BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ------ NGUYỄN HOÀNG YẾN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM MÔ HỌC CỦA CƠ QUAN SINH DỤC VÀ SỰ SINH SẢN CỦA LOÀI THẰN LẰN BÓNG ĐUÔI DÀI EU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
NGUYỄN HOÀNG YẾN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM MÔ HỌC CỦA CƠ QUAN SINH DỤC
VÀ SỰ SINH SẢN CỦA LOÀI THẰN LẰN BÓNG ĐUÔI DÀI EUTROPIS LONGICAUDATUS (HALLOWELL, 1856), THẰN LẰN BÓNG HOA EUTROPIS MULTIFASCIATUS
(KUHL, 1820) Ở ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: ĐỘNG VẬT HỌC
Mã số: 60 42 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGÔ ĐẮC CHỨNG
Huế, năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi
sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều được cảm ơn Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Huế, tháng 10 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Yến
Trang 3Đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn đến thầy giáo GS.TS Ngô Đắc Chứng đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cám ơn đến quý Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Sinh học trường ĐHSP Huế, phòng Đào tạo Sau Đại học trường ĐHSP Huế đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã động viên, giúp đỡ trong suốt thời gian tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn
Huế, tháng 10 năm 2017 Tác giả luận văn Nguyễn Hoàng Yến
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các từ viết tắt 3
Danh mục các bảng 4
Danh mục hình ảnh 5
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục đích nghiên cứu 8
3 Nội dung nghiên cứu 8
4 Ý nghĩa của đề tài 8
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9
I Lịch sử nghiên cứu về mô học và sự sinh sản của thằn lằn bóng Eutropis (Fitzinger, 1843) 9
1.1 Trên thế giới 9
1.2 Ở Việt Nam 11
II Khái quát điều kiện tự nhiên và hành chính tỉnh Đồng Nai 12
2.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính 12
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 12
2.1.2 Sự phân chia hành chính 12
2.1.3 Địa hình 14
2.1.4 Khí hậu 14
2.1.5 Các loại đất đai 15
2.1.6 Nguồn nước 15
2.1.7 Sinh vật 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Đối tượng nghiên cứu 18
Trang 52.2 Thời gian nghiên cứu 18
2.3 Địa điểm nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp thu mẫu 18
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 18
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản 19
2.4.4 Phương pháp phân tích mô học cơ quan sinh dục 20
2.4.5 Xử lý và thống kê số liệu 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Mô tả hình thái bên ngoài của hai loài thằn lằn bóng Eutropis (Fitzinger, 1843) 25
3.1.1 Thằn lằn bóng đuôi dài 25
3.1.2 Thằn lằn bóng hoa 26
3.1.3 Đặc điểm phân biệt cá thể con đực và con cái 27
3.2 Đặc điểm cơ quan sinh dục đực 30
3.2.1 Cơ quan sinh dục đực 30
3.2.2 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) 30
3.2.3 Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856) 37
3.3 Đặc điểm cơ quan sinh dục cái 42
3.3.1.Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) 42
3.3.2 Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856) 59
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
I Kết luận 62
II Kiến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 6
LTHP : Chiều dài tinh hoàn phải
LTHT : Chiều dài tinh hoàn trái
LBTP : Chiều dài buồng trứng phải LBTT : Chiều dài buồng trứng trái
KL : Khối lượng
KLT : Khối lượng trứng
VTHP : Thể tích tinh hoàn phải
VTHT : Thể tích tinh hoàn trái
VBBP : Thể tích buồng trứng phải VBBT : Thể tích buồng trứng trái
LT : Chiều dài trứng
WT : Chiều rộng trứng
VT : Thể tích trứng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Kích thước và thể tích trung bình của tinh hoàn qua các tháng
