Vì thế việc lồng ghép các bài tập thực tiễn vào trong quá trình dạy và học bộ môn là tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế “học đi đôi với hành”, tạo cho học sinh sự hứ
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HỒ PHẠM THANH PHƯỚC
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Hồ Phạm Thanh Phước
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ sự biết
ơn chân thành và sâu sắc đến:
- Thầy cô giảng viên Khoa Hóa học, trường Đại học sư phạm Huế, là những thầy cô đã đào tạo và hướng dẫn để tôi có đủ khả năng thực hiện luận văn khoa học này
- Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn – PGS TS Trần Trung Ninh về sự tận tình hướng dẫn, góp ý, động viên cho tôi trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện luận văn
- Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám Hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Huế đã luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các học viên chuyên ngành “Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học” khóa 25 An Giang nói chung và bản thân tôi nói riêng hoàn thành tốt nhất khóa học cao học này
- Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường THCS Hòa Bình Thạnh, THCS Trần Hưng Đạo các đồng nghiệp và các em học sinh đã cùng tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện điều tra, thực nghiệm sư phạm, trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Thừa Thiên Huế, ngày 30 tháng 06 năm 2018
Tác giả
Hồ Phạm Thanh Phước
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH 6
PHẦN I: MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 9
5 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Giả thuyết khoa học 9
7 Phương pháp nghiên cứu 9
8 Đóng góp mới của đề tài 10
9 Cấu trúc luận văn 10
PHẦN II: NỘI DUNG 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 11
1.2 Bài tập Hóa học 12
1.2.1 Khái niệm bài tập Hóa học 12
1.2.2 Ý nghĩa của bài tập Hóa học 12
1.2.3 Bài tập Hóa học thực tiễn 14
1.3 Năng lực 21
1.3.1 Khái niệm chung về năng lực 21
1.3.2 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 21
1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THCS 22
Trang 51.4.2 Những biến đổi đặc điểm tâm sinh lý của trẻ thiếu niên 23
1.5 Thực trạng sử dụng bài tập Hóa học và phát triển năng lực VDKT cho HS 25 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 30
Chương 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC VÔ CƠ 9 31
2.1 Phân tích chương trình Hóa Học vô cơ lớp 9 31
2.1.1 Tầm quan trọng của phần Hóa Học vô cơ lớp 9 31
2.1.2 Nội dung kiến thức và kỹ năng của phần Hóa học vô cơ lớp 9 32
2.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập thực tiễn 33
2.3 Quy trình thiết kế bài tập thực tiễn 33
2.4 Công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn 34
2.5 Thiết kế bài tập để học sinh rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn 38
2.5.1 Bài tập giải thích hiện tượng 38
2.5.2 Bài tập nhận biết 43
2.5.3 Bài tập định tính và định lượng 44
2.6 Sử dụng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học ở trường THCS 45
2.6.1 Sử dụng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học 45
2.6.2 Hướng dẫn học sinh giải bài tập Hóa Học thực tiễn 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 67
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 67
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 67
3.3 Phạm vi thực nghiệm sư phạm 67
3.4 Thời gian thực nghiệm sư phạm 67
3.5 Nội dung thực nghiệm sư phạm 68
3.5.1 Xây dựng nội dung chương trình thực nghiệm 68
3.5.2 Tiến hành thực nghiệm 69
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 69
3.6.1 Phương pháp xử lí kết quả 69
Trang 63.6.2 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 70
3.6.3 Kết luận thực nghiệm sư phạm 79
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 82
Phần III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 83
1 Kết luận 83
2 Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Thực trạng sử dụng bài tập hóa học gắn với thực tiễn ở các Trường THCS
Tỉnh An Giang 26
Bảng 1.2 Đánh giá của thầy, cô về năng lực vận dụng kiến thức thực tiễn của HS ở các trường THCS Tỉnh An Giang 27
Bảng 2.1 Bảng kiểm đánh giá năng lực vận dụng kiến thứcvào thực tiễn 35
Bảng 2.2 Bảng theo dõi năng VDKT vào thực tiễn của HS dành cho GV 37
Bảng 3.1 Danh sách các lớp thực nghiệm 67
Bảng 3.2.a Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra khảo sát 70
Bảng 3.2.b Xếp loại học sinh khối 9 – Bài kiểm tra khảo sát 71
Bảng 3.2.c Các tham số thống kê đặc trưng điểm kiểm tra lớp TN và ĐC 72
Bảng 3.3.a Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra hoá học 9 – Lần 1 72
Bảng 3.3.b Xếp loại học sinh khối 9 – Lần 1 73
Bảng 3.3.c Các tham số thống kê đặc trưng điểm kiểm tra lớp TN và ĐC 74
Bảng 3.4.a Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra hoá học 9 – Lần 2 74
Bảng 3.4.b Xếp loại học sinh khối 9 – Lần 2 75
Bảng 3.4.c Các tham số thống kê đặc trưng điểm kiểm tra lớp TN và ĐC 75
Bảng 3.5.a Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra hoá học 9 – Lần 3 76
Bảng 3.5.b Xếp loại học sinh khối 9 – Lần 3 77
Bảng 3.5.c Các tham số thống kê đặc trưng điểm kiểm tra lớp TN và ĐC 77
Bảng 3.6.a Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra hoá học 9 – 3 bài kiểm tra hoá học 9 78
Bảng 3.6.b Xếp loại học sinh khối 9 – 3 bài kiểm tra hoá học 9 79
Bảng 3.6.c Các tham số thống kê đặc trưng điểm kiểm tra lớp TN và ĐC 79
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1 Đường lũy tích điểm kiểm tra khảo sát 71
Hình 3.2 Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh – Bài KT khảo sát 72
Hình 3.3 Đường lũy tích điểm kiểm tra lần 1 73
Hình 3.4 Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh – Bài KT lần 1 74
Hình 3.5 Đường lũy tích điểm kiểm tra khối 9 – Lần 2 75
Hình 3.6 Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh – Bài KT lần 2 75
Hình 3.7 Đường lũy tích điểm kiểm tra khối 9 – Lần 3 76
Hình 3.8 Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh – Bài KT lần 3 77
Hình 3.9 Đường lũy tích điểm 3 bài kiểm tra hoá học 9 78
Hình 3.10 Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh – 3 Bài kiểm tra 79
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục là quốc sách hàng đầu Mục tiêu của nền giáo dục là đào tạo những con người phát triển toàn diện, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện, giải quyết được các vấn đề thực tiễn cuộc sống Nhưng, để giải quyết một vấn đề thực tiễn lại cần có sự phối hợp, sử dụng kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học khác nhau
Trong các môn học ở trường THCS, môn Hóa Học giữ một vai trò quan trọng Hóa Học là một môn khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm, chuyên nghiên cứu các chất, sự biến đổi và ứng dụng của chúng Do đó, môn Hóa học là một môn khoa học tự nhiên rất gần gũi với đời sống thông qua các hiện tượng Hóa Học, các phản ứng Hóa Học và ứng dụng của một số chất cụ thể trong đời sống và sản xuất
