Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HUẾ
KHOA ĐỊA LÍ
NGUYỄN THỊ QUYÊN
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỌC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN QUA HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 160310501
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tưởng
Huế, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quyên
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS Nguyễn Tưởng đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình hoàn thành đề tài luận văn
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Huế đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập
Xin chân thành cám ơn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Trị, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quảng Điền, Uỷ ban nhân dân huyện Đakrông đã cung cấp tài liệu cần thiết cho tôi thực hiện đề tài luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung và hình thức Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô và các anh chị học viên để đề tài luận văn hoàn thiện hơn
Cuối cùng xin kính chúc quý Thầy, Cô và các anh chị học viên sức khỏe và thành công trong sự nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên Nguyễn Thị Quyên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC i
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 2
4.1 Trên thế giới 2
4.2 Ở Việt Nam 3
5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
5.1 Quan điểm nghiên cứu 4
5.1.1 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh 4
5.1.2 Quan điểm tổng hợp 5
5.1.3 Quan điểm lãnh thổ 5
5.1.4 Quan điểm hệ thống 5
5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 6
5.2.1 Phương pháp thu thập, thống kê tài liệu 6
5.2.2 Phương pháp thực địa 6
5.2.3 Phương pháp bản đồ 6
5.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp 6
5.2.5 Phương pháp chuyên gia 7
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
6.1 Ý nghĩa khoa học 7
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
Trang 5NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI 8
1.1 Khái niệm và đặc điểm của du lịch sinh thái 8
1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái 8
1.1.2 Đặc điểm của du lịch sinh thái 10
1.1.3 Các sản phẩm của du lịch sinh thái 11
1.1.4 Nguyên tắc của du lịch sinh thái 12
1.1.5 Yêu cầu của du lịch sinh thái 13
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch sinh thái 16
1.2.1 Nhận thức của xã hội 16
1.2.2 Tài nguyên du lịch 17
1.2.3 Dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái 18
1.2.4 Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách 19
1.2.5 Hoạt động xúc tiến quảng bá 20
1.2.6 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 21
1.3 Ý nghĩa của phát triển du lịch sinh thái 22
1.3.1 Góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển du lịch bền vững 22
1.3.2 Góp phần xóa đói giảm nghèo và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương 23
1.3.3 Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tiến bộ 24
1.3.4 Góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc 24
1.4 Mối quan hệ của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác 25
1.4.1 Du lịch sinh thái với du lịch văn hóa 25
1.4.2 Du lịch sinh thái với du lịch lịch sử 25
1.4.3 Du lịch sinh thái với du lịch mạo hiểm 25
1.4.4 Du lịch sinh thái với du lịch bền vững 26
1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái 26
1.5.1 Du lịch sinh thái ở một số quốc gia trên thế giới 26
1.5.2 Ở Việt Nam 29
Trang 6CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỌC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN QUA HUYỆN
ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ 32
2.1 Khái quát huyện Đakrông 32
2.1.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ 32
2.1.2 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 33
2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 37
2.1.3.1 Dân cư và lao động 37
2.1.3.2 Về hoạt động kinh tế 38
2.1.3.3 Hoạt động văn hóa xã hội 39
2.2 Tiềm năng DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông 41
2.2.1 Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên 41
2.2.2 Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn 48
2.2.2.1 Làng nghề truyền thống 48
2.2.2.2 Lễ hội truyền thống 50
2.2.2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn khác 54
2.2.3 Đánh giá chung về tiềm năng du lịch sinh thái dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông 60
2.2.3.1 Xây dựng thang đánh giá tổng hợp 60
2.2.3.2 Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá 61
2.2.3.3 Cách tính điểm và phân hạng kết quả đánh giá tổng hợp 65
2.2.4.4 Kết quả đánh giá 66
2.3 Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông 67
2.3.1 Số lượng khách du lịch và doanh thu 67
2.3.2 Nguồn lao động phục vụ du lịch 68
2.3.3 Cơ sở lưu trú và ăn uống 69
2.3.4 Các khu, điểm, tuyến du lịch 69
2.3.5 Công tác tổ chức và quản lý hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch 71
2.3.6 Công tác qui hoạch đầu tư, phát triển du lịch 71
2.3.7 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển du lịch sinh thái ở dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông 72
Trang 7CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI DỌC ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN QUA HUYỆN
ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ ĐẾN NĂM 2025 73
3.1 Cơ sở để xây dựng định hướng 73
3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch sinh thái 73
3.1.1.1 Quan điểm 73
3.1.1.2 Mục tiêu phát triển 74
3.1.2 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Đakrông đến năm 2020 75
3.1.3 Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái huyện Đakrông 76
3.1.4 Căn cứ vào hiện trạng và tiềm năng phát triển các loại hình du lịch khác 76
3.2 Đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái dọc đường Hồ Chí Minh 77
3.2.1 Định hướng về bảo vệ, tôn tạo môi trường sinh thái cảnh quan 77
3.2.2 Định hướng về đầu tư các điểm du lịch sinh thái 78
3.2.3 Định hướng về xây dựng sản phẩm du lịch 78
3.3 Giải pháp phát triển du lịch sinh thái dọc đường Hồ Chí Minh 83
3.3.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 83
3.3.2 Nhóm giải pháp về đầu tư phát triển 84
3.3.3 Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực 85
3.3.4 Nhóm giải pháp về môi trường 85
3.3.5 Nhóm giải pháp về cộng đồng 86
3.3.6 Nhóm giải pháp về vốn 87
3.3.7 Nhóm giải pháp về tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch 87
3.3.8 Nhóm giải pháp về đa dạng hóa sản phẩm du lịch 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa
KTXH Kinh tế - xã hội DLST Du lịch sinh thái
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Trang Bảng 2.1 Đặc điểm khí hậu, thời tiết huyện Đakrông 35 Bảng 2.2 Cơ cấu dân số qua các năm 37 Bảng 2.3 Diện tích, dân số và mật độ dân số các đơn vị hành chính dọc đường
Hồ Chí Minh năm 2016 38 Bảng 2.4 Cơ cấu kinh tế qua các thời kỳ 39 Bảng 2.5 Tiêu chí và hệ số đánh giá các điểm DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị 60 Bảng 2.6 Tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá về tiềm năng của các điểm DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị 61 Bảng 2.7 Điểm đánh giá tổng hợp cao nhất và thấp nhất 65 Bảng 2.8 Kết quả đánh giá các điểm du lịch sinh thái ở dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông 66 Bảng 2.9 Số lượt khách du lịch đến Đakrông giai đoạn 2011 - 2015 67
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị 32 Hình 2.3 Biểu đồ số lượt khách du lịch huyện Đakrông giai đoạn 2011 - 2015 67 Hình 2.2 Bản đồ các điểm tài nguyên du lịch sinh thái huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị 70 Hình 3.1 Định hướng một số tuyến du lịch sinh thái ở huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị 82