nghiên cứu ở Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifascitus 32
Bảng 3.2 Thể tích và kích thước trung bình của tinh hoàn qua 12 tháng của
Eutropis longicaudatus 37 Bảng 3.3 Kích thước và thể tích trung bình của buồng trứng qua các tháng
nghiên cứu ở loài Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus 45 Bảng 3.4 Số liệu thống kê cá thể có phôi và không có phôi loài Thằn lằn bóng hoa
Eutropis multifasciatus 47
Bảng 3.5 Số lượng phôi có trong cá thể con cái loài Thằn lằn bóng hoa Eutropis
multifasciatus 47
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai 13
Hình 2.1 Sơ đồ các bước trong quy trình xử lý mẫu (Hinton, 1990) 20
Hình 3.1 Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856) 25
Hình 3.2 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) 26
Hình 3.3 Con đực không có chấm dưới bụng như con cái 28
Hình 3.4 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) 28
Hình 3.5 Con đực đầu to hơn con cái 29
Hình 3.6 Con cái mang thai di chuyển khá chậm chạp 29
Hình 3.7: Cơ quan sinh dục đực Eutropis multifasciatus 30
Hình 3.8 Biểu đồ thể tích trung bình của tinh hoàn 31
Hình 3.9 Lát cắt ngang tiêu bản tinh hoàn 34
Hình 3.10 Sự tạo tinh ở GĐ1 36
Hình 3.11 Sự tạo tinh ở GĐ2 36
Hình 3.12 Sự tạo tinh ở GĐ 3 36
Hình 3.13 Sự tạo tinh ở GĐ 4 36
Hình 3.14 Sự tạo tinh ở GĐ 5 36
Hình 3.15 Biểu đồ sự biến đổi thể tích trung bình của tinh hoàn ở Eutropis longicaudatus 38
Hình 3.16 Sự tạo tinh ở giai đoạn I 40
Hình 3.17 Sự tạo tinh ở giai đoạn II 40
Hình 3.18 Sự tạo tinh ở giai đoạn III, IV,V 40
Hình 3.19 Cơ quan tinh hoàn 40
Hình 3.20 Cơ quan sinh dục cái Eutropis multifasciatus 42
Hình 3.21 Biểu đồ kích thước trung bình của buồng trứng Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus 43
Hình 3.22 Sự biến đổi thể tích trung bình của buồng trứng Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus 43
Trang 9Hình 3.23 Số lượng cá thể có phôi và không có phôi loài Thằn lằn bóng hoa
Eutropis multifasciatus 46
Hình 3.24 Buồng trứng và trứng ở giai đoạn còn non thu 11/2016 48
Hình 3.25 Buồng trứng (hình B) và phôi ở cuối thời kỳ đầu thu tháng 2/2017
(hình C) 49
Hình 3.26 Buồng trứng và phôi ở thời kỳ giữa 50
Hình 3.27 Phôi ở giai đoạn cuối và con non sắp đẻ 51
Hình 2.28 Sơ đồ cắt ngang buồng phôi ở giai đoạn phôi vị 53
Hình 3.29 Tiêu bản của một trứng non 54
Hình 3.30 Trứng và màng ngoài của buồng phôi 55
Hình 3.31 Tiêu bản cắt ngang buồng phôi ở kỳ đầu 56
Hình 3.32 Buồng trứng và phôi ở kỳ giữa 56
Hình 3.33 Tiêu bản cắt ngang buồng phôi qua vùng Placentome (P) 57
Hình 3.34 Tiêu bản lát cắt ngang tử cung của phôi ở kỳ cuối 58
Hình 3.35 Buồng trứng ở thời kỳ đầu 60
Hình 3.36 Buồng trứng ở thời kỳ giữa 60
Hình 3.37 Tiêu bản buồng trứng non loại I 61
Trang 10các loài Bò sát nói chung và loài Thằn lằn bóng Eutropis sinh sống nói riêng Loài bò
sát này rất hiền lành, sống hoang dã hoàn toàn trên cạn có mặt ở nhiều nơi trên đất nước Việt Nam Đây cũng là nhóm động vật có quan hệ dinh dưỡng với nhiều loài động, thực vật khác nên Thằn lằn bóng được xem là một mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn và lưới thức ăn góp phần chuyển hóa vật chất trao đổi năng lượng và đảm bảo cân bằng trong hệ sinh thái ở cạn Ngoài ra, nhóm bò sát này còn mang lại nhiều giá trị kinh tế như làm thức ăn cho người, trong chăn nuôi, làm vị thuốc có tác dụng chữa một
số bệnh như: hen suyễn, còi xương, suy dinh dưỡng ở trẻ em…
Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về Thằn lằn bóng nhưng chỉ dừng ở mức độ phân loại, phân bố và đặc điểm sinh học sinh thái ngoài tự nhiên và trong điều kiện nuôi, chưa có công trình nào nghiên cứu về đặc điểm mô học của cơ quan sinh dục và sự sinh sản của loài Thằn lằn bóng này