Vì thế việc lồng ghép các bài tập thực tiễn vào trong quá trình dạy và học bộ môn là tạo điều kiện cho việc học và hành gắn liền với thực tế “học đi đôi với hành”, tạo cho học sinh sự hứng thú, hăng say trong học tập, thấy được sự thiết thực của học tập, sau là giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực trong đó có năng lực vận dụng kiến thức
Để phát triển năng lực cho mỗi người phải được bắt đầu từ giai đoạn giáo dục ở Tiểu học và cấp THCS Trong dạy học Hóa Học, bài tập đóng vai trò rất quan trọng Bài tập Hóa Học vừa là mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay hệ thống các bài tập chứa đựng những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cuộc sống chưa phong phú, việc sử dụng bài tập góp phẩn phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn chưa được rộng rãi, còn nhiều khó khăn nên bài tập Hóa Học đang xa rời thực tiễn, quá chú trọng vào tính toán, coi nhẹ bản chất hóa học
Với yêu cầu giáo dục hiện nay cũng như với mong muốn phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh, việc tuyển chọn và xây dựng hệ thống các bài tập thực tiễn cho học sinh là một trong những vấn đề cấp thiết cần đặt
Trang 11ra cho ngành giáo dục Trong quá trình học tập, thông qua các bài tập Hóa Học có tính thực tiễn, học sinh được củng cố mối liên hệ giữa lý thuyết với ứng dụng, với thực tiễn Đồng thời, khi mang kiến thức học được để giải thích, vận dụng trong cuộc sống tạo nhiều hứng thú hơn, giúp học sinh yêu thích và say sưa với môn học
từ đó phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thông qua bài tập Hóa Học vô cơ lớp 9 trung học cơ sở”
2 Mục đích nghiên cứu
Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh trường THCS qua việc nghiên cứu, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập Hóa học vô cơ lớp 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: Năng lực, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn và những biểu hiện của nó; cách kiểm tra đánh giá và biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình và SGK Hóa học 9 hiện hành
- Điều tra, khảo sát và đánh giá việc sử dụng BTHH và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh ở trường THCS trong dạy học Hóa học
- Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập Hóa học có nội dung thực tiễn của phần Hóa học vô cơ lớp 9
- Nghiên cứu các biện pháp rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn để đề xuất các biện pháp phát triển năng lực này thông qua việc
sử dụng hệ thống bài tập đã tuyển chọn và xây dựng
- Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng, tính phù hợp, tính hiệu quả và tính khả thi của hệ thống bài tập Hóa học và các biện pháp sử dụng đã đề xuất nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh ở
trường THCS
Trang 124 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy và học môn Hoá học ở trường THCS
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống BTHH có nội dung gắn với thực tiễn của phần Hóa học vô cơ lớp 9
- Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập hóa học thực tiễn
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: nghiên cứu khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh và hình thức dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của phần Hóa học vô cơ lớp 9
- Địa bàn: Một số trường THCS trong Huyện Châu Thành, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang
- Thời gian: Từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018
6 Giả thuyết khoa học
Nếu nghiên cứu đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học Hóa học sử dụng
hệ thống BTHH thực tiễn sẽ phát triển được năng lực vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn cho học sinh lớp 9 góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hóa học
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các tài liệu về dạy học tích cực, dạy học phát triển năng lực
- Nghiên cứu tài liệu, bài tập vận dụng thực tiễn
- Nghiên cứu về cách xây dựng và cách giải bài tập vận dụng
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Nghiên cứu về tình hình dạy học Hóa học khối 9
- Nghiên cứu kỹ năng giải BTHH của học sinh ở trường THCS Trần Hưng Đạo, trường THCS Hòa Bình Thạnh…
- Thực nghiệm sư phạm
7.3 Phương pháp thống kê
Sử dụng phương pháp thống kê xử lý số liệu thực nghiệm sư phạm để rút ra kết luận của đề tài
Trang 138 Đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng được hệ thống các BTHH vô cơ lớp 9 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh
- Các biện pháp sử dụng hệ thống BTHH thực tiễn nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn cho học sinh
9 Cấu trúc luận văn
Nội dung chính của luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua bài tập Hóa học vô cơ 9
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14PHẦN II: NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu, sách, giáo trình, tài liệu, bài viết… liên quan đến việc việc sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học nói chung và môn Hóa học nói riêng như:
- PGS.TS Nguyễn Xuân Trường (2009), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa
học ở trường phổ thông Nxb ĐH Sư Phạm Hà Nội Tác giả đã trình bày tổng quan
về bài tập Hóa học, ý nghĩa, tác dụng của bài tập Hóa học Bài tập Hóa học theo tác giả vừa là mục tiêu, vừa là nội dung vừa là phương pháp dạy học Hóa học.[32]
- TS Cao Cự Giác (2009), Thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm trong
dạy và học Hóa học Nxb Giáo dục Việt Nam Tác giả đã trình bày xu hướng phát
triển của bài tập Hóa học, đi sâu vào loại bài tập thực nghiệm, trong đó có cả loại bài tập thực nghiệm trong tư duy [12]
- Sáng kiến kinh nghiệm với đề tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức
Hóa học cho học sinh trường phổ thông DTNT THPT huyện Điện Biên Đông qua hệ
thống bài tập phần phi kim – chương trình Hóa học cơ bản lớp 10” của Nguyễn Thị
Linh Trường DTNT THPT Huyện Điện Biên Đông [16]
- Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Xây dựng và sử dụng các bài tập Hóa học có nội
dung thực tiễn tại Hải Phòng trong chương trình Hóa vô cơ ở trường THPT” Đặng
Thị Hồng Hạnh (2012) – Trường Đại học Giáo dục, ĐH Quốc gia Hà Nội [14]
- Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa
học gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT” Lê Thị Kim
Thoa (2009) – Trường Đại học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh [29]
- Luận văn thạc sĩ với đề tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức hóa
học vào đời sống thông qua dạy học phần phi kim THCS” Đặng Ngọc Sang (2017)
- Đại học Sư phạm Huế [23]
- Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Xuân Cương, 2015 Xây dựng công cụ
đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của học sinh phổ thông Tạp chí Khoa học
Giáo dục, Số 114, tháng 3 năm 2015, tr 21-24 [20]
