Vì vậy, sử dụng phương pháp dạy học để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh ở phần Sinh học vi sinh vật là cơ sở cho học sinh vận dụng được năng lực nghiên cứu khoa học s
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
VÕ THỊ ÁI MỸ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT - SINH HỌC 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Thừa thiên Huế, Năm 2017
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ định hướng đổi mới giáo dục
Mục tiêu qua trọng của sự nghiệp đối mới giáo dục của nước ta hiện nay là nâng cao năng lực, đào tạo nhân tài Trong đó đổi mới phương pháp dạy học được coi là nhiệm vụ chiến lược
Định hướng chung của phương pháp đổi mới của phương pháp dạy học hiện nay là: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[3]
Với chiến lược: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [24]
Trong bối cảnh hiện nay, tri thức khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển lên theo cấp lũy thừa Mà thời gian học ở nhà trường là thời gian rất ngắn Học sinh không thể học hết khối lượng kiến thức khổng
lồ, biến đổi phát triển nhanh theo thời gian Vì vậy, việc truyền đạt kiến thức cho học sinh phải chuyển sang giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm kiếm kiến thức một cách độc lập và một học sinh muốn phát triển được thì phải tự học, tự bồi dưỡng suốt đời, nếu không sẽ tụt hậu Trong đó năng lực nghiên cứu khoa học là môt năng lực cao của tự học, phát huy được tính độc lập, tự chủ và sáng tạo của học sinh Cũng chính vì vậy mà tất cả các nước trong chương trình phổ thông đều chú trọng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh
Chương trình và sgk giáo dục phổ thông mới của Việt Nam cũng dự kiến sẽ có nội dung là nghiên cứu khoa học có tính chất tương đương như một môn học của hoạt động giáo dục
1.2 Xuất phát từ nội dung kiến thức phần Sinh học vi sinh vật -Chương trình Sinh học 10
Phần Sinh học vi sinh học thuộc chương trình Sinh học 10 THPT là phần kiến thức mới và khó, những kiến thức này ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, phổ thông và khoa học về hình dạng và kích thước tế bào vi sinh vật
Kiến thức ở phần này còn làm cơ sở để giải thích các hiện tượng, các quá trình Sinh học, ứng dụng vào thực tiễn đời sống và sản xuất để chế biến thực phẩm, phòng ngừa một số bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường … kích thích lòng ham hiểu biết, đam mê khoa học đặc biệt là kỹ thuật di truyền, công nghệ sinh học
Vì vậy, sử dụng phương pháp dạy học để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh ở phần Sinh học vi sinh vật là cơ sở cho học sinh vận dụng được năng lực nghiên cứu khoa học sau này
Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cấu trúc năng lực NCKH, quy trình và các biện pháp tổ chức dạy học nhằm rèn luyện phát triển năng lực NCKH cho HS trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 ở trường THPT
Trang 33 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng
Quy trình và biện pháp tổ chức dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 theo hướng rèn luyện và phát triển năng lực NCKH cho HS
3.2 Khách thể
Học sinh trường THPT Đông Hà và THPT Quảng Trị
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được cấu trúc năng lực NCKH, xây dựng được quy trình và có biện pháp tổ chức dạy học phù hợp thì sẽ phát triển năng lực NCKH cho HS trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật , Sinh học
10
5 Nhiệm vụ của đề tài
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
5.2.Xây dựng cấu trúc của NL NCKH
5.3 Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10 để phát triển năng lực NCKH cho HS
5.4 Xây dựng biện pháp tổ chức dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 theo hướng phát triển năng lực NCKH cho học sinh
5.5 Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả phát triển năng lực NCKH theo quy trình