Do đó việc nghiên cứu đặc điểm mô học của cơ quan sinh dục để theo dõi sự
sinh sản của loài Thằn lằn bóng Eutropis là một điều cần thiết để có thể góp phần
bảo vệ nguồn gen, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng cho mô hình nuôi thử nghiệm
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn hai loài Thằn lằn bóng Eutropis
longicaudatus (Hallowell, 1856) và Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus
(Kukl, 1820) làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ với tên đề tài: “Nghiên
cứu đặc điểm mô học của cơ quan sinh dục và sự sinh sản của loài Thằn lằn
bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1856), Thằn lằn bóng hoa
Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) ở Đồng Nai” cho luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Động vật học
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu mối tương quan giữa đặc điểm mô học và đặc điểm cấu tạo tinh hoàn và buồng trứng, từ đó xác định hoạt động sinh sản của hai loài Thằn lằn bóng
đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1856) và Thằn lằn bóng hoa Eutropis
multifasciatus (Kukl, 1820) làm cơ sở khoa học cho công tác khai thác và bảo tồn
hai loài thằn lằn nói trên
3 Nội dung nghiên cứu
- Mô tả hình thái bên ngoài của hai loài Thằn lằn bóng Eutropis (Fitzinger, 1843)
- Phân tích các cơ quan sinh dục như kích thước, độ dài rộng và thể tích của tinh hoàn và buồng trứng
- Tìm hiểu đặc điểm về mô học cơ quan sinh dục
4 Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu được mong đợi là một tài liệu tương đối hoàn chỉnh những kiến thức khoa học về đặc điểm mô học cơ quan sinh dục của hai loài Thằn
lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1856) và Thằn lằn bóng hoa
Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820)
Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm mô học cơ quan sinh dục của loài Thằn lằn bóng
là rất cần thiết, nhằm góp phần bổ sung thêm cơ sở khoa học để xác định đặc điểm mùa sinh sản của loài Thằn lằn bóng trong mô hình nuôi thử nghiệm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HỌC VÀ SỰ SINH SẢN CỦA THẰN
LẰN BÓNG EUTROPIS (Fitzinger, 1843)
1.1 Trên thế giới
Các mô tả chi tiết về mặt phân loại học các loài Thằn lằn bóng thuộc giống Eutropis được công bố bởi Smith (1935) [26] Theo đó, Smith (1935) gọi giống Eutropis là Mabuya bao gồm 15 loài với ba loài phân bố ở Việt Nam: Mabuya macularia, Mabuya
multifasciata và Mabuya longicaudata Về sau, các nghiên cứu phân loại học của nhóm
này như Bourret [8], [9], Taylor [27], Bobrov cùng các cộng sự [7], Nguyen [23] đã bổ
sung thêm hai loài: Eutropis chapaensis và Eutropis darevskii
Mô tả đầu tiên về các màng ngoài phôi ở Thằn lằn bóng noãn thai sinh của các
tác giả Jerez và Ramirez - Pinilla (2001) ở loài Mabuya mabouya, cho thấy đây là
nhau thai túi niệu type IV với các lớp: placentome, paraplacentome và Chorionic areolae Trong đó lớp chorionic areolae đảm nhận chức năng hấp thu các chất Bò sát cùng với chim và thú là những lớp động vật có xương sống có các màng ngoài phôi bao gồm màng ối chứa dịch ối, màng nhung và túi niệu Riêng ở Lớp Thú đã
có nhau thai chính thức (placenta) do màng nhung gắn với nội mạc tử cung khi phôi làm tổ Các nghiên cứu gần đây trên các loài Thằn lằn noãn thai sinh (viviparious) cho thấy, các màng ngoài phôi ngoài chức năng giúp cho phôi không bị mất nước, trao đổi khí và bài tiết thì các màng ngoài phôi của chúng còn có thể hấp thu các chất dinh dưỡng từ cơ thể mẹ bằng cách trao đổi qua nhau thai và được gọi là dinh dưỡng mô (Histotrophic nutrition) Vì vậy, trong các kết quả nghiên cứu này còn gọi lớp màng ngoài phôi này là nhau thai túi niệu (allantoplacental) hoặc nhau thai tương tự như nhau thai của thú[20]