Trang 15- Lưu Thị Lương Yến (2016), Sử dụng Bài tập hóa học định hướng phát
triển năng lực trong dạy học phần dẫn xuất hiđrocacbon lớp 11 nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Tạp chí Khoa học, trường ĐHSP Hà Nội,
Volume 61, số 6A, pp105-115 [42]
1.2 Bài tập Hóa học
1.2.1 Khái niệm bài tập Hóa học [5], [6]
Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người giáo viên cần sử dụng trong dạy học hóa học Bài tập không chỉ giúp học sinh củng
cố được kiến thức mà còn rèn cho học sinh những kỹ năng vận dụng kiến thức đã học để giải quyết một số vấn đề có liên quan
Bài tập Hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về Hóa học mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định
Câu hỏi là những bài làm mà trong quá trình hoàn thành chúng, học sinh phải tiến hành một hoạt động tái hiện Trong các câu hỏi, giáo viên thường yêu cầu học sinh phải nhớ lại nội dung của các định luật, quy tắc, khái niệm, trình bày lại một mục trong sách giáo khoa … còn bài toán là những bài làm mà khi hoàn thành chúng, học sinh phải tiến hành một hoạt động sáng tạo gồm nhiều thao tác và nhiều bước
Như vậy, chính các BTHH gồm bài toán hay câu hỏi, là phương tiện cực kỳ quan trọng để phát triển tư duy học sinh Người ta thường lựa chọn những bài toán
và câu hỏi đưa vào một bài tập là có tính toán đến một mục đích dạy học nhất định,
là nắm hay hoàn thiện một dạng tri thức hay kỹ năng nào đó Việc hoàn thành và phát triển kỹ năng giải các bài toán Hóa học cho phép thực hiện những mối liên hệ qua lại mới giữa các tri thức thuộc cùng một trình độ của cùng một năm học và thuộc những trình độ khác nhau của những năm học khác nhau cũng như giữa tri thức và kỹ năng
1.2.2 Ý nghĩa của bài tập Hóa học
Bài tập Hóa học giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học Bài tập Hóa học được sử dụng ở tất
cả các khâu của quá trình dạy học: nghiên cứu tài liệu mới, củng cố, vận dụng, khái
Trang 16quát hóa – hệ thống hóa và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Nó cung cấp cho học sinh cả kiến thức, cả con đường giành lấy kiến thức, mà còn mang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, của việc tìm ra đáp số
Bài tập Hóa học có nhiều ứng dụng trong dạy học với tư cách là một phương pháp dạy học phổ biến, quan trọng và hiệu nghiệm Bài tập Hóa học là phương tiện
cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học Kiến thức học sinh tiếp thu được chỉ có ích khi sử dụng nó vào việc giải bài tập hoặc vận dụng vào thực tiễn đời sống Đối với học sinh, việc giải bài tập là một phương pháp dạy học tích cực
Bài tập định hướng phát triển năng lực là dạng bài tập đòi hỏi người học phải vận dụng các kiến thức riêng lẻ khác nhau để giải quyết một vấn đề mới đối với người học, gắn với tình huống cuộc sống Hệ thống bài tập định hướng năng lực chính là công cụ để học sinh luyện tập nhằm hình thành năng lực, đồng thời là công
cụ để giáo viên và các cán bộ quản lí giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học
Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định hướng năng lực, có thể xây dựng bài tập định hướng năng lực theo các dạng:
- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Bài tập tái
hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng năng lực
- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình
huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo
- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng
hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi để giải quyết vấn
đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học
- Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn (bài tập thực tiễn): Các
bài tập thực tiễn giải quyết những vấn đề gắn với bối cảnh và tình huống thực tiễn Đây là bài tập mở, tạo cơ hội cho học sinh có nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
Trang 171.2.3 Bài tập Hóa học thực tiễn [12], [13], [18], [33]
1.2.3.1 Khái niệm bài tập Hóa học thực tiễn
- Bài tập Hóa học thực tiễn là những bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức, kĩ năng Hóa học (những điều kiện và yêu cầu) cùng với các kiến thức của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một số vấn
đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn
- Bài tập Hóa học thực tiễn có ba đặc điểm quan trọng, thứ nhất là loại bài tập có bối cảnh thực tiễn, thứ hai là bài tập phù hợp với mức độ nhận thức của học sinh và thứ ba là bài tập đòi hỏi biện pháp giải quyết thực tế
1.2.3.2 Vai trò, chức năng của BTHH thực tiễn
BTHH thực tiễn cũng có đầy đủ các vai trò, chức năng của một BTHH Ngoài ra nó còn có thêm một số tác dụng khác:
b Về kĩ năng:
Việc giải BTHH thực tiễn giúp HS:
- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến thực tế cuộc sống
Ví dụ: Axit sunfuric đƣợc sử dụng rộng rãi trong các acquy Khi sử dụng
acquy, tuyệt đối không để axit sunfuric tiếp xúc với cơ thể vì có thể gây bỏng nặng
Em hãy giải thích vì sao các nhà sản xuất khuyến cáo không dốc ngƣợc acquy khi
sử dụng?
- Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập thông tin, vận dụng kiến thức
Trang 18để giải quyết tình huống có vấn đề của thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo
c Về giáo dục tư tưởng:
Việc giải BTHH thực tiễn có tác dụng:
- Rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo trong học tập và trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Thông qua nội dung bài tập giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học môn Hoá học từ đó HS thêm tự tin vào bản thân mình, tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn hoá học
và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp HS có những định hướng nghề nghiệp tương lai Ngoài ra, vì các BTHH thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nên càng góp phần tăng động cơ học tập của HS: học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và của cộng đồng
Ví dụ: Tỉnh An Giang, thành phố
Châu Đốc là địa phương duy nhất của cả
nước có tượng đài vinh danh cá tra, cá basa
Đây là những loài vật nuôi xóa đói, giảm
nghèo và làm giàu của người nông dân An
Giang Điểm khác biệt nào sau đây của cá
tra và cá basa liên quan đến việc cá basa
tiêu thụ nhiều oxi hòa tan trong nước hơn
so với cá tra?
A Cá basa đắt tiền hơn, thơm ngon hơn so với cá tra
B Cá basa sống trong nước chảy còn cá tra có thể sống trong ao
C Cá basa và cá tra đều là cá da trơn, nhưng chất lượng khác nhau
D Cá basa và cá tra khác nhau về lượng chất béo trong cơ thể
Trang 19liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, về sản lượng ngành sản xuất đạt được giúp HS hòa nhịp với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật thời đại mình đang sống
Ví dụ: Dùng clo để khử trùng nước sinh hoạt là một phương pháp rẻ tiền và
dễ sử dụng hoặc trong công nghiệp clo dùng làm nguyên liệu sản xuất nhựa PVC,… Hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn Cl2 Nếu lượng clo trên chỉ được điều chế từ NaCl thì cần ít nhất bao nhiêu tấn NaCl?
