1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 trung học cơ sở

169 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Quốc hội, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện giú

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



LƯƠNG LONG TUYỀN

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Hóa học

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trên nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Họ và tên tác giả

Lương Long Tuyền

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình Bằng tất cả lòng kính trọng tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Huế, phòng đào tạo Sau đại học và quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học

- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Dương Huy Cẩn – Khoa Hóa học trường Đại học Đồng Tháp đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn

và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin cảm ơn tất cả những người thân trong gia đình, Ban giám hiệu, các thầy cô trường THCS Mỹ Hội Đông (nay là THCS Nguyễn Kim Nha), THCS Ô Long Vĩ, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

và thực hiện luận văn này

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.2 ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNNG 7

1.2.1 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh 7

1.2.2 Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS 10

1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích 11

1.3 TỰ HỌC ……….13

1.3.1 Khái niệm tự học 13

1.3.2 Vai trò của hoạt động tự học ……… .15

1.3.3 Kỹ năng tự học……… ……… 15

1.3.4 Cơ sở lí luận năng lực và năng lực tự học ………17

1.3.5 Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong môn hóa học 21

1.4 BÀI TẬP HÓA HỌC 24

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học 24

1.4.2 Vai trò bài tập hóa học trong việc phát triển năng lực cho HS 25

1.5.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS THÔNG QUA SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở MỘT SỐ TRƯỜNG THCS ……… 26

1.5.1 Nội dung điều tra 26

1.5.2 Mục đích điều tra 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2:PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 TRUNG HỌC CƠ SỞ 34

2.1 TỔNG QUAN VỀ CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 34

2.1.1 Vị trí phần hóa học vô cơ lớp 9 trong chương trình phổ thông 34

Trang 5

2.1.2 Nội dung kiến thức, kĩ năng và thái độ cần đạt được khi học phần hóa học

vô cơ lớp 9 34

2.2 CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 36

2.3 NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC 40

2.3.1 Nguyên tắc xây dựng và tuyển chọn 40

2.3.2 Hệ thống bài tập hóa học theo hướng phát triển năng tự học cho học sinh phần vô cơ (Hóa học 9) 42

2.4 MỘT SỐ BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC TRONG HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 43

2.4.1.Sử dụng bài tập nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề để phát triển năng lực tự học 43

2.4.2 Sử dụng bài tập giải quyết vấn đề thực tiễn để phát triển năng lực tự học 65

2.4.3 Sử dụng bài tập thực nghiệm để phát triển năng lực tự học 67

2.5 THIẾT KẾ BỘ CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH 70

2.5.1 Năng lực xác định mục tiêu học tập 70

2.5.2 Năng lực lập kế hoạch và thực hiện cách học 71

2.5.3 Năng lực đánh giá và điều chỉnh việc học 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 76

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.1 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77

3.2 TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 77

3.3 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC

Trang 6

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung

và chương trình định hướng năng lực 9

Bảng 1.2 Bảng mô tả các chỉ số hành vi của các năng lực thành tố 19

Bảng 1.3 Kết quả điều tra về khả năng tự học của HS THCS 27

Bảng 2.1 Bộ công cụ đánh giá NLTH của HS thông qua BTHH 70

Bảng 3.1 Các lớp TN và ĐC 77

Bảng 3.2 Bảng tiêu chí Cohen 79

Bảng 3.3 Phân phối tần suất số học sinh theo bài kiểm tra trước thực nghiệm 80

Bảng 3.4 Bảng kiểm quan sát đánh giá mức độ phát triển NLTH của HS 82

Bảng 3.5 Bảng điểm bài kiểm tra 1 84

Bảng 3.6 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 1 của lớp TN1 và ĐC1 84

Bảng 3.7 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 1 của lớp TN2 và ĐC2 86

Bảng 3.8 Bảng tổng hợp các tham số thống kê đặc trưng bài kiểm tra 1 87

Bảng 3.9 Bảng phân loại kết quả học tập học sinh 87

Bảng 3.10 Bảng điểm bài kiểm tra 2 88

Bảng 3.11 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 2 của lớp TN1 và ĐC1 89

Bảng 3.12 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 2 của lớpTN2 và ĐC2 90

Bảng 3.13 Bảng tổng hợp các tham số thống kê đặc trưng bài kiểm tra 2 91

Bảng 3.14 Bảng phân loại kết quả học tập của học sinh 91

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập 25

Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 của lớp TN1 và ĐC1 85

Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 1 của lớp TN2 và ĐC2 86

Hình 3.3 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra 1 của lớp TN1 và ĐC1 88

Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra 1 của lớp TN2 và ĐC2 88

Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 của lớp TN1 và ĐC1 89

Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 2 của lớp TN2 và ĐC2 90

Hình 3.7 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra 2 của lớp TN1 và ĐC1 92

Hình 3.8 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra 2 của lớp TN2 và ĐC2 92

Trang 9

số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh” Thực hiện các Nghị quyết của Đảng

và Quốc hội, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại Do đó nền giáo dục chúng ta hiện nay phải có những thay đổi kịp thời với xu thế chung của thể giới Trên cơ sở đó, trong những năm gần đây giáo dục nước ta đang thực hiện những bước đổi mới

Trang 10

2

chuyển từ chương trình định hướng nội dung sang định hướng phát triển năng lực của người học từ chỗ quan tâm việc học HS học được cái gì đến chỗ HS làm được cái gì qua việc học Để thực hiện được điều đó, chúng ta phải thực hiện thành công việc chuyển đổi từ PPDH truyền thống ghi nhớ một cách máy móc, rập khuôn sang dạy cách học, vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành những phẩm chất

và năng lực Do vậy, cần phải đổi mới nội dung chương trình và PPDH nhằm nâng cao chất lương nguồn đào tạo, nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước

Trong PPDH truyền thống, người thầy truyền thụ tri thức cho HS theo quan hệ một chiều thầy truyền đạt trò tiếp nhận dẫn đến HS thụ động, thiếu tính độc lập và

cố gắng nhớ những điều mà thầy đã truyền đạt Thế hệ trẻ là tương lai của đất nước, việc giáo dục phải phù hợp với xu hướng của thế giới Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến phương pháp giáo dục, việc phát huy tính tích cực học tập của HS có ý nghĩa vô cùng quan trọng Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên, tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn

Có thể nói dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy, cách giải quyết vấn đề một cách thông minh, độc lập và sáng tạo