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng về các mặt kinh tế - văn hóa
- xã hội, nhu cầu đi du lịch của con người ngày càng tăng và trở thành nhu cầu cơ bản không thể thiếu được trong đời sống Hoạt động du lịch đang trở thành “con
gà đẻ trứng vàng” cho nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, ngành du lịch tuy còn non trẻ nhưng đã có bước phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đóng góp những thành tựu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) đến năm 2020, ngành du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam Vì vậy, mục tiêu của ngành du lịch Việt Nam là phải hoạt động có hiệu quả, hòa nhập với xu hướng phát triển của khu vực và thế giới Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung thì du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch Trong thời đại hiện nay, khi nền công nghiệp bùng nổ kéo theo môi trường bị ô nhiễm nặng nề thì DLST có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người Phát triển DLST giúp con người có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc, thỏa mãn nhu cầu khám phá và hồi phục sức khỏe cho con người DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng và đây là loại hình du lịch có nhiều đóng góp thiết thực cho việc phát triển bền vững, bảo vệ tự nhiên và mang lại lợi ích kinh tế Chính vì vậy DLST đã trở thành mục tiêu phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới về du lịch bởi tính ưu việt của nó
Đakrông nằm phía tây tỉnh Quảng trị, trên trục hành lang kinh tế Đông Tây,
có cửa khẩu quốc gia La Lay thông thương với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Đặc biệt Đakrông có 30 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh được Bộ, Tỉnh xếp hạng, có trên 10 hang động lớn nhỏ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động
du lịch diễn ra quanh năm Huyện Đakrông có hệ thống cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, núi, rừng, sông, suối, đỉnh đèo, vách đá mà tạo hóa ban tặng hấp dẫn thu
Trang 12hút được sự chú ý của nhiều người Với những tiềm năng sẵn có của huyện, việc chú trọng đầu tư phát triển du lịch đặc biệt là DLST dọc đường Hồ Chí Minh không chỉ mang lại những hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế của huyện mà còn
phù hợp với xu thế phát triển của xã hội Do vậy tác giả chọn đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng khai thác để đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh nhằm góp phần thúc đẩy phát triển KTXH huyện Đakông
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn phục vụ nghiên cứu phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
- Điều tra, phân tích, đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
- Xây dựng định hướng và đề xuất giải pháp phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
Trang 13du lịch đối với môi trường tự nhiên, KTXH của lãnh thổ đón khách là một tất yếu
Vì vậy các nhà nghiên cứu du lịch đã quan tâm nhiều hơn đến việc đánh giá các tác động này Những người tiên phong trong lĩnh vực này phải kể đến là Budowski
(Tourism and Environmental Conservation - Du lịch và bảo tồn môi trường),
Mathieson & Wall (Tourism: Physical Environmental, Economic and Social
Impacts, Longman, London,1982 - Du lịch: Vật lý môi trường, kinh tế và tác động
xã hội, Longman, London, 1982); Buckley & Pannell), Shaw and William (Critical Issues in Tourism, Blackwell, Oxford, 1994 - Các vấn đề quan trọng trong Du lịch, Blackwell, Oxford, 1994) Các tác giả này cùng với các nghiên cứu của mình
đều thống nhất là cần có một loại hình du lịch nhạy cảm và có trách nhiệm với môi trường đó là DLST
Khái niệm DLST bắt đầu được đề cập từ những năm đầu của thập kỷ 80 của thế kỷ XX Những nhà nghiên cứu đầu tiên và điển hình của lĩnh vực này phải kể
đến Boo (Ecotourism: The potential and Pitfalls - DLST: Tác động, tiếm năng và tính khả thi), Ceballos - Lascurain (Tourism, Ecotourism and Protected Areas, IUCN, Gland, Switzerland, 1996 - Du lịch, du lịch sinh thái và khu bảo tồn, IUCN, Gland, Thụy Sĩ, 1996) Cùng hàng loạt các nghiên cứu lý luận và thực
tiễn về DLST của các nhà khoa học quan tâm đến lĩnh vực này như: Cater, Dowling , Lingberg and Hawkins
Cũng có nhiều tổ chức như: IUWTO (tổ chức du lịch thế giới), WW (quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên) đã giải quyết các vấn đề về lí luận DLST Các tổ chức trên đã khẳng định tầm quan trọng của DLST trong vấn đề giáo dục môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, ủng hộ cộng đồng địa phương
Những tài liệu trên là những công trình khoa học có giá trị cả về l í luận và ứng dụng thực tiễn ở nước ngoài Đây là nguồn tài liệu giúp những nghiên cứu có những hiểu biết sâu rộng về DLST
4.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về DLST xuất hiện nhiều từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước trở lại đây như: Đề tài “Cơ cở khoa học của phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” của Viện nghiên cứu phát triển du lịch, trong
Trang 14Hội thảo về DLST với phát triển bền vững ở Việt Nam (4/1998) đã tập hợp được
sự đóng góp, tham luận của nhiều tác giả (Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Quang
Mỹ, Lê Văn Lanh, Võ Trí Chung)
Các báo cáo chủ yếu tổng quan một số vấn đề lý luận về DLST và tài nguyên DLST ở Việt Nam Bên cạnh đó còn có các công trình của:
- Phạm Trung Lương (chủ biên) Du lịch sinh thái - những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, NXB Giáo dục, 1998
- Đặng Duy Lợi “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”, Luận án
PTS khoa Địa lý - Địa chất Trường đại học sư phạm Hà Nội, 1992
- Phạm Quang Anh “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam”, luận án PTS khoa Địa lý - Địa chất,
Trường Đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội, 1996
- Nguyễn Thị Sơn “Cơ sở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Cúc Phương”, luận án tiến sỹ Địa lý, Trường đại học
sư phạm Hà Nội, 2000
- Chu Thành Huy, “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái khu vực Hồ Núi Cốc, Tỉnh Thái Nguyên”, luận văn Thạc sỹ khoa học, Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008
Trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, cũng có các công trình nghiên cứu về DLST tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể việc phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh trên địa bàn huyện Đakrông của tỉnh Quảng Trị Đề tài:
“Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị” không trùng lặp với bất cứ luận văn hoặc đề
tài khoa học nào đã công bố
5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Quan điểm nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Quan điểm này được vận dụng để phân tích các số liệu, tư liệu trong các thời điểm nhất định để làm cơ sở để đưa ra các dự báo xác thực về xu hướng phát
Trang 155.1.2 Quan điểm tổng hợp
Du lịch là ngành chịu tác động của nhiều nhân tố, nhiều lĩnh vực, nhiều ngành Ngược lại, du lịch cũng tác động đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế, nhiều lĩnh vực khác Vì vậy, khi nghiên cứu DLST dọc đường Hồ Chí Minh cần xem xét trong mối quan hệ tổng thể các yếu tố tự nhiên, KTXH và môi trường
5.1.3 Quan điểm lãnh thổ
Các yếu tố tự nhiên, KTXH phân bố không đồng đều trên bề mặt lãnh thổ Mỗi lãnh thổ du lịch thường có nhiều nguồn lực để phát triển với nhiều loại hình
du lịch khác nhau, trong đó có những sản phẩm du lịch đặc trưng riêng
Với quan điểm này khi nghiên cứu phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị cần chú ý đến phương diện lãnh thổ DLST không chỉ dọc đường Hồ Chí Minh mà còn trên các địa bàn khác của huyện, của tỉnh và các tỉnh lân cận Vì vậy, khi xây dựng các tuyến, điểm DLST cần nghiên cứu tổng thể để liên kết tiềm năng du lịch của tỉnh với một số địa phương lân cận khác