1.2.3.3 Phân loại bài tập Hóa học thực tiễn
a Cơ sở phân loại BTHH thực tiễn
Có nhiều cơ sở để phân loại bài tập hóa học thực tiễn [35]:
- Dựa vào hình thức, bài tập Hóa học thực tiễn có thể chia thành: Bài tập tự
luận (tự trả lời) bao gồm các dạng trả lời bằng một từ, bằng một câu ngắn, trả lời cả bài (theo cấu trúc hoặc tự do), giải bài tập; bài tập trắc nghiệm khách quan bao gồm các dạng câu hỏi có/không, đúng/sai, nhiều lựa chọn, phức hợp, ghép đôi
+ Bài tập tự luận (tự trả lời) bao gồm các dạng trả lời bằng một từ, bằng một câu ngắn, trả lời cả bài (theo cấu trúc hoặc tự do), giải bài toán Bài tập TNTL là dạng bài tập yêu cầu HS phải kết hợp cả kiến thức hoá học, ngôn ngữ hoá học và công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toán hoá học
+ Bài tập TNKQ là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn và yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng 1 ký hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời Bài tập TNKQ
bao gồm câu hỏi có/không, đúng/sai, câu hỏi có nhiều lựa chọn, câu ghép đôi…
- Dựa vào tính chất hoạt động của HS khi giải bài tập có thể chia thành
bài tập lí thuyết (khi giải không phải làm thí nghiệm) và bài tập thực nghiệm (khi
giải phải làm thí nghiệm)
- Dựa vào chức năng của bài tập có thể chia thành bài tập đòi hỏi sự tái
hiện kiến thức (biết, hiểu, vận dụng), bài tập rèn tư duy độc lập, sáng tạo (phân tích, tổng hợp, đánh giá)
- Dựa vào tính chất của bài tập có thể chia thành bài tập định tính và
định lượng
- Dựa vào kiểu hay dạng bài tập có thể chia thành:
+ Bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất
Trang 20- Dựa vào khối lượng kiến thức có thể chia thành bài tập đơn giản hay phức
tạp (hoặc cơ bản hay tổng hợp)
- Dựa vào nội dung có thể chia thành: Bài tập có nội dung thuần tuý hoá
học, bài tập có nội dung gắn với thực tiễn (bài tập thực tiễn)
Trên thực tế dạy học, sự phân loại trên chỉ là tương đối Có những bài vừa có nội dung thuộc bài tập định tính lại vừa có nội dung thuộc bài tập định lượng; hoặc trong một bài có thể có phần TNKQ cùng với giải thích, viết phương trình hóa học
b Một số dạng BTHH thực tiễn
Dựa vào tính chất của bài tập
Dựa vào tính chất của bài tập hóa học, có thể chia thành:
- Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập về giải thích các hiện tượng, các
tình huống nảy sinh trong thực tiễn; lựa chọn hoá chất cần dùng cho phù hợp với tình huống thực tiễn, nhận biết, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thực tiễn…
Ví dụ 1: Vì sao bề mặt vỏ trứng có nhiều bọt khí và làm trứng nổi lên trong dung dịch có tính axit (nước giấm ăn, nước chanh…)?
- Bài tập định lượng: Bao gồm dạng bài tập về tính lượng hoá chất cần
dùng, pha chế dung dịch…
Ví dụ: Trong y học, dược phẩm Nabica (NaHCO3) dùng để trung hòa bớt lượng HCl dư trong dạ dày Tính thể tích dung dịch HCl 0,035M (nồng độ axit trong dạ dày) được trung hòa và thể tích khí CO2 (đktc) sinh ra khi người bệnh uống 0,336 g NaHCO3
- Bài tập tổng hợp: Bao gồm cả kiến thức định tính lẫn định lượng
Ví dụ: Hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 45 triệu tấn Cl2
a) Người ta thường kết hợp điều chế clo với điều chế xút từ NaCl Viết phương trình hóa học xảy ra Tính khối lượng NaCl cần dùng để có được lượng clo trên
Trang 21b) Biết 1 m3 clo lỏng nặng 1400 kg, tính thể tích clo lỏng ứng với 45 triệu tấn trên
c) Thể tích clo lỏng nhỏ hơn bao nhiêu lần so với thể tích clo khí ở điều kiện tiêu chuẩn với cùng một khối lượng
Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập:
- Bài tập về sản xuất hoá học
Ví dụ: Supephotphat đơn được điều chế từ một loại bột quặng có chứa 73,0%
Ca3(PO4)2, 26,0% CaCO3 và 1,0% SiO2
a Tính khối lượng dung dịch H2SO4 65,0% đủ tác dụng với 100,0 kg bột quặng
b Supephotphat đơn thu được gồm những chất nào? Tính tỉ lệ % P2O5 trong loại supephotphat đơn trên
- Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất Bao
gồm các dạng bài tập về:
+ Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trình làm thực hành, thí nghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chất hợp lí, xử lí tai nạn xảy
ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thí nghiệm…
Ví dụ 1: Muốn pha loãng axit H2SO4 đặc ta phải rót từ từ axit vào lọ đựng nước Không được làm ngược lại Vì sao?
Ví dụ 2: Khi điều chế khí clo, lượng clo dư thoát ra ngoài không khí Một lượng nhỏ khí clo có thể làm nhiễm bẩn không khí trong phòng thí nghiệm Hãy tìm cách để loại bỏ lượng khí clo đó
Ví dụ 3: Sau khi điều chế khí oxi trong phòng thí nghiệm, ống nghiệm thường bị lớp màu đen bám bên trong thành ống Hãy tìm cách để rửa sạch ống nghiệm đó
+ Sử dụng và bảo quản các hoá chất, sản phẩm hoá học trong ăn uống, chữa bệnh, giặt giũ, tẩy rửa…
Ví dụ 1: Vì sao để bảo quản kim loại natri, người ta ngâm chúng trong dầu hỏa?
Ví dụ 2: Tại sao để bảo quản photpho đỏ, người ta ngâm chúng trong nước cất?
Ví dụ 3: Tại sao không nên dùng đồ vật bằng nhôm để chứa hoặc dự trữ thức
ăn để qua đêm?
Trang 22+ Sơ cứu tai nạn do hoá chất
Ví dụ: Khi làm thí nghiệm, ta vô ý để axit sunfuric rơi vào tay Em sẽ làm gì? Em hãy giải thích tại sao lại làm như vậy?
+ Giải thích các hiện tượng, tình huống có vấn đề nảy sinh trong đời sống, lao động sản xuất
Ví dụ: Sau những cơn mưa lớn, người ta dùng vôi tôi (Ca(OH)2) để bón cho
+ Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường
Ví dụ: Khí cacbonic (CO2) là thủ phạm chính gây ra biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực chịu nhiều thiệt hại của biến đổi khí hậu Các hiện tượng bất thường liên quan đến biến đổi khí hậu như bão, xâm nhập mặn, hạn hán, nước biển dâng ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của hàng triệu đồng bào Em hãy đề xuất ba biện pháp đơn giản, hiệu quả, khả thi để ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long
Mỗi lĩnh vực thực tiễn trên lại bao gồm tất cả các loại bài tập định tính, định lượng, tổng hợp; bài tập lí thuyết, bài tập thực hành
Dựa vào mức độ nhận thức của HS
- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Bài tập tái
hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng năng lực
Ví dụ: Để làm tinh khiết một loại bột đồng có lẫn bột các kim loại thiếc, kẽm, chì, người ta ngâm hỗn hợp trên trong dung dịch đồng (II) nitrat
a) Hãy giải thích việc làm này và viết các phương trình phản ứng xảy ra b) Nếu bạc có lẫn các kim loại nói trên, bằng cách nào có thể loại được tạp
Trang 23chất? Viết các phương trình phản ứng xảy ra
- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các tình
huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện các kĩ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo
Ví dụ: Để tạo độ xốp cho một số loại bánh, có thể dùng muối nào sau đây?
