung ương xuống địa phương đều nằm trong tay thiểu

số Cần lao Thiên Chúa giáo Do vậy, “bộ máy nhà nước Đệ Nhất Cộng hòa thể hiện chính chất “giáo trị” một chiều hết sức cao độ” [23, tr 97]

Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm còn tích cực xây dựng và củng cố lực lượng bán vũ trang, thành lập các tổ chức Thanh niên chiến đấu canh gác bảo vệ thôn xóm bằng nhiều hình thức như mua chuộc, hô hào, động viên, tiến hành kê khai danh sách toàn dân từ 17 – 45 tuổi để diễn tập quân sự, sẵn sàng khi có lệnh tổng động viên

“Có thôn ở Thừa Thiên, 100 gia đình địch bắt đi lính 50 lính” [55, tr 6]

Sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm (1/11/1963), chính quyền Sài Gòn lâm vào khủng hoảng trầm trọng hơn3 Dương Văn Minh đóng vai trò chính với cương vị Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, cùng với các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Đỗ Mậu Tuy nhiên, chỉ 3 tháng sau, Nguyễn Khánh cầm đầu cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 lật đổ chính quyền quân sự này và giành quyền đứng đầu Việt Nam Cộng hòa

Ngày 9/3/1964, Thủ tướng Nguyễn Khánh ký sắc luật SL.103/SL/CT, giải tán

Ủy ban đặc trách Ấp chiến lược ở trung ương và vùng, thay tên gọi “ấp chiến lược” bằng “ấp tân sinh”, lập Tổng Nha Tân sinh nông thôn thay cho Ban thường vụ “ấp chiến lược” cũ

3 Chỉ trong vòng 18 tháng (từ 1/11/1963 đến tháng 6/1965) đã diễn ra 10 cuộc đảo chính lớn nhỏ, 8 lần thay đổi chính phủ

Trang 27

Chính quyền Sài Gòn tiếp tục củng cố về ấp tân sinh ở Thừa Thiên Huế có 92

xã 460 ấp tân sinh (1964) nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn chỉ bình định được 80

ấp [43, tr 5] Chứng tỏ rằng trong giai đoạn này chính quyền miền Nam đã vấp phải rất nhiều cản trở của nhân dân trong quá trình bình định

Ngày 16/8/1964, Nguyễn Khánh cho ra đời “Hiến chương Vũng Tàu”, trong đó

Nguyễn Khánh nắm ba chức vụ cao nhất là Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa kiêm Thủ tướng chính phủ và Chủ tịch Hội đồng quân lực, đánh dấu việc thiết lập chế độ độc tài quân phiệt Các lực lượng như hiến binh, cảnh sát, quân cảnh, an ninh quân đội được củng cố và tăng cường Tình báo, gián điệp tiến hành ráo riết các hoạt động điều tra, bắt cóc, uy hiếp, gây tâm lý chiến tranh làm quần chúng hoang mang, dao động Đồng thời, chính quyền Sài Gòn còn ráo riết thực hiện âm mưu mua chuộc, mị

dân, đánh lừa quần chúng “Luận điệu bịp bợm quần chúng của địch nhằm đổ dồn tội

ác cho anh em gia đình họ Ngô, đề cao công lao thanh thế của chúng dưới các danh

từ “Cách mạng”, “Tự do” ” [60, tr 2]

Nguyễn Khánh cho thành lập “Đoàn Cán bộ Hành chánh lưu động” (1/7/1964),

có nhiệm vụ chấn chỉnh, củng cố, tái lập các cơ quan hành chánh xã, ấp trong khu vực bình định; thi hành mọi biện pháp để ngăn ngừa sự xâm nhập những thành phần phá hoại trong xã ấp [70, tr 2527]

Sau khi Trần Văn Hương lên nắm chính quyền (31/10/1964), chúng tiếp tục thi hành những chính sách tàn bạo chống lại phong trào cách mạng của nhân dân ta Ngày 25/1/1965, Trần Văn Hương ra Sắc lệnh thiết quân luật ở Huế và Thừa Thiên trong hai tháng để ổn định trật tự an ninh công cộng

Với những chính sách về chính trị - quân sự đã gây ra không ít khó khăn cho hoạt động cách mạng của ta

Trang 28

1.2.2 Về kinh tế - xã hội

Về kinh tế: Từ năm 1955, Ngô Đình Diệm cho thực hiện “Cải cách điền địa”,

nội dung gồm 4 đạo dụ cơ bản Dụ số 24 và Dụ số 75, Dụ số 286, Dụ số 577 nhằm mục đích mị dân, lừa gạt nông dân, tranh thủ giai cấp địa chủ bằng cách công nhận quyền

sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ và quyền thu tô cả quyền truy thu tô, đồng thời cũng nhằm tranh thủ nông dân bằng cách hạ mức tô

