1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua dạy học nhóm phần “quang hình học” vật lí 11 trung học phổ thông

124 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS LÊ VĂN GIÁO

Huế, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tinh trích dẫn trong luận văn đã được ghi nguồn gốc

Huế, ngày tháng năm 2018

Tác giả luận văn

Tống Thị Thu Ánh

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Văn Giáo – người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý thầy cô giáo tổ Vật lí trường THPT Bình Điền và trường THPT Đặng Huy Trứ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình thực nghiệm sư phạm

Xin được cảm ơn toàn thể đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã quan tâm, động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 09 năm 2018

Tác giả

Tống Thị Thu Ánh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục tiêu của đề tài 4

4 Giả thuyết khoa học 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Đối tượng nghiên cứu 5

7 Phạm vi nghiên cứu 5

8 Phương pháp nghiêncứu 5

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 5

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5

8.3 Phương pháp thực nghiệm 5

8.4 Phương pháp thống kê toán học 6

9 Đóng góp mới của đềtài 6

10 Cấu trúc dự kiến của luận văn 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 7

1.1 Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh 7

1.1.1 Khái niệm năng lực 7

1.1.2 Năng lực học sinh 8

1.1.2.1 Khái niệm 8

Trang 5

1.1.3 Năng lực tự học 13

1.1.3.1 Khái niệm năng lực tự học 13

1.1.3.2 Các năng lực thành tố của năng lực tự học 14

1.2 Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lý 18

1.2.1 Mối quan hệ giữa dạy học với việc phát triển năng lực tự học cho học sinh 18 1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí 20

1.2.2.1 Ý thức và động cơ học tập của bản thân 20

1.2.2.2 Vốn tri thức hiện có của bản thân 20

1.2.2.3 Nội dung, chương trình giáo dục 20

1.2.2.4 Năng lực trí tuệ bản thân 21

1.2.2.5 Phương pháp dạy học của giáo viên 21

1.2.2.6 Phương pháp học tập của học sinh 22

1.2.2.7 Ảnh hưởng của quá trình kiểm tra, đánh giá và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình, xã hội 22

1.2.3 Hệ thống kỹ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí 23

1.3 Biện pháp phát triển năng lực tự học 23

1.3.1 Định hướng chung cho việc xây dựng các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lí 23

1.3.2 Các biện pháp cụ thể để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lí 24

1.3.2.1 Nhóm biện pháp 1: Bồi dưỡng các thành tố của năng lực tự học cho HS 25

1.3.2.2 Nhóm biện pháp 2: Tạo động cơ, hứng thú của HS khi tham gia hoạt động học tập 27

1.3.3 Điều kiện để thực hiện các biện pháp triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lí 28

1.4 Dạy học nhóm trong bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh 28

1.4.1 Dạy học nhóm 28

1.4.2 Vai trò của dạy học nhóm trong bồi dưỡng phát triển năng lực tự học 29

Trang 6

1.5 Quy trình tổ chức dạy học nhóm theo định hướng phát triển năng lực tự học

cho học sinh trong dạy học vật lý ở trường phổ thông 31

1.6 Thực trạng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong trường phổ thông hiện nay 34

1.6.1 Thực trạng 34

1.6.2 Nguyên nhân thực trạng 35

1.6.2.1 Về phía GV 35

1.6.2.2 Về phía HS 36

1.7 Đánh giá năng lực tự học trong dạy học Vật lí 36

1.7.1 Đánh giá trong quá trình học tập (đánh giá thường xuyên) 36

1.7.2 Đánh giá bằng kết quả bài kiểm tra định kỳ 44

1.8 Kết luận chương 1 45

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ 11 THPT THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH 46

2.1 Đặc điểm cấu trúc nội dung phần “Quang hình học” Vật lý 11 THPT 46

2.1.1 Cấu trúc phần “Quang hình học” Vật lý 11 46

2.1.2 Đặc điểm của phần “Quang hình học” trong chương trình Vật lí 11 THPT 46

2.1.3 Mục tiêu dạy học 47

2.2 Thiết kế tiến trình dạy học nhóm theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học một số kiến thức phần “Quang hình học” Vật lý 11 THPT 49

2.2.1 Nguyên tắc thiết kế HĐDH nhóm theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học phần “Quang hình học” Vật lý 11THPT 49

2.2.2 Các bước thiết kế tiến trình dạy học nhóm theo định hướng phát triển năng lực tự học cho HS 50

2.3 Thiết kế tiến trình dạy học ở một số kiến thức phần “Quang hình học” theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 53

2.3.1 Bài “Khúc xạ ánh sáng” 53

2.3.2 Bài “Phản xạ toàn phần” 65

2.3.3 Bài "Mắt và các tật của mắt" 74

Trang 7

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 86

3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 86

3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 86

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 86

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 86

3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 87

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 87

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 87

3.3.2 Lựa chọn GV thực nghiệm 88

3.3.3 Quan sát giờ học 88

3.3.4 Các bài kiểm tra 88

3.3.5.Tiến hành thực nghiệm 89

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 89

3.4.1 Phân tích định tính kết quả TNSP 89

3.4.2 Đánh giá định lượng 91

3.5 Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN 98

1 Những kết quả đã đạt được 98

2 Hướng phát triển của đề tài 98

3 Kiến nghị 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

STT Viết tắt Viết đầy đủ

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bộ tiêu chí đánh giá năng lực tự học của HS 39

Bảng 3.1 Bảng số liệu HS được chọn làm mẫu thực nghiệm 88

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp mức độ năng lực tự học của HS 90

Bảng 3.3 Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 91

Bảng 3.4 Bảng phân phối tần suất 92

Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất lũy tích của hai nhóm ĐC và TNg 93

Bảng 3.6 Các tham số thống kê 94

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm ĐC và TNg 91

Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân bố tần suất của hai nhóm ĐC và TNg 92

Biểu đồ 3.3 Đồ thị phân bố tần suất của hai nhóm ĐC và TNg 93

Biểu đồ 3.4 Đồ thị phân bố tần suất tích lũy của hai nhóm ĐC và TNg 93

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đang phát triển với những bước tiến nhảy vọt đưa thế giới chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống tinh thần lẫn vật chất của xã hội loài người Tri thức nhân loại ngày càng phong phú và đa dạng, các phát minh khoa học ngày càng tiến xa đòi hỏi con người phải năng động, sáng tạo để vận dụng các tri thức khoa học vào đời sống thực tiễn

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có chất lượng cao Những công dân ngày mai của đất nước hiện đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông phải có sức khỏe, trí tuệ, đạo đức và nhân cách tốt Vì thế, đổi mới giáo dục trong nhà trường ở nước ta hiện nay là một nhiệm vụ cấp thiết

Theo tư tưởng đổi mới giáo dục: lấy người học làm trung tâm, các hình thức tổ chức dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác Tổ chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng phát huy tính tự lực, tích cực hoạt động nhận thức trong quá trình hình thành kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy khoa học và năng lực sáng tạo

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất.Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng

hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học.”[1]

Trang 12

Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm theo

Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ: "Tiếp tục đổi

mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học" Vì

vậy, cần phải đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học

Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm Việc sử dụng các thí nghiệm (TN) vật lý trong quá trình dạy học là cần thiết và trở thành nhiệm vụ cấp bách của giáo viên (GV) vật lý TN có vai trò to lớn trong việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS trong giờ học vật lý ở trường trung học phổ thông (THPT) Việc sử dụng

TN trong dạy học góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện những phẩm chất và năng lực của HS, đưa đến sự phát triển toàn diện cho người học Thực tế việc dạy học cho thấy rằng việc vận dụng việc vận dụng kiến thức của học sinh vào thực tế còn nhiều hạn chế Vậy, cần tìm ra những phương pháp dạy học (PPDH) để có thể thực hiện được mục tiêu đào tạo mới trong tổ chức dạy học Trong số các PPDH đang sử dụng, PPDH nhóm có nhiều ưu thế trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục hiện nay như: Có khả năng phát huy tính tích cực tốt, sự tự tin, tinh thần hợp tác, những kĩ năng sống và làm việc tập thể Đặc biệt, trong phần “ Quang hình học” THPT có nhiều hiện tượng vật lí liên quan đến đời sống hằng ngày đòi hỏi HS phải biết cách nhìn nhận và giải quyết các VĐ mà thực tế đặt ra

