1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế

111 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 9,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ LÊ THỊ PHƯƠNG THỦY NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM LỚN Ở HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

LÊ THỊ PHƯƠNG THỦY

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM LỚN

Ở HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGÔ ANH

Huế - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ

LÊ THỊ PHƯƠNG THỦY

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM LỚN

Ở HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: THỰC VẬT HỌC

Mã số: 60 42 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGÔ ANH

Huế - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn

là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Lê Thị Phương Thủy

Trang 4

Lời Cảm Ơn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS Ngô Anh

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Sinh học – Trường Đại học Sư phạm Huế và Trường Đại học Khoa học Huế đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Cám ơn quý thầy cô khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm Huế và Trường Đại học Khoa học Huế đã tận tình giảng dạy và chỉ bảo chúng tôi trong suốt khóa học

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn ba mẹ, anh chị, bạn bè đã động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tác giả

Lê Thị Phương Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1.1 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn trên thế giới 6

1.2 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn ở Việt Nam 7

1.3 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn ở Thừa Thiên Huế 10

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 12

2.1 Điều kiện tự nhiên 12

2.2 Đặc điểm địa hình, đất đai, thảm thực vật 14

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 Danh lục nấm lớn huyện quảng điền 25

4.2 Đánh giá tính đa dạng sinh học của nấm lớn huyện quảng điền 34

4.2.1 Sự đa dạng về thành phần loài nấm lớn huyện Quảng Điền 34

4.2.2 Sự phân bố nấm lớn trong các sinh cảnh chính 37

4.2.3 Phương thức sống của nấm huyện Quảng Điền 40

4.3 Một số đặc điểm khu hệ nấm lớn huyện quảng điền 42

4.3.1 So sánh tình đa dạng thành phần loài nấm lớn ở huyện Quảng điền so với một số vùng khác thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế 42

4.3.2 Đặc trưng thành phần về loài 44

4.3.3 Biến động cấu trúc thành phần loài theo mùa 59

4.4 Giá trị tài nguyên nấm lớn huyện quảng điền 60

4.4.1 Giá trị tài nguyên nấm lớn huyện Quảng Điền 60

4.4.2 Các loài quý hiếm, loài có tiềm năng lớn trong công nghệ sinh học và kinh tế quốc dân 66

4.4.3 Tình hình sử dụng nấm tại địa phương 67

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

I Kết luận 70

II Đề nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

Am

CS

cs

DP ĐHKHTN ĐHSP ĐTM

H

HS HSTĐ HSTG

KS

NĐ NXB

p

SM

TP

TT

tr

American Cộng sinh Cộng sự Dược phẩm Đại học Khoa học tự nhiên Đại học Sư phạm

Điểm thu mẫu Hình

Hoại sinh Hoại sinh trên đất Hoại sinh trên gỗ

Kí sinh Nấm độc Nhà xuất bản Page

Số mẫu Thực phẩm Thứ tự Trang

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp các loại đất theo nguồn gốc phát sinh 14

Bảng 2.2 Các kiểu thảm thực vật tự nhiên ở vùng cát 15

Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành 34

Bảng 4.2 Sự phân bố các taxon trong các lớp 35

Bảng 4.3 Sự phân bố các taxon trong các bộ 35

Bảng 4.4 Các họ đa dạng nhất 36

Bảng 4.5 Các chi đa dạng nhất 36

Bảng 4.6 Đánh giá tính đa dạng loài của các ngành 37

Bảng 4.7 Danh lục các loài nấm cộng sinh 41

Bảng 4.8 Sự đa dạng nấm huyện Quảng Điền với các địa phương khác 43

Bảng 4.9 Danh lục loài nấm mới 45

Bảng 4.10 Danh lục các loài nấm thực phẩm 62

Bảng 4.11 Danh lục các loài nấm có thể làm dược liệu 64

Bảng 4.12 Danh lục các loài nấm độc 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu huyện Quảng Điền 21

Hình 4.1 Phân bố các loài trong các sinh cảnh 37

Hình 4.2 Phổ các phương thức sống của nấm 40

Hình 4.3 Hình thái ngoài và bào tử Agaricus rubellus (Gill.) Sacc 46

Hình 4.4 Hình thái ngoài và bào tử Amanita spissacea Imai 47

Hình 4.5 Hình thái ngoài và bào tử Armillaria melica (Vahl) Quél 47

Hình 4.6 Hình thái ngoài và bào tử Bovistella longipedicellata Teng 48

Hình 4.7 Hình thái ngoài Clavulina ornatipes (Peck) Corner 48

Hình 4.8 Hình thái ngoài và bào tử Clitocybe cyathiformis (Bull.) Quél 49

Hình 4.9 Hình thái ngoài và bào tử Clitocybe sinopica (Fr.) Gill 49

Hình 4.10 Hình thái ngoài và bào tử Collybia umbrina Clem 50

Hình 4.11 Hình thái ngoài Coriolopsis biogilva (Lloyd) Teng 50

Hình 4.12 Hình thái ngoài và bào tử Entoloma murrayi (Berk & Curt.) Sacc 51

Hình 4.13 Hình thái ngoài và bào tử Inocybe umbrinella Bres 52

Hình 4.14 Hình thái ngoài và bào tử Isaria cicadae Miquel 52

Hình 4.15 Hình thái ngoài và bào tử Lepiota metulaespora (Berk & Br.) Sacc 53

Hình 4.16 Hình thái ngoài và bào tử Lycoperdon pusillum Batsch 54

Hình 4.17 Hình thái ngoài và bào tử Naucoria pediales Fr Quél 54

Hình 4.18 Hình thái ngoài và bào tử Pholiota flammans (Batsch) Quél 55

Hình 4.19 Hình thái ngoài và bào tử Pholiota liquiritiae (Pers.) P Karst 56

Hình 4.20 Hình thái ngoài và bào tử Steccherinum septentrionale (Fr.) Banker 56

Hình 4.21 Hình thái ngoài và bào tử Stemonitis pallida Wing 57

Hình 4.22 Hình thái ngoài và bào tử Tricholomopsis platybylla (Pers ex Fr.) Sing 58

Hình 4.23 Hình thái ngoài và bào tử Tricholoma sordium (Fr.) Quél 58

Hình 4.24 Biến động thành phần loài theo mùa 59

Hình 4.25 Phổ giá trị tài nguyên nấm lớn 61

Hình 4.26 Volvariella volvacea 65

Hình 4.27 Lepiota caerulescens 65

Hình 4.28 Tình hình sử dụng nấm tại huyện Quảng Điền 68

Trang 8

MỞ ĐẦU

Nấm là nhóm lớn thứ hai của các sinh vật trong sinh quyển sau côn trùng, tuy nhiên số loài nấm được biết đến chỉ chiếm khoảng 5% số loài trên thế giới Vì vậy, phần lớn các loài nấm vẫn chưa được biết Trong số khoảng 70.000 loài được

mô tả có khoảng 14.000 - 15.000 loài tạo quả thể kích thước đầy đủ và cấu trúc phù hợp để được xem là nấm lớn Trong số này, khoảng 5.000 loài được xem là có mức

độ khác nhau của tính ăn được, và hơn 2.000 loài từ 31 chi được coi là nấm ăn được Nhưng chỉ có 100 trong số họ được trồng thử nghiệm Hơn nữa, khoảng 1.800 loài là dược liệu Số lượng nấm độc là tương đối nhỏ (khoảng 10%), trong số này có khoảng 30 loài được xem là gây chết người [80]

Bên cạnh đó, trong cuộc sống hiện nay con người phải đối mặt với rất nhiều thách thức, trong đó bao gồm: nguồn cung cấp lương thực, chất lượng lương thực không đảm bảo và tăng suy thoái môi trường là ba vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến tương lai hạnh phúc nhân loại Việc khai thác, sử dụng các giá trị của nấm lớn góp phần giải quyết những vấn đề trên Đã từ lâu nấm được đánh giá là nguồn thực phẩm tương đối rẻ tiền mang lại nguồn protein chất lượng cao, nguồn nguyên liệu sạch được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới Trong nấm chứa các loại vitamin B,