Tại Thừa Thiên Huế, diện tích đất công chiếm khoảng 70 đến 80%, với chính sách này đã tước đoạt hàng chục vạn ha công điền và ruộng vắng chủ, bắt nông dân

làm “tờ tá điền” để nộp tô cho chính quyền Đây là “chính sách phản động, một thủ đoạn thâm độc nhằm cướp đoạt ruộng đất của nông dân đã giành được trong cách mạng và kháng chiến, xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng trong nông dân, khôi phục

và duy trì chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ và nhân viên chính quyền, hợp thức hóa việc thu tô, truy thu tô, thuế, gây ra sự xáo canh ruộng đất, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ nông dân” [34, tr 102]

Từ năm 1957, Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách “dinh điền” Tại Thừa Thiên Huế, chúng đã lập ra khu dinh điền ở Nam Đông, mục đích

dồn dân để dễ bề kìm kẹp Dinh điền là một hình thức tập trung dân; khu dinh điền là

hệ thống quân sự trá hình; các địa điểm dinh điền là cơ sở bóc lột kinh tế, bóc lột nhân công của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ

Năm 1961, tại Thừa Thiên Huế có 3 nông trường: “Nông trường Nam Đông tọa

độ YC-862.852 Diện tích 396 mẫu tây Có 347 nóc nhà Nhân số 1.668 người canh

4 Dụ số 2 (8/1/1955) quy định mức thu tô (giá thuê đất) tối đa và lãi suất mà điền chủ được áp dụng

- Mức tô tối đa từ 10 đến 15% trên số lúa thu hoạch cho ruộng làm 1 mùa / năm

- Mức tô tối đa từ 15 đến 25% cho mùa gặt chính của ruộng 2 mùa / năm

5 Dụ số 7 (5/2/1955) quy định việc thuê đất phải có khế ước (hợp đồng) tá điền Thời hạn khế ước là

5 năm, có tái ký Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng Chủ đất muốn lấy đất lại phải báo trước tá điền 3 năm Khế ước được chia thành ba loại:

- Loại A: đối với ruộng đang canh tác có chủ

- Loại B: đối với ruộng hoang có chủ

- Loại C: đối với ruộng hoang vắng chủ (Hội đồng xã thay mặt chủ đất ký khế ước với nông dân)

6 Dụ số 28 (30/4/1956) quy định quy chế tá điền

7 Dụ số 57 (20/10/1956) quy định việc truất hữu địa chủ Mỗi địa chủ chỉ được giữ lại 100 ha ruộng đất và 15 ha ruộng hương hỏa Ruộng bị truất hữu sẽ được đem bán lại cho những người thiếu ruộng, mỗi hộ không quá 5 ha, người mua sẽ trả tiền trong thời gian 6 năm Trong thời gian đó ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu của chính quyền Trong 10 năm kế tiếp, người được phát ruộng không được cho mướn hay đem bán lại Địa chủ sẽ được bồi thường 10% tiền mặt, số còn lại được trả bằng trái phiếu trong 12 năm, mỗi năm lời 5%

Trang 29

tác ruộng nước 65 mẫu tây Ruộng rẫy 152 mẫu tây… Nông trường Hòa Mỹ tọa độ YD-482.272 Diện tích 105 mẫu tây Có 147 nóc nhà Nhân số 599 người… Nông trường Bạch Mã tọa độ ZC-060.920 Diện tích 24 mẫu tây Có 22 nóc nhà Nhân số

69 người” [42, tr 1]

Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiến hành lập các tổ chức độc quyền kinh doanh như: Hợp tác xã, Nông tín cuộc và Nông hiệp hội Cùng với đó là các hình thức thuế khóa khác nhau như thuế điền thổ, thuế cây, thuế sản xuất, thuế chợ, thuế

nhà Hạn chế một số hoạt động kinh tế đối với các tín đồ Phật giáo như: “Cấm hạ và bán thịt heo trên toàn lãnh thổ Việt Nam cộng hòa 3 ngày trong tuần lễ: thứ Ba, thứ Sáu và Chủ nhật cho đến khi có lệnh mới… Trong ba ngày cấm trên đây, thịt heo quay, thịt heo ướp lạnh của những ngày trước còn lại cũng không được phép bán trong các tiệm, các chợ mặc dầu dưới hình thức nào” [23, tr 192]… Những hình

thức này nhằm mục đích để bóc lột, vơ vét của cải của nhân dân

Sau khi Ngô Đình Diệm bị lật đổ, Nguyễn Khánh vẫn tiếp tục cho rằng bình định là vấn đề chủ yếu để giải quyết chiến tranh ở miền Nam nên đã chủ trương thiết

lập “ấp tân sinh” để tạo thành vành đai ngăn chặn sự đột nhập của Việt Cộng Đây thực chất là tiếp tục “ấp chiến lược” thời Ngô Đình Diệm Nông dân sống trong các