Sau này, hai tác giả Jerez và Pinilla (2003) tiếp tục nghiên cứu về các màng
ngoài phôi và nhau thai của Thằn lằn bóng Mabuya mabouya ở các giai đoạn khác
nhau của quá trình phát triển phôi Các màng này đảm nhận các chức năng hấp thu, trao đổi khí, bảo vệ phôi và bài tiết [19]
Trang 13Các nghiên cứu cấu trúc siêu hiển vi lớp nhau thai - túi niệu của các loài Thằn
lằn bóng giống Mabuya sp cho thấy màng phôi có các lớp và các vùng khác nhau
Sự hấp thu các chất dinh dưỡng qua nhau thai của các loài Thằn lằn giống
Mabuya đã được nghiên cứu bởi Ramirez – Pinilla (2006) Việc hấp thu các chất
như lipid, protein, các ion Ca, Na, K, Mg và nước đã được theo dõi và công bố trong bài báo này [25]
Leal và Pinilla (2008) cho rằng các màng này có những biến đổi trong các loài
Thằn lằn bóng giống Mabuya ở các vùng khác nhau khi nghiên cứu trên 20 quần thể
Thằn lằn bóng ở Nam Phi [22]
Năm 2005, A Hernandez - Franyutti, Aranzabal và Guillette Jr nghiên cứu
quá trình sinh trứng của loài Thằn lằn noãn thai sinh Mabuya brachypoda Kết quả
nghiên cứu đã đưa ra mô tả chi tiết cấu trúc khối noãn hoàng, nhân và bộ nhiễm sắc thể ở các giai đoạn khác nhau [18]
Ngoài ra, Fleming và Blackburn nghiên cứu sự tiến hóa trong quá trình biệt hóa nhau thai của các loài Thằn lằn noãn thai sinh ở Châu Phi và Nam Mỹ Theo đó,
sự phát sinh chủng loại của các nhóm Thằn lằn bóng có liên quan đến cấu trúc của nhau thai và chức năng dinh dưỡng bằng nhau thai khi phân tích cấu trúc và chức năng của các lớp màng này [13]
Nghiên cứu sự thay đổi nhiệt độ nơi ấp trứng trong điều kiện tự nhiên và nhân tạo của Thằn bóng đuôi dài được rất nhiều tác giả quan tâm [17]
Trong quần thể Thằn lằn bóng hoa ở đảo Hải Nam (Trung Quốc), sự sai khác
về hình thái giữa con đực và con cái (Sexual dimorphism) thể hiện ở chiều dài thân
Trong đó, con cái có kích thước nhỏ nhất 90 mm, lớn nhất 115 mm, trung bình 102
mm Trong khi đó con đực có kích thước nhỏ nhất 93 mm, lớn nhất 117 mm, trung bình 107 mm [12], [21]
Trang 14Năm 2012 Hernandez – Franyutti và Uribe, nghiên cứu chu kỳ sinh tinh theo
mùa và hình thái học của tế bào mầm ở Thằn lằn bóng Mabuya brachypoda, đã
mô tả các biến thể theo mùa trên mô học của các ống sinh tinh và ống dẫn tinh của loài Thằn lằn bóng nhiệt đới trong suốt cả năm tại Nacajuca, bang Tabasco, Mexico Các kết quả cho thấy sự biến đổi mạnh mẽ hàng năm về khối lượng tinh hoàn, những giai đoạn của các tế bào mầm, đường kính và chiều cao của biểu mô ống sinh tinh và các ống dẫn tinh [5]
Liên quan đến hoạt động sinh sản, Goldberg (2013) đã nghiên cứu chu kỳ sinh dục của Thằn lằn bóng hoa ở Sarawak (Malaysia) Kết quả của tác giả này cho thấy không có sự sai khá đực cái như Ji và cộng sự (2006) đã công bố trên loài này ở đảo Hải Nam Chu kỳ sinh dục của con đực có hai thời kỳ: thời kỳ tái tạo
(recrudescence) và thời kỳ sinh tinh Thời kỳ sinh tinh diễn ra quanh năm [14 ]
1.2 Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, Ngô Đắc Chứng cùng các cộng sự đã công bố các công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái học gồm sinh thái học sinh sản và
sinh thái học dinh dưỡng của hai loài Thằn lằn bóng Eutropis longicaudatus và
Eutropis multifasciatus ở Việt Nam [10], [11]
Năm 2007, Ngô Đắc Chứng và Trương Tấn Mỹ đã công bố nghiên cứu về đặc điểm dinh dưỡng và sinh sản của giống Thằn lằn bóng Mabuya Fitzinger, 1826 ở tỉnh Khánh Hòa Trong nghiên cứu này tác giả đã giới thiệu về đặc điểm thức ăn,
đặc điểm về cơ quan sinh dục và sự sinh sản của 3 loài Eutropis longicaudatus,
Eutropis macularius và Eutropis multifasciatus.[1]
Tiếp tục năm 2009, Ngô Đắc Chứng và Lê Thắng Lợi nghiên cứu về đặc điểm
