1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu động vật đất cỡ trung bình (mesofauna) ở vùng trà bồng, tỉnh quảng ngãi

95 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 6,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, các nghiên cứu về Mesofauna của Việt Nam được tiến hành ở nhiều vùng, trong các sinh cảnh điển hình đã cho thấy sự phong phú và đa dạng sinh học của nhóm động vật này.. Nội dun

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Giảng viên hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN VĂN THUẬN

THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và

kết nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử

dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

HUỲNH THỊ TƯỜNG VY

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập tại trường Đại học Sư phạm Huế cho đến khi hoàn thành luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Để đạt được kết quả như hôm nay, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến:

- PGS.TS Nguyễn Văn Thuận đã định hướng, hướng dẫn tận tình, động viên, cung cấp nhiều tài liệu, kiến thức quý báu, tạo mọi điều kiện thuận lợi và tốt nhất để hoàn thành luận văn

- Cán bộ phòng thí nghiệm Động vật, Tổ Động vật học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Huế đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình hỗ trợ tôi trong quá trình phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm

- Gởi lời cảm ơn chân thành đến các bạn, các chị lớp cao học Động vật học K25 – ĐHSP Huế, nhiếp ảnh gia và người dân tại huyện Trà Bồng đã giúp đỡ, cung cấp thông tin cần thiết và tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu

- Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn bố, mẹ, gia đình và bạn bè đồng nghiệp

đã động viên, chia sẻ những khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi yên tâm trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn !

Huế, tháng 9 năm 2018

Tác giả

HUỲNH THỊ TƯỜNG VY

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lí do chọn đề tài 5

2 Mục đích nghiên cứu 6

3 Nội dung nghiên cứu 6

4 Đóng góp của đề tài 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu các nhóm động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) 7

1.1.1 Ở Việt Nam 7

1.1.2 Ở khu vực nghiên cứu 12

1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu 12

1.2.1 Vị trí địa lý 12

1.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo 13

1.2.3 Các yếu tố khí hậu và thuỷ văn 13

1.2.4 Thổ nhưỡng 14

1.2.5 Đặc điểm sinh vật………15

1.2.6 Dân cư 15

1.2.7 Thực trạng môi trường 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Thời gian nghiên cứu 17

2.3 Địa điểm nghiên cứu 17

2.4 Phương pháp nghiên cứu 19

2.4.1 Phương pháp thu mẫu 19

2.4.2 Phương pháp xử lí và bảo quản mẫu 19

2.4.3 Phương pháp phân tích và định loại 19

2.4.4 Phương pháp xác định chỉ số sinh học 19

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

3.1 Thành phần các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 21

Trang 6

3.1.1 Thành phần các nhóm Mesofauna 21

3.1.2 Đa dạng các bậc taxon của các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng 25

3.1.3 Các loài giun đất phát hiện bổ sung cho vùng Trà Bồng 25

3.2 Khóa định loại các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 29

3.2.1 Khóa định loại các nhóm Mesofauna trong khu vực nghiên cứu 29

3.2.2 Đặc điểm nhận dạng các nhóm Mesofauna tại vùng nghiên cứu 34

3.3 Đặc điểm phân bố 41

3.3.1 Phân bố theo sinh cảnh 41

3.3.2 Phân bố theo mùa 45

3.3.3 Phân bố theo độ cao 46

3.3.4 Phân bố theo độ sâu 48

3.4 Giá trị thực tiễn và đề xuất các hướng sử dụng động vật đất 50

3.4.1 Giá trị thực tiễn 50

3.4.2 Đề xuất hướng sử dụng Mesofauna ở vùng nghiên cứu 51

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52

1 Kết luận 52

2 Đề xuất 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Vị trí các điểm thu mẫu ở huyện Trà Bồng 17 Bảng 3.1 Danh sách các nhóm Mesofauna tại vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 21 Bảng 3.2 Số lượng, tỷ lệ (%) taxon bậc bộ và họ của Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 25 Bảng 3.3 Danh sách các loài giun đất bổ sung cho vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 26 Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái và sinh cảnh phân bố của các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 35 Bảng 3.5 Mật cá thể (con/m2), sinh khối (gr/m2), sự đa dạng (1-D) và chỉ số đồng đều (J’) của các taxon bậc họ ở các sinh cảnh 43 Bảng 3.6 Mật độ cá thể (con/m2), sinh khối (gr/m2), sự đa dạng (1-D), chỉ số đồng đều (J’) của các nhóm Mesofauna trong mùa mưa và mùa khô ở vùng nghiên cứu 46 Bảng 3.7 Mật độ cá thể (con/m2) và sinh khối (gr/m2) của các nhóm Mesofauna theo

độ cao ở khu vực nghiên cứu 47 Bảng 3.8 Mật độ cá thể (con/m2) và sinh khối (gr/m2) của các nhóm Mesofauna taxon theo độ sâu ở vùng nghiên cứu 49

Danh mục các hình

Hình 2.1: Vị trí các điểm thu mẫu ở huyện Trà Bồng 18 Hình 3.1 Mật độ cá thể (con/m2), sinh khối (gr/m2), sự đa dạng (1-D) và chỉ số đồng đều (J’) của các nhóm Mesofauna 44 Hình 3.2 Đường cong tích luỹ kì vọng số lượng các bậc taxon của bộ mẫu Mesofauna thu thập tại 7 sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu thông qua phương pháp Rarefaction 45 Hình 3.4 Mật độ cá thể (con/m2) và sinh khối (gr/m2) của các nhóm Mesofauna theo

độ cao ở vùng nghiên cứu 48

ở vùng nghiên cứu 49

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Môi trường đất là nơi sinh sống của nhiều loài động vật trong đó động vật đất chiếm hơn 90% tổng số sinh vật sống trên cạn và hơn 50% tổng số loài sống trên trái đất, nên chúng là thành phần quan trọng tạo nên tính đa dạng của sinh giới Động vật đất bao gồm những nhóm ở đất đặc trưng hoặc nhóm chỉ sống một phần vòng đời trong đất Các quần xã động vật đất đóng vai quan trọng là thành phần không thể thay thế trong quá trình sinh học xảy ra trong đất và trong sinh quyển

Dựa vào kích thước cơ thể, người ta chia động vật đất thành các nhóm: Động vật cỡ bé (Microfauna), động vật cỡ trung bình (Mesofauna) và động vật cỡ lớn (Macrofauna) [34] Động vật không xương sống ở đất có kích thước cơ thể trong khoảng 2,0 -10,0 mm còn được gọi là Mesofauna chiếm sinh khối chủ yếu của hệ sinh vật đất [34] Chúng không chỉ tham gia vào các hoạt động trong chu trình của

hệ sinh thái đất mà sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của chúng còn liên quan chặt chẽ đến quá trình hình thành, biến đổi tính chất lý hóa học của đất

Bằng các hoạt động sống của mình nhóm Mesofauna tham gia vào quá trình phân hủy xác thải hữu cơ, làm sạch môi trường và các quá trình tạo đất Một vài nhóm Mesofauna ở đất còn được chọn làm thiên địch, làm đối tượng gây nuôi góp phần cải tạo đất, chỉ thị tính chất của đất và là nguồn cung cấp thức ăn cho gia súc, gia cầm trong chăn nuôi, hoặc được dùng làm thuốc để chữa bệnh, thực phẩm chức năng Do

đó, cần điều tra cơ bản về tài nguyên đa dạng sinh học, nghiên cứu phát triển bền vững năng suất đất Từ đó đề xuất các biện pháp cải tạo đất, nhất là các vùng đất hoang hóa, các vùng đất có độ phì nhiêu thấp, đất bạc màu, vùng đất trống đồi trọc Hiện nay, các nghiên cứu về Mesofauna của Việt Nam được tiến hành ở nhiều vùng, trong các sinh cảnh điển hình đã cho thấy sự phong phú và đa dạng sinh học của nhóm động vật này Ở Quảng Ngãi đã có một số dẫn liệu về giun đất (Nguyễn Thị Tường Vy, 2006) [59] Tuy nhiên do nghiên cứu trên diện rộng nên nhiều vùng còn bỏ sót, đặc biệt các nhóm động vật đất cỡ trung trình khác chưa được nghiên cứu

Từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu động vật đất cỡ trung bình

(Mesofauna) ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi”

Trang 10

2 Mục đích nghiên cứu

Ngãi, làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp sử dụng chúng

3 Nội dung nghiên cứu

- Lập danh sách các nhóm động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

- Xác định mật độ, sinh khối, sự đa dạng và chỉ số đồng đều của các nhóm Mesofauna; theo sinh cảnh, mùa, độ cao và độ sâu

- Tìm hiểu mục đích và đề xuất giải pháp sử dụng các nhóm Mesofauna tại

khu vực nghiên cứu

4 Đóng góp của đề tài

Cung cấp dẫn liệu về thành phần các nhóm động vật đất cỡ trung bình, nhận xét đặc điểm phân bố, giá trị thực tiễn và đề xuất các hướng sử dụng động vật đất cỡ trung bình ở vùng nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Lịch sử nghiên cứu các nhóm động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) 1.1.1 Ở Việt Nam

Giai đoạn trước 1975

Ở Việt Nam và Đông Đương trước năm 1945 đã có một số công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về một số nhóm động vật đất như thân mềm, gián, bọ hung, bọ nhảy, mối Sau đó, các nghiên cứu về động vật đất ở Việt Nam được tập trung vào những nhóm ưu thế và có ý nghĩa kinh tế, y học như muỗi, bọ hung, côn trùng, một số nhóm chân khớp bé, giun tròn, giun đất Trong các nghiên cứu này động vật đất chưa được khảo sát đầy đủ và đồng bộ bằng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Chúng cũng không được đánh giá như là một thành phần không thể thiếu trong cấu trúc chu trình dinh dưỡng của các quần xã sinh vật cạn [6]

Từ sau năm 1945, khu hệ động vật đất Việt Nam mới được nghiên cứu đầy đủ đồng bộ bằng các phương pháp chuyên ngành và được đánh giá như một phần quan trọng trong cấu trúc và chu trình dinh dưỡng của sinh vật ở cạn [6]

Giai đoạn sau năm 1975

Năm 1975, cùng với sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, hệ động vật đất Việt Nam bắt đầu được nghiên cứu và đánh giá đầy đủ như một thành phần cấu trúc không thể thiếu trong các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tác Trong giai đoạn này, nhiều dẫn liệu về phân loại học, sinh học, sinh thái, phân bố và vai trò của một số nhóm động vật đất Việt Nam đã được bổ sung và công bố Có thể kể một số công trình chuyên sâu nghiên cứu một số nhóm động vật đất như:

Năm 1994, Đỗ Văn Nhượng với công trình nghiên cứu khu hệ giun đất vùng Tây Bắc đã cung cấp một danh lục gồm 95 loài và phân loài thuộc 6 họ, 7 giống,

Trang 12

trong đó có 15 loài mới cho khoa học [36] Năm 1996, Huỳnh Thị Kim Hối trong nghiên của mình đã đưa ra danh lục khu hệ giun đất ở khu vực Nam miền Trung Việt Nam với 75 loài và phân loài giun đất thuộc 6 họ, 14 giống [18] Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Văn Thuận (1994), Lê Văn Triển (1995) [18], [20]

Năm 1996, Huỳnh Thị Kim Hối công bố về giun đất phía Nam miền Trung Việt Nam [18]; Năm 1998, Thái Trần Bái và Trần Thị Thanh Bình nghiên cứu về hệ bài tiết của giun đất trong giống Pheretima Kinberg, 1867 và quan hệ phát sinh của các loài trong nhóm Posthuma [7]

Đến năm 2000, Thái Trần Bái đã công bố danh sách gồm 195 loài trong 8 họ giun đất trên lãnh thổ Việt Nam cùng với các nhận định về vùng lãnh thổ của giun đất Việt Nam [8]

Từ năm 2003 đến nay, đã có các công trình nghiên cứu về giun đất ở các vùng khác nhau của đất nước như: dẫn liệu về giun đất ở Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN)

Bà Nà – Núi Chúa của Thái Trần Bái và cs., (2003)[11]; Thành phần loài giun đất ở vùng gò đồi các tỉnh Bắc Trung Bộ của Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Đức Anh (2003)

đã phát hiện 2 loài giun đất lần đầu tiên gặp ở Việt Nam là Pheretima medioca và P

seponensis [20]; Mô tả một loài giun đất mới cho khoa học (Pheretima nhani) của

Huỳnh Thị Kim Hối và Nguyễn Văn Thuận (2005) [18]; Thành phần loài giun đất dưới các thảm mục ở tỉnh Sơn La của Vũ Thị Liên (2006) [31]; Thành phần loài giun đất ở Quỳnh Lưu và đảo Ngư (Nghệ An) của Nguyễn Thị Tình (2006) [52]; Thành phần loài giun đất ở Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể của Huỳnh Thị Kim Hối và cs., (2007) [18]; Thành phần loài giun đất ở Vành đai Sông Tiền, tỉnh Tiền Giang của Nguyễn Thanh Tùng (2008) [55], Nguyễn Thị Mỹ Hằng (2009) [17]; Thành phần loài giun đất ở phía Nam tỉnh Bình Định của Nguyễn Văn Thuận và Trần Ngọc Hải (2008) [49]; Thành phần giun đất ở phía Bắc tỉnh Bình Định của Nguyễn Văn Thuận và

Nguyễn Thị Ngọc Nhi (2009) đồng thời nhóm tác giả đã phát hiện được Pheretima

suctoria là loài lần đầu gặp ở Việt Nam [50]

Cùng với các công trình điều tra về thành phần loài, còn có các công trình nghiên cứu về vai trò của giun đất với tính chất lý, hóa học của đất; chống xói mòn; cải tạo đất

Trang 13

và làm dược liệu của Lý Thị Bích Thủy và cs., (2003) [51]; Huỳnh Thị Kim Hối và cs, (2005, 2007) [22], [23]

- Về nghiên cứu mối

Nguyễn Đức Khảm (1976) đã giới thiệu danh lục 61 loài mối ở miền Bắc Việt Nam cùng với đặc điểm sinh học và tập tính của chúng Tác giả cũng đã xác định sự phân bố của mối theo các vùng cảnh quan ở miền Bắc Việt Nam [28] Nghiên cứu về mức độ phá hại của mối đối với các công trình, Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển

đã liệt kê 25 loài mối gây hại khác nhau trong cả nước [57]

- Về giả bọ cạp (Pseudoscorpiones)

Các nghiên cứu về nhóm loài này được thực hiện chủ yếu bởi các tác giả nước ngoài như Mark Harvey, Mark L., Judson I Năm 2011, Nguyễn Thị Định đã tổng hợp một danh lục có hệ thống danh sách các loài Bọ cọp giả, đã ghi nhận được ở Việt Nam có 62 loài, thuộc 32 giống, 13 họ [14]

- Về bộ Cánh thẳng (Orthoptera)

Ở Việt Nam bộ Cánh thẳng bắt đầu được nghiên cứu từ cuối thế kỉ XIX bởi các nhà khoa học người Pháp Tiếp đến là các tác giả người Nga Sau một thời gian khá dài, đến nửa cuối thế kỷ XX, các tác giả Việt Nam mới bắt đầu nghiên cứu và thống kê về thành phần loài cũng như xây dựng khóa định loại của chúng Đến năm