A CaCO3 B NH4HCO3 C (NH4)3PO4 D NaCl
- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng
hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi để giải quyết vấn
đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học
Ví dụ: Khi tôi vôi người ta đổ vôi sống vào thùng nước rồi khuấy đều và giữ nước sao cho khi vôi đã nở hết cỡ rồi mà vẫn có nước nổi trên mặt Phần nước trong
ở trên thùng vôi đó được gọi là nước vôi trong Vài ngày sau, trên bề mặt nước vôi trong đó xuất hiện một lớp màng cứng mà ta có thể cầm lên thành từng miếng như
miếng kính Hãy giải thích hiện tượng này
- Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn (bài tập thực tiễn): Các
bài tập thực tiễn giải quyết những vấn đề gắn với bối cảnh và tình huống thực tiễn Đây là bài tập mở, tạo cơ hội cho học sinh có nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
Ví dụ: Để có thể phân biệt phân bón NPK thật và NPK giả trên thị trường,
em hãy đề xuất hai cách làm đơn giản, hiệu quả
Trả lời:
Cách 1 – NPK giả thường dùng phẩm màu công nghiệp để làm giả thành phần phân kali trong NPK Do đó, khi lấy một mẫu NPK giả vào cốc nước, màu của cốc nước nhanh chóng chuyển sang màu đỏ, do phẩm màu dễ tan Thí nghiệm tương tự với phân bón NPK thật các muối sẽ tan chậm hơn phẩm màu Dung dịch
có màu nhạt hơn so với màu đỏ của NPK giả
Cách 2 – Lấy một chén sứ, đổ vào đó khoảng 5ml cồn tuyệt đối Châm lửa đốt, cồn cháy cho ngọn lửa màu xanh Rắc vài hạt phân bón NPK thật vào ngọn lửa
sẽ chuyển màu tím nhạt, nhận ra nguyên tố kali Thí nghiệm tương tự với NPK giả ngọn lửa sẽ không chuyển sang màu tím nhạt
Trang 24Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa để phù hợp với trình độ của HS đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá HS trong cùng một bài, trong hệ thống BTHH thực tiễn
Trên đây là một số cách phân loại BTHH thực tiễn Tuy nhiên, có nhiều BTHH thực tiễn lại là tổng hợp của rất nhiều loại bài
1.3 Năng lực
1.3.1 Khái niệm chung về năng lực
- Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
- Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên
mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có
1.3.2 Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Trong chương trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục trung học cơ sở giúp học sinh phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành và phát triển ở cấp tiểu học; tự điều chỉnh bản thân theo các chuẩn mực chung của xã hội; biết vận dụng các phương pháp học tập tích cực để hoàn chỉnh tri thức và kỹ năng nền tảng;
có những hiểu biết ban đầu về các ngành nghề và có thức hướng nghiệp để tiếp tục học lên trung học phổ thông, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động
Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực cốt lõi sau:
- Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo;
- Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
Trang 25tích cực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và
kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp [43]
Trong các năng lực chuyên biệt về môn Hóa học thì năng lực vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn là một trong những năng lực quan trọng cần được hình thành và phát triển trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông
- Để học sinh vận dụng được kiến thức Hóa học vào thực tiễn, giáo viên phải dần dần hình thành cho học sinh kỹ năng quan sát, kỹ năng đặt vấn đề trước những hiện tượng xảy ra trong tự nhiên, trong cuộc sống hằng ngày Bên cạnh đó, trong quá trình hình thành kiến thức cho học sinh, giáo viên cần phải đưa hiện tượng thực
tế cuộc sống vào nội dung bài học
- Để kiểm tra mức độ nhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức hay rèn kỹ năng quan sát và tạo hứng thú học tập cho học sinh giáo viên cần phải bổ sung và sử dụng các bài tập liên quan đến thực tiễn
1.4 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh THCS
1.4.1 Vị trí, ý nghĩa của giai đoạn tuổi học sinh THCS trong sự phát triển con người
Tuổi thiếu niên, như đã biết, ứng với tuổi học sinh THCS, học sinh từ lớp 6-
9 (theo hệ thống giáo dục ở Việt Nam) Đây là lứa tuổi đã được chứng minh là rất thú vị song cũng gây nhiều khó khăn cho thầy cô trong nhà trường, bởi đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng của lứa tuổi này Tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển tự nhiên rất quan trọng trong đời người Không qua giai đoạn này, con người không thể thoát ra khỏi tuổi trẻ để bước vào giai đoạn trưởng thành Lứa tuổi này được coi
là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành người lớn
Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, cho phép tạo nội dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, giao tiếp, tình cảm, đạo đức của các em Tuổi thiếu niên gồm các đặc điểm:
Trang 26Thứ nhất: Đây là thời kì quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trường thành, thời kì
trẻ ở “ngã ba đường" của sự phát triển Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kì này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng,
bị tác động bởi các yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt nguy cơ dẫn trẻ em đến
bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách
Thứ hai: Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh
mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng
Thứ ba: Trong suốt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ
lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lí, về hoạt động, tương tác xã hội
và tâm lí, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi
Thứ tư: Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn
trong quá trình phát triển
Ngay các tên gọi của thời kì này: thời kì “quá độ", “tuổi khó khăn", “tuổi khủng hoảng" đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác, hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn: Phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ khác với gia đình; nhiều bậc cha mẹ quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo việc gia đình
1.4.2 Những biến đổi đặc điểm tâm sinh lý của trẻ thiếu niên
Đặc tính tâm lý chung của lứa tuổi này là duy ngã (quy hướng về mình), tình cảm và mơ mộng:
Trang 27+ Tư tưởng pha lẫn đam mê: dễ cảm phục những gì cao đẹp Các vị anh hung, các ngôi sao được lứa tuổi này thán phục, suy tôn
+ Tư tưởng đượm tình cảm, quá tuyệt đối và hay thay đổi: điều gì hợp thì khen, điều không ưa thì chê Có khi đang khen bỗng quay ra chê, đang phấn khởi đột nhiên thất vọng
+ Hay phê bình, chống đối Nhưng những phê phán của lứa tuổi này còn bị tình cảm chi phối
- Về tình cảm:
+ Các em đang ở lứa tuổi dậy thì, nên đa cảm, mơ mộng
+ Lo âu, khép kín thắc mắc nhiều về sinh lý nhưng không dám hỏi bố mẹ và người lớn vì sợ bị la rầy và chế diễu, còn hỏi bạn bè cùng tuổi thì bế tắc Các em cũng lo âu về những khuyết tật trên cơ thể nên dễ buồn chán, tự cắt đứt thân mật với gia đình, còn gia đình lại nói các em vô ơn