ấp tân sinh không thể sản xuất một cách thuận lợi vì phải đi xa hơn hơn mới tới ruộng, không dễ gặp lái buôn hay họp chợ để bán nông sản

Đồng thời, để mua chuộc sự ủng hộ của nhân dân, chính quyền Sài Gòn tổ chức

cấp gạo, phân hóa học, thuốc trừ sâu, cho nông dân; tổ chức “Hội cứu tế dân nghèo”,

cho công an đi sâu vào quần chúng động viên, thăm hỏi gia đình nghèo khổ; chính

quyền Sài Gòn đã đưa ra “Dự thảo Luật dự trù tạm miễn thuế điền thổ cho nông dân

có ruộng và đất mà tổng số diện tích không quá 5 sào tức 500 thước vuông, với điều kiện phải tự mình canh tác lấy Việc tạm miễn thuế có hiệu lực kể từ 1/1/1964” [18,

tr 1] Ngoài ra, chúng còn tung ra nhiều tiền bạc, hàng hóa đem phân phát cho dân,

đề ra chương trình xây dựng, cải tiến thành phố, đường sá, điện nước, chợ búa, tỏ ra quan tâm đến đời sống quần chúng, Thủ đoạn này của địch rất nguy hại, làm cho một số quần chúng bị lầm tưởng, lập lờ về bản chất của đế quốc Mỹ và bọn tay sai mới

Trang 30

Về xã hội: Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thực hiện cưỡng ép và dụ dỗ giáo

dân Thiên Chúa giáo ở miền Bắc di cư vào miền Nam nhằm nhiều mục đích khác nhau về chính trị, kinh tế… Ngô Đình Diệm với sự giúp sức của Mỹ đã dựng lên

chiêu bài “Đức Mẹ và và con trai là Chúa Giê-su đã vào Nam” [23, tr 109]

Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm đã đưa ra nhiều chính sách ưu tiên cho tín

đồ Thiên Chúa giáo như “phương tiện vận chuyển, phát tiền trợ cấp nhanh chóng, được lĩnh lương thực và thực phẩm tốt, được cấp phát những vùng đất đai màu mỡ

để định cư sinh sống…” [23, tr 110]

Chúng dùng nhiều thủ đoạn để mua chuộc, ép buộc nhân dân thay đổi tôn giáo Đặc biệt các cán bộ chủ chốt từ tỉnh đến địa phương đều thuộc người Công giáo: Tỉnh trưởng Thừa Thiên là Nguyễn Văn Đẳng, phó Tỉnh trưởng là Đặng Sĩ Tất cả các chính sách đều ưu tiên cho những giáo dân Thiên Chúa Các nhà thờ cũ được sửa sang lại hoặc xây mới như nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế8, nhà thờ Phủ Cam9

Riêng đối với gia đình Phật tử đều bị kì thị bởi chúng cho rằng Phật giáo là nơi

chứa chấp Cộng sản, họ bị ngược đãi, đánh đuổi như trường hợp “Một huynh trưởng Phật tử ở Khuôn hội Kim An, Kim Long (Huế) đã bị giết chết một cách thê thảm mà nguyên nhân chỉ vì “đã hoạt động tổ chức cung nghinh Xá lợi trong Đại lễ Phật đản năm 1955”” [23, tr 192]… tình cảnh của các tín đồ Phật giáo hết sức khổ cực Nhiều

người phải giả xưng là tín đồ Thiên Chúa giáo để được bình đẳng như mọi người

Đến năm 1957, Ngô Đình Cẩn và tay chân tạo ra “Vụ gián điệp miền Trung”,

khiến tất cả những người từ Quảng Trị đến Khánh Hòa không tỉnh nào không bị sát hại vì bị gán ghép làm gián điệp Nạn nhân chủ yếu là các tín đồ Phật giáo có thế lực

về kinh tế như Nguyễn Văn Yến, Phan Văn Thí, Nguyễn Đắc Phương [23, tr 193 - 194]… Dưới bàn tay bạo chúa Ngô Đình Cẩn biết bao nhiêu chiến sĩ cách mạng, nhiều người yêu nước và tín đồ Phật giáo bị chém giết hoặc bị quăng vào nhà giam Chín Hầm

8 Nhà thờ Dòng Chúa cứu thế nằm ở phường Phú Nhuận - thành phố Huế Công trình được xây dựng

từ năm 1959 – 1962, theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Mỹ Lộc

9 Nhà thờ Phủ Cam nằm ở phường Phước Vĩnh của thành phố Huế, nhà thờ Chính tòa Phủ Cam là nhà thờ lâu đời nhất tại Huế Nhà thờ này nổi tiếng với kiến trúc độc đáo do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế Công trình được xây dựng từ năm 1960 đến năm 2000 mới hoàn thành.