C và D, bao gồm các niacin, riboflavin, thiamine và folate; chứa nhiều khoáng chất khác nhau bao gồm kali, phốt pho, canxi, magiê, sắt và đồng Chúng cung cấp carbohydrate, nhưng ít chất béo và chất xơ, và không chứa tinh bột Ngoài ra, còn chứa các axit amin thiết yếu, một số nấm có lợi ích chữa bệnh nhất định, được biết đến để tăng cường hệ miễn dịch Theo ước tính có khoảng sáu phần trăm nấm ăn được biết là có đặc tính chữa bệnh [82] Một số loài được ứng dụng trong công

nghiệp dược phẩm, dùng để điều chế các hoạt chất điều trị bệnh như: Ganoderma lucidum thành phần quan trọng bao gồm β và Hetero-β-glucans có tác dụng chống

ung thư, tăng cường hệ miễn dịch; ling zhi-8 protein chống dị ứng, điều hòa miễn dịch; axit ganodermic – triterpenes chất chống dị ứng, giảm cholesterol và hạ huyết

áp… [27]; Nấm đông trùng hạ thảo - Isaria cicadae có nhiều chức năng sinh học,

do chứa các chất có hoạt tính sinh học như: myriocin điều trị bệnh đa xơ cứng;

Trang 9

adenosine tác dụng có lợi trên hệ thống thần kinh trung ương, rối loạn tim mạch, kháng bức xạ và tác dụng chống khối u; cordycepin đã được chế biến thành các loại thuốc chủ yếu dành cho việc điều trị bệnh bạch cầu, mà đã được thử nghiệm lâm sàng… [87]

Nấm có thể sản xuất một nhóm các enzyme ngoại bào phức tạp bao gồm: peroxidaza lignin (LIP), mangan peroxidase (MnP), laccase… có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc khôi phục môi trường, duy trì cân bằng hệ sinh thái [75] Tùy vào phương thức sống của nấm như hoại sinh, cộng sinh hay cả ký sinh mà được sử dụng để lọc nước, khôi phục lại rừng, loại bỏ chất thải độc hại và kiểm soát côn trùng gây hại Nấm còn có giá trị lớn trong công nghiệp hóa học, cộng nghiệp thuộc da…

Chính vì thế, về cả hai phương diện khoa học và thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn Việc đánh giá mức độ đa dạng các loài nấm lớn của các khu vực cụ thể, là một yêu cầu cơ bản tạo cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn và khai thác bền vững nguồn tài nguyên này

Hiện nay khu hệ nấm lớn Việt Nam nói chung, và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng chưa được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh Trong đó, Quảng Điền là huyện đồng bằng ven biển, đầm phá nằm về phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế Phần lớn diện tích huyện Quảng Điền thuộc địa bàn thấp trũng, địa hình chia thành 3 vùng chính gồm: đồng bằng lưu vực sông Bồ, vùng cát nội đồng và vùng ven biển – đầm phá [62] Vì vậy, khu hệ nấm ở đây đa dạng về thành phần loài và dạng sống Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đây vẫn chưa được nghiên cứu.Việc nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Quảng Điền, nhằm xác định thành phần loài,

bổ sung cho danh lục khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế cũng như khu hệ nấm ở Việt Nam; đánh giá tính đa dạng sinh học và giá trị tài nguyên của nấm; xác định các loài quý hiếm, loài nguy cấp và loài có tiềm năng lớn trong công nghệ sinh học, kinh tế quốc dân là rất cần thiết, đồng thời bảo tồn và phát triển nguồn gen của những loài quý hiếm để bảo vệ sự đa dạng sinh vật ở Việt Nam và thế giới Vì vậy,

chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn trên thế giới

Từ lâu nấm đã được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Con người đã biết sử dụng nấm làm thực phẩm cách đây 13.000 năm tại dãy Andes, được xác nhận thông qua hồ sơ khảo cổ học Cách đây hơn 3.000 năm, người Trung Quốc đã biết dùng nấm làm thức ăn Tại Hy Lạp và La Mã cổ đại, nấm được đánh giá cao và được sử dụng ở những tầng lớp cao Người dân trên khắp miền nam châu Phi đã ăn nấm trong nhiều thế kỷ [80]

Vào thế kỷ IV trước Công Nguyên, hai nhà bác học người Hy Lạp là

Theosphraste và Aristote đã đề cập đến nấm cục (Tuberaceae) và nấm tán (Agaricaceae) trong tác phẩm của mình Đến thế kỷ thứ I sau công nguyên nhà tự

nhiên học người La Mã Plini là người đầu tiên phân loại nấm dựa vào hình thái ngoài và giá trị kinh tế của nấm Tuy nhiên, trong suốt thời gian từ thế kỷ IV trước công nguyên đến thế kỷ XVIII sau công nguyên, con người vẫn hiểu biết chưa nhiều về nấm [81]

Thời kỳ nấm học phát triển rực rỡ là cuối thế kỷ XIX với nhiều công trình của các tác giả: Fries (1821 – 1838), Saccardo (1888), Karseten (1881 – 1889), Patouillard (1890 – 1928) Từ đó tạo ra hệ thống nấm cơ bản và bước đầu phân loại nấm dựa vào các đặc điểm hiển vi của nấm

Vào đầu thế kỷ XX nấm học phát triển mạnh mẽ và trở thành một ngành khoa học, một trong những ngành mũi nhọn được con người quan tâm rất nhiều Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới Các nhà nấm học đã hình thành một hệ thống phân loại khá ổn định ở Châu

Âu, Bắc Mỹ như hệ thống của Domanski (1960), Jahn (1963); Ryvarden (1976 – 1978)…, đặc biệt một số chi mới được mô tả dựa vào đặc điểm hiển vi

Trong những năm cuối thế kỷ XX nhiều tiêu chuẩn mới đã được sử dụng trong phân loại như: phản ứng hóa học, sự phân tính, hệ sợi nấm, kiểu gây mục, đặc điểm nuôi cấy Đặc biệt các đặc điểm về thành phần sinh hóa và cấu trúc phân tử ADN đã được ứng dụng trong phân loại nấm

Trang 11

Hiện nay, trên thế giới có khoảng gần 2000 loài nấm có thể sử dụng làm thực phẩm trong tổng số 70.000 loài nấm đã được phát hiện, hơn thế nữa trong số này có tới 200 loài nấm đã được người dân các nước phương đông sử dụng trong y học cổ truyền để trị bệnh Tuy nhiên, mới chỉ có khoảng 35 loài nấm được nuôi trồng thương mại, khoảng 20 loài trong số này được nuôi trồng với quy mô công nghiệp thuộc cả hai nhóm nấm dược phẩm và thực phẩm [80]

Trong nhóm nấm dược phẩm chủ yếu hai loài Linh Chi (Ganoderma lucidum) và Vân Chi (Trametes versicolor) là được nuôi trồng với quy mô lớn Nấm thực phẩm nuôi trồng chủ yếu là nấm mỡ (Agaricus bisporus) khoảng 32%; Nấm hương (Lentinus endodes), 25,4%; nấm sò (Pleurotus spp.), 14,2%; Mộc nhĩ (Auricularia spp.), 7,9%; nấm rơm (Volvariella volvacea), 7,9% [82]

Tổng sản lượng nấm trên thế giới năm 1997 là 6.158.400 tấn tương đương với 14 tỉ USD (Chang, 1999) Sản lượng nấm trên thế giới năm 2002 là 12.250.000 tấn [80] Như vậy chỉ sau 5 năm sản lượng nấm trên thế giới đã tăng gần gấp đôi, điều này chứng tỏ thị trường nấm trên Thế giới đang phát triển rất mạnh Những quốc gia có ngành sản xuất nấm phát triển hiện nay như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều là những quốc gia có sự đầu tư đúng mức cho các nghiên cứu thực nghiệm và phát triển công nghệ

1.2 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nấm làm thực phẩm và dược

phẩm Nhà bác học, Lê Quý Đôn (1726 – 1784) đã đánh giá “Linh chi là một sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam” qua tác phẩm “Vân đài loại ngữ” và “Kiến văn tiểu lục” [36]

Từ trước đến cuối thế kỷ XIX, hầu như không có công trình nghiên cứu về phân loại nấm Việc nghiên cứu nấm bắt đầu được tiến hành bởi các nhà khoa học nước ngoài trong thời kỳ Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX, tiêu biểu các nhà nấm học

như: Patouillard N., Hariot P., Roger, Petelot, Eberhardt… Tổng kết khu hệ nấm

Việt Nam từ năm 1890 – 1928 có khoảng 200 loài

Năm 1953, người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu về nấm là Phạm Hoàng Hộ,

trong công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” [42], ông mô tả tóm tắt 48 chi và 1