Ở các trường trung học hiện nay, ngoài học văn hóa các em còn tham gia các phong trào do Đoàn, hội tổ chức Trong khi đó, lượng kiến thức các em cần tiếp thu

là khá lớn mà thời gian để các HS tự học ở nhà là quá ít Trong DHHH, do thời gian dạy học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian ôn tập, hệ thống hóa lí thuyết và giải bài tập chưa được nhiều, không phải HS nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà giáo viên truyền thụ trên lớp Với đặc thù môn hóa học là môn khoa học đòi hỏi sự kết hợp giữa lí thuyết và thực nghiệm để HS có thể nhận thức, tìm tòi và khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của người GV, việc sử dụng bài tập trong quá trình dạy học sẽ mang lại hiệu quả cao giúp HS tiếp thu bài nhanh chóng, hứng thú với bài học, ghi nhớ nội dung bài học lâu hơn Tuy nhiên, việc sử dụng BTHH để tăng năng lực tự học cho học sinh còn nhiều hạn chế BTHH được xem là phương tiện cơ bản để giải quyết nhiệm vụ học tập Có thể sử dụng BTHH ở tất cả các khâu của quá trình dạy học để thực hiện mục tiêu đào tạo Với mong

Trang 11

3

muốn được góp một phần trong quá trình hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS, thực hiện nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện tại của đất nước, chúng tôi nghiên cứu đề tài “ Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 Trung học cơ sở”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần vô cơ (hóa học lớp 9) theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh THCS

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

- Tìm hiểu thực trạng phát triển năng lực tự học của HS ở một số trường trong địa bàn

- Nghiên cứu đề xuất HTBT phát triển năng lực tự học cho HS THCS thông qua dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các BTHH đã đề xuất

3 Phạm vi, giới hạn đề tài nghiên cứu

Nội dung: nghiên cứu khả năng vận dụng các BTHH và hình thức tổ chức dạy học phát triển năng lực tự học phần hóa học vô cơ lớp 9

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: quá trình DHHH ở trường THCS

- Đối tượng nghiên cứu: phát triển năng lực tự học cho HS THCS thông qua dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9

5 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các biện pháp có tính khoa học, khả thi, sử dụng để phát triển năng lực tự học của HS thành công sẽ giúp cho HS phát huy được tính tích cực, ham học hỏi, tư duy sáng tạo, tự tin mạnh dạn giải quyết các vấn đề làm tăng hứng thú học tập với môn Hóa học cũng như góp phần truyền thụ cho các em phương pháp học môn Hóa học hiệu quả Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học Hóa học vô cơ lớp 9

Trang 12

4

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Thu thập các tài liệu liên quan đến nghiên cứu đề tài

- Phân tích, tổng hợp, khái quát, hệ thống hóa cơ sở lí luận cho đề tài

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi, phỏng vấn

- Trao đổi với GV có kinh nghiệm sử dụng bài tập

- Tổng quan về cơ sở lí luận, mục đích và ý nghĩa phát triển năng lực tự học

trong dạy học môn hóa học lớp 9

- Phát triển năng lực tự học cho HS thông qua HTBT Hóa học vô cơ lớp 9

- Đề xuất cách lựa chọn và đưa ra các dạng bài tập nhằm tăng hiệu quả tự học

+ Sử dụng bài tập phát triển năng lực thực nghiệm hóa học vô cơ lớp 9

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1:Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 Trung học cơ sở

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trên thế giới đã có rất nhiều tác tác giả nghiên cứu về BTHH và việc sử dụng BTHH trong dạy học hóa học Ở trong nước, có PGS.TS Nguyễn Xuân Trường, PGS.TS Lê Xuân Trọng, PGS.TS Cao Cự Giác là những người thầy đã và đang nghiên cứu về phương pháp giải toán, nghiên cứu về bài tập thực nghiệm định lượng, nghiên cứu về giải quyết các vấn đề thực tiễn thông qua BTHH

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học

Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ PPDH theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện

kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Trong định hướng quan trọng đó, vai trò của con người là mấu chốt, là trung tâm Ngay từ khi giáo dục cách mạng ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương sáng về tinh thần tự học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học” và cho rằng “về cách học phải lấy

tự học làm cốt” Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp và gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học,

PPDH bộ môn

Đi theo hướng này riêng trong lĩnh vực nghiên cứu về PPDH môn Hóa học đã

có một số công trình nghiên cứu như:

Luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Phượng Liên, 2015 Bồi dưỡng năng lực tự học

cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phần phản ứng oxi hóa – khử hóa học 10 chương trình chuẩn Trường ĐHSP Huế

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hoa, 2012 Tuyển chọn – xây dựng và sử

dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất hiđrocacbon hóa học 11 nâng cao để tăng hiệu quả tự học cho học sinh khá giỏi trường trung học phổ thông Trường ĐHSP Huế

Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Nguyệt Minh, 2012 Thiết kế và sử dụng hệ thống

bài tập theo hướng tiếp cận Pisa trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 Trường

ĐHGD Hà Nội

Trang 14

6

Luận văn thạc sĩ của Trương Thị Hồng, 2014 Xây dựng và sử dụng hệ thống

bài tập hóa học phần vô cơ (hóa học lớp 9) theo hướng phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh Trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh

Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Diễm Thùy, 2016 Tuyển chọn, xây dựng và sử

dụng hệ thống bài tập bồi dưỡng năng lực tự học cho học thông qua dạy học hóa học lớp 9 Trung học cơ sở Trường ĐHSP Huế

Luận văn thạc sĩ của Trần Anh Tuấn, 2017 Phát triển năng lực tự học cho học sinh

thông qua hệ thống bài tập chương 5, 6 hóa học 12 nâng cao Trường ĐHSP Hà Nội

Đề tài khoa học cấp cơ sở của TS Dương Huy Cẩn, 2012 Bồi dưỡng năng lực

tự học cho sinh viên ngành sư phạm hóa học Trường Đại học Đồng Tháp Trường

Đại học Đồng Tháp

Năm 2009 tác giả Nguyễn Thị Ngà đã Xây dựng và sử dụng tài liệu tự học có

hướng dẫn theo môđun phần kiến thức cơ sở hóa học chung - chương trình THPT chuyên hóa học góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh, Luận án tiến sĩ

Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội

Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Nguyệt Minh, 2012 Thiết kế và sử dụng hệ

thống bài tập theo hướng tiếp cận Pisa trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9