và các biện pháp tổ chức dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
6.2 Phương pháp chuyên gia
6.3 Phương pháp điều tra cơ bản
6.4 Phương pháp quan sát sư phạm
6.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 Phạm vi nghiên cứu
Sử dụng các bài tập để tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực NCKH cho HS trong dạy học Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10
8 Những đóng góp mới của đề tài:
- Xác định cấu trúc của năng lực nghiên cứu khoa học
- Quy trình tổ chức hoạt động dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10 để phát triển năng lực NCKH cho
HS
- Biện pháp tổ chức hoạt động dạy học phần Sinh học VSV, Sinh học 10 nhằm phát triển năng lực
NCKH cho HS
9 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn gồm 3 phần: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận; phần nội dung của bản luận văn gồm
có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 4Chương 2: Phát triển năng lực NCKH cho học sinh ở phần Sinh học vi sinh vật , Sinh học 10
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
cảnh [25] Dự án Việt – Bỉ (2009) “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng Tiểu học, THCS các tỉnh
miền núi phía Bắc Việt Nam” đã có tài liệu nghiên cứu về “NCKH sư phạm ứng dụng” và đã tổ chức các
lớp tập huấn bồi dưỡng Hiện nay, về việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên, trong đó
có NL NCKH thì Bộ Giáo dục và đào tạo đã xây dựng và triển khai bồi dưỡng thường xuyên cho Gv mầm mon, tiểu học và TH [20] Có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luân án, luận văn nghiên cứu về phương pháp dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của người học và phương
pháp phát triển năng lực NCKH trong dạy học.Năm 1999, Vũ Cao Đàm trong giáo trình: “Phương pháp
luận nghiên cứu khoa học”đã trình bày những kiến thức về phương pháp luận, cấu trúc một công trình
NCKH, vấn đề khoa học được trình bày theo một mối liên hệ logic với ý tưởng khoa học và những hướng dẫn cụ thể cho những người mới bước vào nghiên cứu [11].Năm 2015, Lê Đình Trung trong chuyên khảo:
“Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông” đã đúc kết
lại những kết quả nghiên cứu nhiều năm về trước về vấn đề: Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực NCKH cho người học như từ quy trình NCKH của Vũ Cao Đàm (2003) áp dụng cho nghiên cứu đối với các môn học khác nhau, trong đó có Sinh học; tường minh các yêu cầu, các thao tác cụ thể cần đạt cho từng bước của một quy trình NCKH trong dạy học Sinh học; vận dụng quy trình NCKH
để tổ chức cho học sinh trong dạy học Sinh học [26].Tạ Xuân Hòa (2009) khẳng định bản chất của dạy học theo phương pháp NCKH là tổ chức quá trình người học lĩnh hội nội dung dạy học theo logic NCKH Tác giả đã đề xuất phương pháp phát triển kỷ năng NCKH trong việc giải toán bất đẳng thức và các bài toán cực trị [14].Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường đã nghiên cứu về khái niệm NL, mô hình NL và PPHD theo NL, chỉ ra quan điểm phát triển NL, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khã năng tái hiện kiến thức đã học mà chú trọng khã năng vận dụng tri thức sáng tạo trong những tình huống khác nhau [8].Nguyễn Xuân Qui (2014) khẳng định tính cấp thiết phát triển NL NCKH trong việc định hướng và hình thành phát triển năng lực người học phù hợp với thực tế giáo dục hiện nay [16].Lê Thi Thơ (2016) với nghiên cứu về năng lực và xây dựng quy trình bồi dưỡng NL NCKH cho giảng viên cao đẳng nghề vùng đồng bằng song Cửu Long [20].Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, việc phát triển NL cho học là yêu cầu rất cần thiết Đặc biệt là chú trọng phát triển các năng lực đặc trưng của bộ môn: NL nhận thức về kiến thức Sinh học, NL nghiên cứu khoa học, NL thực địa, NL thực hiện trong phòng TN Đã có