Trang 31

Ngô Đình Thục tìm mọi cách chiếm lấy Viện Bài Lao Huế Dựa vào thế lực của người em làm Tổng thống, Ngô Đình Thục đã buộc chính quyền Ngô Đình Diệm chấp thuận đề nghị của y Tới ngày 20/6/1961, Bộ trưởng bộ Phủ Tổng thống gửi

công văn đến Ngô Đình Thục cho biết ông được “quyền khai thác Viện Bài lao tại Huế và được toàn quyền sở hữu các tài sản liên quan đến Viện này” [23, tr 120]

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ, chính quyền Nguyễn Khánh và Trần Văn Hương tiếp tục đàn áp và khủng bố phong trào Phật giáo, mạnh nhất ở Thừa

Thiên Huế: “Phạm Bá Đông khi bị bắt giam tại xã, đã bị bắn chết vào lúc 10 giờ đêm tháng 5 âm lịch chẳng ai biết rõ lý do gì Xác quăng nằm giữa đồng ruộng, sáng ngày thân nhân biết được, chỉ nhận về chôn không dám hé môi than thở trước cái chết vô cùng ám muội” [24, tr 59 -60]

1.2.3 Về văn hóa – giáo dục

Về văn hóa: Chính quyền Sài Gòn đã thi hành nhiều chính sách phân biệt, kì thị

tôn giáo Đặc biệt là giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo Chính quyền Ngô Đình Diệm

thực hiện “Công giáo hóa” để biến Thiên Chúa giáo thành “Quốc giáo”

Đối với Phật giáo, Ngô Đình Diệm đã tìm mọi cách gây trở ngại trong việc tổ chức hành lễ Nổi bật nhất là chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng Đạo dụ số 10 coi các tôn giáo ngoài Công giáo là hiệp hội, ngày 9/1/1956, chính quyền Ngô Đình Diệm

ra Dụ số 4 hủy bỏ ngày nghỉ lễ Phật đản trong danh sách những ngày nghỉ lễ dành cho công chức và binh sĩ [23, tr 135] Ngày 6/5/1963, Ngô Đình Diệm đánh đi Công điện số 9195 với nội dung cấm treo cở Phật giáo thế giới vào dịp Đại lễ Phật đản năm

1963 Điều này làm nhân dân ở Huế nói riêng và miền Nam nói chung vô cùng phẫn

nộ và phong trào Phật giáo miền Nam diễn ra đầu tiên ở Huế (7/5/1963) [23, tr 197]

Cơ quan Thông tin – Văn hóa Mỹ trên đường Lý Thường Kiệt với nhiều nhân viên làm việc, được Mỹ cấp tiền mua hai vạn cuốn sách Đây là cơ quan tuyên truyền các chính sách văn hóa, giáo dục của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; đồng thời, cũng là

nơi in ấn những sách báo chống Cộng, sách bào quảng cáo về “văn minh”, “hiện đại” của Mỹ Bên cạnh đó là các thuyết “hiện sinh”, “sống gấp”, phim ảnh, sách truyện

khiêu dâm, kiếm hiệp lưu hành, truyền bá ngày càng nhiều của Hoa Kỳ nhằm phục

vụ cho mưu đồ thực dân kiểu mới ở Huế

Trang 32

Về giáo dục, hệ thống trường tư thục Thiên Chúa giáo từ mầm non, mẫu giáo,

tiểu học đến trung học và đại học được xây dựng rất sớm Ở thành phố Huế có Viện Đại học Huế, ở Lăng Cô (Phú Lộc) có trường học mục vụ Giáo xứ Loan Lý… Giáo hội Thiên Chúa giáo nắm quyền chi phối về giáo dục: Viện trưởng của Viện Đại học Huế là linh mục Cao Văn Luận; những giáo sư triết học đều là các linh mục hoặc là các tín đồ Thiên Chúa giáo; cách tuyển chọn giáo viên cũng như đánh giáo kết quả học tập của sinh viên, học sinh đều được đánh giá dựa trên ý thức hệ Thiên Chúa

giáo Nội dung của sách giáo khoa đều đề cập đến “duy linh”, “nhân vị” mà thực chất

là nội dung thần học kinh viện trung cổ Phần lớn các học bổng đi du học nước ngoài đều rơi vào tay các linh mục hoặc sinh viên Thiên Chúa giáo [23, tr 140]

Tình hình trên đã ảnh hưởng đến đời sống của quần chúng, trở thành mối đe dọa đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân lao động

Nói tóm lại, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thi hành chính sách thống trị trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa nhằm tiếp tục thực hiện

âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, làm cho mâu thuẫn giữa nhân dân ta với Mỹ và chính quyền Sài Gòn ngày càng gay gắt Đây chính

là nguyên nhân sâu xa đưa đến phong trào đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia, trong đó

có phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng Thừa Thiên Huế

1.3 PHONG TRÀO CÁCH MẠNG THỪA THIÊN HUẾ TỪ NĂM 1954 ĐẾN NỬA ĐẦU NĂM 1964

Sau hiệp định Genève (1954), cách mạng miền Nam bước sang giai đoạn mới Tỉnh Thừa Thiên Huế chịu sự kiểm soát của chính quyền Sài Gòn, Tỉnh ủy đã nhanh chóng thay đổi phương hướng đấu tranh phù hợp với tình hình lúc bấy giờ