2011, sau khi nghiên cứu và thống kê các tài liệu liên quan, Trần Thiếu Dư, Tạ Huy Thịnh đã công bố danh lục gồm có 632 loài thuộc 14 họ của bộ cánh thẳng, trong đó phân bộ dế có 23 loài thuộc 2 họ [13]

- Về côn trùng Cánh cứng

Bộ Cánh cứng là một bộ lớn nên có nhiều nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu tập trung về phát hiện thành phần loài, ít có nghiên cứu theo hướng vai trò của pha ấu trùng trong đất Có thể nêu một số công bố liên quan như sau: Năm 1976, Viện Bảo vệ thực vật thống kê được 132 loài Bọ hung ở miền Bắc Đến năm 2005, Tạ Huy Thịnh thống kê được 62 loài Bọ hung ở Việt Nam [44] Vào năm 2008, Tạ Huy Thịnh

và cs., ghi nhận được 180 loài Bọ hung, thuộc 61 giống, 6 phân họ Bọ Hung Scarabaeidae, bổ sung cho khu hệ Việt Nam 19 loài [45]

Trang 14

- Về ốc cạn: Đặng Ngọc Thanh tổng hợp các kết quả điều tra thống kê về thành

phần loài ốc cạn ở Việt Nam cho đến năm 2008 với địa bàn khảo sát chủ yếu là vùng núi phía Bắc, phía Tây Nam (tỉnh Tây Ninh, Thủ Dầu Một), một số đảo, ven bờ và vùng khơi, đã có 776 loài và phân loại thuộc 23 họ, 56 giống [43]

Trong những năm gần đây, Đỗ Đức Sáng và cộng sự (2015), đã tiến hành nghiên cứu thành phần loài và định hướng sử dụng họ Ốc cạn Cyclophoridae (Gastropoda: Prosobranchia) ở Sơn La, nhóm tác giả đã ghi nhận được 23 loài Cyclophoridae thuộc 2 phân họ, 9 giống [38] Đặc biệt, Đỗ Đức Sáng (2016), nghiên cứu khu hệ TMCB ở cạn tỉnh Sơn La, đã xác định được 130 loài và phân loài thuộc

64 giống, 23 họ, 2 phân lớp [39]

- Về ve giáp (Acaria: Oribatei)

Đầu tiên phải kể đến các công trình của tác giả Vũ Quang Mạnh nghiên cứu thành phần, phân bố và biến động số lượng của một số nhóm ve bét và bọ nhảy ở Tây Nguyên và ngoại thành Hà Nội Tiếp theo là hàng loạt các nghiên cứu của nhiều tác giả nhằm đề xuất phương pháp nghiên cứu, mật độ, thành phần loài ve bét ở Việt Nam Năm 1995, Vũ Quang Mạnh và Vương Thị Hòa đã đưa ra danh sách 146 loài và phân loài Ve bét ở Việt Nam [32] Năm 2010, Đào Duy Trinh và cộng sự đã ghi nhận được

103 loài thuộc 48 giống, 28 họ phân bố trong 5 sinh cảnh phổ biến ở VQG Xuân Sơn, Phú Thọ, trong số này, đã bổ sung 2 loài có thể là loài mới cho khoa học [54]

- Về kiến: Khi nghiên cứu tại VQG Cúc Phương Bùi Tiến Việt (2005) đã đưa

ra danh lục bước đầu có 117 loài thuộc 45 giống trong 8 phân họ Qua đây, đã nêu ra các vai trò của kiến đối với quá trình hình thành, cải tạo đất và vai trò trong chu trình

Trang 15

dinh dưỡng [58] Cùng tác giả năm (2005), sau khi tiến hành thu mẫu và định loại mẫu kiến tại rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh đã công bố danh lục thành phần kiến tại đây gồm có 118 loài thuộc 43 giống của 8 phân họ [58] Năm 2011, Zrianhin V.A nhà khoa học người Nga đã công bố danh lục kiến tại VQG Bidoup - Núi Bà với 73 loài kiến thuộc 36 giống trong 9 họ phụ [26]

- Về bộ nhện (Araneae)

Năm 1985, Zabka M, đã công bố danh sách 100 loài thuộc họ nhện nhảy (Salticidae) ở Việt Nam, trong đó có 51 loài mới cho khoa học Năm 2005, Phạm Đình Sắc đã công bố danh sách cho khu hệ nhện ở Việt Nam tương đối đầy đủ với 275 loài,

144 giống thuộc 30 họ, trong đó có 129 loài mới chỉ phát hiện ở Việt Nam [40]

- Về Cuốn chiếu mai: Vào năm 2006, Nguyễn Đức Anh, Trần Thị Thanh Bình

đã thống kê được 60 loài thuộc 25 giống của 6 họ, chiếm 44,12% tổng số loài cuốn chiếu đã gặp [1]

Ngoài những nghiên cứu mang tính chất chuyên sâu của các nhóm động vật đất cỡ trung bình, còn có các công trình nghiên cứu về Mesofauna ở 1 số vùng của đất nước Tiêu biểu có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả như sau:

Mở đầu là công trình “Dẫn liệu bước đầu về động vật không xương sống ở đất trên các đảo Hòn Tre, Côn Đảo, Bảy Cạnh và Thổ Chu và một số nhận định chung về động vật không xương sống ở đất ở các đảo trên thềm lục địa Việt Nam” của Thái Trần Bái (1990) [6]

Năm 2002, Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Đức Anh đã tiến hành nghiên cứu giun đất và các nhóm Mesofauna khác ở vùng gò đồi các tỉnh Bắc Trung Bộ, tác giả công bố có 2 loài giun đất lần đầu gặp ở Việt nam và 15 nhóm Mesofauna khác [22]

Năm 2003, Thái Trần Bái và cộng sự đã công bố các dẫn liệu về động vật đất cỡ trung bình (Mesofauna) và cỡ lớn ở khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa, Đà Nẵng; các tác giả đã xác định được 48 loài giun đất, 17 loài mối, nhiều loài Côn trùng, Thân mềm, Hình nhện, Giáp xác [11] Tiếp theo nhóm tác giả Huỳnh Thị Kim Hối, Nguyễn Đức Anh (2003) có công trình: “Góp phần nghiên cứu giun đất và các nhóm Mesofauna khác ở đất đồi rừng Bằng Tạ, Ba Vì, Hà Tây” Trong kết quả của nghiên cứu này đã xác định được 12 loài giun đất, thuộc

5 giống và 22 nhóm Mesofauna khác [20]

Trang 16

Năm 2005, Huỳnh Thị Kim Hối, Vương Tân Tú, Nguyễn Cảnh Tiến Trình nghiên cứu đa dạng các nhóm động vật không xương sống (Mesofauna) tại Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng đã xác định được 40 nhóm mesofauna thuộc 6 lớp: Hình nhện, Giáp xác, Chân môi, Chân kép, Côn trùng, Giun ít tơ [22]

Năm 2009, Hoàng Hữu Tình đã cung cấp các dẫn liệu về một số nhóm động vật không xương sống cỡ trung bình ở đất (Mesofauna) tại huyện Vĩnh Linh và huyện Đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị Tác giả đã xác định được 26 loài giun đất và 33 nhóm động vật

không xương sống cỡ trung bình (Mesofauna) ở đất khác [53]

1.1.2 Ở khu vực nghiên cứu

Việc nghiên cứu động vật đất cỡ trung bình ở tỉnh Quảng Ngãi chưa được chú trọng, chỉ có một số dẫn liệu về thành phần loài giun đất được đề cập trong công trình nghiên cứu khu hệ giun đất ở Việt Nam của Thái Trần Bái (1983) và trong công trình của Huỳnh Thị Kim Hối (1996) khi nghiên cứu giun đất ở khu vực phía Nam miền trung Việt Nam, trong đó có tỉnh Quảng Ngãi