Trang 5nhiều tác giả nghiên cứu về phương pháp phát triển bốn NL này như: Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo, Nguyễn Quang Vinh, Lê Đình Trung, Phan Đức Duy, Đặng Thị Dạ Thủy, Trịnh Đông Thư Phan Đức Duy (2012) đã nghiên cứu về vai trò của bài tập thí nghiệm, phương pháp sử dụng bài tập THTN trong dạy học Sinh học để rèn luyện kỹ năng tư duy cho học sinh phổ thông [10].Hoàng Việt Cường (2009) đã trình bày vai trò của thí nghiệm và đề xuất phương pháp nâng cao hiệu quả sử dụng các thí nghiệm trong dạy học Sinh học tế bào [9].Đặng thị Dạ Thủy (2015) đã nghiên cứu bày vai trò của TN trong việc trong việc phát triển NL NCKH; Quy trình thiết kế bài tập TN phát triển NL NCKH; Các dạng bài tập phát triển phát triển NL NCKH trong dạy học sinh học ở THP [22].Trần Văn Bảo (2016) cho rằng hoạt động học tập theo định hướng NL có vai trò rất lớn trong việc rèn luyện NL nói chung cho học sinh và NL NCKH nói riêng Tác giả đã thiết kế được các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực của học sinh [4].Đặng Thị Dạ Thủy, Trương Đình Dũng (2016) đã thiết kế các bài tập phát triển năng lực giải quyết vấn đề theo ba dạng và xây dựng quy trình 5 bước Sử dụng bài tập phát triển giải quyết năng lực giải quyết vấn đề ở khâu củng cố, hoàn thiện kiến thức [23].Lăng thị Ánh ( 2016) xây dựng với mối quan
hệ dạy học theo dự án và phát triển năng lực của HS trong dạy học Sinh học ở phổ thông [2].Phạm Thị Hồng Tú – Nguyễn Văn Hồng ( 2017) tác giả xây dựng kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học bao gồm nhiều bước và bước quan trọng nhất là thiết kế được các hoạt động học tập cho HS
một cách hợp lí [28] Nhìn chung, việc xây dựng phương pháp dạy học để hình thành và phát triển NL nói
chung và NL NCKH cho học sinh đã có rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Nhưng việc nghiên cứu
về phát triển NL NCKH cho học sinh trong dạy học phần Sinh học vi sinh vật, Sinh học 10 chưa được nghiên cứu nhiều Vì vậy việc tìm hiểu và nghiên cứu sâu về phương pháp dạy học phát triển NL NCKH cho học sinh là rất cần thiết và góp phần đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp trong dạy học phổ thông hiện nay
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Thuật ngữ năng lực có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ Trong tiếng Anh,
“năng lực”có thể được dùng với những thuật ngữ như capability, ability, competency, capacity… [26] Dựa trên tài liệu của Franz E Weinert có 6 cách tiếp cận khác nhau để mô tả năng lực (năng lực cá nhân) [44]
Thứ nhất: NL được hiểu như khả năng của trí tuệ:
Theo Từ điển Tiếng Việt (trang 639), “năng lực”được hiểu là “khã năng”, điều kiện chủ quan và tự
nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó khi đề cập tới năng lực của đối tượng nào đó hoặc “là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” khi đề cập tới năng lực của con người [26]
Thứ hai: Mô hình NL gắn với hành vi:
Một trong những mô hình lý thuyết có ảnh hưởng, đó là mô hình phân biệt giữa NL và hành vi của
nhà ngôn ngữ học Noam Chomsky Ông phân biệt NL ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ Theo ông NL ngôn
ngữ là kiến thức của con người về ngôn ngữ mà thực chất là kiến thức cú pháp của tiếng mẹ đẻ, còn hành
vi ngôn ngữ là những lời nói con người sản sinh ra vào bất cứ lúc nào trong những tình huống cụ thể và
nó chịu ảnh hưởng của vô số các yếu tố khác nhau NL ngôn ngữ tiềm ẩn bên trong không thể quan sát trực tiếp được, mà chỉ có thể quan sát được một cách gián tiếp thông qua hành vi ngôn ngữ [25]
Thứ ba: NL là động lực, không phải là nhận thức: Mối quan hệ này được đưa ra bởi R.H
White : NL như một tương tác hiệu quả giữa cá nhân và môi trường, ông lập luận rằng để có NL cần có động lực Động lực sẽ thúc đẩy NL trong tri giác quen thuộc Khía cạnh này đã kết nối NL như một dự đoán chủ quan về tiềm năng hành vi của con người và khuynh hướng hoạt động liên quan đến động lực [30]