Trang 12

loài nấm lớn Từ đây, các công trình nghiên cứu hệ nấm Việt Nam bắt đầu được chú trọng và nghiên cứu Các công trình nghiên cứu giai đoạn từ năm 1954 – 2000, với tnhiều công trình nghiên cứu lớn nhỏ, bước đầu nghiên cứu đánh giá sự đa dạng khu

hệ nấm Việt Nam cũng như mô tả các chi có giá trị tài nguyên và kinh tế cao, một

số công trình tiêu biểu như:

Năm 1994, tại hội nghị Quốc tế về nấm Linh Chi được tổ chức tại Đại Học Y

Khoa Bắc Kinh – Trung Quốc, Phan Huy Dục đã báo cáo “Research and culture of the mushroom Ganoderma lucidum (Leyss:Fr) Karst in Vietnam”

Năm 1996, Trịnh Tam Kiệt và Ngô Anh báo cáo về họ nấm Linh

chi Ganodermataceae Donk ở miền Trung Việt Nam tại hội nghị quốc tế về nấm tại Nhật Bản với đề tài “Study on the family Ganodermataceae Donk in the Central Region of Vietnam” [76], với 30 loài Linh chi ở miền Trung Việt Nam, trong đó có

20 loài mới ghi nhận lần đầu tiên cho khu hệ nấm ở miền Trung Việt Nam

Trịnh Tam Kiệt (1998) công bố đặc điểm khu hệ nấm Việt Nam

“Charakteristika der GroBpilzflora Vietnams”, và danh lục khu hệ nấm Việt Nam

“Preliminary checklist of macrofungi of Vietnam” với 837 loài nấm ở Việt Nam đã

được công bố và ghi nhận

Hội nghị Sinh học toàn quốc ở Hà Nội (tháng 12 năm 1999), Ngô Anh báo

cáo “Nghiên cứu họ nấm linh chi (Ganodermataceae) ở Thừa Thiên Huế” gồm 35 loài thuộc 2 chi Ganoderma và Amauroderma, trong đó 10 loài mới ghi nhận cho

khu hệ nấm Việt Nam; Lê Xuân Thám, Trần Hữu Độ và Hoàng Nghĩa Dũng công

bố “Nghiên cứu công nghệ hoá tài nguyên nấm bào ngư, loài mới Pleurotus blaoensis Thám sp nov & Antromycopsis blaoensis Thám anam nov tìm được ở Bảo Lộc, Lâm Đồng”; Nguyễn Thị Chính, Kiều Thu Vân, Dương Đình Bi và Nguyễn Thị Đức Hiền báo cáo “Nghiên cứu một số hoạt chất sinh học và tác dụng chữa bệnh của nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum)”

Năm 2000, tại Hội nghị Sinh học Quốc Gia, những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu sinh học, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, U Grafe và J Dorfelt đã công bố

“Những dẫn liệu bổ sung về thành phần loài và hoá các hợp chất tự nhiên của khu

hệ nấm Việt Nam” [46], trong đó các tác giả đã công bố 65 loài mới của khu hệ nấm

Trang 13

Việt Nam và thông báo về các hợp chất tự nhiên được nghiên cứu ở 25 loài nấm Việt Nam, trong đó hơn 10 cấu trúc mới về các hợp chất tự nhiên ở nấm Việt Nam

đã được xác định cho khoa học Phan Huy Dục và Nasakazu Hiraide báo cáo “Kết quả bước đầu điều tra nghiên cứu nấm phá hoại gỗ ở rừng ngập mặn tại lâm - ngư trường Tam giang 3, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà mau” đã công bố 20 loài

Hội nghị châu Á (2000) về thực vật dược ở Bangladesh, Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, P Kleinwachter và U Grafe đã báo cáo về các hợp chất nhóm sterol mới

lạ được chiết từ loài Ganoderma colossum của Việt Nam “New unusual sterol – type metabolites from a Vietnamese mushroom, Ganoderma colossum” [7]

Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có các báo cáo như: Ngô Anh

với công trình “Sự đa dạng về công dụng của khu hệ nấm ở Thừa Thiên Huế” gồm

326 loài trong 6 nhóm nấm có ích và có hại; Phan Huy Dục báo cáo “Nấm (Macromyces) ở vườn Quốc Gia Tam Đảo Vĩnh Phúc” công bố 41 loài, 17 họ trong

2 lớp Ascomycetes và Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt báo cáo

“Các taxon mới ghi nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng” công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam

Tổng kết cho đến năm 2001 đã có 1250 loài nấm lớn thuộc khu hệ nấm Việt Nam được công bố Từ năm 2001, các công trình nghiên cứu bắt đầu chú trọng nghiên cứu các hoạt chất trong nấm mang các giá trị lớn về mặt dược liệu cũng như

y học Tiêu biểu như, Kleinwachter P., Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, Schlegel B., Dahse H M, Hartl A và U Grafe đã công bố 7 hoạt chất mới nhóm triterpenoid:

Colossolactones A – G (1-7) được chiết từ loài Ganoderma colossum được thu thập

ở Huế Năm 2013, Ngô Anh báo cáo “Tác dụng của Linh Chi” tác giả cho biết vai trò

quan trọng của Linh Chi trong điều trị và chữa bệnh

Công trình tổng kết những kết quả nghiên cứu về nấm ở Việt Nam từ trước cho

đến nay đã được Trịnh Tam Kiệt tổng hợp và công bố trong “Danh lục nấm lớn ở Việt Nam” (2014), trong đó có 1821 loài nấm lớn đã được ghi nhận ở Việt Nam [51]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu về khu hệ nấm, thì việc trồng nấm ở Việt Nam cũng đang dần được chú trọng không kém Nấm Linh chi đạt tổng sản lượng ở Việt Nam khoảng 20 tấn/năm Nấm bào ngư được nuôi trồng phổ biến dễ

Trang 14

dàng ở Việt Nam, song thị trường còn quá hạn hẹp, tổng sản lượng hiện nay không quá 1000 tấn Nấm mộc nhĩ, hiện chúng ta sản xuất khá ổn định với tổng sản lượng khoảng 8.000 - 10.000 tấn/năm Nấm mỡ đã từng được sản xuất ở Việt Nam và xuất khẩu cách đây 15 - 20 năm, với sản lượng vài trăm tấn/năm [80]

1.3 Những kết quả nghiên cứu nấm lớn ở Thừa Thiên Huế

Tại Thừa Thiên Huế, các công trình nghiên cứ nấm lớn tiêu biểu như:

Năm 1982, Ngô Anh và Trịnh Tam Kiệt công bố công trình “Góp phần nghiên cứu khu hệ nấm lớn Bình Trị Thiên”, các tác giả đã xác định được 111 loài [1]

Năm 1996, Ngô Anh và Trịnh Tam Kiệt báo cáo về họ Nấm Linh Chi ở miền Trung Việt Nam, các tác giả đã nêu danh lục 30 loài nấm Linh Chi, trong đó có 20 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn miền Trung Việt Nam

Năm 2009, Trần Thị Thuý với đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài nấm lớn ở một số di tích lịch sử tại tỉnh Thừa Thiên Huế” [71] Kết quả xác định

được 159 loài, 70 chi, 33 họ, 20 bộ, 4 lớp thuộc 3 ngành: Myxomycota,

Ascomycota và Basidomycota Trần Hữu Khôi với đề tài: “Nghiên cứu khu hệ nấm lớn ở huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” Kết quả đã xác đinh được 162 loài

nấm lớn , 51 chi, 26 họ, 20 bộ, 3 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidomycota

Năm 2010, nhiều tác giả đã công bố công trình nghiên cứu của mình trong

luận văn thạc sĩ: Nguyễn Thị Kim Cúc với đề tài “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của nấm lớn khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” [26], đã xác định được 162 loài nấm lớn thuộc 63 chi, 30 họ, 18

Năm 2011, Nguyễn Thị Thảo Nguyên, với đề tài “Thành phần loài nấm lớn

ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” [58] tác giả đã xác định được 170 loài trong

đó có 34 loài mới ghi nhận cho khu hệ nấm lớn ở Việt Nam Võ Bá Định, với đề tài

Trang 15

“Thành phần loài nấm lớn ở huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế” [35], tác giả