Trường Đại học Giáo dục

Phạm Thị Bích Đào, 2015 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh Trung

học phổ thông trong dạy học hóa hữu cơ chương trình nâng cao, Luận án Tiến sĩ

Giáo dục học, Trường ĐHSP Hà Nội

Ngoài ra, còn khá nhiều các bài báo, công trình nghiên cứu, luận án Tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề này Đóng góp lớn nhất của các đề tài này là làm phong phú thêm hệ thống bài tập hóa học với nhiều dạng bài tập mới về nội dung và cách giải, đồng thời đã hỗ trợ tốt cho việc tự học của học sinh Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về việc phát triển NLTH cho học sinh thông qua sử dụng HTBT hóa học vô cơ lớp 9 Với đối tượng HS trường THCS đặc biệt HS lớp 9 mới trải qua một năm được học tập về bộ môn Hóa học nên còn rất thiếu kinh nghiệm tự học về bộ môn này nên chúng tôi tập trung nghiên cứu,

kế thừa và tiếp tục triển khai theo hướng phát triển năng lực mà cụ thể là NLTH Chúng tôi quyết định nghiên cứu chương trình hóa học vô cơ lớp 9 nhằm phát triển NLTH cho HS

Trang 15

7

1.2 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông

1.2.1 Đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực học sinh

Trí tuệ, sự tài năng và kỹ năng sống của con người được xem là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Kiến thức như một đại dương bao la mà cuộc sống luôn vận động, tri thức vốn mãi là điều mà con người luôn tìm tòi và khám phá Để phát triển nền kinh tế bền vững, các nước chỉ có thể trông đợi vào nguồn lực con người Vì thế, tất cả các quốc gia, dẫn đầu là các nước công nghiệp phát triển, đều không ngừng tiến hành các cuộc cải cách giáo dục để từ đó làm giàu nguồn vốn con người mà chủ yếu làm tăng lên gấp bội tiềm năng tri thức và tư duy sáng tạo trên nền tảng nhân cách lương thiện của mọi công dân Đối với nước ta, từ lâu Đảng và Nhà nước đã xác định, Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học – công nghệ là quốc sách hàng đầu và đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo từ năm 1994, Bộ

GD & ĐT đã tổ chức xây dựng chương trình “Đổi mới PPDH theo hướng hoạt động văn hóa người học”

Điều 28 Luật Giáo dục quy định: “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”

Nghị quyết 29 của Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”, “ Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định "Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo

Trang 16

8

hướng hiện đại; nâng cao chất lượng toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội” Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới PPDH và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học”; “ Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông, kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng đảm bảo thiết thực, hiệu quả, khách quan và công bằng; kết hợp kết quả kiểm tra đánh giá trong quá trình giáo dục và kết quả thi”

Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành có những hạn chế, bất cập chính sau đây:

- Chủ yếu chú trọng việc truyền đạt kiến thức, chưa đáp ứng tốt yêu cầu về hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh; nặng về dạy chữ, nhẹ

về dạy người, chưa coi trọng hướng nghiệp

- Quan điểm tích hợp và phân hoá chưa được quán triệt đầy đủ, các môn học được thiết kế chủ yếu theo kiến thức các lĩnh vực khoa học, chưa thật sự coi trọng yêu cầu về sư phạm; một số nội dung của một số môn học chưa đảm bảo tính hiện đại, cơ bản, còn nhiều kiến thức hàn lâm, nặng với học sinh

- Nhìn chung, chương trình còn nghiêng về trang bị kiến thức lí thuyết, chưa thật sự thiết thực, chưa coi trọng kỹ năng thực hành, kỹ năng vận dụng kiến thức; chưa đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đạo đức, lối sống

- Hình thức tổ chức giáo dục chủ yếu là dạy học trên lớp, chưa coi trọng việc

tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động trải nghiệm Phương pháp giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục nhìn chung còn lạc hậu, chưa chú trọng dạy cách học, cách

tự học và phát huy tính chủ động, khả năng sáng tạo của học sinh

- Trong thiết kế chương trình, chưa quán triệt rõ mục tiêu, yêu cầu của hai giai đoạn (giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp); chưa bảo đảm tốt tính liên thông trong từng môn học và giữa các môn học, trong từng lớp, từng cấp và giữa các lớp, các cấp học; còn hạn chế trong việc phát huy vai

Trang 17

9

trò tự chủ của nhà trường và tính tích cực, sáng tạo của giáo viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục; chưa đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục của các vùng khó khăn; việc chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện chương trình còn thiếu tính hệ thống.[32]

Bảng 1.1 So sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội

dung và chương trình định hướng năng lực

Chương trình định hướng

nội dung

Chương trình định hướng

năng lực Mục tiêu

giáo dục

Mục tiêu dạy học được mô

tả không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được

Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết

và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục

Nội dung

giáo dục

Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình

Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết

- Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;

- Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành

Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn

Vì thế đổi mới PPDH là một nhu cầu cấp bách của thời đại ngày nay Cùng với

sự phát triển của khoa học - công nghệ, nhân loại đang bước vào thế kỉ của văn

Trang 18

10

minh tri thức với những thành tựu rực rỡ của khoa học kĩ thuật trong đó có khoa học Hóa học Nền văn minh đó đòi hỏi con người cần phải có tri thức, sự nhạy bén và năng lực sáng tạo để nắm bắt và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh Vì vậy, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục, khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình sách giáo khoa; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học, tự bổ sung kiến thức, bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của HS Để thực hiện việc đổi mới chương trình, PPDH của

GV và phương pháp học của HS cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới

1.2.2 Định hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS kĩ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau để tự điều chỉnh cách học Tự đánh giá đúng

và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho học sinh Để đào tạo những con người năng động, thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại

ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ Do đó, GV phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động của học sinh GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV

Trang 19

GV, phải biết đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá kết quả học tập rèn luyện của chính mình Có như vậy, HS mới tự phản hồi với bản thân xem kết quả học tập, rèn luyện của mình đạt mức nào, đến đâu so với yêu cầu, tốt hay chưa tốt như thế nào Với cách hiểu đánh giá ấy mới giúp hình thành năng lực của HS, cái mà chúng ta đang rất mong muốn Đánh giá phải lượng giá chính xác, khách quan kết quả học tập, chỉ ra được HS đạt được ở mức độ nào so với mục tiêu, chuẩn đã đề ra Sau khi HS kết thúc một giai đoạn học thì tổ chức đánh giá, để GV biết được những kiến thức mình dạy, HS đã làm chủ được kiến thức,kĩ năng ở phần nào và phần nào còn hỏng