Nhiều phong trào đấu tranh từ thành thị đến nông thôn đòi chính quyền Sài Gòn thi hành hiệp định Genève như chị em tiểu thương chợ Đông Ba thả hàng nghìn chim

bồ câu bày tổ sự phấn khởi và ước muốn hòa bình của mình, đội Văn nghệ Chim Xanh của thiếu niên tổ chức nhiều buổi biểu diễn, mừng hòa bình ở nhiều nơi như Hương Thủy, An Cựu, Vỹ Dạ Nổi bật hơn cả là phong trào Hòa Bình có sự tham gia của nhiều nhà trí thức tên tuổi như Giáo sư Tôn Thất Dương Kỵ, bác sĩ Lê Khắc

Trang 33

Quyến, Võ Đình Cường… Phong trào ra mắt tập văn Ngày Mai (số 1 ra ngày 4/8/1954), có nội dung tuyên truyền chủ, chống khủng bố, bảo vệ quyền lợi nhân dân… Phong trào Hòa Bình còn nhiều hình thức khác nhau như tổ chức cứu đói, xóa nạn mù chữ [22, tr 27]… Anh em tù chính trị đã đấu tranh kiên quyết phải được trả

về với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ngày 25/8/1954, nhân dân Thừa Thiên Huế đã kéo đến Tòa Khâm đòi trả chồng con em họ về với gia đình Ngày 28/8/1954, chính quyền Ngô Đình Diệm buộc phải chấp nhận trao trả Ngày 9/11/1954, công nhân tuyến Huế - Nong - Truồi - Cầu Hai - Đà Nẵng đình công Ngày 16/12/1954, công nhân lái xe ô tô tuyến đường Đông Ba – Bao Vinh đấu tranh đòi địch phải giải quyết chỗ đậu xe Ngày 10/11/1955, công nhân ngày Hỏa xa đấu tranh

“yêu cầu chánh phủ tìm mọi biện pháp thích ứng nhằm cứu vãn tình thế nguy ngập của sở Hỏa xa Huế để giới công nhân chúng tôi không phải lo âu vì đời sống không được đảm bảo” [75, tr 396] Ngày 20/4/1956, công nhân đóng giày đấu tranh đòi

“đảm bảo quyền lợi và tránh nạn thất nghiệp phần nào cho công nhân cả miền Nam

và Trung Việt” [75, tr 396]

Phong trào diễn ra và ngày càng thu hút nhiều thành phần xã hội tham gia như công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh tù nhân chính trị, tín đồ tôn giáo Nhằm mục đích vì hòa bình, thống nhất đất nước, góp phần tôi luyện và củng cố lực lượng cho hoạt động cách mạng lâu dài của quân và dân Thừa Thiên Huế

Tháng 7/1959, Tỉnh ủy Thừa Thiên cũng mở hội nghị ở thôn Cà Chê (Hương Sơn, Nam Đông) để tiếp thu Nghị quyết 15 (1/1959) và triển khai chủ trương cho phù hợp với tình hình mới Trên toàn tỉnh đã liên tục xây dựng các cơ sở cách mạng, thành lập đơn vị vũ trang tập trung Trị Thiên (12/11/1959), rải truyền đơn, treo cờ Đảng,

cờ Tổ Quốc ở nhiều nơi

Sau một thời gian triển khai Nghị quyết Trung ương lần thứ 15, tháng 2 năm

1960 Tỉnh uỷ đã họp và nhận định tình hình đồng bằng và miền núi Về tình hình đồng bằng phong trào đấu tranh chính trị được dấy lên như chống luật 10/59, chống bắt dân đi dinh điền, chống cưỡng bức vào công giáo, vạch mặt bọn đầu cơ gạo Các cuộc đấu tranh đã hạn chế được sức phá hoại của địch

Trang 34

Đến tháng 10/1960, Tỉnh ủy đã phát động đồng khởi ở miền núi, mục đích là giành chính quyền về tay nhân dân, nối liền giao thông giữa miền núi với đồng bằng,

đô thị, xây dựng thành căn cứ vững chắc Hai xã được chọn làm mở màn đồng khởi miền núi là xã Hương Lâm (A Lưới) Ta đã giành được những thắng lợi đầu tiên, tiến công sở xã Hương Lâm, bắt gọn một trung đội địch, và tên đại diện xã Hương Lâm, chính quyền đã thuộc về tay nhân dân Đồng khởi từ đó lan rộng khắp địa bàn miền núi, thành lập chính quyền tự quản Với thành công đó đã thúc giục nhân dân ở đồng bằng và đô thị ngày càng đấu tranh quyết liệt để giành lại chính quyền Ở đô thị, phong trào sinh viên cũng diễn ra mạnh mẽ với nhiều hình thức đấu tranh như đòi sử dụng tiếng Việt trong giảng dạy, một số cuộc hội thảo được tổ chức như cuộc hội thảo của 200 sinh viên Đại học Khoa học (1960) chống lệnh tổng động viên…