Để đáp ứng những yêu cầu trên, đòi hỏi nhà trường phổ thông không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng đã được tích lũy mà cần phải bồi dưỡng cho HS năng lực tự học Trong đó, xu thế đưa HS vào thế giới thực, đặt HS trước những bài toán thực tế để HS tự tìm tòi, nghiên cứu, biến mình thành trung tâm của giáo dục là xu thế của thời đại đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Từ cơ sở lí luận và thực tiễn nói trên đã đặt ra yêu cầu và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu phát triển năng lực tự học cho HS trong DH nói chung và trong DH

Vật lí nói riêng Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh qua dạy học nhóm phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT”

làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trang 13

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Ở Việt Nam, quan điểm DH theo hướng phát triển năng lực đã được Bộ Giáo dục triển khai vào đầu năm học 2013-2014 ở gần 2.000 trường tiểu học và ở các cấp học phổ thông, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm từ năm học 2013 – 2014 đến nay.Bên cạnh đó, định hướng này cũng đã được đưa vào đề tài luận văn thạc sĩ, tiến sĩ Qua quá trình tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, chúng tôi nhận thấy:

Vấn đề tự học của HS trong dạy học vật lý ở trường THPT, đã có một số luận văn nghiên cứu như: Cao Văn Thạnh với đề tài “ Phát triển năng lực tự học của học sinh khi ôn tập chương “ Dòng điện xoay chiều” vật lí 12 nâng cao với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”, Trần Trọng Công với đề tài “ Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần “ Nhiệt học” vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy, Nguyễn Kim Cương với đề tài “ Hướng dẫn học sinh tự học khi dạy học chương “ Dòng điện xoay chiều” (SGK Vật lý 12 nâng cao)”, Nguyễn Thị Thiên Nga với đề tài “ Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lý ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của học sinh”, Nguyễn Phú Đồng với đề tài “ Nghiên cứu sử dụng bài tập Vật lý theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần dòng điện không đổi, Vật lý 11 THPT”, Võ Thị Cẩm Quyên với đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương

“Động học chất điểm”, Vật lý 10 qua khai thác và sử dụng bài tập vật lý”, Võ Lê Phương Dung với đề tài “Hình thành năng lực tự học Vật lý cho học sinh THPT thông qua việc sử dụng sách giáo khoa” Nhìn chung, các tác giả này đã hệ thống khá đầy đủ cơ sở lý luận về tự học và đã chỉ ra được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho HS qua hoạt động tự học

Về vấn đề sử dụng phương pháp dạy học nhóm được một số tác giả nghiên cứu như: Dương Thị Hằng với đề tài “ Phát triển năng lực thực hành cho học sinh thông qua việc tổ chức dạy học nhóm phần “ Quang hình học” Vật lí 11 THPT ”,

Hồ Thị Bạch Phương với đề tài “ Nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động hợp tác nhóm”, Lê Khắc Thuận với đề tài “Tổ chức hoạt động học tập theo nhóm trong quá trình dạy học phần “Điện và điện từ” Vật lí 11 nâng cao THPT”, Lê Thị Thùy Trang với đề tài luận văn thạc sĩ

Trang 14

Thiết kế bài dạy học phần “ Quang hình học Vật lí 11 nâng cao theo phương pháp dạy học hợp tác nhóm với sự hỗ trợ của máy vi tính” Nhìn chung các đề tài trên đã trình bày khá đầy đủ và cụ thể về vấn đề tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh theo phương pháp nhóm trong dạy học vật lý ở trường phổ thông.

Phần Quang hình học, với những hiện tượng và quá trình vật lí gần gũi với học sinh, có những khái niệm, hiện tượng bước đầu HS đã được làm quen ở THCS, do

đó trong giờ có thể tổ chức cho HS tự lực tìm tòi nghiên cứu, qua đó góp phần bồi

dưỡng năng lực tự học cho HS Như vậy, vấn đề “Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT thông qua hoạt động nhóm”, là một trong những hướng cần tiếp tục được nghiên cứu và vận dụng

vào hực tiễn dạy học vật lí ở trường phổ thông.

3 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu đề xuất quy trình tổ chức dạy học nhóm theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh và vận dụng vào dạy học một số kiến thức trong phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được quy trình tổ chức dạy học nhóm theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh và vận dụng vào dạy học thì sẽ góp phần phát triển năng lực tự học cho HS, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường phổ thông

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh;

- Nghiên cứu về vai trò của dạy học nhóm trong việc phát triển năng lực cho học sinh nói chung và năng lực tự học nói riêng

- Nghiên cứu đề xuất quy trình tổ chức dạy học nhóm học theo định hướng phát triển năng lực tự học cho HS trong dạy học vật lí;

- Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc nội dung phần “Quang hình học” Vật lí 11

Trang 15

- Thiết kế tiến trình dạy học một số kiến thức cụ thể trong phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho HS qua dạy học nhóm.

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá giả thuyết khoa học của

đề tài

6 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

7 Phạm vi nghiên cứu

Trong giới hạn của thời gian nghiên cứu và khả năng cho phép, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu đề xuất các biện pháp nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho HS với dạy học nhóm một số kiến thức trong phần “ Quang hình học” Vật lí 11 THPT và tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Bình Điền và một số trường trên địa bàn thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

8 Phương pháp nghiêncứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

+ Nghiên cứu văn kiện Đại Hội Đảng về đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp DH;

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức hoạt động DH theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học;

+ Nghiên cứu chương trình, nội dung SGK, sách GV và các tài liệu liên quan đến phần Quang hình học Vật lí 11 THPT để xác định kiến thức, kĩ năng, năng lực

mà HS cần đạt được

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Nghiên cứu khả năng tổ chức DH nhóm theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học trong DH phần “Quang hình học” Vật lí 11 THPT tại trường THPT Bình Điền;trường THPT Đặng Huy Trứ

+ Dự giờ, quan sát việc dạy của GV và việc học của HS trong quá trình TNSP

8.3 Phương pháp thực nghiệm

Thực hiện các bài dạy đã thiết kế trong các lớp thực nghiệm (TNg), so sánh với các lớp đối chứng (ĐC) để rút ra những cần thiết, chỉnh lý, thiết kế, đề xuất hướng áp dụng vào thực tiễn, mở rộng kết quả nghiên cứu

Trang 16

8.4 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả TNSP và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của hai nhóm lớp ĐC

10 Cấu trúc dự kiến của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

Trang 17

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC NHÓM THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO

HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 1.1 Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

1.1.1 Khái niệm năng lực

Theo quan điểm Triết học, năng lực được hiểu theo nghĩa rộng là “những đặc tính tâm lí của cá thể điều tiết hành vi của cá thể và là điều kiện sống của cá thể” Hiểu theo nghĩa đặc biệt, năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lí của con người khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định đã được hình thành trong lịch sử Trong lý luận dạy học hiện đại, năng lực được quan niệm

là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức

Trong từ điển Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thạo và chắc chắn một số dạng hoạt động nào đó ”[21]

F.E.Weinert (OECD, 2001) (dẫn theo [15]), phân tích một loạt các định nghĩa

về NL, kết luận rằng: xuyên qua các môn “NL được giải thích như là hệ thống đặc thù các khả năng, sự thành thạo, hoặc các kĩ năng mà cần thiết để đạt được một mục đích nào đó”

Theo tâm lý học, năng lực là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt Không chỉ đề cập đến hiệu quả công việc, năng lực còn có mối quan hệ với kỹ năng, kỹ xảo: “Năng lực gắn với kỹ năng, kỹ xảo trong lĩnh vực hoạt động tương ứng”[17] Nó chứa đựng yếu tố mới mẻ, linh hoạt trong hành động, có thể giải quyết thành công nhiều tình huống khác nhau, trong lĩnh vực hoạt động rộng hơn.Như vậy theo chúng tôi, NL là một tập hợp trật tự các kĩ năng (các hoạt động) tác động lên một nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn

đề do tình huống này đặt ra, là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối các quá trình tiếp thu các kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể

Trang 18

1.1.2 Năng lực học sinh

1.1.2.1 Khái niệm

F.E Weinert cho rằng “NL của HS là sự kết hợp hợp lý kiến thức, kỹ năng và

sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề” (dẫn theo [17])

Theo Lương Việt Thái và các cộng sự: “NL cần đạt của HS phổ thông là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị cơ bản được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động

Trong tài liệu tập huấn về việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng

phát triển năng lực do Bộ GD & ĐT phát hành năm 2014 thì: “Năng lực được quan

niệm là quá trình kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất người lao động, kiến thức, kĩ năng) được thế hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một công việc nào đó” [1]

Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái niệm

“năng lực học sinh” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống Năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống Khía cạnh hiện thực của năng lực

là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành và đánh giá học sinh

Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em trên nền kiến

Trang 19

Vậy, NL cần đạt của HS phổ thông là khả năng làm chủ và vận dụng một cách hợp lý, linh hoạt các kiến thức, kỹ năng, thái độ, động cơ,… (phù hợp với lứa tuổi) của cá nhân HS vào việc đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức hợp trong hoàn cảnh

cụ thể

1.1.2.2 Hệ thống năng lực học sinh

Việc phân loại năng lực là một vấn đề phức tạp, tùy theo từng lĩnh vực mà sự phân loại năng lực dựa trên các quan niệm và tiêu chí phân loại khác nhau Trong chương trình giáo dục thiết kế theo hướng tiếp cận năng lực thì có hai loại năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên biệt

- Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền

tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động… Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trãi nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau

Trong chương trình giáo dục định hướng năng lực, đã đề ra chuẩn đầu ra bao gồm 10 năng lực trong đó bao gồm 3 năng lực chung và 7 năng lực chuyên môn là:+ Năng lực tự chủ và tự học

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Năng lực chuyên biệt: những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ

sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu của những hoạt động nhất định như toán, âm nhạc, mĩ thuật, thể thao

Trang 20

Nhìn chung sự phân biệt giữa năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cần thiết, tuy nhiên giữa hai loại năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, góp phần bổ sung cho nhau và do vậy nhiều khi ranh giới giữa chúng thường bị nhòe

mờ, không thật rõ ràng, minh bạch Chẳng hạn tư duy sáng tạo là năng lực chung, nhưng môn học nào cũng có yêu cầu sáng tạo như là một năng lực chuyên biệt: sáng tạo toán học, sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo văn học, sáng tạo công nghệ, Giao tiếp

là năng lực chung, nhưng khi đi sâu vào giao tiếp ngôn ngữ nếu các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói (môn Tiếng Việt- văn học) được yêu cầu ở một mức độ nào đó thì nó lại trở thành năng lực chuyên biệt…

“Năng lực chuyên biệt là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý” [12]

“Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên

cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…” [19]

Tóm lại, năng lực chuyên biệt là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân một cách chủ động nhằm thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn có ý nghĩa trong môi trường hoặc tình huống cụ thể, đáp ứng được yêu cầu hạn hẹp của một hoạt động

Hệ thống các năng lực chuyên biệt môn Vật lí

Tùy theo đặc thù từng môn học có những quan điểm xây dựng năng lực chuyên biệt khác nhau Môn Vật lí giúp hình thành các năng lực sau

□ Năng lực giải quyết vấn đề (đặc biệt quan trọng là năng lực giải quyết vấn

đề bằng con đường thực nghiệm hay còn gọi là năng lực thực nghiệm): HS biết phát

hiện hoặc xác định rõ vấn đề cần giải quyết, chuyển vấn đề thực tiễn thành dạng có thể khám phá, giải quyết (bài toán khoa học); Thu thập thông tin, phân tích, đặt ra các tiên đoán hoặc giả thuyết và đưa ra các phương án giải quyết; Chọn phương án tối ưu và đưa ra ý kiến cá nhân về phương án lựa chọn; Hành động theo phương án

Trang 21

và điều chỉnh hành động của mình; Đánh giá cách làm của mình và đề xuất những cải tiến mong muốn.

□ Năng lực tư duy: Hình thành và kết nối các ý tưởng; nghiên cứu để thay đổi

giải pháp trước sự thay đổi của bối cảnh; đánh giá rủi ro và dự phòng, xem xét dưới nhiều góc độ khi tìm kiếm giải pháp và triển khai các ý tưởng; Lập luận về quá trìnhsuy nghĩ, xem xét các quan điểm trái chiều và phát hiện các điểm hạn chế trong quan niệm của mình; xác định, lập kế hoạch áp dụng vào hoàn cảnh mới

□ Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông: Sử dụng một số

phần mềm chuyên dụng để mô hình hóa quá trình diễn ra các hiện tượng vật lí; Sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối tượng vật lí

□ Năng lực sử dụng ngôn ngữ và kí hiệu vật lí: Sử dụng ngôn ngữ khoa học để

diễn tả quy luật vật lí; Sử dụng bảng biểu, đồ thị để diễn tả quy luật vật lí; Đọc hiểu được

đồ thị bảng biểu; Sử dụng được ngôn ngữ vật lí để mô tả hiện tượng; Lập được bảng và

mô tả bảng số liệu thực nghiệm; Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước; Vẽ được sơ đồ thí nghiệm; Mô tả được sơ đồ thí nghiệm; Đưa ra các lập luận lô-gic, biện chứng

□ Năng lực tính toán: Đưa ra các công thức toán học cho các quy luật vật lí;

Sử dụng toán học để suy luận từ kiến thức đã biết ra hệ quả hoặc kiến thức mới

□ Năng lực thực hành vật lí: Sử dụng thành thạo các đồ dùng thí nghiệm; Tiến

hành các thí nghiệm, thu thập kiến thức cơ bản để hiểu được các hiện tượng tự nhiên; Mô tả chi tiết cách thức tiến hành thí nghiệm; Nhận dạng và mô tả được các hiện tượng vật lí, sự thay đổi trong từng giai đoạn của các hiện tượng vật lí; Quan sát các thí nghiệm vật lí

□ Năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn: Có năng lực hệ thống hóa

kiến thức, phân loại kiến thức vật lí, hiểu rõ nội dung, đặc điểm của loại kiến thức vật

lí đó Khi vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội; Tìm được mối liên hệ, giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứng dụng của vật lí trong cuộc sống dựa vào các kiến thức vật lí và kiến thức liên môn khác

Việc hình thành, phát triển và đánh giá các năng lực này như một chỉnh thể là việc làm hết sức khó khăn và đòi hỏi có thời gian Do đó cần tiếp tục chia nhỏ các năng lực trên thành các năng lực thành phần:

Trang 22

□ Nhóm năng lực thành phần liên quan đến sử dụng kiến thức vật lí:

- K1: Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, định luật, nguyên lí vật lí cơ bản, các phép đo, các hằng số vật lí;

- K2: Trình bày được mối quan hệ giữa các kiến thức vật lí;

- K3: Sử dụng được kiến thức vật lí để thực hiện các nhiệm vụ học tập;

- K4: Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp,…) kiến thức vật lí vào các tình huống thực tiễn

Nhóm năng lực thành phần về phương pháp:

- P1: Đặt ra những câu hỏi về một sự kiện vật lí;

- P2: Mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ vật lí và chỉ ra các quy luật vật lí trong hiện tượng đó;

- P3: Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lí thông tin từ các nguồn khác nhau

để giải quyết vấn đề trong học tập vật lí;

- P4: Vận dụng sự tương tự và các mô hình để xây dựng kiến thức vật lí;

- P5: Lựa chọn và sử dụng các công cụ toán học phù hợp trong học tập vật lí;

- P6: Chỉ ra được điều kiện lí tưởng của hiện tượng vật lí

- P7: Đề xuất được giả thuyết; suy ra các hệ quả có thể kiểm tra được;