5.1.4 Quan điểm hệ thống
Phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh quảng Trị là một bộ phận nhỏ trong hệ thống các tuyến du lịch của tỉnh Quảng Trị nói riêng và vùng Bắc Trung Bộ nói chung Việc phát triển du lịch là sự kết hợp không gian rộng lớn trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy quá trình nghiên cứu cần phải có tính hệ thống
5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Mục tiêu của DLST là bảo vệ tài nguyên môi trường, tăng cường bảo tồn và chia sẽ lợi ích cho cộng đồng, đảm bảo sự phát triển kinh tế một cách bền vững Kết hợp hài hòa nhu cầu của hiện tại và tương lai trên cả hai góc độ sản xuất và tiêu dùng du lịch nhằm đạt đến sự cân bằng giữa các yếu tố KTXH và môi trường Luận văn quán triệt quan điểm này trong suốt quá trình đánh giá tiềm năng, phân tích hiện trạng và đề xuất giải pháp trong việc phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
Trang 165.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phương pháp thu thập, thống kê tài liệu
Thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu phát triển DLST, các số liệu thống kê từ các nguồn tài liệu, từ phòng thống kê huyện Đakrông, phòng văn hóa huyện Đakrông, chi cục thống kê tỉnh Quảng Trị Từ đó tiến hành xử lí, thống kê phục vụ việc nghiên cứu đề tài
5.2.2 Phương pháp thực địa
Phương pháp này được sử dụng nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã - hội của khu vực nhằm bổ sung, chỉnh sửa, cập nhật số liệu, thông tin đã thu nhập Đồng thời việc trực tiếp tham quan, khảo sát tại địa phương
đã giúp tác giả đánh giá sâu sắc hơn về thực trạng hoạt động DLST ở địa phương nghiên cứu
Trong đề tài này tác giả sẽ tiến hành thực địa tại các điểm DLST dọc đường
Hồ Chí Minh huyện Đakrông như: Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, sông Đakrông, sông Ba Lòng, Thác Ồ Ồ, Thác Luồi, Thác Hiên, Thác Ta Tưng, Động Ngài, Động A Pô Ly Hông, dãy núi Ta Lung, núi Klu, Suối nước nóng Klu nhằm mục đích tham quan và thu thập các số liệu về lượt khách, doanh thu phục vụ phát triển du lịch
5.2.3 Phương pháp bản đồ
Phương pháp bản đồ là phương pháp không thể thiếu trong nghiên cứu Địa
lí Qua bản đồ có thể rút ra những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu Từ các thông tin, số liệu thu thập đã qua xử lí, tính toán để xây dựng bản đồ đáp ứng yêu cầu đặt ra của đề tài
Trong đề tài tác giả đã áp dụng phương pháp này vào việc xây dựng các bản đồ: Bản đồ hành chính huyện Đakrông, bản đồ một số điểm DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
5.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Dựa vào những tài liệu thu thập được, những tài liệu từ qua sát thực địa, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm rút ra những luận điểm của vấn đề nghiên cứu Từ đó, vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa tiết kiệm thời gian và công
Trang 175.2.5 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được vận dụng trong việc xin ý kiến, định hướng, góp ý của cán bộ chuyên trách trong bộ máy chính quyền, cán bộ ngành du lịch, cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực du lịch có nhiều kinh nghiệm Đây là những thông tin qúy giá để vận dụng vào nghiên cứu
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lí luận về DLST Nghiên cứu có hệ thống và đánh giá tổng hợp tiềm năng các điểm DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu góp phần xác định hướng phát triển DLST, đề xuất các giải pháp phát triển DLST dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị tương xứng với tiềm năng vốn có của mình, góp phần vào sự phát triển du lịch nói riêng KTXH của huyện Đakrông nói chung Ngoài ra, kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu cùng hướng ở các địa phương khác
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về du lịch sinh thái
Chương 2: Tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch sinh thái dọc đường Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái dọc đường
Hồ Chí Minh đoạn qua huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị
Trang 18NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1.1 Khái niệm và đặc điểm của du lịch sinh thái
1.1.1 Khái niệm về du lịch sinh thái
DLST (ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu theo những cách khác nhau từ những góc
độ tiếp cận khác nhau
Ngày nay sự hiểu biết về DLST đã phần nào được cải thiện, thực sự đã có một thời gian dài DLST là chủ đề nóng của các hội thảo về chiến lược và chính sách bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái quan trọng của các quốc gia và thế giới Thực sự đã có nhiều nhà khoa học danh tiếng tiên phong nghiên cứu lĩnh vực này, điển hình như:
Hector Ceballos-Lascurain- một nhà nghiên cứu tiên phong về DLST, định nghĩa DLST lần đầu tiên vào năm 1987 như sau: "Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động - thực vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này"
Năm 1994 nước Úc đã đưa ra khái niệm “DLST là Du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên được quản lý bền vững về mặt sinh thái”
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”
Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích
Trang 19nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản
lý cho người dân địa phương và nó khuyến kích tôn trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển DLST đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường
có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm về DLST “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triền môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”
Trong luật du lịch năm 2005, có một định nghĩa khá ngắn gọn “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” Theo quy chế quản lý các hoạt động DLST tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, do bộ Nông nghiệp
và PTNT ban hành năm 2007, thì DLST được hiểu là “DLST là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng dân cư ở địa phương nhằm phát triển bền vững”
Theo Hiệp hội DLST (The Internatonal Ecotourism society) thì “DLST là
du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên là nơi bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Cho đến nay, khái niệm DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Mặc dù những tranh luận vẫn còn đang diễn tiến nhằm tìm ra một định nghĩa chung nhất về DLST, nhưng đa số y kiến của
Trang 20các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho rằng DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản
l í theo hướng bền vững về mặt sinh thái
1.1.2 Đặc điểm của du lịch sinh thái
- Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên và cả yếu tố văn hóa bản địa
Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về cả tự nhiên và những nét văn hóa bản địa đặc sắc Đặc biệt những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên
sơ, ít bị tác động của bàn tay con người Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và phù hợp với các quốc gia, các khu bảo tồn tự nhiên
- Đảm bảo bền vững về sinh thái và hỗ trợ bảo tồn
Đây là một đặc trưng khác biệt của DLST vì nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên Vì thế trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản
lí cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiện, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng Các hoạt động trong DLST thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường
- Có giáo dục môi trường
Đặc điểm giáo dục môi trường trong DLST là một yếu tố cơ bản phân biệt DLST với các loại hình du lịch khác Giáo dục và thuyết minh về bảo vệ môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện trên điểm, tuyến tham quan là những hình thức quan trọng trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên
- Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích từ hoạt động du lịch
DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cộng đồng địa phương trên cơ
sở cung cấp kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả
Trang 21năng tham gia vào quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đó cũng là cách để người dân trở thành những người bảo tồn tích cực
- Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách
Việc thỏa mãn những mong muốn của du khách là nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú, là sự tồn tại sống còn và lâu dài của DLST Vì vậy các dịch vụ du lịch trong DLST tập trung nhiều vào việc đáp ứng nhu cầu nhận thức và kinh nghiệm du lịch hơn là các dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi
1.1.3 Các sản phẩm của du lịch sinh thái
Theo Luật Du lịch năm 2005 “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong tuyến đi du lịch”
Nhìn từ góc độ của các nhà cung cấp dịch vụ và hàng hóa đơn lẻ, sản phẩm DLST là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách, được tạo ra bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động tại một số cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó Điểm đáng chú ý là mọi nguồn lực được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu khách du lịch đều phải dựa trên cơ sở tại chỗ gắn với bảo vệ môi trường Hơn nữa, DLST vốn dựa vào tài nguyên là các hệ sinh thái còn tương đối nguyên sơ,
ít bị tác động bởi bàn tay con người, sản phẩm đảm bảo tính thẩm mỹ của thiên nhiên, có tính giáo dục với người sử dụng và nguồn thu từ việc bán sản phẩm đó phải đem lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phượng
Sản phẩm DLST là các giá trị sinh thái và văn hóa bản địa được khai thác dựa trên các nguồn lực bản địa, với sự tham gia tích cực của dân cư bản địa Một mặt làm thỏa mãn nhu cầu DLST của du khách, mặt khác giáo dục môi trường và góp phần vào sự bảo tồn và phát triển điểm du lịch
Có thể khái quát sản phẩm DLST bằng biểu thức sau:
Sản phẩm DLST = Gía trị sinh thái và văn hóa bản địa + Dịch vụ du lịch
bản địa + hàng hóa bản địa
Ở góc độ các nhà kinh doanh lữ hành, sản phẩm DLST là các chương trình DLST Chương trình DLST là tập hợp các dịch vụ, hàng hóa DLST được sắp đặt trước về không gian và thời gian tiêu dùng theo mức giá gộp và được bán trước
Trang 22Các công ty lữ hành DLST cũng có thể cung ứng đầy đủ các loại hình sản phẩm trong hệ thống sản phẩm của các công ty lữ hành đó, đó là: các dịch vụ trung gian, các chương trình du lịch trọn gói, các hoạt động kinh doanh du lịch lữ hành tổng hợp
1.1.4 Nguyên tắc của du lịch sinh thái
Hoạt động DLST cần phải tuân theo một số nguyên tắc sau:
a Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn cho du khách
Đây là nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST, tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác Du khách khi rời khỏi nơi đến tham quan sẽ có sự hiểu biết cao hơn về các giá trị môi trường tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa bản địa Từ đó, du khách
sẽ nổ lực tích cực hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên, sinh thái, văn hóa khu vực
b Tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo an toàn cho khách du lịch
DLST thường ở những nơi có địa hình hiểm trở, sông suối nhiều, những vách núi cao, những nơi thiên nhiên còn hoang sơ,… Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các hoạt động tổ chức DLST là cần phải chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất và điều kiện an toàn cho du khách, phòng khi có các sự cố xảy ra: như tai nạn do leo núi, đuối nước, rắn cắn,…
c Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, DLST cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường chưa phải là ưu tiên hàng đầu thì DLST coi đây là một nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần được tuân thủ Bởi vì:
- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt động DLST
- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động DLST
Trang 23d Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng
Các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời với các giá trị sinh thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương sẽ làm thay đổi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến DLST Chính vì thế việc phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST
e Tạo cơ hội việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng đến của DLST Nếu như các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty lữ hành thì ngược lại, DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp vào việc cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
Đồng thời, DLST luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa hương, như đảm nhận vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghĩ cho khách, cung ứng nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho khách… Thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương Kết quả là cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên và họ
sẽ thấy được lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phát triển DLST
1.1.5 Yêu cầu của du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao
Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lí, khí hậu
và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology) Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu
Trang 24hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco-systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường)
Như vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động DLST thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên (natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại (farm tuorism) điển hình
Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái ở 2 điểm:
Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách DLST, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi Hoạt động DLST đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống tường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không
có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành DLST phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách
Trang 25 Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường
Theo đó DLST cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về
“sức chứa” Khái niệm “sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm
Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách
du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối vớ mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ
Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, KTXH của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập
Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu
du lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý ) của khu du lịch
sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội
Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm
Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan niệm”
về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau (ví dụ giữa các nước châu Á và châu Âu, giữa các nước phát triển và đang phát triển ) rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó
mà có các quyết định về quản lý Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ DLST không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách
Trang 26 Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du lịch
Việc thoả mãn mong muốn này của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Vì vậy, những dịch
vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch sinh thái
1.2.1 Nhận thức của xã hội