Vào năm 2006, Nguyễn Thị Tường Vy đã công bố 30 loài giun đất thuộc 9 giống, 5 họ ở tỉnh Quảng Ngãi, trong đó ở vùng núi gặp 18 loài Vùng nghiên cứu Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi chỉ xác định được 16 loài chủ yếu trong các sinh cảnh: Đồi trọc, Đất trồng cây lâu năm, Vườn trồng cây ngắn ngày

1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu

1.2.1 Vị trí địa lý

trí 15,1 độ vĩ Bắc, 108,3 độ kinh Đông Vị trí tiếp giáp của huyện với các đơn vị hành

chính như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Trà My và Núi Thành, tỉnh Quảng Nam;

- Phía Đông giáp huyện Bình Sơn và huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi;

- Phía Tây giáp huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi;

- Phía Nam giáp huyện Sơn Trà, tỉnh Quảng Ngãi;

Đơn vị hành chính của Huyện Trà Bồng trực thuộc gồm 9 xã ( Trà Phú, Trà Bình, Trà Giang, Trà Thủy, Trà Hiệp, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Lâm, Trà Sơn,) và một thị trấn (Trà Xuân) [70]

Diện tích 42149,910 km2 dân số 33.067 người [71]

Trang 17

1.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Trà Bồng là huyện miền núi, với diện tích đồi núi chiếm phần lớn diện tích đất của huyện Địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các khối núi có độ dốc rất lớn

và các sông suối chằng chịt [15]

a Vùng núi

Địa hình núi thấp thuộc khu vực sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, chiều cao thấp dần từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam Độ cao trung bình của các dãy núi là dưới 1.000m, cao nhất có đỉnh Hòn Giọc 1.114m, ở ranh giới với tỉnh Quảng Nam Ở phía Tây Nam của huyện có các dãy núi: Cà Đam cao 1.413m, Ra Lóc cao 1.063, Núi Y cao 1.017 Nằm ở phía Đông Bắc có dãy núi Đá Lét cao 1.130 [15] Các

núi ở Trà Bồng đa dạng về hình thái, nhiều đỉnh nhọn, sườn dốc Các dãy núi Răng Cưa gồm nhiều đỉnh núi liên kết với nhau tạo thành dãy dạng răng cưa Cấu thành các núi này là các thành tạo đá xâm nhập và các đá biến chất có thành phần thạch học

và tuổi khác nhau

b Vùng đồi

Vùng đồi phân bố ở rìa phía Đông, Đông Bắc và Đông Nam của huyện Trà Bồng.Bề mặt địa hình nhấp nhô có hướng nghiêng chung về phía Đông

1.2.3 Khí hậu và thuỷ văn

a Nhiệt độ: Giờ nắng trung bình cả năm là 2.343 giờ (từ tháng 04 - 07 trung bình

250 - 270 giờ/tháng và tháng 10 đến tháng 02 năm sau từ 120 – 180 giờ/tháng) cho

thấy Trà Bồng có nền nhiệt độ tương đối cao:

Nhiệt độ trung bình năm: 23,50C

Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: 35 - 380C

c Lượng mưa: Huyện Trà Bồng có lượng mưa bình quân trong năm lớn nhất tỉnh

Tổng lượng mưa bình quân năm tương đối lớn (3.000 mm), nhưng phân bố không đều theo các tháng trong năm; tập trung nhiều ở các tháng 09, 10, 11 với lượng

Trang 18

mưa bình quân 400 – 500 mm/tháng, giai đoạn này chiếm tới 70 - 75% lượng mưa

cả năm Các tháng 02, 03 và 04 có lượng mưa thấp nhất, trung bình khoảng từ 60 – 70 mm/tháng Với lượng mưa phân bố không đều và thời gian mưa khác nhau nên đã phần nào gây khó khăn đến đời sống và sản xuất của người dân trên địa

bàn huyện [71]

d Chế độ gió

Huyện Trà Bồng chịu ảnh hưởng của hai mùa gió chính:

Gió mùa Đông: Hướng chủ yếu là Đông Bắc – Tây Nam, thịnh hành từ tháng

10 đến tháng 02 năm sau

Gió mùa hè: Hướng gió chính là Đông Nam xuất hiện từ tháng 02 đến tháng 09 Nhìn chung huyện Trà Bồng đang chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt hạn hán diễn ra với cường độ mạnh đã tác động trực tiếp và gián tiếp đến các nguồn tài nguyên và môi trường sinh thái [70]

e Sông suối

Hệ thống sông suối gồm: sông Trà Bồng, sông Giang, sông Trà Bói, suối Cà

Đú, suối Trà Cân, suối Nun, trong đó sông Trà Bồng là con sông lớn nhất với chiều dài 45 km, chảy theo hướng từ Tây sang Đông, diện tích lưu vực khoảng 697 km Sông Trà Bồng có 5 nhánh cấp I Ở vùng hạ lưu còn có các nhánh sông suối nhỏ, hợp nước vào sông chính trước khi đổ ra biển

1.2.4 Thổ nhưỡng

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Trà Bồng là 42.149,910 ha Được chia thành 02 nhóm chính: Nhóm đất phù sa (FL) và đất xám (AC) [15]

Nhóm đất phù sa: Diện tích khoảng 2.108 ha, chiếm khoảng 5,03% diện tích

tự nhiên toàn huyện, phân bố chủ yếu ở các xã: Trà Phú, Trà Bình và thị trấn Trà Xuân Nhóm đất này được hình thành do quá trình bào mòn, rửa trôi trên thượng nguồn và nhờ dòng chảy cuốn trôi, lắng tụ ở phần hạ lưu của các con sông Thành phần cơ giới của đất đa số là nhẹ, độ dày tầng đất >100 cm, dung tích hấp thụ thấp, đất thường chua [15]

Nhóm đất xám: Diện tích khoảng 39.818 ha, chiếm khoảng 94,970% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, tập trung chủ yếu ở các xã: Trà Tân, Trà Bùi, Trà Hiệp, Trà

Trang 19

Lâm, Trà Giang, Trà Thủy và Trà Sơn Nhóm đất này hình thành trên sản phẩm bồi

tụ phù sa cổ, bồi đắp cho các đồng bằng, thung lũng Nhóm đất này phân bố thành những vùng tập trung, quy mô diện tích lớn [15]

1.2.5 Đặc điểm sinh vật

a Hệ thực vật

Trải qua thời gian dài của chiến tranh, rừng bị tàn phá nhiều, hệ thực vật chỉ còn lại trên các dãy núi cao và ranh giới giữa huyện Trà Bồng giao với tỉnh Quảng Nam, chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn với thành phần loài cây tán rộng, tre nứa

Hệ thực vật chủ yếu là các loài cây bụi, cỏ dại như: Sim, Mua, Cỏ tranh, xen kẽ một vài loài cây lấy gỗ nhỏ rải rác trong các khe nước và thung lũng Đặc biệt, ở dãy núi

Cà Đam các loại lâm sản như: Quế, Song mây, Sa nhân,… là những lâm sản quý của vùng, có giá trị kinh tế và rất được ưa chuộng [37]

b Hệ động vật

Đến nay đã ghi nhận 89 loài thú thuộc 27 họ, 10 bộ, độ phong phú các loài thú không cao Trên địa bàn của huyện chỉ còn một số loài thú như: Lợn rừng, Nhím, Mang, Chồn , các loài chim: Gõ kiến, Cú mèo, Nhồng, Sáo, Trĩ cùng nhiều loài lưỡng cư và bò sát (Trăn, Rắn, Kỳ đà, Nhông) [41]

1.2.6 Dân cư

Dân số toàn huyện khoảng 33.067 người với 8.636 hộ Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,05% Dân cư phân bố không đồng đều, mật độ trung bình khoảng 78 người/km2, chủ yếu là tập trung ở thị trấn Trà Xuân, xã Trà Phú, xã Trà Bình [71]