đã xác định 182 loài nấm lớn thuộc 64 chi, 30 họ, 20 bộ, 3 lớp thuộc 3 ngành

Trương Thị Hiệp Thành, với đề tài “Thành phần loài nấm lớn ở huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” [66] đã xác định được 178 loài thuộc 74 chi, 34 họ, 21 bộ, 3

lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidomycota

Năm 2013, Ngô Thị Thuỳ Trang, với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế” [69] đã xác định được 156

loài thuộc 77 chi, 32 họ, 20 bộ, 3 lớp trong 3 ngành

Năm 2014, Nguyễn Thị Phượng với đề tài “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”[61], đã xác đinh được 168 loài thuộc

73 chi, 34 họ, 22 bộ, 3 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidomycota

Ở Thừa Thiên Huế năm 2010, Ngô Anh và Trần Thị Thúy trong báo cáo “Đa dạng các taxon và yếu tố địa lý cấu thành khu hệ nấm lớn Thừa Thiên Huế” công bố

thành phần loài nấm lớn ở Thừa Thiên Huế gồm 465 loài, ghi nhận 44 loài mới cho khu hệ nấm lớn Việt Nam [24]

Đến năm 2015, dựa vào báo cáo “Đa dạng các taxon và yếu tố địa lý cấu thành khu hệ nấm lớn Thừa Thiên Huế” của Ngô Anh và Trần Thị Thúy (2010) với

các kết quả trong các luận văn cao học đã bảo vệ về nấm ở tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2010 đến nay, chúng tôi đã thống kê được thành phần loài nấm lớn ở Thừa

Thiên Huế hiện nay có 720 loài [24,51]

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về nấm lớn ở tỉnh Thừa Thiên Huế, nhưng ở huyện Quảng Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế thì chưa có

công trình nghiên cứu về nấm lớn nào được tiến hành Vì vậy, việc “Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” là yêu

cầu cấp thiết

Trang 16

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

2.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1 Vị trí địa lý

Đông Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế

Được giới hạn trong tọa độ địa lý:

16040/13// vĩ độ Bắc

107021/58// kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp huyện Phong Điền

- Phía Tây giáp thị xã Hương Trà

- Phía Đông giáp biển Đông

- Phía Nam giáp thị xã Hương Trà

Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 16.304,55 ha gồm 10 xã và 1 thị trấn 2.1.2 Khí hậu

Quảng Điền là huyện nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất chuyển tiếp từ á xích đới lên nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta

- Mùa lạnh: từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ bình quân về mùa lạnh từ 20 - 220C, tháng có nhiệt độ thấp nhất (tháng 1) nhiệt độ có khi xuống dưới 180C

* Chế độ mưa

Khu vực này có lượng mưa lớn, lượng mưa trung bình hàng năm trên 2.500

mm, có nơi lên đến hơn 4.500 mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau

Trang 17

nhưng tập trung chủ yếu vào 4 tháng (tháng 9 đến 12), tháng 11 có lượng mưa nhiều nhất chiếm tới 30% lượng mưa cả năm Độ ẩm trung bình hàng năm là 85 - 86%

* Gió bão

Chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:

- Gió mùa Tây Nam: bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân từ 2 -

3 m/s có khi lên tới 7 - 8 m/s Gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô kéo dài

- Gió mùa Đông Bắc: bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió 4 - 6 m/s, gió kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt, ngập úng ở nhiều vùng

Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9, 10 Trong các trường hợp chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, lốc, tố, dông và gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió lớn có thể đạt trên 15 - 20 m/s trong gió mùa Đông Bắc, 30 - 40 m/s trong bão, lốc

2.1.3 Thuỷ văn

Hệ thống mạng lưới sông ngòi trên địa bàn huyện khá nhiều và được phân

bố đều gần như trên toàn lãnh thổ Tất cả đều thuộc nhánh sông Bồ và các hói trầm cát đổ về

Sông Bồ chảy vào địa phận huyện Quảng Điền từ xã Quảng Phú, sông chia làm hai nhánh chính: một nhánh chảy qua xã Quảng Thọ, Quảng An, Quảng Thành rồi nhập vào ngã ba Sình và đổ vào sông Hương về phía Đông; một nhánh khác chia nhỏ dòng chảy thành nhiều hói như Diên Hồng, Bạch Đằng, An Xuân,… để đổ ra phá Tam Giang theo hướng Bắc

Về phía các trầm cát, dòng nước ngầm từ khu vực đồi cát ở phía Tây Bắc tạo nên những hói trầm cát như Bàu Niên, Nam Giản, Sông Nịu, Thủy Lập,… Hói Bàu Niên chảy về hạ du theo hai nhánh: nhánh hói Cao Xá chảy về phía Nam đổ vào sông Bồ qua cầu Kẽm, nhánh hói Phổ Lại chạy theo hướng Đông đổ vào sông Bồ ở hói Ngã Tư và hói Đồng Lâm Qua điều tra, huyện Quảng Điền được đánh giá là nơi

có nguồn nước tương đối phong phú, có đều quanh năm và phân bố trên diện rộng, mực nước sâu từ 1- 4 m Tuy nhiên, ngoài các xã vùng cát, các xã còn lại nguồn nước ngầm có chất lượng nước kém phần lớn bị chua, phèn, nhiễm mặn và các chất thải từ khu dân cư, từ chăn nuôi và các chất hóa học sử dụng trong nông nghiệp Khu vực tách biệt ở bên kia phá thuộc hai xã Quảng Ngạn và Quảng Công có các hói trầm

Trang 18

cát nhỏ chảy về hướng Nam đổ ra phá Tam Giang Khu vực xã Quảng Thái giáp huyện Phong Điền có nhận nước từ hói Bến Trâu thuộc dòng nước sông Ô Lâu đổ vào sông Nịu và các nhánh kênh đào

2.2 Đặc điểm địa hình, đất đai, thảm thực vật

Thuộc địa hình đồng bằng duyên hải tương đối bằng phẳng, có độ cao tuyệt đối từ 15m trở xuống, trải dài theo hướng Tây – Bắc – Đông Nam và bị thu hẹp dần Đồng bằng Quảng Điền không tạo thành một dải rộng liên tục, mà thỉnh thoảng bị đứt đoạn, chia thành nhiều đồng bằng nhỏ do sự xuất hiện những trảng cát nội đồng hoặc những trằm bàu

Địa hình huyện Quảng Điền phân thành 3 vùng: vùng đồng bằng lưu vực sông Bồ; vùng đất cát nội đồng và vùng đầm phá ven biển Tổng chiều dài bờ biển

12 km và vùng đầm phá có diện tích 4.414 ha Đất nông nghiệp 5.996,6 ha, đất lâm nghiệp 2.368 ha [62]

Đất đai của huyện được hình thành gồm 3 nhóm: đất cát, đất biến đổi do trồng lúa và đất được bồi hàng năm

Bảng 2.1 Tổng hợp các loại đất theo nguồn gốc phát sinh [62]

(Nguồn: Báo cáo điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên các huyện)

Thực vật bậc cao có mạch ở vùng cát huyện Quảng Điền đã xác định được khoảng 300 loài Tuy thành phần loài không đa dạng như ở các hệ sinh thái rừng nhiệt đới khác, nhưng thảm thực vật vùng cát ở đây khá đa dạng về sinh cảnh phân

bố, có thể phân thành 10 kiểu thảm thực vật khác nhau trên các vùng cát di động,

Trang 19

cát khô cố định và cát ẩm Mỗi kiểu thảm có các quần xã thực vật đặc trưng riêng, đặc biệt trong số đó là các kiểu rừng nhiệt đới thường xanh có cấu trúc thành phần loài tương đối đa dạng và có ý nghĩa lớn đối với cộng đồng cư dân vùng cát

1 Trảng cỏ trên cát di động ven biển

2 Trảng cỏ xen lẫn ít cây bụi trên bãi cát di động

Trang 20

bình quân từ (- 0,5m) đến (+ 1,0m) Đồng bằng Quảng Điền bị chia cắt bởi nhiều sông suối, trong vùng có nhiều “lòng chảo” như vùng Quảng An, Quảng Thành, Quảng Phước, Quảng Thọ, đáy “lòng chảo” có nơi sâu đến (-1,50) Đây là một trong những cản trở không nhỏ đến việc tổ chức sản xuất và sinh sống của dân cư trong vùng