Trong lịch sử nhân loại, du lịch được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghĩ ngơi tích cực cuả con người Ngày nay, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy nhiên để du lịch nói chung và DLST nói riêng được quan tâm và phát triển đúng với những gì mà nó vốn có thì việc nhận thức và quan tâm đúng đắn là một vấn đề hết sức quan trọng
Về mặt kinh tế, du lịch trong đó có DLST đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp phát triển Rất nhiều quốc gia coi phát triển du lịch là một ngành kinh tế quan trọng mang lại nguồn thu ngân sách chủ yếu cho ngân sách quốc gia vì thế chính quyền luôn quan tâm đầu tư, có chiến lược phát triển một cách khoa học và hiệu quả
Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng, đồng thời góp phần nâng cao đời sống dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế
xã hội cho đất nước Do đó, hoạt động của DLST có mối quan hệ tương tác đến các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… Bản thân du lịch mang lại nhiều lợi ích cho các địa phương đón khách
Về mặt xã hội, việc phát triển du lịch trong đó có DLST là cơ hội để tăng trưởng giao lưu, trao đổi hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, các quốc gia trên thế giới
Như vậy, để DLST thực sự góp phần vào việc bảo vệ thiên nhiên đòi hỏi phải có sự suy nghĩ và hành động đúng, không những của những người làm du
Trang 27lịch mà là của toàn xã hội Nếu nhận thức của xã hội về DLST tốt, thấy rõ được tác dụng của nó thì mọi hoạt động sẽ góp phần thúc đẩy DLST phát triển, ngược lại nếu chưa nhìn nhận được giá trị của nó thì người ta sẽ không ủng hộ thậm chí
có thể gây khó khăn trong quá trình phát triển DLST Do đó cần làm cho tất cả các thành phần trong xã hội nhất là cư dân địa phương hiểu được những tác động tích cực của DLST đến địa phương đó là:
- Góp phần làm thay đổi chất lượng cuộc sống cộng đồng nhất là những ai tham gia trực tiếp vào ngành này, trong đó bao gồm cả những dịch vụ xã hội như:
y tế, nhà cửa, hệ thống giao thông, cấp - thoát nước, điện năng,
- Giúp cho việc bảo vệ và tôn tạo các di sản văn hóa lịch sử, làm tăng niềm
tự hào của địa phương và nhận thức cộng đồng
- Góp phần làm tăng danh tiếng địa phương, giúp cho du khách khám phá những ý tưởng mới, giá trị mới và cách sống mới
- Tạo điều kiện giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng, các quốc gia, phá vỡ ngăn cách về văn hóa và dân tộc thông qua quan hệ này
- DLST còn có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế cho người dân địa phương
1.2.2 Tài nguyên du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt, DLST còn có mối liên hệ mật thiết hơn bởi khi muốn thiết lập một chuyến đi điều quan tâm đầu tiên của du khách đối với địa điểm mà họ có ý định tới tham quan là cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, môi trường trong lành, sự đa dạng, đặc sắc của truyền thống văn hóa bản địa, ngành nghề truyền thống; đó là những điều kiện hết sức quan trọng để tạo nên sức hấp dẫn của một điểm DLST
Tài nguyên của DLST gồm: tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn, hai yếu tố này gắn kết với nhau tạo nên sức hấp dẫn của DLST, cụ thể tài nguyên của DLST bao gồm:
“Tài nguyên DLST là những yếu tố cơ bản để hình thành các điểm, các tuyến hoặc các khu DLST bao gồm các cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, giá trị nhân văn, các công trình sáng tạo của nhân loại có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn cho nhu cầu về DLST” [2]
Trang 28Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức hoạt động, lãnh thổ cũng như cơ cấu và chuyên môn của khu, điểm DLST Với mỗi loại tài nguyên
có thể tổ chức loại hình du lịch với những đặc trưng riêng, loại hình riêng để phục vụ các nhu cầu và mục đích khác nhau của du khách
Quy mô hoạt động du lịch của một điểm, một khu, một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng, chất lượng nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên là yếu tố cơ bản tạo ta sản phẩm DLST và nó cũng tham gia vào việc tạo
ra tính mùa vụ trong hoạt động du lịch, quyết định tính nhịp điệu của dòng khách, thị trường khách du lịch
Tài nguyên du lịch được xem là tiền đề để phát triển DLST Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn
và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu DLST, loại hình du lịch gắn với thiên nhiên và môi trường nguồn tài nguyên lại càng quan trọng hơn và cũng
có nguy cơ thường xuyên bị đe dọa xâm hại và tàn phá Muốn phát triển DLST một cách bền vững thì một hoạt động mang tính nguyên tắc là việc khai thác phải
đi dôi với việc bảo vệ và nuôi dưỡng tài nguyên, đảm bảo nguyên tắc sức chứa Một quốc gia, một khu vực được du khách quan tâm chỉ khi ở đó có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, hệ động, thực vật đa dạng, được bảo tồn và phát triển, môi trường thiên nhiên trong lành, môi trường văn hóa xã hội độc đáo Vì vậy việc bảo tồn tài nguyên DLST có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì chính tài nguyên là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình và là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch
1.2.3 Dân cư và lao động trong lĩnh vực du lịch sinh thái
Trong DLST, số lượng dân cư và chất lượng lao động ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và quan trọng hơn là ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, hệ động thực vật Hệ sinh thái, môi trường tự nhiên sẽ rất dễ bị phá vỡ nếu mật độ dân cư quá đông, trình độ dân trí thấp
Với DLST, sự tham gia của dân cư địa phương đóng góp một phần quan trọng Trong khi các đơn vị điều hành du lịch, các khách sạn và chính quyền địa phương cố gắng tiếp thị các sản phẩm du lịch của mình, trong đó có những nội
Trang 29dung, hoạt động không phù hợp với nguyên tắc của DLST, người ta phớt lờ đi khả năng quản lí tài nguyên thiên nhiên cũng như đóng góp của cư dân bản địa đến hoạt động DLST Hậu quả của cách làm này sẽ trở nên đáng lo ngại Các hình thức kinh doanh như vậy không chóng thì chày sẽ đi đến giai đoạn thoái trào
do không bảo vệ được cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái Trên thực tế mối quan hệ giữa người dân bản địa và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một quan hệ gắn bó được thiết lập từ lâu đời Ở nhiều nơi người dân địa phương sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên như phương tiện sống hay một kế sinh nhai của mình và họ biết cách bảo vệ, kiểm soát việc sử dụng tài nguyên để tránh đi tình trạng phá tài nguyên
Yếu tố quan trọng của một điểm DLST thành công hay không đó là lao động làm việc trong các đơn vị này ngoài những kiến thức về chuyên môn nghiệp
vụ về du lịch đơn thuần, họ còn phải là các chuyên gia về môi trường, sự hiểu biết sâu rộng về các hệ động thực vật tại khu vực mà họ làm việc
Rõ ràng vai trò của dân cư và nguồn nhân lực là rất quan trọng, phải có những chiến lược để quy hoạch dân cư và phát triển nguồn nhân lực một cách khoa học có như vậy mới đảm bảo cho hoạt động DLST đi đúng hướng của nó
1.2.4 Môi trường luật pháp và cơ chế chính sách
Xây dựng cơ chế, chính sách về quản lí một cách đồng bộ, khuyến khích việc khai thác các tiềm năng DLST đặc biệt là ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, phải được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp lí, từ các cơ quan quản lí Nhà nước như: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ tài chính, Tổng cục du lịch Thực tế, mặc dù nhiều nước, nhiều quốc gia vùng lãnh thổ có tiềm năng rất lớn về DLST nhưng sự nhìn nhận của các cấp lãnh đạo, những nhà hoạch định chính sách và đầu tư chưa thật sự sâu sắc do không có cơ chế, chính sách thích hợp để quy hoạch, tập trung đầu tư để phát triển du lịch Do đó đã làm lãng phí nguồn tài nguyên thậm chí có thể bị lãng quên hoặc bị tàn phá do không