Tổng số hộ trên địa bàn huyện hiện nay khoảng 18.000 lao động, với đặc trưng là một huyện miền núi nên tỉ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp khá cao Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp khoảng 14%

1.2.7 Thực trạng môi trường

Hiện nay do nhiều nguyên nhân như trình độ canh tác lạc hậu, sự biến đổi khí hậu diễn ra khốc liệt nên nhiều diện tích đất cũng ngày càng dần dần biến đổi theo chiều hướng xấu Diện tích đất bị xói mòn, rửa trôi ngày càng diễn ra mạnh mẽ đặc biệt ở những khu vực đất dốc Thêm vào đó tình trạng hạn hán cũng diễn ra với mức

độ thường xuyên hơn kéo theo đất đai trở nên chai cứng, hàm lượng chất dinh dưỡng

Trang 20

trong đất suy giảm nghiêm trọng và đó cũng là nguyên nhân diện tích canh tác của người dân ngày càng bị thu hẹp

Tình trạng suy thoái rừng đặc biệt là rừng tự nhiên trên địa bàn huyện ngày càng nghiêm trọng, nguyên nhiên do hiện trạng khai thác quá mức và thiếu sự quản

lý của cơ quan chức năng có thẩm quyền Biện pháp trồng rừng và tuyên truyền cho người dân hiểu được tầm quan trọng của tài nguyên rừng là một biện pháp cần thiết trong thời gian tới

Trang 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Một số nhóm động vật không xương sống cỡ trung bình (Mesofauna) ở đất thuộc các lớp: Giun ít tơ (Oligochaeta), Hình nhện (Arachnida), Giáp xác (Crustacea), Nhiều chân (Myriapoda) và Côn trùng (Insecta)

2.2 Thời gian nghiên cứu

Các mẫu Mesofauna được thu từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 06 năm 2018 chia làm 04 đợt:

- Đợt 1: Từ ngày 01/10/2017 đến ngày 30/10/2017

- Đợt 2: Từ ngày 15/12/2017 đến ngày 15/01/2018

- Đợt 3: Từ ngày 01/04/2018 đến ngày 30/04/2018

- Đợt 4: Từ ngày 15/05/2018 đến ngày 15/06/2018

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Mẫu định tính và định lượng được thu trong các sinh cảnh ở huyện Trà

Xuân

04/10/2017 05/04/2018

Giang

10/10/2017 07/04/2018

Tân

15/12/2017 15/05/2018

Trang 22

: Điểm thu mẫu

Hình 2.1 Vị trí các điểm thu mẫu ở huyện Trà Bồng

(Tỉ lệ 1:25000 Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Quảng Ngãi)

Bùi

16/12/2017 17/05/2018

Thuỷ

01/01/2018 22/05/2018

Lâm

02/01/2018 23/05/2018

0

Xã Trà

Hiệp

04/01/2018 25/5/2018

15005,156’

15006,425’

108005,417’

Trang 23

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu mẫu

Thu mẫu định tính: Mẫu định tính được thu trong tất cả các sinh cảnh: rừng

nguyên sinh; rừng thứ sinh; vùng đồi; đất trồng cây lâu năm; đất trồng cây ngắn ngày;

vườn quanh nhà; ven sông, khe, suối và ở các độ cao khác nhau

Thu mẫu định lượng: Mẫu định lượng thu trong các hố đào có kích thước 50 cm

x 50 cm theo các tầng đất cho đến độ sâu không còn gặp các nhóm động vật đất cỡ trung bình theo Ghiliarov, 1975 [65] Việc thu mẫu định lượng được tiến hành song song với việc thu mẫu định tính trong cùng một địa điểm Phạm vi thu mẫu định tính

mở rộng hơn so với mẫu định lượng trong tất cả các sinh cảnh ở vùng nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp xử lí và bảo quản mẫu

Mẫu vật được rửa sạch đất và các vụn hữu cơ bám ngoài, định hình và bảo quản trong formol 4% Đối với côn trùng, nhiều chân, chân bụng và giáp xác được

.

2.4.3 Phương pháp phân tích và định loại

Định loại bằng phương pháp so sánh hình thái, dựa vào các tài liệu mô tả gốc

- Định loại giun đất dựa vào các tài liệu của các tác giả Gates (1972) [63]; Thái Trần Bái và cs., (1993) [5]; Đỗ Văn Nhượng và cs., (1994) [36]; Nguyễn Văn Thuận (1994) [47]; Huỳnh Thị Kim Hối (1996) [18]; Thái Trần Bái (2000) [10]; Nguyễn Thanh Tùng (2017) [55]

- Định loại các nhóm Mesofauna khác dựa vào các tài liệu của Henri Goulet, John T Huber (1894) [66]; Donald J Borror, Dwight M Delong (1964) [61]; Branley

A Branson (1980) [60]; Nguyễn Anh Diệp và cs., (1997) [12]; Vũ Quang Mạnh (2003) [34]; František Kovǎrik (2004) [62]; Nguyễn Đức Anh và cs (2006) [1]; Nguyễn Đức Khảm và cs., (2007) [29]; Tạ Huy Thịnh (2008, 2009) [45], [46]

s i

ni ni D

Trang 24

ni: số cá thể trong các bậc taxon thứ i của bộ mẫu

N: tổng số cá thể

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng 1-D để đánh giá sự đa dạng của bộ mẫu

Chỉ số đồng đều“ Evenness Index” được xác định trong bộ mẫu bằng cách sử

dụng chỉ số đồng đều của Shannon (1949) [68]:

Trong đó: pi là tỉ lệ số lượng cá thể tương ứng trong bậc taxon thứ i trong bộ mẫu

S là số lượng tổng số của các bậc taxon trong bộ mẫu

Sử dụng phương pháp “Rarefaction” với mức độ tin cậy 95% để đánh giá

tính đa dạng của bộ mẫu dưới dạng các đường cong theo công thức sau [63]:

Trong đó: E(Sn) là số lượng loại taxon kì vọng; S là tổng số các bậc taxon;

Ni là tổng số lượng cá thể ở taxon thứ i; N là số lượng cá thể tổng của bộ mẫu; n

là số lượng kết hợp ngẫu nhiên của n cá thể có thể được chọn ra từ một tập hợp của N cá thể của bộ mẫu (Hurlbert, 1971; Simberloff, 1972; Krebs, 1999) Kết quả này được phân tích thông qua phần mềm ECOLOGICAL METHODOLOGY software (Krebs, 1999)

n i

N N n

E S

N n

Trang 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thành phần các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

3.1.1 Thành phần các nhóm Mesofauna

Trên cơ sở phân tích 2455 cá thể Mesofauna thu được từ 37 hố đào định tính

và 126 hố đào định lượng của 4 đợt thu mẫu, chúng tôi xác định được 32 họ, 21 bộ

và 7 lớp thuộc 3 ngành: Thân mềm (Mollusca), Giun đốt (Annelida), Chân khớp (Arthropoda) (Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Danh sách các nhóm Mesofauna tại vùng Trà Bồng,

Trang 26

A campanulata (Rosa, 1890)

A exigua chomontis (Thai et Samphon,

1988)

A tuberculata (Gates, 1935)

M papulosa (Rosa, 1896),

Perionyx excavatus Perrier, 1872

Polypheretima taprobanae (Beddard,

Trang 27

BỘ CHÂN ĐỀU

CỨNG

Trang 28

23 Tenebrionidae Họ chân bò giả 23 PLIII

Trang 29

3.1.2 Đa dạng các bậc taxon của các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

Bảng 3.2 Số lượng, tỷ lệ (%) taxon bậc bộ và họ của các nhóm Mesofauna

3.1.3 Các loài giun đất phát hiện bổ sung cho vùng Trà Bồng và tỉnh Quảng Ngãi

Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Thuận và Huỳnh Thị Tường Vy (2006) [59], thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi bổ sung thêm 11 loài giun đất cho vùng nghiên cứu và 1 loài giun đất cho tỉnh Quảng Ngãi