+ Tính tình thay đổi đột ngột, rất nhạy bén với những lời nói vô tình của người lớn Một lời nói khó chịu có thể đưa đến những rối loạn tình cảm ghê gớm Trái lại chỉ có một cái nhìn cũng đủ cho các em lứa tuổi này tìm được khích lệ, an ủi
- Về nhân cách:
+ Các em đang độ tuổi giao thời: từ trẻ em trở thành người lớn, hay một lứa tuổi gọi là “một nửa trẻ con, một nửa người lớn”, nên rất dễ bất phục tùng và rất khó dạy
+ Ngưỡng mộ gương anh hùng, thích thần tượng hóa những ai các em thích như cầu thủ bóng đá, tài tử điện ảnh, ca kịch, diễn viên, người mẫu…
+ Khao khát tự do, quảng đại, hy sinh, chân thành, bản lĩnh
+ Các em bắt đầu nhận ra khả năng của trí tuệ có thể chi phối mọi sự
Trang 28- Về xã hội tính:
+ Thích độc lập, tự nguyện
+ Thích được theo nhóm bạn, lập nhóm, nhập “băng”
+ Muốn “nổi loạn” gây sự chú ý, chơi nổi, chơi trội, chơi “hàng độc”
+ Thích đánh giá, so sánh những lời nói và hành động cụ thể của người lớn + Không thích sống loanh quanh trong khung cảnh gia đình, bóng dáng cha
mẹ đâm ra quá quen thuộc và sẽ nhàm chán nếu cha mẹ quá khó chịu, các em muốn
mở rộng tương giao với mọi người
- Về hành động:
+ Muốn làm người lớn: qua việc bắt chước người lớn
+ Không thích làm những việc quen thuộc và bình thường do người lớn giao cho Ngược lại, trước một công việc thật sự mới lạ, hứa hẹn nhiều khó khăn và đòi hỏi trách nhiệm cao, thì các em lại thích thú và sẵn sàng đảm nhận
+ Các em nam: thích biểu dương sức mạnh
+ Các em nữ: hướng về nội tâm, nếu có hướng ngoại cũng là hướng ngoại trong tâm tưởng qua việc viết nhật ký, chép thơ, thích viết lưu bút, làm dáng thích học thêu thùa, may vá; bắt đầu lo việc cơm nước, giặt giũ
+ Hoạt động theo nhóm, hăng say với công việc hợp sở thích
Như vậy, tính tích cực hoạt động ở nhiều lĩnh vực của học sinh THCS, sự
sẵn sàng tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau, khát vọng với các hình thức mang “tính người lớn” vào việc học, đã làm cho thái độ của các em với học tập, với nhà trường có những nét đặc thù Song, trong thực tế, những đặc điểm tâm lý lứa tuổi của các em rất khó được “khai thác” một cách triệt để do sự phát triển tâm lý lứa tuổi của học sinh mang tính cá thể cao Do vậy, rất cần sự quan tâm sát sao của các bậc phụ huynh cũng như của các giáo viên trong việc hướng dẫn, tổ chức hình thành cho học sinh phương pháp học tập đạt kết quả
1.5 Thực trạng sử dụng bài tập Hóa học và phát triển năng lực VDKT cho HS
- Kiến thức lí thuyết về bài tập thực tiễn rất ít, ví dụ như kiến thức về quan sát hiện tượng trong cuộc sống sinh hoạt (đồ ăn, đồ uống, vệ sinh ) chỉ được đưa ra khi học xong một vài chất cụ thể, hoàn toàn không được trình bày trong SGK
Trang 29mà do GV nghiên cứu, sưu tầm, tự biên soạn về nội dung để dạy cho HS
- Để nắm bắt được thực trạng sử dụng bài tập Hóa học và phát triển năng lực VDKT cho HS, chúng tôi tiến hành dùng phiếu điều tra khảo sát đối với giáo viên trực tiếp giảng dạy ở một số trường THCS trong Huyện Châu Thành và Thành Phố Long Xuyên – Tỉnh An Giang Kết quả như sau:
Bảng 1.1 Thực trạng sử dụng bài tập hóa học gắn với thực tiễn
ở các Trường THCS Tỉnh An Giang Nội dung
Rất thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
1 Trong quá trình dạy học thầy, cô có
thường xuyên sử dụng BTHH gắn với
thực tiễn không?
6,25% 56,25% 31,25% 6,25%
2 Các BTHH gắn với
thực tiễn thầy, cô sử
dụng trong quá trình dạy
ngoại khóa 8,33% 29,17% 37,50% 25,00% Kiểm tra,
đánh giá 33,33% 45,83% 8,33% 12,51%
3 Thầy, cô sử dụng bài
tập hóa học gắn với thực
tiễn ở những nội dung
nào của chương trình hóa
toán 4,17% 20,83% 22,92% 52,08%
Cả hai 8,33% 29,17% 8,33% 54,17%
5 HS có trao đổi với Thầy, Cô về các BTHH
có nội dung gắn với thực tiễn không? 6,25% 25,00% 68,75%
6 Thầy, cô có dành thời gian để giải đáp
những thắc mắc của các em học sinh về
các vấn đề liên quan đến Hóa học ở địa
phương không?
8,33% 50,00% 41,67%
Trang 30Bảng 1.2 Đánh giá của thầy, cô về năng lực vận dụng kiến thức
thực tiễn của HS ở các trường THCS Tỉnh An Giang
2 Tích cực tham gia các hoạt động học tập
theo hướng tích cực để đạt hiệu quả nhất
(ghi chép, đưa ra câu hỏi và tuân thủ các
hoạt đồng theo yêu cầu…)
31,25% 58,33% 10,42%
3 Biết phát hiện, tìm được cách giải quyết
vấn đề có trong nội dung bài học, trong
BTHH gắn với thực tiễn
27,08% 56,25% 16,67%
4 Biết quan sát và sử dụng những kiến thức,
kĩ năng hóa học để giải thích những sự vật,
hiện tượng trong đời sống, trong sản xuất và
môi trường xung quanh
31,25% 56,25% 12,5%
5 Biết thu thập và xử lí thông tin, trình bày
kết quả một vấn đề cần tìm hiểu trong thực
tiễn và nêu được phương hướng giải quyết
vấn đề đó bằng những kiến thức, kĩ năng hóa
học
18,75% 60,42% 20,83%
6 Biết đưa, áp dụng kiến thức, kĩ năng đã
học vào thực tế công việc; trong thực tế qua
thử - sai - sửa
12,50% 56,25% 31,25%
7 Điều chỉnh những kiến thức đã học (sơ đồ,
quy trình làm việc…) cho phù hợp với thực
tế công việc, điều kiện, môi trường của tổ
chức
12,50% 66,67% 20,83%
8 Biết đưa ra những phương pháp, cách thức
làm việc mới, phù hợp với tổ chức dựa trên
cơ sở những kiến thức đã được học
16,67% 52,08% 31,25%
9 Biết dự đoán kết quả, kiểm tra và kết luận 25,00% 60,42% 14,58%
10 Biết đánh giá và tự đánh giá kết quả, sản
phẩm và có những đề xuất hướng hoàn thiện 18,75% 64,58% 16,67%
Trang 31Từ bảng 1.1 và 1.2 nhận xét:
- Đa số các GV đều có sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Nhưng việc đưa dạng bài tập này vào trong dạy học chưa thường xuyên, tập trung chủ yếu các hoạt động ngoại khóa và bài ôn tập
- Dạng bài tập đưa vào chủ yếu ở mức độ tái hiện kiến thức và vận dụng kiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết (mức độ 1 và 2) Còn ở mức độ cao hơn thì ít sử dụng
- Các thầy cô giáo có đưa ra những lí do vì sao ít hoặc không sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học Đó là:
+ Không có nhiều tài liệu: 12/48 chiếm 25,0%
+ Mất nhiều thời gian tìm kiếm tài liệu: 20/48 chiếm 41,67%
+ Trong các bài kiểm tra định kỳ, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn: 28/48 chiếm 58,33%
Lí do khác:
+ Thời lượng tiết học ngắn, không cho phép đưa nhiều kiến thức bên ngoài vào bài dạy
+ Trình độ của HS còn hạn chế
+ Chỉ sử dụng khi nội dung bài học có liên quan
+ Mất nhiều thời gian, nếu HS chỉ làm dạng bài tập này thì không còn nhiều thời gian cho các dạng khác, dạy không kịp chương trình
+ Chỉ có các đề thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên Hóa mới có hỏi về vấn đề này nhưng quá ít, chương trình quá nặng nề, trong khi số lượng học sinh có nhu cầu thi vào lớp chuyên lại rất ít
Nhận xét chung:
- GV ít liên hệ kiến thức hóa học với thực tế Do cách thi cử có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn Do vậy, đa số GV chỉ đưa những kiến thức hóa học thực tiễn vào các hoạt động ngoại khóa, còn những tiết học tuyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì GV chỉ tập trung các kĩ năng khác có nội dung thuần túy hóa học để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra
Trang 32- Thời gian dành cho tiết học không nhiều do đó giáo viên không có cơ hội đưa những kiến thức thực tế vào bài học
- Năng lực vận dụng kiến thức Hoá Học để giải thích những tình huống xảy