Thứ tư: Các khái niệm về NL hành động:
Theo Weitnert (2001): “Năng lực là những khã năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sực sẵn sàng về động cơ, xã hội… và khã năng vận đụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong tình huống linh hoạt”[26]
Thứ năm: Các khái niệm về NL cốt lõi
NL cốt lõi là những NL có thể sử dụng để đạt được hiệu suất tốt trên một loạt các tình huống khác nhau, chúng bao gồm các kĩ năng về ngôn ngữ (bản địa và nước ngoài), khã năng và kĩ năng toán học, kĩ năng truyền thông và các kĩ năng trong một nền giáo dục cơ bản nói chung
Thứ sáu: Các khái niệm về siêu NL
Không có định nghĩa cố định cho “ siêu năng lực” Trong văn hóa đại chúng, nó có thể được sử dụng để mô tả bất cứ sự cường điệu ở múc độ tối thiểu nào về các đặc điểm khác với người bình thường như cớ phép thuật và các khã năng như thần thánh biết bay, siêu mạnh, phóng ra các chum tia năng lượng
Trang 7tàn phá, thần giao cảm, dịch chuyển tức thời, siêu tố hoặc điều khiển được thời tiết
Như vậy, từ những nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng, năng lực là một khái niệm rất rộng và rất
phức tạp, có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau:
- Về tính chất: NL là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ
năng và kỹ xảo tối thiểu
- Về cấu trúc: NL là sự kết hợp giữa ba thành phần: kiến thức, kĩ năng và thái độ để giải
quyết một yêu cầu phức tạp trong tình huống nhất định của một cá nhân
- Về quá trình hình thành và phát triển : Do nguồn gốc di truyền và luyện tập
Đối với học sinh, để hình thành và phát triển NL cần có quá trình phương pháp dạy học và đào tạo lâu dài, phù hợp
1.1.1.2 Phân loại năng lực
i) Các năng lực chung
NL chung là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc bình thường trong
xã hội NL này được hình thành và phát triển do nhiều hoạt
Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo (tháng 7/ 2015), các nhà nghiên cứu đã xác định tám năng lực chung cơ bản cần hình và phát triển cho học sinh bao gồm:
Hình 1.1 Sơ đồ các năng lực chung
ii) Năng lực chuyên biệt môn sinh học
Tham khảo nghiên cứu đề xuất của Trường Đại học Victoria (Úc), đã xác định hệ thống các năng lực có thể hình thành và phát triển cho học sinh thông qua dạy học môn Sinh học bao gồm 4 nhóm năng lực chính:
- Năng lực nhận thức về kiến thức sinh học
- Năng lực nghiên cứu khoa học
- Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm
- Năng lực thực địa
Các năng lực chung
Năng lực tự học
Năng lực tự giải quyết vấn đề
và sáng tạo
Năng lực thể chất
Năng lưc thẩm
mỹ
Năng lực tính toán
Năng lưc công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 81.1.2 Năng lực nghiên cứu khoa học
1.1.2.1 Khái niệm
Trong Từ điển, Lefrancois(1991) định nghĩa: “NCKH là mọi hoạt động có hệ thống và chặt chẻ bao hàm gồm một phương pháp luận nghiên cứu phù hợp với một vấn đề nhằm tìm kiếm một hiện tượng, giải thích hiện tượng và khám phá một số quy luật Nghiên cứu khoa học là nơi đối chiếu giữa những tiền giả
định lí thuyết và thực tế như nó được cảm nhận”[1]
Theo Vũ Cao Đàm (2003), nghiên cứu khoa học là phát triển bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới, phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người Phương pháp NCKH là phương pháp nhận thức thế giới bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các động tác cụ thể để tác động vào đối tượng, để đối tượng bộc lộ bản thân [26]
Như vậy, có thể hiểu NL NCKH của HS là NL học tập theo kiểu nghiên cứu là khã năng thực hiện
các hoạt động học tập theo hướng được đặt vào tình huống có vấn đề mang tính chất khoa học, được coi như là nhà KH đang tìm hiểu thế giới xung quanh, đang tập dượt NCKH Qua quá trình NC này, học sinh không chỉ thu được kết quả về kiến thức mà còn rèn luyện về kỹ năng, phẩm chất và có thái độ hiểu đúng hơn về khoa học, yêu thích khoa hoc, kích thích tính ham học hỏi ở học sinh