1.2.3 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng dạy học tích cực

1.2.3.1 Những xu hướng đổi mới phương pháp dạy học

PPDH tạo nên một hệ thống rất phong phú, đa dạng và sẽ còn tiếp tục được sáng tạo thêm trong thực tiễn dạy học Với tư tưởng của công nghệ hiện đại, cuộc cách mạng khoa học trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,

hệ thống PPDH lại càng thay đổi về cả số lượng, loại hình và bản chất Hiện tại trên thế giới và trong nước có một xu hướng cơ bản của sự đổi mới có tính chất sáng tạo của PPDH như:

- Xây dựng cơ sở lý thuyết có tính chất phương pháp luận để tìm hiểu bản chất của PPDH (PPDH như một khái niệm của PPDH đại cương, PPDH môn học)

Trang 20

12

- Hoàn thiện chất lượng của PPDH hiện có: nghiên cứu bản chất, cấu trúc logic, khả năng áp dụng của các PPDH cơ bản, thuyết trình, đàm thoại, thí nghiệm hóa học, bài tập hóa học Đây là PPDH được sử dụng rộng rãi, phổ biến, thích hợp với nhiều kiểu nội dung trí dục, đồng thời các phương pháp này có thể được sử dụng như hạt nhân, cốt lõi để thiết kế những PPDH mới riêng lẻ hoặc liên kết với nhau thành những tổ hợp

- Sáng tạo ra những PPDH mới bằng cách, liên kết nhiều PPDH riêng lẻ, cơ bản thành tổ hợp phương pháp dạy học phức hợp; liên kết PPDH với các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại, chuyển hóa phương pháp khoa học thành PPDH đặc thù của môn học

Trước kia phương pháp diễn giảng chỉ được sử dụng đơn thuần một mình nó Ngày nay do khối lượng kiến thức nhiều, giáo dục chú ý tới phương pháp học nhiều hơn Phương pháp diễn giảng thường được kết hợp với các phương pháp khác tuỳ theo từng trường hợp cụ thể Việc phối hợp các phương pháp trong giảng dạy giúp học sinh hoạt động tích cực hơn, tư duy học sinh phát triển hơn so với chỉ sử dụng đơn thuần phương pháp diễn giảng và ghi chép Mọi sự phân loại chỉ có tính tương đối Để phân loại các phương pháp dạy học, có thể dựa vào đồng thời ba cơ sở: hoạt động trí lực của học sinh, nguồn kiến thức và mục đích nhận thức Đối với dạy học hóa học, có hai nhóm phương pháp dạy học là các phương pháp dùng lời và các phương pháp dạy học tích cực [8]

1.2.3.2 Quan niệm dạy học tích cực

PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ nhưng những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong PPDH – tích cực được dùng với tức là hoạt

động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa

trái của tiêu cực

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải

là tập kết vào phát huy tính tích cực của người dạy , tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Trang 21

13

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng trái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầy giáo chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng PPDH tích cực nhưng không thành tựu vì học sinh chưa thích nghi, vẫn quen với lối học tập thụ động Vì thế, thầy giáo phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao Trong đổi mới PPDH phải có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành tựu Như vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực”

để phân biệt với “Dạy và học thụ động”

Phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh, không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phương pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học và vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông

1.3 Tự học

1.3.1 Khái niệm tự học

Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001: “Tự học là quá trình mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành” Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: „Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học.Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”

Trang 22

14

Tự học có thể phân thành hai loại tự học có hướng dẫn và tự học không có hướng dẫn Tự học không có hướng dẫn có hình thức thông qua phương tiện truyền thông nghe radio, truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triển lãm, xem phim, kịch, tự học qua tài liệu hướng dẫn như tài liệu giáo khoa, sách báo các loại Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,… Đối với HS, tự học còn được thực hiện dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp bằng cách tự làm các bài tập trên lớp, về nhà, giao tiếp với những người có học, với các chuyên gia, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Hình thức tự học có hướng dẫn vừa phải đảm bảo thực hiện đúng quan điểm dạy học hiện đại vừa phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh

Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, …) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi

đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi, vv…) đế chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sỡ hữu của mình”

Từ các quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học

như sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm

lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình

nhằm đạt được mục đích nhất định [16]

1.3.2 Vai trò của hoạt động tự học

Bản chất của tự học là sự tự lực của người học trong việc tìm kiếm tri thức cho bản thân, tức là tự tổ chức, tự điều khiển, tự điều chỉnh, tự kiểm tra, tự đánh giá quá trình học tập

Muốn rèn được năng lực tự học thì trước hết và quan trọng nhất là phải rèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập Trong DHHH phải rèn cho HS có thói

Trang 23

1.3.3 Kỹ năng tự học

1.3.3.1 Khái niệm kỹ năng tự học

Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một công việc nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động với những điều kiện cho phép Kỹ năng biểu hiện trình độ các thao tác tư duy, năng lực hành động và mặt kỹ thuật của hành động

Đối với người học, hoạt động tự học bao gồm nhiều hành động kế tiếp nhau như quan sát, ghi chép, đọc, hệ thống hoá, giải bài tập… Để có thể tự học, người học phải nắm được những tri thức về hành động, phải vận dụng những tri thức đó để tiến hành các hành động nhằm thu được những kết quả hành động phù hợp với mục đích Nói một cách khác, người học phải có những kỹ năng tự học phù hợp với môn học Kỹ năng tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hay một nhóm hành động

tự học bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép

1.3.3.1 Các kỹ năng tự học

- Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học: Kế hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính khả thi Xây dựng được bản kế hoạch tự học hợp lí là kỹ năng quan trọng đầu tiên đối với mỗi sinh viên Bao gồm việc lên danh mục các nội dung cần tự học, khối lượng và yêu cầu cần đạt được, các hoạt động cần phải tiến hành, sản phẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạt động Đồng thời kế hoạch cũng cần có các phương án phụ, dự kiến khắc phục các trở ngại đột xuất về thời gian, yêu cầu chung,

- Kỹ năng lựa chọn tài liệu: Các tài liệu này có thể ở dạng viết, nghe - nhìn, hoặc trực tiếp khai thác từ internet Lựa chọn cho đúng, đủ các tài liệu cần thiết

Trang 24

16

phục vụ cho tự học là việc làm không kém phần phức tạp, đòi hỏi người học phải được rèn luyện một kỹ năng lựa chọn thích hợp, bắt đầu từ chọn đúng, chọn đủ, chọn hợp lí, chọn cái thực sự cần thiết, chọn tài liệu liên quan trực tiếp, gián tiếp, bổ sung, phục vụ, Để tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn luyện cho mình kỹ năng lựa chọn các tài liệu thích hợp Kỹ năng lựa chọn tài liệu còn được thể hiện trong việc trực tiếp đọc tài liệu, tham gia các bưởi học nhóm, simenar, thực tế, quan sát kết quả thí nghiệm…