Bước sang năm 1961, Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, ra sức

bình định đồng bằng, lập phòng tuyến Bắc đường 9 và Tây Trị - Thiên, đánh phá miền núi và hành lang chiến lược Đến 1962, phong trào chiến tranh du kích ở đồng bằng và vùng giáp ranh hoạt động mạnh, tiếp tục phá các ấp chiến lược, đường xá

cầu cống làm giao thông của địch bị tê liệt “Lực lượng ta đã đánh địch 37 trận, diệt trên 100 tên, thu 37 súng, đánh phá ấp chiến lược 34 lần, diệt hơn 30 tên ác ôn, tề điệp” [75, tr 413]

Đêm 3 rạng ngày 4/3/1963, quân ta đã đánh vào ấp chiến lược Hòa Mỹ (Phong Điền) tạo nên một tiếng vang lớn Ta đã tiêu diệt được 27 tên địch, thu 6 máy thông tin PRC 25, 40 súng, 2 tấn gạo [75, tr 414] Những thắng lợi đó đã làm cho chính quyền địch tại địa phương hoang mang lo sợ, nhưng lại củng cố tin tinh thần cho nhân dân sẽ tạo nên một bước tiến rằng ta sẽ đánh bại địch

Trong thời gian này, phong trào đô thị Huế ngày càng bước vào giai đoạn căng thẳng khi chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện đàn áp tôn giáo đã làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh của mọi tầng lớp không chỉ các nhà sư và tín đồ Phật giáo Từ tháng 5 đến thấng 8/1963, đồng bào theo đạo Phật ở Huế nổi dậy đấu tranh, chính quyền Ngô Đình Diệm đã gây ra vụ thảm sát tại Đài Phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử thiệt mạng và nhiều khác bị thương Ngày 10/5/1963, giới lãnh đạo

Trang 35

miền Nam ra Tuyên ngôn gồm 5 nguyện vọng10 tối thiểu, khẳng định mục tiêu và quyết tâm đấu tranh của mình Nhiều phong trào đấu tranh chính trị đã diễn ra với

sự tham gia đông đảo của các phật tử, sinh viên, học sinh, nhân dân Ngày 16/8/1963, hưởng ứng lời kêu gọi của giới lãnh đạo Phật giáo, tất cả chợ, trường học, công sở ở Huế đều nhất loạt tổng đình công Ngày 17/8/1963, Cao Văn Luận, Viện trưởng Viện Đại học Huế bị bãi chức, các khoa trưởng thuộc Viện Đại học Huế tuyên cáo lên chính quyền Ngô Đình Diệm và tuyên bố từ chức… Phong trào đô thị diễn ra suốt mấy tháng đã góp phần làm cho tình hình chính trị, xã hội ở Huế không khi nào ổn định, bộ mặt phản dân hại nước của chính quyền Ngô Đình Diệm bị vạch trần Mỹ

buộc phải “thay ngựa giữa dòng”, giết chết anh em Diệm – Nhu (1/11/1963) đưa

Dương Văn Minh, sau đó là Nguyễn Khánh lên thay

Đêm 2/11/1963, tại Phong Điền quân và dân của huyện đã tấn công vào hai ấp chiến lược Thanh Tân và Sơn Quả (Phong Sơn) làm địch hoảng loạn Bên cạnh đó lực lượng vũ trang các huyện đã tấn công liên tục các ấp chiến lược Công Thành, Hiền An, Phổ Lại, Xuân Điền Lộc, Hương Hội Trại, Đông Lâm, Bắc Thanh (Phong Điền), La Chữ, Phú Ổ (Hương Trà) Vinh Thái, Vinh Hà, Vinh Phú, Phú Đa (Phú Vang) Lực lượng của ta đã trừng trị bọn ác ôn và vận động binh lính trở về với cách mạng

Ở Hương Thủy, ta tấn công vào các ấp chiến lược ở xã Thủy Phương, Thủy Thanh, Thủy Vân; ở Phú Lộc nhiều ấp chiến lược ở xã Lộc Tụ, Lộc An, Lộc Điền cũng bị phá, cơ sở của địch bị tấn công

Ở Quảng Điền, một số cán bộ đã bí mật vào vận động quần chúng phá ấp chiến lược từ bên trong ở Quảng Thái, Quảng Thọ

Trong những tháng đầu năm 1964, địch đã hình thành thêm những lực lượng cơ động, tập trung đánh phá các địa bàn quan trọng của ta như A So, A Lưới, xây dựng giao thông để thuận tiện cho việc ứng cứu các khu vực xung yếu Đối với nhân dân