1.1.2.2 Cấu trúc của năng lực nghiên cứu khoa học
Dựa trên quy trình NCKH của Vũ Cao Đàm (2003), qua thực tiển dạy học, chúng tôi đã xây dựng
cấu trúc năng lực gồm 5 tiêu chí và 15 thành phần
NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Năng lực thu thập
và xử lí thông tin
về vấn đề nghiên cứu
Năng lực thiết kế thí nghiệm cáo và thuyết trình Năng lực viết báo
Thiết lập giả thuyết về vấn
NC
Có phương pháp thu thập thông tin khoa học và hiệu quả ((Xác định các biến)
Phân tích và
xử lí hiệu quả thông tin thu thập được
Đưa ra được
cơ sở lí thuyết
về vấn đề nghiên cứu
Xác định được mục tiêu của thí nghiệm
Thực hiện được các bước của thí nghiệm
Quan sát, ghi chép và thu thập
dữ liệu để giải thích kết quả thu được
Trình bày được kết quả nghiên cúu
Nêu được ý nghĩa và lập dàn ý bài báo cáo
Viết được báo cáo khoa học
Trình bày và giải thích
Trang 91.1.3 Đổi mới phương pháp dạy nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học
1.1.3.1 Đổi mới phương pháp dạy nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho học sinh
a Bản chất dạy học phát triển năng lực NCKH của học sinh
b Quy trình dạy học phát triển năng lực nghiên cứu khoa học
Bước 1: Quan sát sự vật, hiện tượng và xác định vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Thiết lập giả thuyết hoặc dự đoán về vấn đề nghiên cứu
Bước 3: Thu thập và xử lí thông tin về vấn đề nghiên cứu
Bước 4: Kết luận xác nhận hay phủ nhận giả thuyết về vấn đề nghiên cứu
Giải thích quy trình NCKH trong dạy học Sinh học
1.1.3.2 Ý nghĩa của việc phát triển năng lực NCKH cho HS
Bảo đảm vị thế tích cực, chủ động của người học
Người học được đặt vào vị trí chủ động nhất: tìm tòi, phát hiện và độc lập giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn của từng bộ môn, từng lĩnh vực tri thức
Hình thành phương pháp làm việc khoa học
Điều này tạo cơ sở vững chắc cho việc hình thành ở người học các phẩm chất và năng lực, kỹ năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học – yêu cầu bắt buộc đối với người tri thức thời đại kinh tế tri thức và xã hội học tập
Phát triển hứng thú nhận thức, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của người học
Trong hướng dạy học này người học không chỉ tự mình tìm cách giải quyết các vấn đề đặt ra mà còn tự phát hiện ra các vấn đề mới cần giải quyết
Bảo đảm tốt nhất yêu cầu cá biệt hóa dạy học
Phù hợp với tốc độ, nhịp độ học tập của từng người học Mỗi người học đặt ra và giải quyết các vấn đề trong khã năng của mình, với tốc độ và nhịp độ phù hợp nhất với mình Điều này cho phép hiện thực hóa tối đa yêu cầu cá biệt hóa dạy học, đồng thời củng bảo đảm một sự đánh giá khách quan nhất những tiến bộ của người học
Phù hợp đặc điểm tâm lý – nhận thức, nhân cách của người học trưởng thành
G.A.Kelly, nhà tâm lý học xuất sắc thế kỷ XX, nhìn nhận mỗi con người là một nhà khoa học, nó
cố gắng hiếu, lý giải, dự đoán, kiểm soát thế giới các sự kiện để có thể tác động qua lại có hiệu quả với chúng Cách thức nhận thức thế giới của con người giống hệt như cách thức nhận thức của nhà khoa học Chính những lý do này cho phép khẳng định, về mặt tâm lý học dạy học, dạy học theo phương pháp NCKH là phù hợp hơn cả đối với người học trưởng thành
Gắn đào tạo với việc giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn
Bằng việc phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong từng môn khoa học, từng lĩnh vực tri thức, quá trình học tập, đào tạo được gắn một cách hữu cơ vào cuộc sống xã hội, vào đời sống khoa học Qua đây,người học thấy được giá trị thực tiễn của các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo học được, điều này tạo ra động cơ tích cực cho việc học
Bảo đảm xu hướng dân chủ hóa nhà trường
Đây là xu thế chung của giáo dục thế giới hiện đại.Với việc đưa phương pháp NCKH vào dạy học,