- P8: Xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét;

- P9: Biện luận tính đúng đắn của kết quả thí nghiệm và tính đúng đắn của các kết luận được khái quát hóa từ kết quả thí nghiệm này

Nhóm năng lực thành phần trao đổi thông tin:

- X1: Trao đổi kiến thức và ứng dụng vật lí bằng ngôn ngữ vật lí và các cách diễn tả đặc thù của vật lí;

- X2: Phân biệt được những mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ vật lí (chuyên ngành);

- X3: Lựa chọn, đánh giá được các nguồn thông tin khác nhau;

- X4: Mô tả được cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của các thiết bị kỹ thuật, công nghệ;

- X5: Ghi lại được các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe

Trang 23

- X6: Trình bày các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm,…) một cách phù hợp;

- X7: Thảo luận được kết quả công việc của mình và những vấn đề liên quandưới góc nhìn vật lí,

- X8: Tham gia hoạt động nhóm trong học tập vật lí

 Nhóm năng lực thành phần liên quan đến cá nhân:

- C1: Xác định được trình độ hiện có về kiến thức, kỹ năng, thái độ của cá nhân trong học tập vật lí;

- C2: Lập kế hoạch và thực hiện được kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch học tập vật lí nhằm nâng cao trình độ bản thân;

- C3: Chỉ ra được vai trò (cơ hội) và hạn chế của các quan điểm vật lí đối vớicác trường hợp cụ thể trong môn Vật lí và ngoài môn Vật lí;

- C4: So sánh và đánh giá được - dưới khía cạnh vật lí - các giải pháp kỹ thuật khác nhau về mặt kinh tế, xã hội và môi trường;

- C5: Sử dụng được kiến thức vật lí để đánh giá và cảnh báo mức độ an toàn của thí nghiệm, của các vấn đề trong cuộc sống và các công nghệ hiện đại;

- C6: Nhận ra được ảnh hưởng của vật lí lên các mối quan hệ xã hội và lịch

sử [1]

1.1.3 Năng lực tự học

1.1.3.1 Khái niệm năng lực tự học

Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là tự học, nghĩa là người học luôn là chủ thể nhận thức, tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Hay nói cách khác, không ai học giúp cho người học được, vì thế muốn học được phải tự học Theo đó, quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Việc học chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong học tập Tự học là một quá trình chủ thể nhận thức tác động một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo vào đối tượng học nhằm chuyển hoá chúng thành tài sản riêng, làm cho chủ thể thay đổi và phát triển

Theo tác giả Lê Công Triêm: “Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận

thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” [20]

Trang 24

Năng lực tự học, tự nghiên cứu tạo cho người học một sự sẵn sàng về tâm lí tiếp nhận Người học định hướng được nhu cầu học tập của mình; ý thức được yêu cầu của xã hội, cộng đồng đối với việc học tập Người học sẽ phấn đấu thoã mãn nhu cầu nhận thức bằng thái độ nghiêm túc học tập [9]

Năng lực tự học Vật lý của học sinh thể hiện ở chỗ bản thân mỗi học sinh biết tự quan sát phân tích, biết dự đoán, kiểm chứng… trên cơ sở đó rút ra kết luận, hình thành các kiến thức vật lý Đồng thời tự hoàn thiện kiến thức đã thu nhận và vận dụngchúng để giải thích được hiện tượng vật lý trong thực tế, cũng như giải các bài tập theo yêu cầu của chương trình, bên cạnh đó còn biết đề xuất những vấn đề vướng mắc trong học tập, cũng như một số hiện tượng vật lý thường gặp trong thực tế

Tóm lại, năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và

có khi cả hành động cùng các động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.

1.1.3.2 Các năng lực thành tố của năng lực tự học

Năng lực tự học là khả năng mỗi cá nhân tự hoàn thiện thông qua rèn luyện, trang bị, bổ sung kiến thức cho mình bằng nhiều hình thức phương tiện Năng lực tự học được thể hiện qua việc chủ thể tự xác định động cơ học tập đúng đắn, tự quản lí việc học, có thái độ tích cực trong các hoạt động, điều chỉnh hoạt động học tập và đánh giá kết quả học tập của chính mình, có thể độc lập làm việc hoặc hợp tác với người khác Năng lực tự học còn thể hiện ở chỗ tự kiểm tra những kiến thức kĩ năng của mình, thông qua đó các em tự bổ sung những kiến thức còn thiếu Năng lực tự học có thể phát triển được và mỗi cá nhân khác nhau có năng lực tự học khác nhau

Để hình thành và phát triển NLTH thì mỗi cá nhân cần phải có những năng lực thành tố sau:

Năng lực xác định mục tiêu, nhiệm vụ và lập kế hoạch tự học

Việc học, tự học thật sự có hiệu quả khi mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch học tập được xây dựng cụ thể, rõ ràng và có tính hướng đích cao, sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cá nhân Người có NL này là người xác định được kế hoạch học tập ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của mình Thậm chí, các kế hoạch phải được

Trang 25

học tập cụ thể Trong lập kế hoạch biết chọn đúng vấn đề trọng tâm, cốt lõi, quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi Khi xác định được mục tiêu, nhiệm vụ và lập kế hoạch thì việc tự học của HS sẽ rất khoa học

Năng lực tìm kiếm, thu thập, sắp xếp và xử lí thông tin để thực hiện kế hoạch tự học

Để thực hiện kế hoạch học tập đã lập, HS cần biết lựa chọn, chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định, như: đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ internet, xemina, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra,… Thu thập thông tin nhằm tập hợp những thông tin liên quan đến vấn đề mà HS đang tìm hiểu, giải quyết Từ đó sắp xếp thông tin

đã chọn lọc một cách hệ thống, theo từng nội dung

NL xử lí thông tin thu thập được để giải quyết nhiệm vụ học tập đặt ra là hết sức quan trọng HS cần có kĩ năng tìm hiểu, tóm lược, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải, đánh giá các thông tin thu thập được; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, có hệ thống các thông tin đó để giải quyết vấn đề

Năng lực thực hiện các nhiệm vụ trong kế hoạch tự học

Năng lực giải quyết các nhiệm vụ học tập đặt ra là khả năng giải quyết có hiệu quả một vấn đề nào đó, trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng

đã có biết tổng hợp, phân tích thông tin thu được để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra Người có năng lực này là người có khả năng giải quyết tốt mọi vấn đề mặc dù phải bỏ ra ít sức lao động nhưng vẫn đạt hiệu quả cao hoặc có thể vượt qua những khó khăn mới trong quá trình học tập mà người khác không thể vượt qua được Năng lực này được hình thành và phát triển thông qua hoạt động giải quyết các nhiệm vụ nảy sinh trong quá trình sống, học tập, làm việc của mỗi người Khi HS có được năng lực này thì quá trình lĩnh hội kiến thức mới sẽ cho kết quả tốt Việc hình thành kiến thức cho HS sẽ thật sự có giá trị nếu HS hoàn thành tốt các nhiệm vụ đặt

ra và rút ra được kết luận cuối cùng về mảng kiến thức đang nghiên cứu

Năng lực vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

Kết quả của việc học tập của HS sẽ thực sự có hiệu quả khi thể hiện chính ngay ở trong thực tiễn cuộc sống, hay là HS phải biết vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, áp dụng vào thực tiễn, hoặc trên cơ sở những kiến thức đã học, nghiên