- Kỹ năng lựa chọn hình thức tự học: Lựa chọn hình thức tự học cũng là kỹ năng cần thiết ở người học Tự học về cơ bản là tự bản thân mình tiến hành hoạt động độc lập để chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng Tuy nhiên, việc tự học không phải bao giờ cũng được thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi Những khó khăn như một vấn

đề học tập nan giải, một nội dung học tập thiếu tài liệu, một hướng suy nghĩ bị bế tắc Do vậy, việc lựa chọn, hoặc phối hợp các hình thức tự học cá nhân, đôi bạn học tập, nhóm, học với tài liệu, học với chương trình ở tivi, máy tính, một cách phù hợp đóng vai trò hết sức quan trọng

- Kỹ năng xử lí thông tin: kỹ năng xử lí thông tin có thể được chia thành 2 kỹ năng nhỏ kế tiếp nhau: hệ thống hóa và phân tích, tổng hợp, khái quát hóa Để tri thức tự học có được một cách bền vững và có thể vận dụng được trong thực tiễn, người học cần phải xếp chúng vào hệ thống nhất định Công việc này bao gồm nhiều thao tác, như: tóm tắt, phân loại, xác lập các mối liên hệ, biểu diễn bằng sơ đồ logic, bằng bảng hệ thống kiến thức, Do vậy, kỹ năng hệ thống hóa tri thức có vị trí quan trọng trong lưu giữ thông tin Quá trình tự học không phải chỉ thu nhận tri thức, mà cần biến nó thành tri thức của bản thân Quá trình này được thực hiện bởi các thao tác tri thức như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa Như vậy, kỹ năng xử lý thông tin trong tự học liên quan mật thiết với các thao tác tư duy Do đó việc bồi dưỡng kỹ năng xử lý thông tin không tách rời với việc bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các thao tác tư duy, đó là cơ sở của bồi dưỡng các năng lực

tự học

- Kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn: tri thức có được, nếu không sử dụng thì cũng bị quên dần Do vậy, việc vận dụng tri thức vào thực tiễn vừa là mục đích

Trang 25

17

của việc học, vừa là quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có để giải quyết các vấn đề học tập và Các nhiệm vụ này có thể xếp vào các hoạt động như: làm bài tập vận dụng, bài thực hành, thí nghiệm, thực nghiệm, viết báo cáo trình bày, Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn là một yêu cầu quan trọng của phương pháp giáo dục phổ thông được qui định trong Luật Giáo dục Do

đó các kỹ năng tự học của HS càng thể hiện sự liên hệ mật thiết và ảnh hưởng của phương pháp tự học với phương pháp dạy học của giảng viên trong bài giảng trên lớp của mình

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá: Tự kiểm tra, đánh giá là một kỹ năng quan trọng trong tự học Nhờ đó mà người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt được mức độ nào và điều chỉnh phương pháp tự học thích hợp, hiệu quả hơn Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình tự học, dưới nhiều hình thức như: tự trắc nghiệm bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan; trắc nghiệm tự luận, hoặc tự kiểm tra qua việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn

đề học tập đặt ra Vì vậy, trong quá trình dạy học GV ngoài việc kiểm tra sinh viên, đồng thời quan tâm chú ý tổ chức cho sinh viên việc tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của mình [5]

1.3.4 Cơ sở lí luận năng lực và năng lực tự học

1.3.4.1 Khái niệm năng lực và các loại năng lực:

Theo từ điển hán Việt của GS Nguyễn Lân ”Năng lực là khả năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn”

“Năng lực là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Québec – Ministere de l‟Educaction, 2004)

Thuật ngữ “năng lực” được sử dụng ở đây tương ứng với thuật ngữ

“competency” trong tiếng Anh (competency được hiểu là năng lực hành động hay còn gọi là năng lực thực hiện), theo đó năng lực là khả năng huy động tổng hợp các

Trang 26

18

kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,

để thực hiện thành công một loại công việc nào trong một số bối cảnh nhất định Trong “ Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể ” của Bộ giáo dục và đào tạo 7/2017 đã đề xuất các phẩm chất và năng lực mà HS phổ thông cần được hình thành và phát triển đó là:

- Về phẩm chất gồm 3 cặp phẩm chất là: Yêu đất nước - Yêu con người; Trung thực – Tôn trọng pháp luật; Tự tin - Trách nhiệm

- Trong nghiên cứu và vận dụng vào Giáo dục, có thể lưu ý các loại năng lực sau: + Năng lực chung : Về năng lực chung gồm các năng lực: NLTH, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lự tự quản lý, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán (xem phụ lục)

+ Năng lực chuyên biệt (Năng lực chuyên biệt bộ môn hóa học) (xem phụ lục)

Như vậy năng lực tự chủ và tự học là một trong nhóm năng lực chung cần

được hình thành và phát triển cho HS trong quá trình dạy học nói chung và trong quá trình dạy học Hóa học nói riêng [8],[10]

1.3.4.1 Năng lực tự học

Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, chủ động, tự đặt được mục tiêu học tập để đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu, tự xác định đúng đắn động cơ học tập cho mình Bản thân có khả năng tự lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc,nề nếp, có thái độ tích cực trong các hoạt động để có thể tự làm việc, thực hiện các cách học một cách khoa học và thực

tế, phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc phù hợp, lưu giữ thông tin có chon lọc, ghi chú bài giảng của GV theo các ý chính Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân để điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình, có thể độc lập làm việc và làm việc hợp tác, tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác

NLTH bao gồm 7 tiêu chí được thể hiện như sơ đồ dưới đây Mỗi tiêu chí lại được miêu tả bằng các chỉ số hành vi (mức độ đạt được của mỗi tiêu chí) được thể

hiện ở bảng 1.2 dưới đây:

Trang 27

đủ

Xác định được mục tiêu học tập

đã đầy đủ nhưng chưa xác định được trọng tâm

Xác định được mục tiêu học tập đầy đủ và đúng trọng tâm Xác định

nhiệm vụ học

tập

Xác định được nhiệm vụ học tập nhưng chưa đầy

đủ

Xác định được nhiệm vụ học tập

đã đầy đủ nhưng chưa xác định được đâu là

Xác định được các nhiệm vụ học tập đầy đủ

và đưa ra được nhiệm vụ chính

Thành tố 3

Năng lực tự đánh giá, rút kinh nghiệm

và điều chỉnh quá trình học tập

và tính toán những bước đi thích hợp, điều chỉnh được kế hoạch học tập

Tiêu chí 5

Hình thành cách học tập, tự học phù hợp riêng và đạt được kết quả học tập cao của bản thân