tế xung quanh các em
Qua thực trạng trên ta thấy việc lựa chọn và sử dụng bài tập hóa học nói chung và bài tập hóa học thực tiễn để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn nói riêng hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, chưa phù hợp với xu hướng phát triển của BTHH và cũng chưa phù hợp đặc điểm của môn Hóa Học đó là một môn khoa học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm Vì vậy, việc lựa chọn, xây dựng và sử dụng các BTHH nói chung và bài tập thực tiễn để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn nói riêng một cách hợp lí là một yêu cầu cấp bách đặt ra cho các giáo viên
Trang 33TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Ở chương 1 đã trình bày cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài“Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh thông qua bài tập Hóa Học vô cơ lớp 9 trung học cơ sở”, để thấy được tầm quan trọng của bài tập Hóa
Học có nội dung gắn với thực tiễn trong việc phát triển năng lực, cụ thể là năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh THCS Việc tìm hiểu về dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS thông qua dạy học môn Hoá
ở các trường THCS Huyện Châu Thành và Thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang, tìm hiểu về các phương pháp kiểm tra đánh giá của GV cho thấy nhu cầu thiết kế và
sử dụng BTHH gắn có nội dung thực tiễn và việc thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn là rất cần thiết
Tất cả cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài sẽ là cơ sở vững chắc để tôi xây dựng chương 2: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua bài tập Hóa Học vô cơ 9”
Trang 34Chương 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC
VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BÀI TẬP HÓA HỌC VÔ CƠ 9
2.1 Phân tích chương trình Hóa Học vô cơ lớp 9
2.1.1 Tầm quan trọng của phần Hóa Học vô cơ lớp 9
- Phần Hóa Học vô cơ lớp 9 gồm:
+ Chương I: Các loại hợp chất vô cơ (gồm có 14 bài)
+ Chương II: Kim loại (gồm có 10 bài)
+ Chương III: Phi kim Sơ lược về bảng tuần hoàn các nguyên tố Hóa Học (gồm có 9 bài)
- Mục tiêu của môn hóa học ở trường THCS là giúp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về Hóa Học, hình thành ở các em một số kĩ năng phổ thông, cơ bản và thói quen làm việc khoa học, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, chuẩn bị cho học sinh học lên và đi vào cuộc sống
Trên cơ sở những mục tiêu chung đó, môn Hóa Học lớp 9 hay phần Hóa Học
vô cơ có những mục tiêu cụ thể như sau:
- Về kiến thức:
+ Học sinh biết những tính chất hóa học chung của mỗi hợp chất vô cơ: oxit, axit, bazơ, muối và của các đơn chất kim loại, phi kim
+ Biết tính chất, ứng dụng, điều chế của một số chất vô cơ cụ thể
+ Hiểu mối quan hệ về tính chất hóa học giữa đơn chất và hợp chất, giữa các hợp chất với nhau; mối quan hệ giữa thành phần và cấu tạo phân tử với tính chất hóa học của các chất
+ Biết vận dụng dãy hoạt động hóa học của kim loại, bảng tuần hoàn của các nguyên tố Hóa Học; vận dụng biện pháp bảo vệ đồ dùng bằng kim loại không
bị ăn mòn
+ Biết các chất hóa học còn gây ra sự ô nhiễm môi trường và biện pháp bảo
vệ môi trường
Trang 35- Về kĩ năng:
+ Biết tiến hành những thí nghiệm hóa học đơn giản
+ Biết vận dụng những kiến thức hóa học đã học để từng bước có thể giải thích một số hiện tượng hóa học, một số thí nghiệm hóa học
+ Biết viết công thức, phương trình hóa học, giải bài tập hóa học
- Về thái độ tình cảm:
Học sinh có hứng thú, ham thích học môn hóa học, có niềm tin khoa học; có
ý thức tuyên truyền và vận dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật trong đời sống, sản xuất; rèn luyện phẩm chất, thái độ cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, có tinh thần hợp tác trong học tập
2.1.2 Nội dung kiến thức và kỹ năng của phần Hóa học vô cơ lớp 9
2.1.2.1 Chương 1: Các loại hợp chất vô cơ
- Tính chất hóa học của oxit Một số oxit quan trọng: CaO, SO2
- Tính chất hóa học của axit Một số axit quan trọng: HCl, H2SO4
- Tính chất hóa học của bazơ Một số bazơ quan trọng: NaOH, Ca(OH)2 Khái niệm về thang pH
- Tính chất hóa học của muối Một số muối quan trọng: NaCl, KNO3
- Phân bón hóa học
2.1.2.2 Chương 2: Kim loại
- Tính chất vật lí, tính chất hóa học của kim loại
- Dãy hoạt động hóa học của kim loại
- Một số kim loại quan trọng: Al, Fe
- Khái niệm về hợp kim sắt: gang, thép
- Sự ăn mòn kim loại và bảo vệ kim loại không bị ăn mòn
2.1.2.3 Chương 3: Phi kim Sơ lược bảng tuần hoàn các nguyên tố Hóa học
- Tính chất của phi kim
- Một số phi kim quan trọng: clo, cacbon, silic
- Một số hợp chất quan trọng của cacbon
- Sơ lược về công nghiệp silicat
- Sơ lược bề bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Trang 362.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập thực tiễn
Bài tập thực tiễn là những bài tập đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức,
kĩ năng Hóa học cùng với các kiến thức của các môn học khác kết hợp với kinh nghiệm, kĩ năng sống để giải quyết một số vấn đề đặt ra từ những bối cảnh và tình huống nảy sinh từ thực tiễn
Khi xây dựng dạng bài tập này cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Đảm bảo tính mục tiêu của chương trình, chuẩn kiến thức kĩ năng và định hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh
- Đảm bảo tính chính xác, khoa học, hiện đại của các nội dung kiến thức Hóa học và các môn khoa học có liên quan
- Phải gần gũi với cuộc sống và kinh nghiệm học tập của học sinh
- Phải phát huy được tính tích cực tìm tòi và vận dụng tối đa kiến thức đã có của học sinh để giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ đặt ra trong bài tập
- Phải có tính hệ thống và đảm bảo logic sư phạm
2.3 Quy trình thiết kế bài tập thực tiễn
Bài tập thực tiễn được xây dựng theo các bước sau:
- Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức, hiện tượng, bối cảnh/tình huống thực tiễn có liên quan
- Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức, xây dựng mâu thuẫn nhận thức từ bối cảnh/tình huống lựa chọn và xác định các điều kiện (kiến thức, kĩ năng…) cần thiết để giải quyết mâu thuẫn này
- Bước 3: Thiết kế bài tập theo mục tiêu
- Bước 4: Xây dựng đáp án, lời giải và kiểm tra thử
- Bước 5: Chỉnh sửa, hoàn thiện bài tập
Ví dụ 1: Chọn kiến thức về tính chất hóa học, sinh học của CO và CO2; Bối cảnh là thông tin về việc sử dụng bếp than để sưởi ấm (hoặc chạy xe ô tô, mô tô, máy phát điện, …) trong phòng kín gây chết người được đăng tải trên các báo Từ
đó giáo viên có thể xây dựng các bài tập thực tiễn có liên quan đến các kiến thức này Giáo viên nêu thông tin (hoặc cho học sinh đọc một đoạn thông tin), yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi:
Trang 37a Theo em loại khí nào đã gây ra hiện tượng chết người trên? Các khí đó gây độc cho con người như thế nào? Nó dược tạo ra từ các quá trình biến đổi hóa học nào? Em hãy đưa ra những khuyến cáo để phòng tránh nguy cơ này
b Khi gặp người bị ngạt khí từ thông tin của bài báo nêu ra thì cần phải xử lí như thế nào?