Trang 26

cứu, khám phá, thu nhận thêm nhiều kiến thức mới Điều đó đòi hỏi người học phải

có năng lực vận dụng kiến thức một cách linh hoạt

Khi vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nhất là trong trường hợp mới sẽ làm xuất hiện các vấn đề cần giải quyết Như vậy, năng lực giải quyết vấn đề lại có cơ hội để phát triển và kết quả của việc giải quyết vấn đề giúp cho HS thâm nhập sâu hơn vào thực tiễn Từ đó hứng thú học tập, niềm say mê và khao khát được tìm tòi, khám phá, áp dụng kiến thức và kinh nghiệm tăng lên, các động cơ học tập đúng đắn được bồi dưỡng vững chắc Giải quyết các vấn đề thực tiễn mới làm nảy sinh các nhu cầu nghiên cứu tài liệu, trao đổi, hợp tác với bạn bè, đồng nghiệp Các kỹ năng về hợp tác, giao tiếp được rèn luyện Kết quả của hoạt động thực tiễn vừa làm giàu thêm tri thức, vừa giải thích, làm rõ thêm các kiến thức được học từ người đọc trong SGK, tài liệu HS thấy tự tin, chủ động hơn, đồng thời họ lại có thái độ dám chịu trách nhiệm về các quyết định của mình đã lựa chọn và có kỹ năng lập luận, bảo vệ các quyết định của mình

Kiến thức mới sau khi được tiếp nhận sẽ được HS sử dụng trong thực tiễn Nhưng chỉ có những HS thực sự hiểu bản chất của vấn đề thì mới có thể áp dụng kiến thức đó vào thực tiễn một cách khoa học Trên cơ sở vận dụng kiến thức mới vào cuộc sống bản thân HS sẽ tự cải tạo chính bản thân mình, làm bộc lộ nhiều mâu thuẫn, tạo đà để phát hiện kiến thức mới Giúp đào sâu hơn nữa kiến thức Tuy nhiên năng lực này là một trong những năng lực khó để hình thành trong HS, nhất là khi mà ở Việt Nam việc học phần lớn không được đánh giá qua thực hành

Năng lực đánh giá và tự đánh giá để điều chỉnh việc học

Theo Nguyễn Phụng Hoàng (dẫn theo [17]), “ĐG không chỉ bao gồm đo lường để quyết định mức độ thay đổi của cá nhân trên những tính chất nào đó mà còn liên quan đến việc định trước mục tiêu cho chương trình học tập và xét đoán xem những sự thay đổi của HS trên các tính chất ấy có đạt đến được mức độ chấp nhận trên những mục tiêu đã đề ra hay không” [10]

Theo Trần Bá Hoành [8], “ĐG là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích

Trang 27

Như vậy, có thể quan niệm: ĐG (trong GD) là quá trình thu thập thông tin một cách đáng tin cậy về đối tượng, lấy đó làm căn cứ xác định mức độ đạt được của đối tượng so với mục tiêu ban đầu hoặc so với chuẩn mực nhất định, từ đó đưa

ra quyết định tác động hợp lý nhằm đạt hiệu quả tối ưu nhất giúp HS ngày một tiến

bộ hơn

Tự đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập, phân tích và lý giải thông tin

về kết quả học tập của bản thân, đối chiếu với mục tiêu, nhiệm vụ của bài học, môn học, lớp học, nhà trường nhằm tạo cơ sở cho các quyết định để việc học tập của chính mình ngày một tiến bộ hơn

Năng lực đánh giá và tự đánh giá là khả năng HS tự rút kinh nghiệm ngay trong quá trình thực hiện từng nhiệm vụ học tập, hoạt động giáo dục khác; trao đổi với giáo viên để được góp ý, hướng dẫn; Học sinh tham gia nhận xét, góp ý bạn, nhóm bạn ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập môn học và hoạt động giáo dục; thảo luận, hướng dẫn, giúp đỡ bạn hoàn thành nhiệm vụ từ đó đi đến kết luận về mức độ thành công của phương án đã lựa chọn cũng như phát hiện và điều chỉnh những sai sót và hạn chế để hoàn thành mục tiêu đặt ra

Hiện nay dạy học đang thay đổi theo hướng đề cao vai trò tự chủ của HS, GV phải tạo điều kiện, khuyến khích HS đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy mới tạo cho HS dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi, sáng tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí hơn

Tự học của HS là quá trình diễn ra một cách thường xuyên và lâu dài, thường mang yếu tố tự giác Bởi vậy, cần phải có quá trình đánh giá và tự đánh giá để các

em tự hoàn thiện, tự bổ sung kiến thức và kỹ năng của mình Do đó, người học cần phải có năng lực đánh giá và tự đánh giá, nó sẽ thúc đẩy, củng cố, mở rộng kiến thức, điều chỉnh và nâng cao kiến thức của chính bản thân người học

Như vậy, khi hình thành các năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, tìm ra được kết quả và áp dụng kết quả một cách hợp lí đòi hỏi HS phải luôn đánh giá và

tự đánh giá HS phải biết điểm mạnh, điểm yếu của mình trong việc mình làm mới

có thể tiếp tục vững bước trên con đường học tập chủ động của mình Không có khả năng tự đánh giá HS khó có thể tự tin trong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học

Trang 28

Tóm lại, các năng lực trên có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc giảng dạy

để hình thành các năng lực tự học cho người học là một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng Chính vì vậy để phát triển này cho HS đòi hỏi ở GV lòng yêu nghề,

sự kiên trì, nhẫn nại

1.2 Phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lý

1.2.1 Mối quan hệ giữa dạy học với việc phát triển năng lực tự học cho học sinh

- Theo Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020 ban hành kèm

theo Quyết định 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ: "Tiếp tục

đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học" thì học sinh phải trải qua quá trình học tập lâu dài bằng nhiều hình thức như

học ở trường lớp, học ở nhà, học ở bạn bè, học ở mọi người, [2]

Để phát triển các năng lực nói chung và năng lực tự học nói riêng bên cạnh việc đổi mới nội dung thì đổi mới phương pháp giảng dạy là hết sức quan trọng Các phương pháp dạy học tích cực coi việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, cần phải nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên

Lớp học là môi trường giao tiếp giáo viên - học sinh và học sinh - học sinh, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới

Trong dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình

Trang 29

phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên.

- Ở bậc THPT, các kiến thức vật lý học sinh được học chủ yếu ở giờ trên lớp, qua việc học tập học sinh tích luỹ dần kiến thức cũng như kỹ năng cơ bản, biến kiến thức đã học thành của riêng cho mình để vận dụng và giải quyết một số vấn đề có liên quan trong quá trình khám phá ra kiến thức mới, hoặc giải quyết những vấn đề nâng cao

- Trong thực tế, việc học của học sinh hiện nay có tư tưởng trông chờ ỷ lại, học sinh không tự mình làm hoặc không muốn làm chỉ nhờ vào sự truyền thụ của giáo viên “thầy làm sẵn” Điều đó thường gặp trong thực tế nếu giao bài tập hơi khác so với bài thầy đã làm, học sinh thường lúng túng không tự mình tìm ra hướng giải, hoặc cách giải, hoặc học sinh tự mình không thể tiến hành

Từ những vấn đề trên cho chúng ta thấy phát huy tối đa nội lực của học sinh là khâu then chốt để quyết định chất lượng giáo dục Do đó, phát huy tối đa nội lực của học sinh có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới

Bên cạnh đó, phát triển năng lực tự học cho học sinh sẽ giúp cho học sinh tựhọc, tự rèn luyện, tự nâng cao kiến thức

Sau quá trình học tập, học sinh tiếp thu kiến thức trên lớp các em phải tự hiểu sâu và vận dụng được kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề có liên quan Muốn vậy, đòi hỏi học sinh phải biết tự cân đối thời gian học tập ở trường và thời gian học tập ở nhà bằng nhiều hình thức Trên cơ sở đó các em tự rèn luyện, tự trang bị, tự bổ sung kiến thức, kỹ năng cơ bản cần thiết Tự đào sâu và mở rộng kiến thức, tự hệ thống tổng hợp hoá kiến thức giúp các em hiểu rõ, hiểu sâu, nắm chắc kiến thức đã học Thông qua đó hình thành cho học sinh những thói quen tự rèn luyện, say mê học tập và ý thức được việc học tập là một nhu cầu cần thiết Từ đó, các em tựhình thành cho mình động cơ và thái độ học tập đúng đắn để nâng cao kiến thức

Trang 30

Tuy nhiên, phát triển năng lực tự học của học sinh không có nghĩa là giáo viên khoán trắng cho học sinh để học sinh tự tìm hiểu SGK, tự vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề có liên quan Giáo viên phải là người chủ đạo cố vấn; thiết kế, xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động một cách phù hợp để giúp học sinh khám phá, lĩnh hội kiến thức theo một con đường và thời gian ngắn nhất, hiệu quả nhất.