Tiêu chí 6

So sánh đối chiếu được kết quả học tập từ

đó tự đánh giá, nhận thức bản thân

Tiêu chí 7

Rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh, bổ sung

và tìm kiếm thông tin

Trang 28

20

nhiệm vụ chính Xác định các

yêu cầu cần

đạt được

Xác định được các yêu cầu cần đạt trong mục tiêu và nhiệm vụ học tập nhưng ở mức độ sơ sài

Xác định được các yêu cầu cần đạt trong mục tiêu và nhiệm vụ học tập đã đầy đủ hơn

Xác định được các yêu cầu cần đạt trong mục tiêu và nhiệm vụ học tập đầy đủ nhất

Lập và thực hiện được kế hoạch tự học nhưng có phần chưa thích hợp, chưa tự điều chỉnh được kế hoạch một cách linh hoạt

Lập, thực hiện

và duy trì được tương đối tốt kế hoạch tự học, điều chỉnh linh hoạt được kế hoạch phù hợp với điều kiện Hình thành

Hình thành được cách học tập, tự học nhưng vẫn mang tính cá nhân, chưa được phù hợp ở một số điểm nhưng đã đạt được kết quả nhất định trong học tập

Hình thành được cách học tập, tư học phù hợp và khoa học, qua đó

đã đạt được những kết quả

mà bản thân mong muốn

Nhận được những ưu, nhược điểm của bản thân tuy nhiên không xác định được nguyên nhân và chưa có

kế hoạch thay đổi

Nhận được những ưu, nhược điểm của bản thân rõ rang, xác định được

nguyên nhân và

có kế hoạch thay đổi

Rút được kinh nghiệm trong quá trình học tập,tìm được các nguyên nhân dẫn đến thất bại thành công nhưng đó chưa phải nguyên nhân chính

Rút được kinh nghiệm thành công, thất bại trong quá trình học tập, tìm được nguyên nhân chính dẫn đến thất bại thành công và khắc phục, phát huy phù hợp

Trang 29

21

1.3.5 Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong môn hóa học

NLTH là năng lực vô cùng quan trọng vì tự học là chìa khoá bước vào cánh cửa thành công tri thức Vì vậy, điều quan trọng nhất đối với HS là học cách học

Để phát triển NLTH cho HS, tự nghiên cứu, cần phải xác định được các năng lực và trong quá trình dạy học, GV cần hướng dẫn và tạo các cơ hội, điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động nhằm phát triển các năng lực đó Dựa vào khái niệm về NLTH, chương trình SGK và mục tiêu dạy học hóa học thì NLTH của HS thông qua môn

Hóa học gồm có 5 năng lực thành phần chính sau:

- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề

- Năng lực giải quyết vấn đề

- Năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp…) từ quá trình giải quyết vấn đề

- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (vào nhận thức kiến thức mới)

- Năng lực đánh giá và tự đánh giá

Năm năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau, tạo nên NLTH ở HS Cũng chính việc học như vậy, đòi hỏi việc dạy học không phải là truyền thụ kiến thức làm sẵn cho HS mà người GV phải đặt mình vào vị trí người học, hướng dẫn

Dạy học và phát triển nhận thức cho HS là hai quá trình liên quan mật thiết với nhau Thực hiện mục tiêu phát triển đòi hỏi phải xác định được các nhiệm vụ tương ứng của nó Nhiệm vụ phát triển năng lực của HS được giải quyết cùng với nhiệm vụ trí dục và đức dục Trong dạy học hóa học nhiệm vụ phát triển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề cho HS được thực hiện thông qua các nhiệm vụ cụ thể sau:

Trang 30

22

- Phát triển trí nhớ và tư duy: Như ta đã biết, dạy học kèm theo mình là sự phát triển, nó tiến hành hiệu quả hơn khi có sự định hướng của HS Đặc biệt quan trọng là sự phát triển trí nhớ và tư duy của HS vì thiếu nó thì không thể nắm được các cơ sở hiện đại của hóa học Một số cách học để phát triển trí nhớ

và tư duy như: lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nề nếp; thực hiện các cách học: Hình thành các cách ghi nhớ của bản thân; phân tích nhiệm vụ học tập để lựa chọn được các nguồn tài liệu đọc phù hợp: các đề mục, các đoạn bài ở SGK, sách tham khảo, internet; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa; ghi chú bài giảng của GV theo các ý chính; tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập

- Nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của GV, bạn bè; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập

1.3.5.2 Phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn trong môn hóa học

Trong dạy và học hóa học, việc đưa các câu hỏi thực tiễn vào trong bài học giúp hóa học gần gũi hơn với học sinh, tạo hứng thú đồng thời giúp các em hiểu biết hơn về cuộc sống

- Đối với HS:

+ Sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn giúp HS hiểu và nắm chắc nội dung cơ bản của bài học HS có thể mở rộng và nâng cao những kiến thức xã hội của mình, tạo nên sự say mê, thích thú với bộ môn

+ Sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề giúp HS biết vận dụng những tri thức xã hội vào trong thực tiễn cuộc sống

+ Sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn giúp HS hình thành kỹ năng giao tiếp, tổ chức, khả năng tư duy, tinh thần hợp tác, hoà nhập cộng đồng, sử dụng ngôn ngữ diễn đạt một cách tự tin

- Đối với GV: Sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề giúp GV

có thể đánh giá một cách khá chính xác khả năng tiếp thu của HS và trình độ tư duy của họ, tạo điều kiện cho việc phân loại HS một cách chính xác

Trang 31

23

+ Sự hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề giúp cho GV có điều kiện trực tiếp uốn nắn những kiến thức sai lệch, không chuẩn xác, định hướng kiến thức cần thiết cho HS

+ Giúp GV dễ dàng biết được năng lực nhận xét, đánh giá, khả năng vận dụng

lý luận vào thực tiễn xã hội của HS Từ đây định hướng phương pháp giáo dục tư tưởng học tập cho HS