Trang 30

Bảng 3.3 Danh sách các loài giun đất bổ sung cho vùng Trà Bồng,

4 A exigua chomontis (Thai et Samphon, 1988)

5 A multitheca multitheca (Chen,1938)

6 A tuberculata (Gates, 1935)

7 A truongsonensis (Thai, 1984)

8 Metaphire bianensis (Stephenson, 1931)

9 Perionyx excavatus Perrier, 1872

10 Polypheretima taprobanae (Beddard, 1982)

11 Drawida beddardi Rosa, 1890

Tổng

Đặc điểm hình thái của các loài giun đất bổ sung cho vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

1 Pontoscolex corethrurus (Müller, 1856)

Đặc điểm hình thái: Có 3 đôi túi nhận tinh ở 5/6/7/8, túi nhận tinh dài có ampun

hình hạt thóc Mỗi đốt có 8 tơ xếp thành 4 chùm, phía trước đai sinh dục tơ phân bố lệch về phía bụng Đai sinh dục chiếm 7 đốt, từ đốt XV–XXI, hở phía bụng Hai đôi

túi tinh hoàn ở đốt XV & XVI

Phân bố: Lào [4], Thái Lan, Singapore [43]

Nhận xét: Kích thước cơ thể cỡ trung bình Tại vùng Trà Bồng phân bố ở tất cả

sinh cảnh là loài chiếm ưu thế về số lượng cá thể

2 Amynthas campanulata (Rosa, 1890)

Đặc điểm hình thái: có 3 đôi túi nhận tinh ở 6/7 – 8/9, bên bụng Lỗ sinh dục đực

lõm nông vào trong thành cơ thể Quanh lỗ đực sinh dục có thể có nhú phụ sinh dục

Tơ các đốt phía trước đai sinh dục ít và xếp thưa hơn các đốt sau đai sinh dục Đai sinh dục kín, đủ, từ đốt XIV–XVI Manh tràng dạng đơn giản Vách 8/9/10 tiêu giảm Túi tinh hoàn lớn

Trang 31

Phân bố: Lào [10], Myanmar, Ấn độ, Bán đảo Mã Lai, Cămpuchia [7]

Nhận xét: Đây là loài gặp ở phổ biến ở cả sinh cảnh tự nhiên, sinh cảnh nhân tác,

và ở tất cả các độ cao của vùng núi

3 A danangana (Thai, 1984)

Đặc điểm hình thái: có 3 đôi túi nhận tinh ở 5/6 – 7/8 Túi nhận tinh có cuống dài,

diverticulum xoắn Lỗ sinh dục trên những nhú phụ có hình bầu dục, hơi lõm sâu vào thành

cơ thể Có một đôi nhú phụ sinh dục lớn hình mắt kính ở sau vành tơ đốt 17 hoặc đốt 18 Vách 8/9 mỏng, 9/10 tiêu giảm, 5/6/7 mỏng Lỗ lưng từ 12/13 Đai sinh dục kín, đủ từ đốt

từ đốt XIV - XVI Manh tràng dạng đơn giản Túi tinh hoàn đơn, phía bụng

Phân bố: Bình Trị Thiên [47], Quảng Nam – Đà Nẵng [3], Quảng Ngãi [59], Phú

Yên [48]

Nhận xét: Loài này được phát hiện ở Đà Nẵng năm 1984 Trong vùng nghiên cứu,

loài này thường gặp ở vùng gò đồi có thảm cỏ hoặc cây bụi giữ được độ ẩm Tại khu vực nghiên cứu mật độ loài thấp

4 A exigua chomontis (Thai et Samphon, 1988)

Đặc điểm hình thái: Có 2 đôi túi nhận tinh ở 5/6/7, bên bụng Nhú đực có buồng giao

phối nông, có gờ bên ở bờ ngoài Có 2 nhú phụ sinh dục ở phía bụng trên gian đốt 17/18 và 18/19, có vị trí khởi đầu ở sau vành tơ mỗi đốt Tơ các đốt ở phía trước và sau đai sinh dục giống nhau Đai sinh dục kín, đủ Manh tràng đơn giản Vách 8/9/10 tiêu giảm, 5/6 – 7/8 dày Túi tinh hoàn hình chữ U, phát triển

Nhận xét: Loài này lần đầu tiên bắt gặp ở Việt Nam năm 1993 [47]

5 A tuberculata Gates, 1935

Đặc điểm hình thái: Có 3 đôi túi nhận tinh ở 5/6 – 7/8 hoặc chỉ còn hai đôi 5/6/7

Đai sinh dục không có đủ 3 đốt Manh tràng hình lược Xung quanh lỗ đực có thể không hoặc có 4 – 5 nhú phụ sinh dục, ở vùng đực và vùng nhận tinh cũng có thể có nhú phụ ở trước và sau vành tơ gần đường bụng Vách 5/6/7 dày, 8/9/10 tiêu giảm, 10/11 – 12/13 hơi dày Túi tinh hoàn phía bụng

Phân bố: Nhật Bản (31), California (42)

Nhận xét: loài này chỉ gặp ở một số địa điểm của vùng nghiên cứu

Trang 32

6 Metaphire bianensis (Stephenson, 1931)

Đặc điểm hình thái: Cơ thể màu nâu nhạt Môi kiểu epi hở Lỗ lưng 12/13 Đai sinh

dục kín, đủ từ đốt số XIV-XV Có 3 đến 4 lỗ nhận tinh ở 5/6 – 7/8 hoặc 5/6 – 8/9, phía bụng Có buồng giao phối Vách 4/5 mỏng, 5/6 – 7/8 dày Túi tinh hoàn đơn

Manh tràng xẻ thuỳ

Phân bố: Bình Trị Thiên [47], Đăc Lăc, Gia Lai, Lâm Đồng, Khánh Hòa [17], Quảng

Nam - Đà Nẵng [3], Quảng Ngãi [59], Phú Yên [48], Kon Tum [27]

Nhận xét: Ở vùng nghiên cứu loài này chỉ gặp ở độ cao từ 100 – 300 m

7 Perionyx excavatus Perrier, 1872

Đặc điểm hình thái: Có hai đôi lỗ nhận tinh ở 7/8/9 Đai sinh dục chiếm 5 đốt từ

XIII- XVII, thường kín Lỗ lưng thường bắt đầu từ đốt 4/5 Có 2 đôi lỗ sinh dục đực nằm gần nhau trong vùng lõm hình trứng trên đốt trên đốt XVIII, cơ thể có màu mận chín

Phân bố: Bình Trị Thiên [47], Nam Trung bộ [21], Tiền Giang [17] Thái Lan [47]

Thế giới: Ấn độ, Indonesia, Philippin, Anh, Mỹ, New Zealand, Australia [65]

Nhận xét: Perionyx excavatus là loài giun đất phân bố hẹp, chỉ gặp ở một vài địa

điểm nghiên cứu, chúng ăn mùn bả hữu cơ là chất thải của các loài gia súc

8 A multitheca multitheca Chen,1938

Đặc điểm hình thái: có 4 đốt nhận tinh Trong mỗi đốt nhận tinh có nhiều đôi túi

nhận tinh Các túi nhận tinh ở 5/6 – 8/9 Đai sinh dục kín, đủ, có tơ Có 2 đôi nhú phụ sinh dục lớn ở trước và sau lỗ sinh dục đực Manh tràng đơn giản Vách 8/9 mỏng, 9/10 mất, 5/6/7 dày Túi tinh hoàn kép Lỗ lưng từ 11/12

Phân bố: Bình Trị Thiên [47], Quảng Ngãi [59]

Nhận xét: A multitheca multitheca là phân loài mới đối với Việt Nam, gặp ở đồng bằng,