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí

1.2.2.1 Ý thức và động cơ học tập của bản thân

Ý thức và động cơ học tập có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình hình thành

và phát triển năng lực tự học Một khi đã có động cơ, hiểu nhiệm vụ và có trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý nghĩa xã hội của sự học Từ đó, các

em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội

Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập chính

là tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn Bởi vì, động cơ học tập đúng đắn sẽ khiến người ta luôn tự giác, say mê học tập và học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng, với niềm vui sáng tạo bất tận Ngoài việc tạo động cơ cho HS, ta cần khích lệ sự cố gắng của HS

1.2.2.2 Vốn tri thức hiện có của bản thân

Để có thể tự mình lĩnh hội tri thức mới một cách chủ động đòi hỏi HS phải có vốn kiến thức cơ bản, có kiến thức về phương pháp, cách thức tự học Với vốn kiến thức hiện có, HS có thể dễ dàng tiếp nhận và có kế hoạch học tập tri thức mới một cách chủ động

1.2.2.3 Nội dung, chương trình giáo dục

Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, khối lượng tri thức ngày càng lớn, trong khi đó, thời gian đào tạo ở nhà trường có hạn nên đòi hỏi người học phải tăng cường tự học Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương giao quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục, phát huy vai trò sáng tạo của nhà trường và giáo viên Các cơ sở giáo dục trung học, tổ chuyên môn và giáo viên được chủ động, linh hoạt trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh phù hợp với điều kiện thực tế của nhà

Trang 31

soát nội dung chương trình, sách giáo khoa, điều chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản; xây dựng các chủ đề tích hợp, liên môn nhằm khắc phục hạn chế

về cấu trúc chương trình kiểu "xoáy ốc" dẫn đến một số kiến thức học sinh đã được học ở lớp dưới có thể lại được tác giả đưa vào sách giáo khoa lớp trên theo lôgic của vấn đề khiến học sinh phải học lại một cách chưa hợp lý, gây quá tải Nội dung, chương trình phải thể hiện rõ quan điểm và ý đồ phát triển NLTH cho học sinh và tạo cơ hội để học sinh tự học và phát triển NLTH của mình

1.2.2.4 Năng lực trí tuệ bản thân

Năng lực trí tuệ: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng nắm bắt tri thức

khoa học nhanh hay chậm Yếu tố này ảnh hưởng rất lớn, đôi khi là quyết định khả năng học tập nói chung và năng lực tự học nói riêng Những người có năng lực trí tuệ tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi có dù vốn tri thức tối thiểu nhiều khi

họ có thể độc lập làm việc một mình mà không cần tới sự hướng dẫn của thầy

1.2.2.5 Phương pháp dạy học của giáo viên

Để hình thành năng lực tự học cho HS trong dạy học nói chung hay dạy học Vật lí nói riêng thì phương pháp dạy học cần phải đổi mới sao cho phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học để học sinh có thể tham gia vào hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề; góp phần đắc lực hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh để từ đó bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, hình thành khả năng học tập suốt đời Trong quá trình dạy học, học sinh là chủ thể nhận thức, giáo viên có vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học tập của học sinh theo một chiến lược hợp lý sao cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển

tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.[7]

Như vậy, phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động

Trang 32

1.2.2.6 Phương pháp học tập của học sinh

Để phát triển năng lực tự học thì phương pháp học của HS đóng vai trò quan trọng Trong tự học, đặc điểm cơ bản quan trọng không thể thiếu là sự tự giác và kiên trì cao, sự tích cực, độc lập, sáng tạo của HS tự mình thực hiện việc học; yếu tố quan trọng để đảm bảo thành công là phương pháp tự học Nếu rèn luyện được thói quen, phương pháp, kĩ năng tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong học tập của HS Khi HS xác định và tìm ra cho mình phương pháp học tập đúng đắn thì HS sẽ biết huy động hết khả năng trí tuệ, tình cảm và ý chí của mình để lĩnh hội một cách sáng tạo tri thức kĩ năng và hoàn thiện nhân cách của mình

1.2.2.7 Ảnh hưởng của quá trình kiểm tra, đánh giá và các điều kiện khác về cơ sở vật chất, gia đình, xã hội

Để phát triển các năng lực ở HS cần thực hiện chuyển từ chú trọng kiểm tra kết quả ghi nhớ kiến thức cuối kỳ, cuối năm sang coi trọng kết hợp kết quả đánh giá phong cách học và năng lực vận dụng kiến thức trong quá trình giáo dục Đánh giá phải hướng tới sự phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh thông qua mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và các biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh dựa trên mục tiêu giáo dục; coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập Chú trọng đánh giá các hoạt động trên lớp; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video clip,…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh và cộng đồng Coi trọng đánh giá sự tiến bộ của mỗi học sinh, coi trọng việc động viên, khuyến khích sự hứng thú, tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy năng khiếu cá nhân; đảm bảo kịp thời, công bằng

Trong quá trình dạy học, HS còn chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh

Đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, điều kiện văn hóa xã hội các yếu tố này cũng

có ảnh hưởng rất lớn, vì nó tác động không những đến người học mà cả người dạy

Trang 33

1.2.3 Hệ thống kỹ năng tự học cần rèn luyện cho học sinh để phát triển năng lực

tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí

HTKN được xác định dựa vào một số cơ sở khác nhau Dưới đây là một số cơ

sở được đề cập Hệ thống KN tự học được chia ra 3 nhóm KN Mỗi nhóm KN có các KN thành phần như sau:

Dựa vào phương tiện dạy học thì KNTH của HS gồm: KN tự học với SGK;

KN tự học qua tranh ảnh, thí nghiệm; KN tự học với bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị

Dựa vào nhiệm vụ nhận thức bao gồm:

KN thu thập thông tin với các kĩ năng thành phần như: Nghe hiệu quả, KN xử

lí thông tin; KN vận dụng tri thức vào thực tiễn; KN trao đổi và phổ biến thông tin;

KN tự kiểm tra, đánh giá

Dựa vào hình thức và phạm vi của hoạt động tự học bao gồm: KN tự học

trên lớp; KN tự học ở nhà; KN tự học thông qua hoạt động ngoại khóa; KN xây dựng kế hoạch tự học; KN lựa chọn tài liệu; KN lựa chọn hình thức tự học

Căn cứ vào 3 nhiệm vụ học tập của HS: Nhận thức nội dung học tập; Giao tiếp

và quan hệ xã hội trong học tập và các hoạt động hỗ trợ học tập; Tổ chức vận dụng kiến thức, quản lí việc học của bản thân của HS [20]

Hệ thống KN tự học được chia ra 3 nhóm KN Mỗi nhóm KN có các KN thành phần như sau : Nhóm KN thu thập thông tin; Nhóm KN xử lí thông tin; Nhóm

KN vận dụng thông tin [20]

1.3 Biện pháp phát triển năng lực tự học

1.3.1 Định hướng chung cho việc xây dựng các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lí

Căn cứ vào những năng lực thành tố và hệ thống các kĩ năng của năng lực tự học, khi xây dựng các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học Vật lí cần dựa trên các yếu tố này Bên cạnh đó cần tập trung xây dựng biện pháp để rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ

đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao, tạo đà cho tự học trong cuộc sống hay trong thực tiễn Để phát triển năng lực tự học cho HS thì phương pháp dạy học đóng vai trò quan trọng Do đó khi xây dựng các bài học cần dựa trên một phương

Trang 34

pháp dạy học tích cực cụ thể được lựa chọn để hình dung chuỗi hoạt động học sẽ tổ chức cho học sinh thực hiện nhằm phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ học tập.