1.3.5.3 Phát triển năng lực thực nghiệm hóa học

Kỹ năng là kết quả của sự nắm vững kiến thức Thực nghiệm hóa học là biện pháp quan trọng để tiếp thu hóa học một cách hiệu quả cùng với các kỹ năng trí tuệ như: Các thao tác so sánh, phân tích tổng hợp, suy diễn, qui nạp loại suy…các kỹ năng này được hình thành trong quá trình dạy học hóa học, được phát triển và khái quát ở dạng chung nhất và dễ dàng được chuyển thành năng lực học tập Sự rèn luyện toàn diện, từng giai đọan các kỹ năng khái quát trí tuệ và thực nghiệm hóa học là nhiệm vụ quan trọng của việc phát triển HS Đây là phương pháp học tập đặc thù của hóa học có tác dụng giáo dục, rèn luyện HS một cách toàn diện và có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ trí dục, đức dục, phát triển HS vì các lý

- Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo hoá học cho HS nhất là các kĩ năng, thao tác

sử dụng hoá chất, dụng cụ thí nghiệm, kỹ năng quan sát mô tả hiện tượng thí nghiệm và kỹ năng vận dụng kiến thức hoá học

- Giúp HS hình thành phương pháp nghiên cứu hoá học như phát hiện, đề xuất vấn đề nghiên cứu, dự đoán lý thuyết, lựa chọn dụng cụ hoá chất và xây dựng phương án tiến hành thí nghiệm, quan sát màu sắc các chất tham gia phản ứng, tiến hành các thao tác thí nghiệm và quan sát mô tả hiện tượng thí nghiệm, đối chiếu với

dự đoán và giải thích hiện tượng, nhận xét và rút ra kết luận

Trang 32

24

1.4 Bài tập hóa học

1.4.1 Khái niệm bài tập hóa học

Bài tập hóa học là phương tiện cơ bản để dạy học sinh tập vận dụng các kiến thức hóa học vào thực tế đời sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học Kiến thức học sinh tiếp thu được chỉ có ích khi được sử dụng nó Phương pháp luyện tập thông qua sử dụng bài tập là một trong các phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Đối với học sinh, giải bài tập là phương pháp học tập tích cực

Vậy BTHH là gì? Nên hiểu khái niệm này như thế nào cho trọn vẹn, đặc biệt

là GV nên sử dụng BTHH như thế nào để đạt hiểu quả trí - đức dục cao nhất?

Theo từ điển tiếng Việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Một số tài liệu Lí luận dạy học “ thường dùng bài toán Hóa học” để chỉ những bài tập định lượng - đó là những bài tập có tính toán – khi HS cần thực hiện những phép tính nhất định

Theo các nhà Lí luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm

Ở nước ta, sách giáo khoa hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này

Về mặt Lí luận dạy học, để phát huy tối đa tác dụng của BTHH trong quá trình dạy học người GV phải sử dụng và hiểu nó theo quan điểm hệ thống và lí thuyết hoạt động Một HS lớp 1 không thể xem bài tập lớp 9 là một “bài tập” và ngược lại, đối với HS lớp 9, bài toán lớp 1 không còn là “bài tập” nữa! Bài tập chỉ có thể là

“bài tập” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó

có nhu cầu chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải” Vì vậy, bài tập và người học có mối quan hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, và liên hệ chặt chẽ với nhau

Trang 33

Những yêu cầu

Người giải

Phương pháp giải

Phương tiện giải

Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của hệ bài tập

Thông thường trong sách giáo khoa và tài liệu Lí luận dạy học bộ môn, người

ta hiểu bài tập là những bài luyện tập được lựa chọn một cách phù hợp với mục đích chủ yếu là nghiên cứu các hiện tượng hóa học, hình thành khái niệm, phát triển tư duy hóa học và rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức của HS vào thực tiễn

1.4.2 Vai trò bài tập hóa học trong việc phát triển năng lực cho HS

- BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành thành kiến thức của chính mình Kiến thức nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: “Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lí thuyết và thực hành”

- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ có vận dụng kiến thức vào giải bài tập HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc

- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất

- Rèn luyện kĩ năng hóa học cho HS như kĩ năng viết và cân bằng phương trình phản ứng, kĩ năng tính toán theo công thức và phương trình hóa học, kĩ năng thực hành như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hóa chất, …

Trang 34

26

- Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn) Một số bài tập có tình huống đặt biệt, ngoài cách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thông thường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, có thể tìm cách giải ngắn nhất, hay nhất – đó

là cách rèn luyện trí thông minh cho HS Khi giải bài toán bằng nhiều cách dưới góc

độ khác nhau thì khả năng tư duy của HS tăng lên gấp nhiều lần so với một HS giải nhiều bài toán bằng một cách và không phân tích đến nơi đến chốn

- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện nghiên cứu tài liệu mới (hình thành khái niệm, định luật…) khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tự lực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững Điều này thể hiện rõ khi HS làm bài tập thực nghiệm định lượng

- BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập hợp lí

- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS một cách chính xác

- BTHH có tác dụng giáo dục đạo đức, tác phong, rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch…), nâng cao hứng thú học tập bộ môn Điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thực nghiệm

Bản thân một BTHH chưa có tác dụng gì cả: không phải một BTHH “hay” thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là “người sử dụng nó” Làm thế nào phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh của bài toán, để HS tự mình tìm ra cách giải, lúc đó BTHH mới thật sự có ý nghĩa [16]

1.5 Thực trạng phát triển năng lực tự học cho HS thông qua sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học hóa học ở một số trường THCS

Trang 35

27

1.5.2 Nội dung đi u tra

- Tìm hiểu về phương pháp học tập, về thời gian và cách tự học của HS, các nguồn

tư liệu để HS tự học Tìm hiểu những khó khăn của HS trong quá trình tự học

- Tìm hiểu về thực trạng sử dụng BTHH trong dạy học của GV nhằm phát triển NLTH cho HS

Điều tra thực trạng việc tự học của học sinh ở một số trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh An Giang