đồi ven đồng bằng Loài này khá phổ biến trong sinh cảnh nhân tác

9 Polypheretima taprobanae Beddard, 1982

Đặc điểm chẩn loại: có 1 đôi túi nhận tinh ở 7/8 Nhú sinh dục bé, xếp thành cặp ở

các đốt VI – IX và XVIII – XXII Đai sinh dục kín, đủ, từ đốt số XIV - XVI Lỗ lưng

từ 12/13 Cơ thể nhạt màu Không có manh tràng, vách 8/9 mỏng, 9/10 tiêu giảm, 10/11/12/13 mỏng, 12/13/14 dày Túi tinh hoàn đơn, phía bụng

Trang 33

Phân bố: Nghệ An [52], Bình Trị Thiên [47], Quảng Nam - Đà Nẵng [3], Tiền Giang

[17] Thế giới: Nhật Bản [31], Thái Lan [30]

Nhận xét: Đây là loài phân bố chủ yếu ở đồng bằng Cùng với Ph elongata, Ph

taprobanae là các loài không có manh tràng đã gặp ở khu vực nghiên cứu

10 A truongsonensis Thai, 1984

Đặc điểm chuẩn loại: có 3 đến 4 đôi túi nhận tinh ở 5/6 – 8/9 hoặc 5/6 – 7/8, lỗ nhận

tinh ở gần đường lưng Có buồng giao phối Không có phụ sinh dục Tơ các đốt trước đai sinh dục phân bố đều và không lớn hơn tơ các đốt sau đai Đai sinh dục kín, đủ Manh tràng đơn giản, vách 8/9/10 tiêu giảm Túi tinh hoàn đơn, phía bụng

Phân bố: Nam Trường Sơn, đồng bằng Nam Trung Bộ [47] Trên thế giới tìm thấy

tại Lào [10]

Nhận xét: Ở khu vực nghiên cứu loài này gặp ở độ cao trên 600 m

11 Drawida beddardi Rosa, 1890

Đặc điểm hình thái: Giun cỡ bé, màu trắng đục, không có lỗ lưng Đai sinh dục

chiếm 4 đốt từ X - XIII, có tơ ở đai Có 4 chùm tơ trên mỗi đốt, mỗi chùm 2 tơ theo

tỉ lệ aa = bc = 7 ab (7cd), dd = 7 aa (về phía lưng) Lỗ sinh dục đực ở 10/11 Có 1 đôi túi nhận tinh ở 7/8

Phân bố: Bình Trị Thiên [47], Quảng Ngãi [59], Tiền Giang [17] Thế giới tại Ấn

Độ [17], Myanmar [47]

Nhận xét: Dr beddardi có kích thước bé, mật độ thấp Trong vùng nghiên cứu chỉ

gặp ở sinh cảnh gần bờ đường, bờ ruộng của vùng đồng bằng và chỉ gặp ở vùng đất

bị nhiễm phèn Thu được vào mùa khô (tháng 5, 6) bắt gặp nhiều kén trứng, con non

và con trưởng thành Drawida beddardi sinh sản vào mùa khô kết quả này phù hợp

với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng về khu hệ giun đất ở tỉnh Tiền Giang [17]

3.2 Khóa định loại các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi 3.2.1 Khóa định loại các nhóm Mesofauna ở vùng nghiên cứu

* Khóa định loại đến lớp của các nhóm Mesofauna ở khu vực nghiên cứu

1 - Cơ thể mất đối xứng, không phân đốt Lớp Chân bụng (Gastropoda)

- Cơ thể đối xứng 2 bên 2

2 - Có đai sinh dục 3

- Không có đai sinh dục 4

Trang 34

3 - Có từ 8 đến hàng trăm đốt, tơ xếp thành các chùm hay thành vành trên mỗi đốt

Lớp Giun ít tơ (Oligochaeta)

- Có 33 đốt, không có tơ trên các đốt Lớp Đỉa (Hirudinea)

4 - Phân đốt dị hình, gồm 2 phần đầu ngực và bụng 5

- Phân đốt đồng hình, cơ thể không như vậy 6

5 - Có 1 đôi kìm, 1 đôi chân xúc giác và 4 đôi chân bò

- Có 1 đôi râu, thân nhiều đốt, mỗi đốt mang 1 đôi chân, không có cánh

Lớp Nhiều chân (Myriopoda)

* Khóa định loại đến bộ của lớp Hình nhện (Arachnida)

1 - Bụng phân đốt hay không phân đốt, có ống nhả tơ, có tuyến độc

Bộ Nhện (Araneida)

- Bụng không phân đốt, không có ống nhả tơ, không có tuyến độc 2

2 - Không có bụng sau, 4 đôi chân bằng nhau Bộ ve bét (Aranei)

- Có bụng sau, đốt sau của bụng kéo dài thành roi, chân xúc giác to hơn các chân còn

lại Bộ Đuôi roi (Pedipalpi)

* Khóa định loại đến bộ của lớp Nhiều chân (Myriopoda)

1.- Đốt thân đơn, mỗi đốt mang 1 đôi chân 2

- Đốt thân kép mang 2 đôi chân 3

2 - Cơ thể có màu trắng hoặc màu vàng, anten 14 đốt, có từ 49 – 104 đôi chân

Bộ Rết đất (Geophilomorpha)

- Cơ thể có màu tím hoặc màu xanh hay có sọc, anten 17 đốt, có 21 – 23 đôi chân

Bộ Rết (Scolopendromorpha)

3.- Cơ thể trên 16 đốt 4

4 - Đốt 1, 2 và 4 có 1 đôi chân, đốt thứ 3 không có chân

Bộ Cuốn chiếu đũa (Julida)

Trang 35

- Đốt 1 không có chân, đốt 2 – 4 có 1 đôi chân

Bộ Cuốn chiếu mai (Polydesmida)

*Khoá định loại đến bộ thuộc lớp Côn trùng (Insecta)

1 - Cánh trước và cánh sau khác nhau về hình dạng và kích thước 2

- Cánh trước và cánh sau có kích thước và hình dạng tương đối giống nhau 6

2 - Hai cánh phủ 1 lớp vẩy màng nhiều màu sắc, cánh trước hình tam giác, cánh sau

có hình quạt .Bộ cánh vẩy (Lepidoptera)

- Hai cánh không có phủ một lớp vẩy màu sắc 3

3 - Cánh trước là cánh cứng 4

- Cánh trước cấu tạo không như vậy 5

4 - Cánh trước là cánh cứng biến thành tấm che phủ thân, cánh sau là cánh màng

- Cánh trước có da bao phủ, miệng kiểu gặm nhai Bộ cánh thẳng (Orthoptera)

6 - Giữa ngực và bụng có eo thắt, miệng có đôi chân hàm to khoẻ

Bộ cánh bằng (Isoptera)

- Giữa ngực và bụng không có eo thắt, miệng không có đôi chân hàm to khoẻ 7

7 - Mép trước của cánh sau có một dãy móc để móc lên cánh trước

Bộ cánh màng (Hymenoptera)

- Mép trước của cánh sau không có cấu taọ như vậy, thân dẹt hình bầu dục dài, mảnh lưng ngực trước rất lớn che khuất một phần hoặc toàn bộ phần đầu

Bộ Gián (Blattopera)

* Khóa định loại đến họ của lớp Insecta (Côn trùng)

1 - Giữa đốt bụng thứ I và thứ II thắt nhỏ, khe hở tại đỉnh bụng dạng miệng vòi hoặc

bao quanh bởi vành lông Họ kiến (Formicidae)

- Giữa đốt bụng thứ I và thứ II không thắt lại 2

2 - Hai đôi cánh màng tương đối giống nhau 3

- Hai đôi cánh khác nhau 5

Trang 36

3 - Miệng kiểu nghiền, đầu có thóp, mảnh lưng ngực trước hình yên ngựa, hàm bất

đối xứng, hàm trái xoắn Họ mối đất (Termopsidae)