Định hướng 1: Hệ thống các biện pháp DH phải hướng vào việc bồi dưỡng

năng lực tự học phải được thiết kế sao cho đảm bảo thực hiện được mục tiêu bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần đạt được thông qua môn học, đồng thời năng lực tự học của HS cũng ngày một phát triển, nâng cao dần trong quá trình thực hiện các biện pháp

Định hướng 2: Hệ thống các biện pháp phải thể hiện tính khả thi, có thể thực

hiện được trong quá trình DH ở các trường THPT hiện nay

Định hướng 3: Hệ thống các biện pháp phải hướng tới việc tăng cường hoạt

động cho người học, phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, độc lập cho người học

Định hướng 4: Hệ thống các biện pháp phải đảm bảo tính thống nhất biện

chứng giữa bồi dưỡng năng lực tự học và hiệu quả của quá trình học tập Điều đó có nghĩa là khi thực hiện các biện pháp này hiệu quả học tập của HS phải được nâng cao và năng lực tự học của HS được phát triển sau khi được bồi dưỡng [13]

1.3.2 Các biện pháp cụ thể để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lí

Năng lực chính là một tổ hợp của nhiều kĩ năng thực hiện những hành động thành phần và có liên quan chặt chẽ đến động cơ, hứng thú khi thực hiện các hành động đó Như vậy, để bồi dưỡng được năng lực tự học cho HS thì điều tất yếu là chúng ta phải bồi dưỡng và rèn luyện được các thành tố của năng lực tự học cho HS cho đến khi HS thể hiện được mức độ tinh vi, thành thạo khi thực hiện các thành tố

đó đồng thời phải tạo được động cơ, hứng thú cho HS trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và phấn đấu

Dựa trên cơ sở nhận định này có thể đưa ra hai nhóm biện pháp để bồi dưỡng năng lực tự học cho HS như sau:

Trang 35

1.3.2.1 Nhóm biện pháp 1: Bồi dưỡng các thành tố của năng lực tự học cho HS

a Rèn luyện thành tố về xác định mục tiêu, nhiệm vụ và lập kế hoạch học tập

Mục tiêu học tập là những gì người học đặt ra để phấn đấu trong học tập và có khả năng đạt được nó trong quá trình học tập của mình Để có được mục tiêu khả thi

và hữu ích, HS cần xác định mục tiêu học tập của mình theo năm yếu tố sau đây:

– Cụ thể và rõ ràng: Càng chi tiết càng dễ thực hiện.

– Đo lường được: Mục tiêu có thể đo lường và đánh giá được một cách rõ ràng – Có thách thức: Mục tiêu phải cho thấy người học cần phải nỗ lực và có kỉ

luật mới có thể đạt được

– Thực tế: Có khả năng đạt được đối với HS đó.

– Có thời gian để hoàn thành: Mục tiêu phải có thời hạn hoàn thành cụ thể

Nếu là mục tiêu lâu dài, cần chia mục tiêu thành nhiều mục tiêu nhỏ và xác định thời hạn hoàn thành đối với từng mục tiêu

Để xác định được nhiệm vụ học tập, GV cần định hướng cho HS thực hiện theo các bước sau:

1 Tái hiện kiến thức cũ có liên quan đến nội dung bài học bằng cách cho HS nêu lại các kết luận, quy tắc, định luật … đã học hoặc yêu cầu HS dự đoán hiện tượng xảy ra theo kinh nghiệm thực tiễn mà HS đã biết trước đó có liên quan;

2 Đưa ra hiện tượng bằng cách cho HS quan sát các sự vật, hiện tượng thông

qua các kết quả TN hoặc qua các đoạn video ghi lại các hiện tượng thực tế mâu thuẫn hoặc trái hẳn với kết luận/dự đoán mà HS vừa nêu để giúp HS nhận ra các biểu hiện trực quan liên quan đến nội dung cần nghiên cứu;

Từ đó HS huy động kiến thức, kĩ năng đã biết và nảy sinh về kiến thức, kĩ năng chưa biết, nhưng hi vọng có thể tìm tòi, xây dựng được; diễn đạt nhu cầu đó thành câu hỏi Lúc này các nhiệm vụ cần thực hiện đối với HS xuất hiện, dưới sự hướng dẫn của GV vấn đề đó được chính thức diễn đạt

Sau khi đã xác định được nhiệm vụ với các vấn đề trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc trong kế hoạch chung một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi

Trang 36

b Rèn luyện năng lực tìm kiếm, thu thập, sắp xếp và xử lí thông tin để thực hiện kế hoạch học tập thông qua định hướng HS phân tích vấn đề, xây dựng phương án, kế hoạch thực hiện và điều chỉnh kế hoạch thực hiện để phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế

+ Tìm kiếm thông tin: Phải xác định rõ chủ đề cần tìm kiếm thông tin là gì; xác định các loại thông tin chính cần phải tìm kiếm; xác định các nguồn/các địa chỉ tin cậy có thể cung cấp các loại thông tin đó (như: sách, báo, internet, các tổ chức có liên quan,…)

+ Tiến hành thu thập thông tin: bằng cách đọc và chọn lọc thông minh và linh hoạt để ghi chép các thông tin, qua các tài liệu đã thu thập được Theo đó cần: đọc mục lục, đọc lời giới thiệu, lời kết luận (nếu có), đọc một vài đoạn, đọc sâu văn bản; ghi chép theo những hình thức khác nhau tuỳ thuộc mục đích của việc đọc như đã

đề ra

+ Xử lí thông tin: Cần tìm hiểu, tóm lược, tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải, đánh giá các thông tin thu thập được; xem xét một cách toàn diện, thấu đáo, có hệ thống các thông tin đó để giải quyết vấn đề Để hình thành kĩ năng này, người học thường phải tiến hành các thao tác như:

Tóm tắt, phân loại thông tin: cần tóm lược ngắn gọn các thông tin đã thu được; phân chúng ra thành các loại thông tin khác nhau để tiện cho việc tìm hiểu, sử dụng.Phân tích thông tin: cần tìm ra ý nghĩa của các thông tin có được xem chúng nói điều gì, bằng cách đọc, so sánh, đối chiếu các thông tin đã tổng hợp được

Tổng hợp, hệ thống hoá thông tin: cần sắp xếp những thông tin cùng một loại vào cùng một nhóm với nhau, đưa ra được nhận định chung Mục đích của tổng hợp

là để có bức tranh chung về vấn đề đang tìm hiểu, dễ xem xét, đối chiếu trong bước

kế tiếp Kết nối các thông tin, dữ kiện vừa thu thập với kiến thức đã có của HS để thực hiện kế hoạch học tập

Trong quá trình thực hiện giải pháp và kế hoạch học tập, HS diễn đạt, trao đổi với các bạn trong nhóm về kết quả thu được, qua đó có thể chỉnh lí, hoàn thiện tiếp Khi HS cần phải hình thành kiến thức mới nhằm giải quyết vấn đề, GV sẽ giúp HS xây dựng kiến thức mới của bản thân trên cơ sở đối chiếu kiến thức, kinh nghiệm

Trang 37

Trong quá trình thực hiện giải quyết các vấn đề xây dựng trong kế hoạch, dưới sự hướng dẫn của GV, hành động của HS được định hướng phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học Bên cạnh đó, GV hướng dẫn HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng mới học để giải quyết học để giải quyết các tình huống có liên quan trong học tập và đời sống; tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức thông qua các nguồn tư liệu, học liệu khác nhau, tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ nội dung bài học, vận dụng các kĩ năng, kiến thức đã học để giải quyết bằng những cách khác nhau [2]

c Rèn luyện kĩ năng trình bày kết quả và đánh giá việc thực hiện giải pháp thông qua đó vận dụng vào thực tiễn.