Đối tượng điều tra: HS một số trường THCS thuộc tỉnh An Giang

A Tự mình học với tài liệu

B Tự tìm kiếm, tự nghiên cứu

Trang 36

A Bài giảng chưa đáp ứng

B Để tích lũy thêm kiến thức

C Đọc tài liệu, chuẩn bị bài

8 Bạn đã sử dụng

thời gian tự học

trong ngày

A Cho môn học mà mình yêu thích

B Chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn

C Làm bài do giáo viên yêu cầu

D Đọc lại bài trên lớp, truy cập Internet

9 Việc học tập

của HS ở trên lớp

hiện nay là

A Nghe giảng bài, tự ghi chép

B Thầy giảng bài, tóm tắt ý cho HS chép

C Thầy tổ chức, hướng dẫn học; trò tham gia, tranh luận bài

D Theo dỏi giáo trình, đánh dấu đoạn hoặc tốc kí

Trang 37

29

11 Việc tự học

hiện nay của bạn

thân quan tâm nhất

C Học theo hướng dẫn trên lớp của giáo viên

D Học theo tài liệu hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập

124

20

41,33% 6,67%

13 Nguồn tư liệu

sử dụng cho tự

học hiện tại của

bạn là

A Tập ghi chép bài giảng, bài photo

B Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo khác

C Tài liệu hướng dẫn tự học, giáo trình điện tử

D Truy cập Internet, đi thư viện

14 Khó khăn

trong học tập của

bạn là

A Thiếu tài liệu để tham khảo

B Kiến thức rộng, khó bao quát

10,67% 59,00% 16.Đánh giá về

khả năng tự học

của bạn

A Tốt, có kỹ năng, hiệu quả

B Tích cực, nhưng chưa hiệu quả

Trang 38

20 Ý kiến của

bạn về tổ chức

dạy học của GV ?

A Cần tổ chức các hoạt động

B Giao cho HS chuẩn bị, trình bày

C Cần thuyết trình, giảng giải

Qua quá trình phỏng vấn và phát phiếu điều tra,chúng tôi nhận thấy tình hình dạy và học môn hóa học ở trường THCS vẫn còn một số tồn tại như sau:

PPDH của GV và phương pháp học tập của HS chưa phù hợp với phương pháp nhận thức khoa học bộ môn Nhiều GV chưa quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục, chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ và trách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bài giảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Hiện nay, khi giảng dạy, các GV vẫn chủ yếu sử dụng các bài tập trong SGK, sách bài tập hoặc từ internet mà không tự biên soạn hệ thống bài tập Còn các

GV nếu tự biên soạn hệ thống bài tập thì số giáo viên sắp xếp các bài tập theo từng nội dung kiến thức của chương hoặc phân dạng bài tập là khá ít đặc biệt các chuyên

đề bài tập hỗ trợ HS tự học ở nhà là hầu như không được chú trọng

Đa số HS đều có ý thức tự học, có sự chuẩn bị bài ở nhà, phần lớn các em đều khẳng định sự cần thiết của tự học Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận HS chưa có

ý thức học tập, học qua loa đại khái, chưa có kỹ năng cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ học tập, chưa biết phân bố thời gian cho các môn học một cách hợp lí, chưa biết cách sắp xếp kế hoạch học tập, chưa phát huy hết tính tích cực, tự lực trong quá trình học tập, chưa phát huy được khả năng độc lập sáng tạo và năng lực

có sẵn của bản thân đê tìm tòi khám phá tri thức khoa học

Tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi nhận thấy: GV chưa hướng dẫn HS cách thức xây dựng tiến trình luận giải, các em chưa được khuyến khích hoặc hướng dẫn nhìn nhận một bài tập dưới nhiều góc độ khác nhau, đôi khi GV áp đặt phương pháp giải toán và đặc biệt là các em không được hướng dẫn cách tự học ở nhà thông qua

Trang 39

31

các chuyên đề tự học Phần lớn giáo viên cho rằng do áp lực điểm số ở nhà trường, việc thi cử, chương trình học nặng nề, thời gian không cho phép, điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn,…nên việc sử dụng bài tập của GV hiện nay giống như một cách để kiểm tra việc tiếp thu kiến thức lý thuyết, giúp học sinh giải một số bài tập

cơ bản nhằm đáp ứng cho việc kiểm tra, đánh giá, thi cử như hiện nay Ngoài ra, có một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học như: đời sống GV còn nhiều khó khăn, việc tổ chức hoạt động cho HS trong giờ học đòi hỏi GV phải tốn nhiều thời gian, công sức, trong khi việc dạy theo lối truyền thống: GV thông báo, minh họa, giảng giải thì nhàn hơn mà vẫn đáp ứng được yêu cầu của các kì thi hiện nay, chương trình học chưa hợp lí, còn nặng về lý thuyết, số lượng HS vào phòng thí nghiệm một trong buổi thực hành quá đông nên kết quả bị hạn chế Điều kiện trang thiết bị phục vụ cho dạy và học còn thiếu thốn, nhiều trường chưa có phòng bộ môn, các dụng cụ thí nghiệm, hóa chất không đảm bảo chất lượng cho quá trình dạy học hiện nay

Thực tế những năm gần đây cho thấy, bộ môn hóa học ở trường THCS đã được chú trọng nhiều hơn về PPDH và cả về cách kiểm tra – đánh giá Đa số GV ở các trường THCS đều đã sử dụng nhiều phương tiện dạy học, biết cách lồng ghép ứng dụng công nghệ thông tin với thí nghiệm biểu diễn, sử dụng mô hình trực quan,…kết hợp các hình thức dạy học vấn đáp, nêu vấn đề, đàm thoại HS được tham gia các hoạt động nhóm, qua đó phát huy năng lực hoạt động cá nhân và hoạt động tập thể Nhiều GV nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động cho HS, qua đó rèn luyện cho HS hoạt động một cách tự giác, tích cực và tự lực Trong xã hội ngày nay, công nghệ thông tin đã trở thành một công cụ hỗ trợ không thể thiếu trong nhà trường, đem đến những phương tiện mới, cách thức mới

để truyền đạt kiến thức đến người học Công nghệ thông tin hỗ trợ một cách tích cực vào quá trình giáo dục Internet giúp kết nối những thông tin quan trọng trên toàn thế giới Thời điểm công nghệ thông tin có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống xã hội của thế hệ trẻ ngày nay, Internet có mặt khắp mọi nơi, Smart phone, các mạng

xã hội,… đang ngày càng có ảnh hưởng lớn tới sự truyền đạt thông tin Thế hệ trẻ ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẽ thông tin trong xã hội với tốc độ

Trang 40

32

chóng mặt Thế hệ trẻ có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau Việc sử dụng công nghệ thông tin mới khiến thế hệ trẻ trở thành những người có khả năng giải quyết vấn đề và có khả năng xử lý nhiều thông tin cùng một lúc Vấn

đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để HS có thể làm chủ kiến thức để có thể giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Lựa chọn nội dung kiến thức, thông tin như thế nào để tổ chức tốt những nội dung đó sau cho người học tích cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức? Đây thực sự là những thách thức đối với GV, cần phải thực hiện công việc DH của mình theo cách hoàn toàn mới GV không chỉ là người đưa đến cho HS cách xây dựng, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo việc tự học suốt đời

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w