có cơ quan đơn vị hay người quản lí các nguồn tài nguyên đó
Để DLST phát triển thì việc nhận ra thế mạnh và phát huy nó là một vấn đề được quan tâm Vấn đề này chỉ được giải quyết khi các nhà hoạch định chính
Trang 30sách, các cấp quản lí nhận thức rõ và đưa ra cơ chế, chính sách hợp lí để phát triển DLST chỉ phát triển khi nó có một cơ chế chính sách hợp lí và pháp luật đồng bộ Đó là nghiên cứu quy hoạch, đầu tư và khuyến khích đầu tư, cơ chế xúc tiến quảng bá, cơ chế phối hợp và phân chia một cách hài hòa lợi ích giữa người dân địa phương và với các cơ quan quản lí, công ty lữ hành, qua đó hoạt động DLST tạo ra điều kiện cho người dân địa phương bảo vệ môi trường, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Để đạt được các mục tiêu phát triển, các cơ chế chính sách và luật pháp cần được hướng tới là:
- Khuyến khích phát triển các nguồn lực du lịch về phương tiện sức hấp dẫn thiên nhiên cũng như các điểm lịch sử, khảo cổ và văn hóa, chú trọng đến chất lượng cùng với hệ thống thông tin có hiệu quả và có nhận thức về khả năng thu xếp nơi nghĩ cho du khách
- Có sự điều phối để tạo ra sự hợp tác giữa tất cả các bên liên quan, nhấn mạnh đến việc thúc đẩy tinh thần trách nhiệm đối với hệ sinh thái và việc tổ chức các tour sẽ không gây thiệt hại hay hủy hoại môi trường
- Xây dựng nhận thức về loại hình du lịch mà có góp phần vào sự nghiệp bảo tồn và có sự hoàn trả thích hợp cho hệ sinh thái
- Triển khai lập kế hoạch, cải tiến và xây dựng nguyên tắc và quy định, tổ chức, quản lí hiệu quả DLST, từ đó có thể tạo nên sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa Chính phủ, khối tư nhân và người dân địa phương
- Có chính sách, cơ chế động viên cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào quá trình và thu được lợi ích từ du lịch
1.2.5 Hoạt động xúc tiến quảng bá
Xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá là một khâu quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng thương hiệu, hình ảnh của một sản phẩm hay điểm đến Đối với DLST việc tuyên truyền quảng bá và hoạt động xúc tiến thương mại lại còn quan trọng hơn
Chương trình xúc tiến, quảng bá phải là làm thế nào khuyến khích du khách
có được mong muốn được đi du lịch theo hình thức DLST Trên thực tế nhu cầu
Trang 31đi du lịch, nhất là DLST của con người ngày càng tăng nhưng nếu một điểm du lịch hay một khu du lịch dù có cảnh quan thiên nhiên độc đáo, hấp dẫn, môi trường trong lành, hệ sinh thái đa dạng có thể nói đó là điểm du lịch lý tưởng nhưng nếu những thông tin về nó không được quảng bá, không đến được với du khách thì chắc chắn điểm du lịch đó cũng không có nhiều khách đến thăm Hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá phải được thông qua các kênh quảng cáo khác nhau Có rất nhiều hình thức quảng bá hữu hiệu, nhưng tiết kiệm
và hiệu quả nhất đó là việc quảng bá trực tiếp ngay tại các cơ sở kinh doanh dịch
vụ du lịch Một trong những đặc điểm của dịch vụ du lịch, trong đó có DLST là nó chỉ xuất hiện khi khách hàng, khách du lịch đến sử dụng, tham quan Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học - kĩ thuật, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin, do đó có rất nhiều hình thức quảng bá xúc tiến du lịch Việc xây dựng, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, môi trường, cảnh quan thiên nhiên độc đáo hay thái độ phục vụ, hành viên ứng xử có văn hóa của nhân viên phục vụ, cộng đồng dân cư địa phương đó là những phương thức quảng
bá hữu hiệu nhất Nếu như công tác quảng bá được chú trọng đúng mức, duy trì thường xuyên thì nó sẽ là một nhân tố quan trọng cho việc phát triển DLST
1.2.6 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
Cơ sở hạ tầng kĩ thuật phục vụ DLST là toàn bộ phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và thực hiện dịch vụ hàng hóa du lịch nhằm đáp ứng mọi nhu cầu của khách du lịch Với DLST nó bao gồm các hoạt động nhằm cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu đi lại, ăn uống, lưu trú, mua sắm, giải trí, thông tin liên lạc, các hoạt động giảng giải, hướng dẫn, nghiên cứu thiên nhiên và văn hóa của khách du lịch Vì vậy phạm vi hoạt động kinh doanh rất rộng, bao gồm hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, cho đến hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc
Mặc dù DLST là hình thức du lịch dựa nhiều vào thiên nhiên nhưng việc khai thác kinh doanh DLST phải đảm bảo nguyên tắc hạn chế tối đa việc tác động đến môi trường thiên nhiên và hệ sinh thái Tuy nhiên, đây là một hoạt động dịch vụ phục vụ “con người” trong khi họ đi ra khỏi nhà dù muốn hòa mình
Trang 32vào thiên nhiên nhưng họ vẫn cần có những nhu cầu thiết yếu do đó cơ sở kỹ thuật hạ tầng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển và thu hút khách du lịch đó là: đường sá giao thông, phương tiện đi lại, cơ sở lưu trú, dịch vụ y tế, các dịch vụ bổ sung như hệ thống thông tin liên lạc, các hoạt động vui chơi giải trí, hàng lưu niệm đặc biệt vấn đề thông tin liên lạc là một khâu quan trọng đối với phát triển du lịch nói chung và phát triển DLST nói riêng Mặc dù muốn tắt khỏi sự ồn ào của đời sống đô thị công nghiệp tuy nhiên du khách vẫn cần có thông tin liên lạc để liên lạc với người thân, bạn bè và giải quyết công việc làm ăn
Do các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên những nơi có điều kiện phát triển DLST thường nằm ở vùng sâu, vùng xa việc đi lại thường gặp nhiều khó khăn, vì vậy đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để du khách có thể đến được những điểm tham quan là rất cần thiết Tuy nhiên nếu việc quy hoạch, xây dựng
cơ sở hạ tầng không hợp l ý và khoa học thì sẽ dễ dẫn đến phá vỡ cảnh quan môi trường Vì vậy việc lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, thân thiện với môi trường là vô cùng quan trọng Ví như các lối đi phải được thiết kế
để chống sói mòn và đảm bảo nơi cư trú cho động thực vật, triệt để sử dụng các thiết bị tiết kiệm năng lượng, các thiết bị xử lý chất thải, nước thải phải được xử
lý phù hợp, hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nơi vui chơi giải trí là những hạng mục
cơ sở hạ tầng cần được đặc biệt coi trọng về mặt thiết kế cũng như việc sử dụng vật liệu xây dựng và địa điểm xây dựng đó là yêu cầu quan trọng không chỉ đảm bảo cho sự phát triển DLST bền vững mà còn có cả ý nghĩa KTXH Xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo cho việc cung cấp và làm thỏa mãn nhu cầu của khách tham quan cũng đồng thời với việc đảm bảo cho phát triển bền vững là yêu cầu quan trọng của DLST
1.3 Ý nghĩa của phát triển du lịch sinh thái
1.3.1 Góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển du lịch bền vững
Chức năng của du lịch nói chung và DLST nói riêng là mang lại cho du khách sự vui chơi, giải trí và phục hồi sức khỏe cho con người, ngoài ra DLST còn góp phần giáo dục du khách ý thức bảo vệ môi trường Những tiêu chí cũng
Trang 33như nội dung của DLST đã góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học; sử dụng tài nguyên một cách bền vững Do đó, ngoài trách nhiệm của các cơ quan quản lí nhà nước ở các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu vực có điều kiện
để DLST phát triển cần phải thường xuyên tuyên truyền giáo dục kiến thức, nâng cao ý thức của du khách về bảo vệ tài nguyên môi trường và tính đa dạng sinh học của các khu bảo tồn và các vườn quốc gia
Các khu bảo tồn thường là nơi có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú; có cảnh quan đẹp thích hợp cho phát triển du lịch, song về vị trí địa lí thường cách