Sau khi HS và các nhóm HS tiến hành GQVĐ theo giải pháp đã đề xuất thì việc trình bày kết quả của nhóm là việc không kém phần quan trọng để các HS khác

và GV có thể nhận xét và đánh giá sản phẩm của mình Việc trình bày kết quả có thể được tiến hành với bất kỳ HS nào của nhóm mình vì đây là kết quả chung của nhóm HS

Việc đánh giá hiệu quả của việc thực hiện giải pháp có thể được thực hiện ngay tại lớp hoặc dưới sự hướng dẫn cho HS về nhà thực hiện

1.3.2.2 Nhóm biện pháp 2: Tạo động cơ, hứng thú của HS khi tham gia hoạt động học tập

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung hấp dẫn, mới lạ, thú vị, bất ngờ và chứa nhiều những yếu tố kích thích, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi nguồn học liệu hay GV tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học, Để tạo được động cơ hứng thú trong học tập tuỳ theo đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi để tìm ra những biện pháp thích hợp, nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi HS Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình

GV hay nguồn học liệu cần chỉ ra cho HS thấy nếu các em cố gắng, quyết tâm, khắc phục khó khăn, tự mình vươn lên thì sẽ gặt hái được thành công GV nên giúp

HS nhận biết cần phải tập trung học ở những phần nào, nội dung nào, môn học nào, Một khi đã có động cơ, hiểu nhiệm vụ và có trách nhiệm thì bắt buộc người

Trang 38

học phải liên hệ với ý nghĩa xã hội của sự học Từ đó, các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ

GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội

1.3.3 Điều kiện để thực hiện các biện pháp triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học vật lí

Để các biện pháp trên được thực hiện một có hiệu quả cần có một số điều kiện nhất định sau:

Thứ nhất: Phương tiện, trang thiết bị DH phải đầy đủ, đồng bộ đây là điều

kiện cần, là cơ sở để thực hiện DH thành công các biện pháp

Thứ hai: GV phải thường xuyên cập nhật và thực hiện các phương pháp và kỹ

thuật DH tích cực tạo điều kiện cho HS trong việc rèn luyện các kỹ năng tự học GV phải là người không bao giờ ngại khó, ngại khổ, là người trọng tài, cố vấn, định hướng, giúp đỡ kịp thời cho cho HS trong quá trình tự học

Thứ ba: GV phải thường xuyên trao đổi, chia sẻ chuyên môn với đồng nghiệp

bởi sự khác nhau về kinh nghiệm, trình độ, cách thức tư duy, phong cách, tác phong nhà giáo có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của việc bồi dưỡng năng lực tự học cho HS Thông qua sinh hoạt chuyên môn GV có thể góp ý cho nhau, bổ sung cho nhau và chia sẻ những thành công, những thất bại của mình để từ đó rút ra được kinh nghiệm cho các bài dạy tiếp theo

Thứ tư: HS phải nhận thức được sự cần thiết của việc bồi dưỡng năng lực tự

học cho bản thân, tích cực tham gia các hoạt động học tập và có ý thức trong việc rèn các kỹ năng tự học, phải thường xuyên thực hành các kỹ năng tự học không chỉ trong học tập, công việc mà cả trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày để cải thiện và nâng cao dần kỹ năng tự học của bản thân

Thứ năm: Cần được sự thống nhất, ủng hộ trong toàn trường từ việc thay đổi

nhận thức đến những việc làm cụ thể, tạo điều kiện cho mọi GV trong việc tổ chức

DH theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS Tạo được môi trường học tập thân thiện, tích cực, cởi mở để GV và HS có thể trao đổi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau

1.4 Dạy học nhóm trong bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh

1.4.1 Dạy học nhóm

Trang 39

DH tích cực, trong đó HS làm việc trong nhóm nhỏ để hoàn thành mục tiêu học tập chung dưới sự hướng dẫn của GV, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày

và đánh giá trước lớp Phương pháp DH này được mô tả bởi năm yếu tố đặc trưng sau: [11]

a)Sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau (cùng thành công hoặc cùng thất bại) –

Trong mỗi nhóm người học phụ thuộc vào các thành viên khác một cách tích cực để đạt được mục tiêu chung Người học phải tin tưởng rằng họ bị ràng buộc với các thành viên khác trong một cách mà không ai có thể thành công trừ khi các thành viên khác trong nhóm đều thành công;

b)Tương tác trực tiếp (face to face) – Điều này xuất hiện khi mỗi cá nhân

khuyến khích và tạo điều kiện cho sự nỗ lực của các thành viên khác trong nhóm để đạt được mục tiêu chung Người học được trông chờ giải thích cho nhau làm thế nào để giải quyết vấn đề, thảo luận với nhau về tài liệu cần được làm rõ, chia sẻ, khuyến khích, giúp đỡ lẫn nhau cũng như sửa lỗi, kiểm tra lẫn nhau về sự hiểu biết;

c)Trách nhiệm cá nhân – Trong nhóm hợp tác thực sự, mọi cá nhân đều đóng

góp công bằng cho thành công của nhóm;

d)Các kỹ năng xã hội – Hoạt động nhóm sẽ khó mà hiệu quả nếu trong nhóm

có những thành viên thiếu các kỹ năng xã hội Người học cần được dạy các kỹ năng

xã hội cho sự hợp tác chất lượng và cũng cần được thúc đẩy dùng các kỹ năng đó như kỹ năng lãnh đạo, xây dựng lòng tin, đưa ra quyết định, giao tiếp và giải quyết xung đột;

e)Đánh giá trong các nhóm – Người học suy nghĩ và đánh giá hiệu quả hoạt

động của nhóm

1.4.2 Vai trò của dạy học nhóm trong bồi dưỡng phát triển năng lực tự học

Đổi mới phương pháp dạy học là dạy học không còn theo cách truyền thống “ thầy giảng, học sinh tiếp thu một cách thụ động” Đổi mới phương pháp hiện nay là nhằm hướng học sinh vào các hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, đảm bảo nguyên tắc “Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh”, đồng thời nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự học cho học sinh, tất cả những vấn đề đó đang trở thành mối quan tâm của toàn ngành giáo dục, các nhà trường và toàn thể giáo viên đứng lớp, của phụ huynh và học sinh bởi theo theo phương pháp dạy học mới

Trang 40

chúng ta phải thay đổi cách thức tổ chức lớp học, cách thức dạy, cách thức học và cách thức đánh giá học sinh.

Theo phương pháp dạy học mới này việc dạy học theo nhóm sẽ được thực hiện một cách sâu hơn, rộng hơn trong mỗi giờ học và trở thành hình thức học chủ yếu của các em Học tập hợp tác nhóm là mô hình học tập, làm việc theo nhóm để hoàn thành một mục tiêu hoạt động chung với điều kiện giữa các thành viên có sự phụ thuộc với nhau chặt chẽ, song mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm cụ thể, đồng thời

sự tương tác giữa các cá nhân được thúc đẩy, các kỹ năng hợp tác được sử dụng hợp

lý và nhóm ngày càng được củng cố Dạy học theo nhóm là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sắp xếp học sinh thành những nhóm theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên Theo đó, học sinh trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm

Như vậy, học theo nhóm sẽ phát huy cao độ vai trò chủ thể, tích cực của mỗi

cá nhân trong việc thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao Dạy học theo nhóm tạo cơ hội cho mỗi cá nhân người học được khẳng định mình và được phát triển Nhóm học tập làm việc tốt sẽ khuyến khích học sinh giao tiếp với nhau, giúp những học sinh còn nhút nhát, thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với tập thể lớp học Nhờ việc dạy học theo nhóm mà học sinh có nhiều cơ hội để diễn đạt và khám phá ý tưởng của mình, học sinh phát huy được vai trò, trách nhiệm cá nhân, vừa có cơ hội

để học tập từ các bạn qua cách làm việc hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Từ

đó, tổ chức cho học sinh làm việc theo nhóm chính là đã tạo điều kiện cho tất cả học sinh tham gia vào bài học một cách chủ động, tạo điều kiện cho các em được giao lưu, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế cuộc sống không có ai là hoàn hảo, do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu, hơn nữa nó còn tạo ra được niềm vui và sự hứng thú trong học tập Vì vậy chúng ta cần phải thấy được những ưu điểm của hình thức dạy học theo nhóm để phát huy được những điểm mạnh của nó… Đây cũng chính là nền tảng để các em có đủ bản lĩnh và khả năng

Ngày đăng: 12/09/2020, 15:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w