* Đặc điểm vùng đồng bằng

Ðất thường có địa hình bằng phẳng, dễ dàng canh tác và điều tiết nước, thích hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp, là nơi tập trung dân cư đông đúc và có lịch sử canh tác khá lâu đời, đất được thục hóa qua tác động định hướng của con người, có độ phì nhiêu thực tế cao Đặc biệt có hệ thống sông Bồ chảy qua, nên loại đất thuộc nhóm đất phù sa, đặc biệt là các loại đất phù sa được bồi hàng năm, đất phù sa không được bồi hàng năm, đất phù sa glây, và đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng, mặc dù có tổng diện tích không lớn, nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Những vùng đất này đều là các trọng điểm lúa, hoặc là những vùng canh tác các loại cây trồng có yêu cầu cao về thổ nhưỡng và có hiệu quả kinh tế cao như đậu đỗ, rau màu, cây ăn quả và các loại hoa

* Đặc điểm hệ thực vật

Đặc điểm hệ thực vật vùng này chủ yếu là các cây trồng do người dân sinh sống trồng, các cây ăn quả như: Mít, Xoài, Cam, Chuối… Bên cạnh đó, các loài thực vật thân gỗ được trồng như: Tre, Phi lao, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Sến, Xoan… Theo thống kê huyện Quảng Điền có tổng diện tích sản xuất nông nghiệp 10.340,7 ha Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày là 600,3 ha, trong đó diện tích lạc 507,4; Diện tích cây thực phẩm là 881,3 ha, diện tích trồng hoa là 23,7 ha [62]

2.2.2 Vùng cát nội đồng

2.2.2.1 Phân bố

Vùng phía Tây Bắc huyện: gồm 2 xã Quảng Thái, Quảng Lợi với tổng diện tích tự nhiên là 5.092,38 ha (chiếm 31,25% diện tích toàn huyện), 80% diện tích của vùng là đồi cát với độ cao từ 4 – 10 m so với mực nước biển Vùng này đất đai cằn cổi, nghèo dinh dưỡng

Trang 21

2.2.2.2 Đặc điểm đất cát nội đồng

Đất cát nội đồng ở đây có độ phì tự nhiên rất thấp, lượng sét nhỏ hơn 15%, chủ yếu là cát trắng Do đó khả năng giữ nước và các chất dinh dưỡng kém Vào mùa mưa nước dễ ngấm sâu vào lòng đất, nhiều nơi ngập úng liên tục, vào mùa khô đất khô hạn, nóng, lớp đất mặt khô rất nhanh, hấp nhiệt mạnh khiến cho nhiệt độ bề mặt rất cao Với những điểm đặc thù đó, đất cát nội đồng rất dễ bị rửa trôi, xói mòn

2.2.2.3 Đặc điểm khu hệ thực vật

Thảm thực vật điển hình cho vùng này thuộc kiểu rừng nhiệt đới thường xanh trên cát bồi tụ ven trằm nước bị tác động mạnh Đó là các khoảnh rừng nhỏ trên các sống đất cát được bồi tụ cao ven các trằm nước, tập trung nhiều cây gỗ lớn và có mật

độ che phủ dày với độ tàn che trung bình là 79% Rừng có cấu trúc gồm 3 tầng:

- Tầng thứ nhất: gồm cây gỗ lớn có chiều cao từ 8-15m, chủ yếu là: Bưởi

bung (Acronychia pedunculata), Mưng (Barringtonia acutangula), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Dẻ cát (Lithocarpus concentricus), Sơn quả to (Gluta megalocarpa), Xăng mã (Carallia brachiata), Tai chua (Garcinia cowa), Bứa vùng cát (G scheferi), Giền đỏ (Xylopia vielana), ;

- Tầng thứ hai: gồm cây bụi xen lẫn với cây gỗ nhỏ và cây tái sinh, chiều cao

từ 2 – 8 m, ưu thế là Quế rành (Cinnamomum burmannii), Cổ ướm (Archidendron bauchei), Dẻ cát (Lithocarpus concentricus), Bưởi bung (Acronychia pedunculata), Cơm nguội cọng (Ardisia pseudopedunculosa), Cù đèn (Croton sp.), Sừng trâu (Tabernaemontae buffalina), Chòi (Planchonella obovata);

- Tầng thứ ba: tầng thảm tươi gồm những thực vật dưới 2m (cây non tái sinh

của cây gỗ và các loài thân thảo) Ưu thế trong tầng thảm tươi là Dẻ

gai Castanopsis sp., Cổ ướm (Archidendron bauchei), Cơm nguội áo (Ardisia villosa), Riềng mép ngắn (Catimbium breviligulatum), Dứa chót chẻ (Pandanus bipollicaris) và các loài thuộc họ Cỏ - Poaceae, họ Cói - Cyperaceae và họ hàng Dương xỉ Thực vật ngoại tầng thường gặp là Bù dẻ trườn (Uvaria microcarpa), Cát đằng thơm (Thunbergia fragrans), Tơ xanh (Casssytha filiformis), Dây chìu (Tetracera scandens), Tầm gửi (Loranthus sp.), Kim cang (Smilax china, S corbularia subsp synandra, S menispermoides)

Trang 22

Bên cạnh đó, kiểu rừng nhiệt đới thường xanh lá cứng trên đất cát khô bị tác động mạnh cũng thường gặp ở một số nơi trong vùng cát nội đồng với độ tàn che trung bình đạt 73%, với cấu trúc gồm 3 tầng Xen kẻ các khoảng rừng là các trảng

cỏ, trảng cây bụi nhiệt đới

Ngoài ra, thực vật thân gỗ thường thấy như Thông nhựa (Pinus merkussi), Tràm hoa vàng (Acacia auriculaeformis), Phi lao (Casuaria equisetifolia), Keo tai tượng (Acacia mangium), Bạch đàn (Eucalyptus tereticonis)… được người dân

trồng thành các đai rừng phòng hộ ven biển

2.2.3 Vùng ven biển - đầm phá

* Phân bố

- Vùng phía Bắc phá Tam Giang: gồm 2 xã ven biển Quảng Công, Quảng

Ngạn với tổng diện tích tự nhiên 2.362,31 ha (chiếm 14,5% diện tích toàn huyện), là dãi cồn cát phân chia giữa phá Tam Giang và biển Đông, đặc trưng địa hình cồn cát ven biển Bắc miền Trung nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng Độ cao trung bình

từ 10 – 30 m, đây là vùng nằm tương đối tách biệt với trung tâm huyện lỵ bởi phá Tam Giang, địa hình thuộc 2 dạng chính:

+ Vùng cát dốc: là đồi cát trắng với độ cao có thể lên đến 15 – 30 m, có độ nghiêng trên 25o, có khả năng trồng cây lâm nghiệp

+ Vùng đất bằng: dải đồng bằng hẹp, độ cao bình quân (+10 m) so với mực nước biển, bề ngang bình quân 450 m, có khả năng trồng cây lâm nghiệp và xây dựng cơ sở nuôi trồng thủy sản với hình thức nuôi cao triều

* Đặc điểm hệ sinh thái đất

Xét về hệ sinh thái đất người ta chia đất cát biển huyện Quảng Điền thành 2 loại sinh thái đất là: Cồn cát trắng vàng và đất cát ven biển

- Hệ sinh thái đất cồn cát trắng vàng (Luvic Arenosols)

Đất này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Cát màu vàng có nguồn gốc biển – gió, phân bố thành dãy cồn - đụn cát ven biển các bãi biển Cát xám trắng chủ yếu có nguồn gốc biển và phân bố trên các dải gò cao Cát vàng nghệ xuất

lộ trên một vài diện tích nhỏ

Trang 23

Loại đất này có hình thái phẫu diện ít phân hóa, đồng nhất cả về màu sắc và thành phần cơ giới, từ trên xuống dưới đều là cát tơi hoặc cát dính Thành phần cơ giới rất nhẹ, rời rạc Tỷ lệ sét rất thấp hoặc không đáng kể, chủ yếu là cấp hạt cát, tỷ

lệ cát khô khá cao Các cồn cát, đụn cát phần lớn chưa ổn định, hiện tượng di động của chúng đang thường xuyên xảy ra Những nơi có địa hình thấp thì đã có sự phân hóa về màu sắc; nơi nào trũng đọng nước thì tầng mặt xám hơi đen, tầng dưới có màu xám vàng xen vệt trắng Đây là loại đất rất nghèo mùn và các chất dinh dưỡng; cation trao đổi chất thấp; dung tích hấp thụ rất thấp nên khả năng giữ nước, giữ phân kém Phần lớn diện tích loại đất này đang bị bỏ hoang Một số dạng sinh thái đất cồn cát ven biển được hình thành