Trang 10người học sẽ có cơ hội nhìn vấn đề từ nhiều góc độ, nhiều quan điểm nghiên cứu, tránh bị áp đặt một hướng duy nhất, và có cơ hội đưa ra giải pháp mang tính sáng tạo và dấu ấn cá nhân Đây là tiền đề quan trọng cho việc dân chủ hóa nhà trường và giáo dục
Phù hợp với đặc điểm người giáo viên
Những kinh nghiệm NCKH được áp dụng tối đa cho đào tạo và điều này bảo đảm một sự thành công gần như chăc chắn đối với hầu hết mọi nhà giáo Nhà khoa học và nhà giáo thống nhất với nhau trong người giáo viên
Phù hợp với điều kiện không gian và thời gian của việc đào tạo trong xã hội hiện đại
Dạy học theo phương pháp NCKH cũng cho phép sử dụng tối ưu quỹ thời gian của người học Điều này phù hợp với xu thế chung của chương trình giáo dục hiện đại trên thế giới
Nói tóm lại, dạy học theo phương pháp NCKH bảo đảm tốt nhất mục tiêu đổi mới phương pháp theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo yêu cầu của Luật giáo dục: “phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên”
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng rèn luyện NL NCKH cho HS strong dạy học Sinh học ở trường THPT
1.2.1.1 Thực trạng sử dụng phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng phát triển NL của học sinh trong dạy học Sinh học ở THPT
1.2.1.2 Thực trạng về việc đổi mới PPDH theo định hướng PTNL NCKH của học sinh trong dạy học Sinh học
1.2.2 Khảo sát bước đầu về năng lực NCKH của HS trong học tập môn Sinh học
Qua điều tra thực thực tiễn, chúng tôi có một vài ý kiến nhận xét sau:
Về chương trình: Vẫn còn nặng về lý thuyết, những giờ thực hành vận dụng kiến thức vào thực
tiễn còn ít, thiếu giờ học cho HS làm việc ngoài trời
Về thiết bị dạy học: Trường vẫn chưa được trang bị đủ dụng cụ, thiết bị TH TN
Về GV: GV hiểu rõ được tầm quan trọng và sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ PPDH, kiểm tra
đánh giá theo định hướng phát triển năng lực HS Tuy nhiên, đa phần GV chưa chủ động trong việc đổi mới chương trình dạy học, phương pháp dạy còn phụ thuộc nhiều vào chương trình dạy Vì vậy, việc giáo viên tự thiết kế và tổ chức các HĐDH theo hướng phát triển NL của HS vẫn còn rất ít
Về phía học sinh
Phần lớn HS chưa ý thức được việc rèn luyện NL trong học tập nói chung và NL NCKH nói riêng
là việc làm cần thiết, có tác động lớn đến việc tiếp thu bài học, đến năng lực và tính cách của các em sau này
Một phần là do ngoài thời gian học tập chính khóa, các em phải đi học thêm nhiều Mặt khác môn Sinh ở trường PT đa phần được em xem như là môn phụ vì ít chọn được nghành nghề ở các trường cao đẳng, đại học, cho nên các em ít dành thời gian đầu tư học tập Trong thi cử chỉ chú trọng kiến thức, không chú trọng kiểm tra năng lưc, nên việc dành thời gian cho việc tự nghiên cứu phát triển NL còn hạn chế
Trang 11TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề tài cho thấy:
Có rất nhiều phương pháp truyền đạt kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho HS, trong đó NCKH được xem là phương pháp mới có hiệu quả cao trong thời đại CNTT bùng nổ
Dạy học theo định hướng phát triển NL NCKH bằng cách ra bài tập theo các hướng khác nhau và
có thể vận dụng vào các khâu trong quá trình lên lớp Trong quá trình học tập, HS tham gia giải các bài tập vừa để tiếp nhận kiến thức và hướng đến rèn luyện năng lực NCKH
Vì vậy, trong dạy học Sinh học việc thiết kế quy trình dạy học để phát triển NL NCKH là việc làm rất cần thiết Dựa trên cơ sở lý luận và tính thực tiễn của môn học, chúng tôi tiến hành thiết kế quy trình dạy học phát triển NL NCKH ở phần Sinh học vi sinh học, Sinh học 10
Qua nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi nhận thấy phương pháp dạy học theo định hướng NL NCKH với môn Sinh học sẽ tạo được hứng thú cho HS trong giờ học, mang lại hiệu quả hơn trong dạy học và giúp HS dễ liên hệ kiến thức với thực tiễn hơn