- Miệng kiểu chích hút, đầu không có thóp và không có hàm 4

4 - Mắt to, râu phân đốt có 8 hoặc 9 đốt, không có tuyến thơm

- Cánh sau là cánh màng, thân không phủ vẩy màu 6

6 - Cánh trước là cánh màng, dày hơn cánh sau 7

- Cánh trước là cánh cứng 9

7 - Bàn chân 5 đốt, mảnh lưng ngực trước thường lớn che khuất phần đầu

Họ Gián (Blaberidae)

- Bàn chân 4 đốt, mảnh lưng ngực trước bình thường không che khuất phần đầu 8

8 - Chân trước kiểu đào bới Họ Dế dũi (Gryllotapidae)

- Chân trước kiểu nhảy, cơ quan thính giác ở gần ống chân trước

- Anten không phân đốt 13

11 - Anten lớn hơn 10 đốt, tấm lưng đốt ngực trước rộng che khuất 1 phần của đầu

Họ Chân bò giả (Ternebrionidae)

- Anten nhỏ hơn hoặc bằng 10 đốt 12

12 - Anten nhỏ hơn 10 đốt, tấm lưng đốt ngực trước bình thường và có dạng chùy

Họ Bọ hung (Scarabidae)

- Anten 10 đốt, tấm lưng đốt ngực trước che hoặc không che phần đầu

Họ đôm đốm (Lampyridae)

Trang 37

13 - Mặt bụng của đốt bụng I bị cắt quãng bởi ổ đốt chậu chân sau, đốt ngực giữa luôn có 1 đường khớp ngang trước ổ đốt chậu chân sau, không có khả năng bật nảy

mình lên khi úp xuống Họ Chân chạy (Carabidae)

- Mặt bụng của đốt bụng I không bị cắt quãng bởi ổ đốt chậu chân sau, mảnh bụng đốt ngực trước có 1 kim dài nhọn lọt vào rãnh lõm của ngực giữa, có khả năng bật

nảy mình lên khi úp xuống Họ Bổ củi (Elateridae)

* Khoá định loại giun đất

1 - Tơ xếp thành 4 đôi trên mỗi đốt 2

- Tơ xếp thành vành 3

2 - Có một đôi túi nhận tinh ở 7/8, đai sinh dục chiếm 4 đốt, X – XIII, có sơ quan

giao phối hình chóp, lỗ sinh dục đực ở 10/11 Drawida beddardi

- Có 3 đôi túi nhận tinh ở 5/6 – 7/8, đai sinh dục chiếm 7 đốt, XV – XXI

Pontoscolex corethrurus

3 - Đai sinh dục chiếm 5 đốt XII – XVII, đốt nhận tinh ở 5/6/7

Perionyx excavates

- Đai sinh dục chiếm 3 đốt XIV – XVI 4

4 - Lỗ nhận tinh phía lưng 5

- Lỗ nhận tinh phía bụng 6

5 – Có 4 đối túi nhận tinh ở 5/6 – 8/9, không có buồng giao phối, có 2 đôi nhú phụ

sinh dục hình trứng ở trước và sau lỗ sinh dục đực A rodericensis

- Có 3- 4 đôi túi nhận tinh ở 5/6/7/8 hoặc 5/6 – 8/9 có buồng giao phối

A truongsonensis

6 - Có nhiều đôi lỗ nhận tinh trên mỗi đốt nhận tinh 7

- Có 1 đôi lỗ nhận tinh trên mỗi đốt nhận tinh 8

7 - Lỗ nhận tinh ở 5/6/7, không có manh tràng Polypheretima elongata

- Lỗ nhận tinh ở 5/6 – 8/9, manh tràng xẻ thuỳ A multitheca multitheca

8 - Có 1 lỗ nhận tinh ở 7/8, bên bụng, không có manh tràng

Polypheretima taprobanae

- Có 2 lỗ nhận tinh ở 7/8, bên bụng, không có manh tràng 9

- Có 3 lỗ nhận tinh ở 7/8, bên bụng, không có manh tràng 13

- Có 4 lỗ nhận tinh ở 7/8, bên bụng, không có manh tràng 16

Trang 38

- Nhú phụ sinh dục trên gian đốt 17/18 và 18/19 A exigua chomontis

12 - Nhú phụ sinh dục vùng đực bé và xếp thành dãy ngang tạo thành 2 vùng trước

và sau tơ, cạnh lỗ sinh dục đực, phía bụng Amynthas aspergillum

13 - Lỗ nhận tinh ở 5/6, 7/8 14

- Lỗ nhận tinh ở 6/7/8/9 15

14 - Có một đôi nhú phụ sinh dục lớn, hình mắt kính ở sau vành tơ đốt XVII hoặc

đốt XVIII A.danangana

- Nhú phụ sinh dục ở vùng đực bé, xếp thành hàng trước và sau vành tơ các đốt VIII,

XVII, XVIII M papulosa

15 - Có nhiều nhú phụ sinh dục bé ở quanh lỗ sinh đực hình lược, không có buồng

giao phối, đai không đủ 3 đốt A tuberculata

- Nhú phụ vùng đực ít, không xếp như vậy, manh tràng đơn giản, có buồng giao phối,

lỗ sinh dục đực lõm hình nan quạt A campanulata

16 - Có buồng giao phối, không có nhú phụ sinh dục ở vùng đực

Metaphire bianensis

- Không có buồng giao phối, có nhú phụ sinh dục ở vùng đực 17

17 - Có hai đôi nhú phụ sinh dục trên đốt XVII và XVIII M posthuma

- Có hai đôi nhú phụ sinh dục hình trứng, phía trước và phía sau vành tơ đốt XVII

A modigliani

3.2.2 Đặc điểm nhận dạng các nhóm Mesofauna tại vùng nghiên cứu

Để có cơ sở nhận biết các nhóm Mesofauna khác đã gặp ở vùng nghiên cứu,

chúng tôi thiết lập bảng 3.4

Trang 39

Bảng 3.4 Đặc điểm hình thái và sinh cảnh phân bố của các nhóm Mesofauna ở vùng Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi

vỏ Rãnh xoắn nông Mặt vỏ có các gờ phóng

xạ mảnh và mịn Miệng vỏ hình bán nguyệt, vành miệng hình liềm Lỗ rốn rất nhỏ, nông,

bị che bởi một phần vành miệng

VQN (gỗ mục ẩm ướt) thuộc xã Trà Xuân

Trang 40

) Cơ thể dạng sên, phần thân dẹp, thuôn dài,

không có vỏ bao bọc bên ngoài Mặt lưng màu nâu xám hoặc đen với các nốt sần thấy rõ

Trên mặt lưng có một dải màu vàng đậm nằm

ở giữa và 2 dải màu đen mờ nằm ở mép áo, kéo dọc đến hết phần cuối của cơ thể Lớp áo phủ toàn bộ cơ thể Lỗ phổi ẩn sâu trong khe dưới mép áo Phần chân chiếm 1/4 chiều rộng của cơ thể

RTS, VQN ở xã Trà Giang và Trà Phú

6

Cơ thể dài 40-50 mm, rộng 10-12 mm Có 33 đốt, một số đốt phía trước hình thành giác trước, 7 đốt cuối hình thành giác, đai sinh dục

có từ 3 - 4 đốt, 5 đôi mắt điểm ở mặt lưng, 3 thùy môi, 3 hàng răng bán nguyệt khỏe

RNS, RTS, VSS ở xã Trà Thuỷ, Trà Bùi và Trà Phú

mắt đơn sắp xếp tạo thành hình vòng cung

RTS, VĐ, ĐTCLN, VSS ở các xã Trà Phú, Trà Bùi và Trà Thuỷ

VĐ, ĐTCNN ở xã Trà Bùi và Trà Giang

Ngày đăng: 12/09/2020, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w