Cồn cát là những vùng bờ biển giàu nguồn cát mịn, đường kính hạt trong khoảng từ 0,2 đến 2 mm, bị khô khi thủy triều rút, bị sấy nóng do mặt trời Từ khi xuất hiện đến khi ổn định, cồn cát không hình thành đơn lẻ mà tạo thành một dãy cồn song song với mép nước biển như những làn sóng cát Từ mép nước biển hướng

về đất liền có thể gặp một tập hợp 5 dãy cồn cát với mức độ ổn định tăng dần, đó là cồn sơ khai, cồn tiền tiêu, cồn màu vàng, cồn màu xám và cồn trưởng thành, tạo thành một thế hệ cồn cát

- Hệ sinh thái đất cát biển (Dystric Arenosols)

Nhóm đất này cũng được hình thành do quá trình bồi tích của biển nhưng đã được khai thác sử dụng từ lâu đời, vì vậy tính chất lý hóa học của đát đã thay đổi theo chiều hướng có lợi cho sản xuất nông nghiệp Hình thái phẫu diện đã có sự phân hóa khá rõ, lớp đất mặt thường trắng hơi xám hoặc xám trắng, có nơi hơi vàng; các tầng dưới thường chặt, khả năng tích lũy ô xít sắt lớn nên màu sắc thường vàng hoặc vàng nhạt Thành phần cơ giới cát đến cát rời - cát pha, nghèo mùn và chất dinh dưỡng, nhưng so với loại cồn cát trắng vàng thì tỷ lệ hạt sét cao hơn, kết cấu đất tốt hơn, hàm lượng mùn cao hơn nên khả năng giữ nước, giữ phân tốt hơn nhiều

Đây là loại đất có độ phì tự nhiên thấp, có lợi thế về thành phần cơ giới nhẹ, mực nước ngầm nông, lại thích hợp với nhiều loại cây trồng như: cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, rau màu, dưa, cà, cây gia vị… nếu chọn được cơ cấu cây trồng thích hợp chú ý vấn đề thủy lợi, đầu tư thêm phân hữu cơ và các loại phân bón khác thì có thể thu được hiệu quả kinh tế cao khi sản xuất trên loại đất này

Trang 24

* Đặc điểm hệ thực vật

Trảng cây bụi nhiệt đới thường xanh lá cứng trên cát khô là kiểu thảm thực vật phổ biến và đặc trưng của vùng cát ven biển Trảng bao gồm các cây gỗ nhỏ và cây bụi cao từ 1 – 3 m (ít khi đến 5 m) với độ tàn che không đồng đều (30 - 70%) Thành phần trảng cây bụi nhiệt đới thường xanh lá cứng trên cát khô gồm có:

- Tầng cây bụi và cây gỗ nhỏ: gồm có Xăng mã (Carallia brachiata), Dẻ cát (Lithocarpus concentricus), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Quế rành (Cinnamomum burmannii), Dầu đắng (Lindera myrrha), Cơm nguội cọng (Ardisia pseudopedunculosa),

Mà ca (Myrsine linearis), Táu duyên hải (Vatica mangachapoi subsp obtusifolia), Vè ve (Cleistanthus concinnus), Cù đèn (Croton sp.), Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa), Mành mành (Phyllanthus fasciculatus), Me lá vảy hến (P thaii), Chẹo (Engelhardtia sp.), Trâm voi (Syzygium bullockii), Trâm bù gỗ (S corticosum), Trâm lá nhỏ (S tephrodes), Ran (Memecylon edule), Sầm tán (M umbellatum), Niệt dó (Wikstroemia indica), Chổi xể (Baeckea frutescens), Tiểu sim (Rhodamnia dumetorum), Sim (Rhodomyrtus tomemtosa), Lấu núi (Psychotria montana), Gai xanh (Severinia monophylla), Bách bệnh (Eurycoma longifolia), Xương rồng khế (Cereus peruvianus), Sừng trâu (Tabernaemontae buffalina), Trang đỏ (Ixora coccinea), Trang trắng (I finlaysoniana),

Ô liu nhánh (Olea brachiata)

- Tầng cỏ: thường gặp các loài dạng hoà thảo như ở trảng cỏ trên cát khô

Thực vật ngoại tầng gồm các loài gặp ở kiểu rừng NĐTX lá cứng trên cát khô

Các khoảnh rừng nhỏ nằm ở vùng đầm lầy ngập nước định kỳ, là rừng nhiệt đới thường xanh trên cát ẩm bị tác động mạnh, có tầng cây gỗ cao 8 - 25 m và độ tàn che trung bình đạt 86,67%

Trang 25

CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các loài nấm lớn phân bố ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm các nấm lớn kí sinh trên thực vật hay hoại sinh trên gỗ, đất, các giá thể celullose khác, hoặc nấm cộng sinh với thực vật

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu là các điểm thuộc huyện Quảng Điền bao gồm 9 xã và

Hình 3.1 Sơ đồ các điểm thu mẫu huyện Quảng Điền [62]

Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2015 đến tháng 9/2016

Trang 26

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp thu thập, xử lý, phân tích và định loại theo phương pháp của các tác giả: Trịnh Tam Kiệt (2011), Rolf Singer (1986), G H Lincoff (1988), J

D Zhao (1989), L Ryvarden và R L Gilbertson (1986, 1993)

3.3.1 Phương pháp thu mẫu vật

Thu thập và xử lí mẫu vật theo phương pháp của Trịnh Tam Kiệt (2011), Rolf Singer (1986), Ryvarden và Gilbertson (1993)

3.3.2 Các dụng cụ và hóa chất

- Dụng cụ ngoài thực địa

Khi thu mẫu ngoài thực địa cần mang theo các dụng cụ để thu mẫu gồm: túi thu mẫu, nhãn, rìu nhỏ cầm tay, bút chì, sổ ghi chép, dao nhọn, túi giấy, kính lúp cầm tay, giấy báo và máy ảnh

- Thiết bị nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

Để tiến hành nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, sử dụng các thiết bị: kính hiển vi Olympus CH – 40, kính hiễn vi Labomed – USA, kính hiễn vi huỳnh quang gắn máy ảnh Olympus BX51 – DP12, kính lúp cầm tay và máy ảnh Nikon

Trang 27

Những nấm có kích thước nhỏ dễ gãy vỡ nên đựng trong các lọ nhỏ hay trong hộp nhựa Không bao giờ dùng túi ni lông để đựng mẫu vì nó không thoát khí

và hơi nước tạo điều kiện cho mốc và vi khuẫn phát triển

Mỗi mẫu để riêng trong một bao, không bao giờ để nhiều loài trong một bao, một bao một nhãn riêng

3.3.5 Phương pháp bảo quản mẫu vật

Xử lý mẫu vật sau khi thực địa về Mẫu vật được bày trên bàn sau đó tiến hành mô tả, ghi chép những đặc điểm của nấm vào phiếu điều tra nấm Mô tả kích thước, hình dạng màu sắc, các đặc điểm của mặt mũ, mép mũ, bào thể, cuống nấm,

mô nấm… Những mẫu vật nào dùng để phân tích ngay thì để lại, những mẫu nào cần bảo quản lâu dài thì tiến hành xử lí để bảo quản

Nấm được phơi khô tự nhiên dưới ánh nắng mặt trời hay sấy khô từ nhiệt độ

60 – 80o C trong tủ sấy, sau đó ngâm mẫu trong dung dịch HgCl2 5% trong 30 phút rồi sấy khô, gói cẩn thận, đánh số và sắp xếp vào hộp giấy, hộp gỗ hay thùng kẽm đựng mẫu đậy kín hoặc mẫu vật được bảo quản lâu dài trong hộp với hóa chất bảo quản là Paradichlobenzen hoặc Naphalene (băng phiến) để ngăn cản côn trùng và vi sinh vật làm hư hại mẫu vật

Đối với nấm quả thể bằng chất thịt, nấm được ngâm trong dung dịch Formalin 4% hay dung dịch 1/3 cồn, 1/2 formalin và 1/3 glycerin