xa các trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội và cuộc sống của nhân dân quanh các khu vực này còn nhiều khó khăn, cuộc sống hằng ngày còn phụ thuộc nhiều vào việc khai thác các nguồn lợi có sẵn trong tự nhiên nên cảnh quan và sự đa dạng sinh học dễ bị xâm hại Do đó, để hạn chế việc này cần tăng cường phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở vùng đệm, tạo cơ hội cho nhân dân có việc làm, nâng cao thu nhập trên cơ sở tham gia vào các hoạt động du lịch của địa phương cũng như hướng dẫn du khách tham quan, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các món
ăn đặc sản, kinh doanh dịch vụ lưu trú
Như vậy, DLST là một trong những phương tiện để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững vì cùng một lúc có thể đáp ứng được đòi hỏi phát triển KTXH vừa giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người dân địa phương vừa góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho
Để đảm bảo kinh tế, ổn định cuộc sống của cư dân địa phương tại những nơi này, DLST là một trong những giải pháp tích cực nhất để phát triển kinh tế ở địa phương Khi DLST phát triển người dân có cơ hội được nhận vào làm việc tại
Trang 34các cơ sở kinh doanh du lịch trở thành hướng dẫn viên hoặc tham gia phục vụ du lịch tại địa phương Điều này làm giảm sức ép trong việc bảo vệ môi trường và
sự đa dạng sinh học ở các khu bảo tồn so với cuộc sống tự do khai phá nguồn tài nguyên có sẵn trước đây của người dân
Thông qua phát triển DLST nguồn ngân sách địa phương được nâng lên nhờ vào sự đóng góp của các đơn vị kinh doanh du lịch, từ đó địa phương có điều kiện đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục
DLST phát triển không những đem lại kinh tế trong vùng, mà đời sống văn hóa người dân, trình độ dân trí được nâng lên, người dân được giao tiếp với du khách, giao lưu, trao đổi văn hóa, từ đó họ có thể học hỏi nhiều hơn, trí thức được mở mang Có thể nói phát triển DLST là giải pháp tốt để phát triển KTXH
nó có thể góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống và nâng cao phúc lợi
xã hội cho cộng đồng dân cư bản địa
1.3.3 Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tiến bộ
Phát triển DLST còn được coi là một giải pháp để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ kinh tế nông nghiệp độc canh sang nền kinh tế nông nghiệp đa canh, và phát triển nền kinh tế hàng hóa với các ngành nghề đa dạng, đưa tỉ trọng GDP các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ gắn liền với kinh tế nông nghiệp và nông thôn phát triển
Thu nhập của các hộ gia đình ở khu vực có nguồn tài nguyên DLST được chuyển từ nông, lâm nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Trong đó thu nhập từ các hoạt động phục vụ khách du lịch như: lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên, các hàng hóa mỹ nghệ mang tính chất đặc thù của địa phương, chiếm tỷ trọng lớn Điều này làm cho đời sống của cư dân địa phương ngày càng được cải thiện và đảm bảo có một mức sống tốt hơn
1.3.4 Góp phần bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Du lịch là một hoạt động văn hóa, hơn thế nữa mục tiêu cuối cùng của du lịch là sự phát hiện, tiếp nhận và nâng cao giá trị văn hóa vốn ẩn chứa trong các hiện tượng của cuộc sống Bởi thế du khách của DLST ngoài người nhu cầu muốn
Trang 35thưởng thức không khí trong lành, tìm hiểu, khám phá thiên nhiên hoang dã họ còn
có nhu cầu tìm hiểu nền văn hóa bản địa nơi họ đến thăm Nền văn hóa càng lâu đời, độc đáo càng thu hút và hấp dẫn du khách từ đó hoạt động du lịch có cơ hội
quảng bá với du khách những độc đáo về văn hóa của các dân tộc bản địa
1.4 Mối quan hệ của du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác
1.4.1 Du lịch sinh thái với du lịch văn hóa
Du khách đến với DLST là để khám phá tự nhiên, hòa mình vào cuộc sống hoang dã với nhiều điều mới mẻ và thú vị Còn đối với du lịch văn hóa, những giá trị, những tinh hoa văn hóa, những thuần phong mỹ tục mới là điều hấp dẫn, thu hút du khách Thế nhưng khi đến với DLST, ngoài vẽ đẹp cuả tự nhiên du khách còn có thể tìm hiểu, khám phá văn hóa của người dân bản địa, đôi khi đó chỉ là những nền văn hóa hoang sơ của một nhóm người dân tộc thiểu số, hoặc có thể là nền văn hóa cổ xưa trải qua hàng nghìn năm nhưng lại thu hút sự tò mò, khám phá, nghiên cứu của nhiều du khách
Như vậy, có thể nói DLST và du lịch văn hóa tuy không có mối quan hệ mật thiết về sự hình thành nhưng trong một số trường hợp cụ thể chúng bao hàm lẫn nhau, hỗ trợ nhau phát triển
1.4.2 Du lịch sinh thái với du lịch lịch sử
Du lịch lịch sử là tham quan tìm hiểu các địa danh, các di tích lịch sử, tiếp thu những kiến thức nhất định về địa điểm du lịch từ đó nâng cao hiểu biết lịch
sử của mình Có thể thấy, DLST và du lịch lịch sử hoàn toàn không có mối quan
hệ với nhau, nhưng khi những địa điểm du lịch lịch sử nằm xen kẽ, gần địa điểm DLST thì việc kết hợp hai loại hình du lịch này với nhau là một biện pháp tốt để phát huy những giá trị của nó, cả hai sẽ cùng thu hút khách du lịch, tạo ra những dấu ấn riêng, vừa hấp dẫn vừa độc đáo có khả năng thu hút khách du lịch
1.4.3 Du lịch sinh thái với du lịch mạo hiểm
Ngày nay, du lịch mạo hiểm được hiểu là hoạt động ngoài trời hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực thiên nhiên nhất định mà nó yêu cầu những phương tiện vận tải khác và truyền thống Những hoạt động này thường có tính mạo hiểm, mức độ rủi ro thì tùy thuộc vào điều kiện môi trường và bản chất
Trang 36của các hoạt động và các phương tiện vận tải được sử dụng như: đu dây, leo vách
đá, lướt thuyền trên ghềnh thác Đây cũng là một loại hình du lịch đến với thiên nhiên nhưng không với mục đích tìm hiểu hệ sinh thái mà khai thác tài nguyên tự nhiên để phục vụ mục đích mạo hiểm có cùng đối tượng du lịch nhưng mục đích của du lịch lại khác nhau
1.4.4 Du lịch sinh thái với du lịch bền vững
Du lịch bền vững được hiểu là sự bảo tồn cơ sở tài nguyên với mục đích phát triển và mở rộng theo hướng tốt hơn trong tương lai bằng cách đảm bảo rằng những nguồn tài nguyên sẽ được bền vững trên cơ sở đầy đủ các khía cạnh: sinh thái, kinh tế, văn hóa, xã hội DLST tìm kiếm mối quan hệ hài hòa giữa con người với môi trường sinh thái, trong đó chú trọng đến vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường sống DLST chấp nhận đánh đổi các lợi ích kinh tế trước mắt để lấy lại các lợi ích lâu dài vì môi trường và các hệ sinh thái trong đó Như vậy, DLST và du lịch bền vững giống nhau về mục đích chung là bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái Có thể thấy DLST là một bộ phận hay chính xác hơn là một loại hình và là một phương tiện của du lịch bền vững
1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái
1.5.1 Du lịch sinh thái ở một số quốc gia trên thế giới
Ngày nay, tùy vào điều kiện tự nhiên của mình mà nhiều quốc gia trên thế giới đã rất thành công trong phát triển loại hình DLST, trong đó phải kể đến:
- Ở Thái Lan: Là đất nước có ngành du lịch phát triển mạnh, đem lại một nguồn thu rất lớn cho nền kinh tế quốc dân Bên cạnh những hình thức du lịch khác thì DLST của Thái Lan cũng rất phát triển Họ xây dựng chiến lược phát triển quốc gia về DLSTcộng đồng Khái niệm DLST cộng đồng đã được sử dụng để đề cao sự tham gia của người dân địa phương vào phát triển và quản lý du lịch Bằng cách để người dân địa phương tham gia vào việc ra quyết định, các chương trình DLST ở quốc gia này có trách nhiệm hơn và phát triển bền vững hơn
- Ở Malaixia: Malaixia là quốc gia có ngành du lịch phát triển vào bậc nhất khu vực Đông Nam Á Chính phủ Malaixia đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế quốc dân nên đã đi trước một bước trong công
Trang 37tác phát triển du lịch Chỉ trong vài năm, với chính sách đầu tư hợp lý, ngành du lịch Malaixia đã vươn lên dẫn đầu khu vực, đã thu hút từ 14 -15 triệu lượt khách quốc tế/năm, với thời gian lưu trú trung bình từ 5 -7 ngày Ngân sách của cơ quan