10 5 nguyện vọng: 1 Yêu cầu chính phủ việt nam cộng hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt giáo kỳ của phật giáo; 2 Yêu cầu phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo thiên chúa đã được ghi trong đạo dụ số 10; 3 Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ, khủng

bố tín đồ phật giáo; 4 Yêu cầu cho tăng, tín đồ phật giáo được tự do truyền đạo và hành đạo; 5 Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những kẻ bị giết oan vô tội và kẻ chủ mưu giết hại phải đền bồi đúng mức

Trang 36

Thừa Thiên Huế lúc này “họ không còn tin ai nữa cả ngoài mình Tất cả đều đã cướp công cách mạng của dân Vì mù quáng, vì vị lợi, vì bè đảng, vì đố kỵ, suốt 10 tháng qua, tất cả tập đoàn độc tài đã làm cho nhân dân điêu linh đồ thán Cho nên, ngày nay, người dân không còn tin ở những cái như Hội đồng Quân nhân cách mạng, Chính phủ lâm thời, hay Chính phủ cách mạng, không tin ở những danh vị Thủ tướng, Tổng thống, không còn tin ở những Trung tướng, Đại tướng, không còn tin ở những nhãn hiệu đảng phái” [22, tr 75 - 76] Các chính sách kì thị tôn giáo vẫn được thi

hành khiến cho nhân dân Thừa Thiên Huế nói riêng miền Nam nói chung ngày càng phản đối gay gắt

Trong bối cảnh đó, Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế chủ trương: “Phát huy sức mạnh của quần chúng có sự hỗ trợ của lực lượng vũ tranh, lợi dụng sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn mà tổ chức lực lượng, tiến công mạnh mẽ, đều khắp, làm tan rã, tê liệt chính trị, tư tưởng và tổ chức, phá ấp chiến lược, chuẩn bị thiết thực cho việc phá thế kìm kẹp của địch” [75, tr 81-82]

Trên cơ sở đánh giá thuận lợi, khó khăn của phong trào cách mạng Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã mở đợt giáo dục đảng viên và quần chúng giữ vững khí tiết, ý chí đấu tranh đã gấp rút chuyển hướng phong trào, các tổ chức lãnh đạo, tổ chức quần chúng cho phù hợp với tình hình mới để đẩy mạnh đấu tranh chính trị, công tác binh vận, địch vận

Tỉnh đã chọn xã Hương Thọ11 (Hương Trà) làm nơi thí điểm Đồng khởi để rút kinh nghiệm Đầu tháng 2/1964, đội công tác võ trang từ các mũi tiến hành phát động quần chúng khởi nghĩa ở Hương Thọ Lực lượng ở các mũi Lương Miêu – Dương Hòa từ bên trong đã đánh tan trung đội của địch, bắt sống tên trung đội trưởng và thu nhiều vũ khí Với sự mở đầu thắng lợi đã làm động lực cho nhân dân hai xã phấn khởi phá ấp chiến lược cùng với lực lượng vũ trang Đây chính là bàn đạp thúc đẩy các mũi tiến công ở La Khê, Kim Ngọc và Đình Môn hoạt động mạnh hơn vào các đồn địch ở địa phương Cuối tháng 3/1964, bộ đội Tiểu đoàn 302 cùng nhân dân đã phản kích quyết liệt vào căn cứ của địch buộc địch phải rút lui Ta giải phóng được bốn

11 Để tạo bàn đạp cho các huyện, năm 1961 tỉnh đã cắt xã Hương Thọ thuộc huyện hương Trà cho huyện Hương Thủy

Trang 37

thôn Đình Môn, Dương Hòa, Lương Miêu và Thác Hộ (Hương Thọ) Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng, các đoàn thể, các tổ chức được thành lập Thí điểm ở xã Hương Thọ đã đem lại những thắng lợi cơ bản, kịp thời rút kinh nghiệm cho phong trào đồng khởi tiếp theo

Song song với phong trào Đồng khởi nông thôn đồng bằng là sự hỗ trợ của phong trào đô thị Nhân dân lùng bắt bọn Cần lao, tại các trường học sinh viên, học sinh vạch mặt, tẩy chay những kẻ trước đây từng làm mật vụ cho gia đình họ Ngô Ngày 26/3/1964, thanh niên, sinh viên, học sinh và đông đảo người dân Huế biểu tình đòi xử tử Phan Quang Đông, đòi đưa Ngô Đình Cẩn ra xử án tại Huế Trước áp lực của nhân dân, ngày 9/5/1964, chính quyền Sài Gòn buộc phải xử tử Phan Quang Đông tại sân vận động Tự Do Nguyễn Khánh bị nhân dân phản đối vì không chịu đưa Ngô Đình Cẩn ra xử bắn ở Huế