3.3.6 Phương pháp phân tích mẫu vật

Mẫu phân tích tốt nhất là các mẫu tươi vừa thành thục mới thu hái Phân tích tất cả các đặc điểm hình thái và cấu trúc hiển vi; ghi chép những đặc điểm phân tích được vào phiếu điều tra nấm

Trang 28

Dùng dao lam cắt thẳng góc ngang qua ống phấn, phiến phấn, lên tiêu bản trong một giọt nước (đối với mẫu tươi), hay giọt KOH 3% (đối với mẫu khô) Riêng sợi cứng được làm tiêu bản trong dung dịch Melzer (để tiêu bản có màu nhạt, dễ quan sát)

Quan sát, mô tả các đặc điểm hình thái ngoài như hình dạng, màu sắc, mô nấm, bào thể, phiến nấm và cuống nấm Mô tả các cấu trúc hiển vi như hình dạng, màu sắc, kích thước đảm, túi, bào tử sợi nấm, liệt bào, lông cứng… mỗi chỉ tiêu hiển vi phải được đo 10 số đo để có số liệu chính xác khi mô tả

Khi định loại cần phải khách quan, coi trọng những đặc điểm vốn có của loài

đã nghiên cứu, phân tích, tránh chủ quan có ý định từ trước

Trong quá trình nghiên cứu, mẫu vật được phân tích tại phòng thí nghiệm Thực vật – Khoa Sinh học – Trường Đại học Khoa học Huế Tất cả các mẫu vật sẽ được chỉnh lí và giám định dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Ngô Anh

3.3.8 Phương pháp đánh giá số liệu

Để đánh giá mức độ gần gũi giữa các khu hệ nấm với nhau, chúng tôi sử dụng chỉ số Sorencen (S) (1969)

S =

2C

A + B Trong đó, C: số loài giống nhau của hai khu hệ; A: số loài khu hệ A; B: số loài khu hệ B

Từ chỉ số này, nếu S càng lớn thì mức độ gần gũi giữa hai khu hệ nấm càng

lớn và ngược lại nếu S càng nhỏ chứng tỏ hai khu hệ nấm càng khác xa nhau

Trang 29

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 DANH LỤC NẤM LỚN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

Danh lục nấm được xếp theo hệ thống của Cannon P F và Pegler D N và

được tổng kết bởi Ainsworth & Bisby’s (1995) trong “Dictionary of the Fungi” (1995) [74]; Trịnh Tam Kiệt và cs (2001) trong “Danh lục các loài Thực vật Việt Nam” [48]