du lịch quốc gia khoảng trên 40 triệu USD mỗi năm Ngành hàng không Malaixia
đã mở nhiều chuyến bay nội địa và quốc tế Malaixia đã mở thêm nhiều trung tâm du lịch mạo hiểm, các khách sạn được phân bố khắp cả nước Cơ sở hạ tầng hoàn thiện và nền kinh tế có mức tăng trưởng cao đã tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển mạnh Malaixia rất chú trọng phát triển DLST, họ chú trọng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên du lịch nhân văn và liên tục đưa ra các sản phẩm du lịch mới Họ coi công tác quảng bá sản phẩm DLST trên cơ sở đa dạng hóa sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, đồng thời thường xuyên nâng cấp các trang thiết bị cho ngành du lịch đặc biệt là DLST
và duy trì phát triển văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái
- Ở Trung Quốc: Người ta phát triển loại hình DLST cho những người quan tâm nghiên cứu khoa học, địa chất do các giáo sư môn khoa học địa chất của các trường đại học hướng dẫn Ngoài ra, người ta còn phát triển loại hình du lịch như ngồi bè đi dọc sông Trường Giang để khám phá và thưởng ngoạn phong cảnh hai bên bờ sông
- Ở Indonesia: Với nền văn hóa đa dạng và độc đáo, trong các thập niên trước đây, Indonesia chủ yếu chỉ phát triển du lịch dựa vào loại hình du lịch văn hóa DLST bắt đầu được coi trọng tại Indonesia từ năm 1995 Để tăng cường các phong trào DLST ở Indonesia, tại Hội thảo quốc gia lần thứ hai về DLST được tổ chức tại Bali (7/1996) đã thông qua việc thành lập Hiệp hội DLST Indonesia (Masyarakat Ekowisata Indonesia), viết tắt là MEI Từ năm 1996, các cuộc thảo luận, hội thảo
về DLST ở Indonesia đã tăng lên Việc này đã khuyến khích MEI thực hiện cuộc họp đầu tiên vào năm 1997 tại Flores, năm 1998 tại Tana Toraja, Sulawesi Selatan Các tổ chức như: Tổng cục Bảo vệ Thiên nhiên và Bảo tồn, Bộ Lâm nghiệp và trồng rừng, Bộ Du lịch và Nghệ thuật, các ban phát triển ở các địa phương, MEI cũng như các tổ chức Phi chính phủ đã và đang tham gia vào việc thiết lập các nguyên tắc cho sự phát triển của DLST ở Indonesia
Trang 38Nhiều dự án phát triển DLST dựa vào cộng đồng được triển khai thành công
đã mở ra hướng đi mới cho việc phát triển DLST bền vững ở Indonesia Điển hình như: dự án phát triển DLST tại vườn quốc gia (VQG) Gunung Halimum (Tây Java), với mục tiêu phát triển là bảo tồn và sự bền vững tính đa dạng sinh học trên
cơ sở trao quyền cho cộng đồng địa phương Để thực hiện các mục tiêu phát triển trên, VQG Gunung Halimun đã thành lập một tổ chức cộng đồng địa phương (KSM) KSM có một hội đồng các ủy viên (bao gồm đại diện các làng nghề, địa phương của chính phủ phi chính phủ và đại diện VQG) Trong đó, người ta lập ra một ban điều hành gồm một nhà lãnh đạo (ketua), thư ký, thủ quỹ… để điều hành hoạt động dựa trên mục tiêu, nhu cầu của cộng đồng địa phương Kiểu hoạt động này giống như hợp tác xã ở Việt Nam Các khoản thu thuộc về KSM được giám sát chặt chẽ, được sử dụng để bảo vệ rừng quốc gia và lợi ích cho cộng đồng địa phương KSM cùng với các tổ chức khác cũng tham gia tích cực vào công tác bảo
vệ môi trường và công tác tuyên truyền cho du khách, cộng đồng địa phương thông qua vận động, tài liệu quảng cáo, các bản đồ, video
- Ở Braxin: Nơi có núi rừng rộng lớn, nhiều vùng còn nguyên sơ ít bị tác động của con người DLST ở đất nước này rất phát triển Công ty Arectic Edge Tour chuyên tổ chức các tour DLST dựa vào thiên nhiên và họ rất tích cực bảo vệ thiên nhiên Họ đưa ra nguyên tắc tổ chức: Không được sử dụng động, thực vật tại điểm du lịch làm thức ăn; thực phẩm đem theo phải được đóng gói sẵn; nước bẩn phải đổ ra nguồn nước sạch; đốt rác tại chỗ hoặc đem đi; đi hàng một trên đường mòn, không cắm trại ở nơi tập trung các đàn thú hoang, dọn sạch nơi căm trại trước khi đi
- Ở Mông Cổ: Là quốc gia nằm ở Trung Á, địa hình đa dạng, trong đó chủ yếu là sa mạc và thảo nguyên rộng lớn nên người dân ở đây có lối sống chăn nuôi
du mục gắn liền trên thảo nguyên và họ đã tạo ra một nền văn hóa riêng cho Mông Cổ Rất nhiều du khách quan tâm và đến du lịch ở quốc gia này; ở đây người ta đưa ra loại hình DLST độc đáo là săn bắt chim ưng trên các thảo nguyên mênh mông cùng người du mục địa phương
Trang 39- Ở Tanzania: Một quốc gia tiêu biểu nhất ở vùng Trung Phi thiên nhiên đa dạng, cảnh quan phổ biến nhất là thảo nguyên mênh mông DLST được tổ chức dưới hình thức cho du khách đi bộ trong 17 ngày, đoạn đường 240km với sự hướng dẫn của người dân địa phương là dân tộc Masai để tham quan thung lũng Otwai nổi tiếng với thảo nguyên mênh mông và xem các loài động vật như: voi, ngựa vằn, hươu cao cổ, sư tử, hổ, linh dương
1.5.2 Ở Việt Nam
- Ở Quảng Bình: Thiên nhiên đã ban tặng cho Quảng Bình với những dạng địa hình khá đặc biệt với núi rừng đá vôi xen lẫn các con sông uốn lượn trong xanh chảy qua miền rừng núi và đồng bằng duyên hải đổ ra Biển Đông; ven biển
là đầm phá, cồn cát và những bãi tắm tuyệt đẹp, những đặc điểm đó đã tạo cho Quảng Bình nhiều nguồn tài nguyên để phát triển du lịch đặc biệt là DLST Quảng Bình đang khai thác các nguồn tài nguyên để phát triển DLST khá hiệu quả không những mang lại hiệu quả kinh tế lớn, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao cuộc sống cho nhân dân, trong số những tài nguyên đó phải kể đến VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, một di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận năm 2002 Tại đây không những có rừng nguyên sinh, hệ động thực vật đa dạng mà còn có hệ thống hang động kỳ vĩ cho phép phát triển nhiều loại hình DLST như tham quan, nghĩ dưỡng, khám phá hang động, nghiên cứu hệ động thực vật Bên cạnh đó, ven biển Quảng Bình còn có nhiều bãi tắm đẹp nổi tiếng như Đá Nhảy, Nhật Lệ với cát trắng mịn ẩn mình dưới những hàng cây phi lao, cùng với nước biển trong xanh Quảng Bình còn có nhiều danh thắng nổi tiếng như: An Mã, Phú Vinh, Bàn Sen ; có suối Bang một suối nước nóng có nhiệt độ cao lại nằm uốn lượn giữa núi rừng rất thuận lợi cho loại hình DLST nghĩ dưỡng, chữa bệnh
- Tiền Giang: Là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Cửu Long nơi đây tập trung nhiều nguồn tài nguyên DLST đặc trưng cho miền sông nước: Khu vực Đồng Tháp Mười, khu rừng tràm với nhiều sinh vật cư trú và sinh sống như chim,
cò, còng cọc, các loại cá đồng ; khu vực Gò Công sình lầy ngập mặn với nhiều loại thủy, hải sản phong phú đan xen với môi trường sinh thái ít bị ảnh hưởng bởi
Trang 40khá phong phú với 11 di tích được nhà nước xếp hạng, 17 lễ hội lớn nhỏ hàng năm của tỉnh Các loại hình ca nhạc tài tử, cải lương, các làng nghề truyền thống cũng
2005, tăng 17% trong giai đoạn 2005 -2010, chiếm 16% tổng GDP khu vực thương mại - dịch vụ của tỉnh
- Thừa Thiên - Huế: Thừa Thiên - Huế là một trong những địa phương ở miền Trung có sự giàu có về tài nguyên cả tài nguyên nhân văn cũng như tài nguyên tự nhiên để phát triển du lịch Các tài nguyên DLST chủ yếu của Thừa Thiên - Huế bao gồm:
+ Khu vực đồi núi của Thừa Thiên - Huế có nhiều thế mạnh để phát triển DLST: Hải Vân - Bạch Mã, đồi Thiên An, đồi Vọng Cảnh, núi Ngự Bình, núi Linh Thái
+ Tài nguyên du lịch biển với các bãi biển nổi tiếng như Lăng Cô, Cảnh Dương, Thuận An cho phép phát triển các sản phẩm du lịch biển như thể thao, nghĩ dưỡng, lặn biển
+ Hệ thống đầm phá như: Tam Giang, Cầu Hai, Đầm Chuồn, đầm Thủy Tú, đầm Hà Trung đang được khai thác phát triển các loại hình DLST: du lịch thể thao mặt nước, du lịch khám phá cuộc sống trên đầm phá, du lịch tham quan kết hợp nghiên cứu khoa học
+ Tài nguyên du lịch sông - hồ - suối: là địa phương có nhiều sông, hồ, suối, thác nước như: Sông Hương, sông Bồ, sông Truồi, suối Voi, thác Nhị Hồ, thác Mơ, thác ba Tầng thuận lợi cho phát triển DLST
+ Tài nguyên suối nước khoáng, nước nóng: suối nước nóng Mỹ An, suối nước khoáng Thanh Tân