c Việc để nhiều cây xanh, hoa trong phòng ngủ đóng kín vào ban đêm cũng có thể gây tử vong cho con người Hiện tượng này xảy ra do nguyên nhân nào? Có loại cây nào để trong phòng ngủ vào ban đêm lại hấp thụ khí thải và sinh ra khí oxi không?
d Hai hiện tượng gây chết người do ngạt khí khi đốt than tổ ong trong phòng kín
để sưởi và để nhiều hoa, cây trong phòng ngủ ban đêm giống và khác nhau thế nào?
GV xác định câu trả lời cho các bài tập trên ở các mức độ đầy đủ, chưa đầy
đủ và không đạt GV sử dụng các bài tập này trong bài dạy Các oxit của cacbon (Hóa học lớp 9) để thử nghiệm và chỉnh sửa cho phù hợp với đối tượng trên cơ sở các câu trả lời, kết quả bài kiểm tra của HS
Ví dụ 2: Theo tính toán của các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể người cần được cung cấp 1,5.10-4g nguyên tố iot Nếu nguồn cung cấp chỉ là KI thì khối lượng
KI cần dùng cho một người trong một ngày là bao nhiêu?
Ví dụ 3: Vì sao trộn phân đạm một lá (NH4)2SO4, hai lá NH4NO3 hoặc nước tiểu với vôi Ca(OH)2 hay tro bếp (hàm lượng K2CO3 cao) đều bị mất đạm
2.4 Công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức Hóa học vào thực tiễn
Đánh giá quá trình được sử dụng trong suốt thời gian học của môn học Cách đánh giá này là việc giáo viên hoặc học sinh cung cấp thông tin phản hồi về hoạt động học của người học, giúp giáo viên điều chỉnh hoạt động dạy phù hợp hơn, giúp học sinh có được các thông tin về hoạt động học và từ đó cải thiện những tồn tại Việc đánh giá quá trình có ý nghĩa hơn, nếu học sinh cùng tham gia đánh giá chính bản thân mình vì khi học sinh đảm nhận vai trò tích cực trong việc xây dựng tiêu chí chầm điểm, tự đánh giá và đề ra mục tiêu thì tức là học sinh đã sẵn sàng chấp nhận cách thức đã được xây dựng để đánh giá khả năng học tập của họ
Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2011)
Trang 38Để chứng minh học sinh có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho học sinh được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn Khi đó học sinh vừa phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và xã hội) Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả
kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức,
kỹ năng, thái độ, tình cảm
Qua nghiên cứu, có một số phương pháp đánh giá năng lực vận dụng kiến thức:
- Đánh giá trong quá trình học tập: khả năng tiếp cận tình huống liên quan tới thực tiễn; khả năng tổng hợp kiến thức, giải pháp đề xuất giải quyết vấn đề
- Đánh giá bằng bài kiểm tra vận dụng kiến thức
- Đánh giá bằng những thắc mắc, giả thiết của học sinh trong quá trình học tập Dựa vào những phương pháp trên, tôi xây dựng công cụ đánh giá bằng bảng thang điểm chi tiết mô tả đầy đủ các tiêu chí mà người học cần đạt được đây là một công cụ đánh giá tương đối chính xác mức độ năng lực của HS và cung cấp thông tin để HS tiến bộ
Bảng 2.1 Bảng kiểm đánh giá năng lực vận dụng kiến thứcvào thực tiễn
Nội dung Hoạt động HS Tiêu chí đánh giá
Nêu và
phát biểu
vấn đề
Nêu vấn đề từ tình huống, hiện tượng có trong thực tế
và phát biểu vấn đề
Không phát hiện ra tình huống Phát hiện vấn đề từ tình huống thực tiễn nhưng phát biểu vấn đề chưa liên quan đén tình huống
Phát hiện vấn đề từ tình huống thực tiễn nhưng phát biểu vấn đề chưa logic
Phát hiện vấn đề từ tình huống thực tiễn và phát biểu vấn đề phù hợp với tình huống, đầy đủ, logic
Đề xuất
giải pháp
Xác định, giải thích thông
Nêu ra được một số thông tin ban đầu có liên quan ít đến vấn đề, chưa giải thích gì
Trang 39Nêu đƣợc những kiến thức có liên quan nhƣng chƣa
có đƣợc kỹ năng giải quyết vấn đề
Nêu đƣợc những kiến thức có liên quan và có đƣợc nhƣng kỹ năng giải quyết vấn đề
Trang 40Trình bày được kết quả thực hiện có những phân tích, đánh giá giá trị kết quả
Có những đề
xuất hường
hoàn thiện
Không có hướng đề xuất hoàn thiện kết quả tốt hơn
Đề xuất được ý tưởng để hoàn thiện kết quả tốt hơn
Bảng 2.2 Bảng theo dõi năng VDKT vào thực tiễn của HS dành cho GV
STT Tiêu chí đánh giá năng lực VDKT
vào thực tiễn của học sinh
Mức độ
Chưa đạt Đạt Tốt Rất tốt
1 Phát hiện và nêu được tình huống
thực tiễn có liên quan trong học tập
2 Phân tích được tình huống thực tiễn
có liên quan trong học tập
3
Thu thập và làm rõ các thông tin,
kiến thức có liên quan đến tình
huống cần giải quyết
4 Vận dụng kiến thức đã biết để giải
quyết vấn đề