Giới Fungi Giới phụ Protozoa Fungi Ngành Myxomycota Lớp Myxomycetes

Bộ Stemonitales

Họ Stemonitidaceae Fr

1 Chi Stemonitis Gled

1 Stemonitis axifera (Bull.) Macbr

2 Stemonitis pallida Wing

Bộ Physarales

Họ Physaraceae Chrvall

1 Chi Physarum Pers

1 Physarum compressum Alb & Schw

2 Physarum sp

Giới phụ Eufungi Ngành Ascomycota Lớp Ascomycetes

Bộ Xylariales

Họ Xylariaceae Tul & C Tul

1 Chi Daldinia Ces & De Not

1 Daldinia concentrica (Bolt.: Fr.) Ces & De Not

2 Chi Hypoxylon Bull

Trang 30

1 Hypoxylon rubiginosum (Pers.) Fr

2 Hypoxylon fuscum (Pers.) Fr

3 Chi Xylaria Hill ex Schrank

1 Xylaria plebeja Ces

Lớp Sodariomycetes

Bộ Hypocreales

Họ Cordycipitaceae Kreisel ex G H Sung

1 Chi Isaria Pers

1 Isaria cicadae Miquel

Ngành Basidiomycota Lớp Basidiomycetes Lớp phụ Phragmobasidiomycetidae

Bộ Auriculariales

Họ Auriculariaceae Fr

1 Chi Auricularia Bull ex Juss

1 Auricularia auricula (Hook.) Undrew

2 Auricularia cornea (Fr.) Ehrenb

3 Auricularia polytricha (Mont.) Sacc

4 Auricularia fuscosuccinea (Mont.) Farlow

Bộ Tremellales

Họ Exidiaceae R.T.Moore

1 Chi Pseudohydnum P Karst

1 Pseudohydnum gelatinosum (Scop.: Fr.) P Karst

Lớp phụ Holobasidiomycetidae

Bộ Dacryomycetales

Họ Dacryomycetaceae J Schröt

1 Chi Calocera (Fr.) Fr

1 Calocera cornea (Batsch) Fr

2 Chi Guepiniopsis Pat

1 Guepiniopsis spathularia (Schw.) Pat

Trang 31

Bộ Stereales

Họ Steccherinaceae Parmasto

1 Chi Irpex Fr

1 Irpex flavus Kl

2 Chi Steccherinum Gray

1 Steccherinum septentrionale (Fr.) Banker

2 Steccherinum ochraceum (Pers.) Gray

3 Chi Stereum Gray

1 Stereum nitidulum Berk

2 Stereum rameale Schw

Bộ Thelephorales

Họ Thelephoraceae Chevall

1 Chi Thelephora Ehrh ex Willd

1 Thelephora anthocephala (Bull.) Fr

2 Thelephora multiparlica Schw

Bộ Cantharelleles

Họ Cantharellaceae J Schröt

1 Chi Cantharellus Fr

1 Cantharellus carbonarius (Alb & Schw.) Fr

Họ Clavulinaceae (Donk) Donk

1 Chi Clavulina J Schröt

1 Clavulina ornatipes (Peck) Corner

Bộ Gomphales

Họ Lentaeiaceae Jülich

1 Chi Lantaria Corner

1 Lentaria surculus (Berk.) Corner

Bộ Ganodermatales

Họ Ganodermataceae (Donk) Donk

1 Chi Ganoderma Karst

1 Ganoderma philippii (Bres et Henn.) Bres

Trang 32

2 Ganoderma sichuanense Zhao et Zhang

3 Ganoderma lucidum (W Curt.: Fr.) P Karst

4 Ganoderma limushanense Zhao et Zhang

5 Ganoderma lobatum (Schwein.) G F Atk

6 Ganoderma flexipes Pat

Bộ Hymenochaetales

Họ Hymenochaetaceae Imazeki & Toki

1 Chi Cyclomyces Kze

1 Cyclomyces cichoriaceus (Berk.) Pat

2 Chi Phellinus Quél

1 Phellinus melleoporus (Mur.) Ryv

2 Phellinus setulosus (Lloyd) Imaz

Bộ Poriales

Họ Coriolaceae (Imazeki) Singer

1 Chi Coriolopsis Murr

1 Coriolopsis biogilva (Lloyd) Teng

2 Chi Gloeophyllum (Karst.) Karst

1 Gloeophyllum subferrugineum (Berk.) Bond

3 Chi Gloeoporus Mont

1 Gloeoporus dichrous (Fr.) Bres

4 Chi Hexagonia Fr

1 Hexagonia subtenuis Berk

5 Chi Hirschioporus

1 Hirschioporus flavus (Kl.) Teng

6 Chi Lenzites acuta Berk

1 Lenzites tricolor var daedalea Bourd & Galz

7 Chi Nigroporus Murr

1 Nigroporus aratus (Berk.) Teng

2 Nigroporus pubertalis (Lloyd) Teng

8 Chi Perenniporia Murr

Trang 33

1 Perenniporia medulla - panis (Jacq.: Fr.) Donk

2 Perenniporia subacida (Peck) Donk

3 Perenniporia voeltzkowii (Henn.) Ryv

9 Chi Pycnoporus Karst

1 Pycnoporus sanguineus (Fr.) Murr

10 Chi Trametes Fr

1 Trametes hirsuta (Wulf : Fr.) Pil

2 Trametes cervina (Schw.) Bres

3 Trametes conchifer (schw : Fr.) Pil

4 Trametes scabrosa (Pers.) G H Cunn

5 Trametes serialis Fr

6 Trametes spraguei (Berk & Curt.) Ryv

7 Trametes robiniophila Murr

8 Trametes multicolor (Schaeff.) Jülich

9 Trametes sp

11 Chi Tyromyces Karst

1 Tyromyces amygdalinus (Berk & Rav.) Teng

Họ Grammotheflaceae Julich

1 Chi Grammothele Berk & Curt

1 Grammothele lineata Berk & Curt

Bộ Polyporales

Họ Lentinaceae Jülich

1 Chi Lentinus Fr

1 Lentinus fulvus Berk

2 Lentinus subnudus Berk

3 Lentinus sp

2 Chi Panus Fr

1 Panus rudis Fr

3 Chi Pleurotus (Fr.) Kumm

1 Pleurotus porrigens (Pers.) Sing

Trang 34

2 Pleurotus septicus (Fr.) Quél

Họ Polyporaceae Fr ex Corda

1 Chi Microporus P Beauv

1 Microporus xanthopus (Fr.) Kunt

1 Agaricus rubellus (Gill.) Sacc

2 Chi Chlorophyllum Massee

1 Chlorophyllum molypdites (G Mey.) Mass

3 Chi Lepiota (Pers.) Gray

1 Lepiota cepaestipes (Sow.) Quél

2 Lepiota metulaespora (Berk & Br.) Sacc

3 Lepiota caerulescens Peck

4 Lepiota holosericea (Fr.) Gill

5 Lepiota felina (Pers.) Karst

4 Chi Macrolepiota Sing

1 Macrolepiota gracilenta (Krombh.) Quél

2 Macrolepiota rachoses (Vitt.) Sing

Họ Amanitaceae R Heim ex Pouzar

1 Chi Amanita Pers

1 Amanita spissacea Imai

Họ Coprinaceae Gäum

1 Chi Coprinus Pers

Trang 35

1 Coprinus micaceus (Bull.) Fr

2 Coprinus comatus (Muell.) Gray

3 Coprinus atramentarius (Bull ex Fr.) Fr

2 Chi Psathyrella (Fr.) Quél

1 Psathyrella musae (Pat.) Moser

2 Psathyrella crenata (Lasch) Quél

Họ Entolomataceae Kotl & Pouzar

1 Chi Entoloma (Fr.) P Kumm

1 Entoloma murraii (Berk & Curt.) Sacc

2 Entoloma serrulatum (Fr.) Hes

Họ Pluteaceae Kotl & Pouzar

1 Chi Pluteus Fr

1 Pluteus murinus Bres

2 Pluteus sp

Họ Strophariaceae Singer & A H Sm

1 Chi Panaeolus (Fr.) Quél

1 Panaeolus retirugis (Fr.) Gill

2 Chi Pholiota (Fr.) Kumm

1 Pholiota apicrea (Fr.) Moser

2 Pholiota flammans (Batsch) Quél

3 Pholiota johnsoniana (Peck) Atk

4 Pholiota penetrans (Fr.) Quél

5 Pholiota rugosa Peek

6 Pholiota spumosa (Fr.) Karst

7 Pholiota squarrosa (Mull ex Fr.) Kum

8 Pholiota terrigena (Fr.) Karst

9 Pholiota liquiritiae (Pers.) P Karst

Họ Tricholomataceae R Heim ex Pouzar

1 Chi Armillaria (Fr.) Staude

1 Armillaria granulosa Butsch Kanff

Trang 36

2 Armillaria melica (Vahl.) Quél

3 Armillaria mellea (Vahl.) Quél

4 Armillaria sp

2 Chi Clitocybe (Fr.) Staude

1 Clitocybe cyathiformis (Bull.) Quél

2 Clitocybe tabescens (Scop.) Bres

3 Clitocybe sinopica (Fr.) Gill

3 Chi Collybia (Fr.) Staude

1 Collybia umbrina Clem

5 Chi Marasmiellus Murr

1 Marasmiellus albuscorticis (Secr.) Sing

6 Chi Melanoleuca Pat

1 Melanoleuca exscissa (Fr.) Sing

2 Melanoleuca sp

7 Chi Tricholoma (Fr.) Staude

1 Tricholoma equestre (L.) Quél

2 Tricholoma ionides (Bull.) Quél

3 Tricholoma sordidum (Fr.) Quél

4 Tricholoma terreum (Schaeff.) Quél

5 Tricholoma sp

8 Chi Tricholomopsis Singer

1 Tricholomopsis platyphylla (Pers ex Fr.) Sing

9 Chi Omphalina Quél

1 Omphalina sp

Trang 37

Bộ Cortinariales

Họ Cortinariaceae R Heim ex Pouzar

1 Chi Hebeloma (Fr.) Kumm

1 Hebeloma versipelle (Fr.) Gill

2 Hebeloma sp

2 Chi Inocybe (Fr.) Fr

1 Inocybe caesariata (Fr.) Karst

2 Inocybe cookei Bres

3 Inocybe umbrinella Bres

4 Inocybe calamistrata (Fr.) Gill

3 Chi Naucoria (Fr.) Kumm

1 Naucoria pediales (Fr.) Quél

2 Naucoria pediades (Fr.) Quél

3 Naucoria similis Bres

4 Naucoria sp

Họ Crepidotaceae (S Imai) Sing

1 Chi Crepidotus (Fr.) Staude

1 Crepidotus herbarum (Peck.) Sacc

2 Crepidotus fulvotomentosus Peck

3 Crepidotus malachius (Berk & Curt.) Sacc

4 Crepidotus sp

Bộ Boletales

Họ Boletaceae Chevall

1 Chi Boletus Fr

1 Boletus retipes Besk & Curt

Họ Strobilomycestaceae Singer & A H Sm

1 Chi Tylopilus P Karst

1 Tylopilus felleus (Bull.:Fr.) P Karst

Bộ Lycoperdales

Họ Lycoperdaceae Chevall

Trang 38

1 Chi Calvatia Fr

1 Calvatia lilacina (Mont & Berk.) Lloyd

2 Chi Bovista Pers

1 Bovista plumbea Pers

2 Bovista sp

3 Chi Bovistella Morg

1 Bovistella longipedicellata Teng

4 Chi Lycoperdon Pers

1 Lycoperdon pusillum Batsch

Bộ Sclerodermatales

Họ Sclerodermataceae Corda

1 Chi Scleroderma Pers

1 Scleroderma bovista Fr

2 Scleroderma polyrhizym Pers

4.2 ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA NẤM LỚN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN

4.2.1 Sự đa dạng về thành phần loài nấm lớn huyện Quảng Điền

Sau quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 142 loài thuộc 69 chi,

32 họ, 21 bộ, 4 lớp trong 3 ngành: Myxomycota, Ascomycota và Basidiomycota

* Đa dạng về mức độ ngành

Qua bảng danh lục, chúng tôi nhận thấy thành phần loài nấm lớn ở huyện

Quảng Điền rất phong phú và đa dạng Trong ba ngành thì Basidiomycota chiếm ưu

thế tuyệt đối, gặp 17 bộ, 28 họ, 63 chi và 133 loài chiếm 93,66 % loài đã xác định

Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành

TT Tên ngành Số lớp Số bộ Số họ Số chi Số loài

Trang 39

* Đa dạng về mức độ lớp

Trong 4 lớp thì lớp Basidiomycetes chiếm ưu thế tuyệt đối, gặp 133 loài,

chiếm 93,66 % loài đã xác định

Bảng 4.2 Sự phân bố các taxon trong các lớp

Bảng 4.3 Sự phân bố các taxon trong các bộ

Trang 40

Hai họ Coriolaceae, Tricholomataceae là những họ đa dạng nhất trong 32

họ Trong đó, Tricholomataceae chiếm ưu thế nhất, với 23 loài chiếm 16,2 % số loài đã xác định; Coriolaceae gặp 22 loài, chiếm 15,49 %

* Đa dạng ở mức độ chi và loài

Sự đa dạng ở mức độ chi của các ngành thể hiện qua tỷ lệ số loài trung bình

của mỗi chi Tính đa dạng ở mức độ chi cao nhất ở ngành Basidiomycota: 2,11 (133 loài/63 chi); sau đó là ngành Myxomycota: 2,0 (4 loài/2 chi) và Ascomycota: 1,25 (5

loài/4 chi), xem bảng 4.6

Trong 69 chi đã nghiên cứu, các chi Trametes và chi Pholiota chiếm ưu thế,

mỗi chi đều gặp 9 loài chiếm 6,34% tổng số loài Như vậy, 6 chi đa dạng nhất chiếm 27,47% tổng số chi của khu hệ nấm lớn, trong 6 chi đa dạng nhất có 97 loài, chiếm 28,03% tổng số loài của khu hệ nấm lớn ở huyện Quảng Điền

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w