Thắng lợi của phong trào đô thị và phong trào Đồng khởi nông thôn đầu năm

1964 đã tạo nhiều động lực cho nhân dân toàn tỉnh chiến đấu hết mình, làm lung lay

ý chí chiến đấu của hàng ngũ binh lính địch tại Thừa Thiên Huế

* Tiểu kết chương 1

Đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thi hành nhiều chính sách cai trị độc đoán theo chủ nghĩa thực dân kiểu mới, với đủ mọi thủ đoạn nhằm mua chuộc, lôi kéo nhân dân Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, những chính sách của Mỹ và chính quyền Sài Gòn lại vấp phải sự phản đối kịch liệt, làm tăng thêm lòng căm thù sâu sắc của

quần chúng nhân dân Đời sống của nhân dân ngày càng cơ cực, khó khăn hơn thúc

đẩy họ đấu tranh với nhiều hình thức như biểu tình, đòi quyền tự do, dân chủ… Đặc biệt các hình thức chống chính quyền diễn ra công khai, hợp pháp

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tiễn của địa phương, tích cực chủ động xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố lực lượng chính trị, phục hồi và mở rộng căn cứ địa miền núi Biết tận dụng thời cơ để phát động làm nên “Đồng khởi” miền núi A Lưới thành công Sau phong trào Đồng khởi 1959 – 1960, quần chúng tiếp tục nổi dậy, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, phá thế kìm kẹp để giải phóng nông thôn

Trang 38

đồng bằng Đặc biệt, từ sau sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm, phong trào đấu tranh của quần chúng ở miền núi, đồng bằng và thành thị ngày càng mạnh mẽ Đầu năm 1964, bằng chiến thắng Đồng khởi ở xã thí điểm Hương Thọ đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm, tạo nên động lực, bàn đạp vững chắc để quân và dân Thừa Thiên Huế tiếp tục nhiệm vụ phá ấp chiến lược, làm lỏng thế kìm kẹp của địch trên toàn tỉnh Hoạt động của ta đã có sự phối hợp trên cả 3 vùng, đưa phong trào lên thế đấu

tranh “Hai chân, ba mũi”, đẩy địch vào thế bị động, lúng túng cả quân sự và chính

trị Cùng với truyền thống cách mạng, những yếu tố trên là cơ sở để phong trào Đồng khởi diễn ra và thắng lợi ở Thừa Thiên Huế từ nửa sau năm 1964 đến đầu năm 1965

Trang 39

CHƯƠNG 2 DIỄN BIẾN PHONG TRÀO ĐỒNG KHỞI NÔNG THÔN ĐỒNG BẰNG THỪA THIÊN HUẾ (NỬA SAU NĂM 1964 - ĐẦU NĂM 1965)

2.1 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG

2.1.1 Chủ trương của Trung ương Đảng

Cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách ác liệt Dưới ánh sáng các nghị quyết của Ðảng, nhân dân miền Nam đã từ đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang tự vệ, giành được nhiều

thắng lợi Song, với chính sách “tố Cộng”, Mỹ - Diệm đã gây cho ta những tổn thất

Với chính sách khủng bố, đàn áp tàn bạo của chính quyền phát - xít Ngô Ðình

Diệm, nhất là với các biện pháp “tố Cộng” ngày càng quyết liệt, thì phương châm đấu

tranh chính trị đơn thuần cũng như đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ như trước đó không còn phù hợp với thực tế tình hình Ðiều này đòi hỏi Ðảng phải có sự chuyển hướng chỉ đạo kịp thời để duy trì và phát triển phong trào cách mạng Vì vậy, tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng triệu tập Hội nghị lần thứ 15 Dưới

sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị đã kiểm điểm tình hình trong nước từ khi Hiệp định Genève được ký kết và đề ra nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta Hội nghị cho rằng cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm

vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương

Trang 40

hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội

Vì vậy, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở miền Nam được Hội nghị đề ra là:

- Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

- Phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng

từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; và dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh

vũ trang trường kỳ

Hội nghị chỉ rõ, con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền

Nam là “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân” [26, tr 82]

Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu cẩn trọng những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cán bộ, đảng viên Tháng 7/1959, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế

đã mở Hội nghị tiếp thu Nghị quyết 15 tại thôn Cà Chê (Hương Sơn, Nam Đông) Hội nghị đã đánh giá tình hình tại địa phương nêu ra những thuận lợi và khó khăn, rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn mới:

“Tiến hành cách mạng bằng bạo lực quần chúng kết hợp lực lượng võ trang, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân

Phát động đợt “thức tỉnh quần chúng đồng bằng”, dựng lên từng người, nhen lên từng nhớm, khôi phục từng xóm thôn

Tiếp tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh cho quyền lợi dân sinh, dân chủ, nâng dần lên giác ngộ dân tộc, giai cấp Qua đấu tranh xây dựng thực lực cách mạng, khôi phục sự lãnh đạo trong quần chúng” [75, tr 405]

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w