sinh sản, sinh học và sinh thái hai loài Thằn lằn bóng Eutropis longicaudatus và E
multifasciatus ở Thừa Thiên Huế Kết quả cho thấy, mùa sinh sản của loài Eutropis longicaudatus từ tháng 4 đến tháng 8 Cá thể cái trưởng thành có chiều dài thân
khoảng 83mm Mùa sinh sản của loài Eutropis multifasciatus khoảng tháng 4 đến
tháng 7, cá thể cái trưởng thành có thân dài khoảng 95mm [2]
Có thể nói về mặt mô học của cơ quan sinh dục Thằn lằn bóng đã được nghiên cứu tương đối kỹ Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu này đều được tiến hành trên các
Trang 15đối tượng ở Châu Phi và Nam Mỹ, là những vùng có điều kiện khí hậu khác xa với Việt Nam Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về mô học ở loài Thằn lằn bóng hoa
Eutropis multifasciatus (Hallowell, 1856) và Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatius (Kuhl, 1820) ở Việt Nam nói chung và ở Đồng Nai nói riêng
II KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ HÀNH CHÍNH TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ và sự phân chia hành chính
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ [4]
Tỉnh Đồng Nai không giáp biển, nằm trong vùng Đông Nam bộ, thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên là 5.907,24 km2 (chiếm 1.76% diện tích cả nước) và là một trong ba hạt nhân tạo vùng, có tọa độ địa lí: 10030’03” đến 11034’57’’ vĩ độ Bắc và 106045’30” đến 107035’00’’ kinh độ Đông, phía Đông giáp Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp bình Phước, phía Tây giáp Bình Dương và Tây Nam giáp Thành phố hồ Chí Minh, phía Nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu
2.1.2 Sự phân chia hành chính
Hiện nay, tỉnh Đồng Nai có 173 phường, xã, thị trấn Trong đó:
- Thành phố Biên Hoà có 23 phường, 07 xã
Trang 16thành miền Đông Nam bộ Mật độ dân số theo tỉ lệ 421 người/ km2 Có trên 30 thành phần dân tộc sinh sống
Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, là cửa ngõ phía đông thành phố Hồ Chí Minh - một trung tâm kinh tế lớn của cả phía Nam, nối Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên với toàn bộ vùng Đông Nam Bộ bởi các tuyến giao thông huyết mạch như quốc lộ 1A, quốc lộ 51 và tuyến đường sắt Thống Nhất… Vì thế, Đồng Nai được coi như là “bản lề chiến lược” giữa bốn vùng của các tỉnh phía Nam Nó không chỉ
có vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế, mà còn có ý nghĩa đặc biệt về kinh tế kết hợp an ninh quốc phòng và môi trường của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Nai
Trang 172.1.3 Địa hình
Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam Có thể phân biệt các dạng địa hình chính như sau:
+ Địa hình đồng bằng gồm hai dạng chính: Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 - 10m hoặc có nơi chỉ cao từ 2 - 5m dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến vài km
+ Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 - 2m, có chỗ thấp hơn mực nước biển, thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn bao phủ Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng
+ Dạng địa đồi lượn sóng: Độ cao từ 20 - 200m Bao gồm các đồi bazan, bề mặt địa hình rất phẳng, thoải, độ dốc từ 30 - 80 Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với các dạng địa hình khác bao trùm hầu hết các khối bazan, phù sa cổ Đất phân bổ trên địa hình này gồm nhóm đất đỏ vàng và đất xám
+ Dạng địa hình núi thấp: Bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao thay đổi từ 200 – 800m Địa hình này phân bố chủ yếu
ở phía bắc của tỉnh thuộc ranh giới giữa huyện Tân Phú với tỉnh Lâm Đồng và một vài núi sót ở huyện Định Quán, Xuân Lộc Tất cả các núi này đều có độ cao (20–300m), đá mẹ lộ thiên thành cụm với các đá chủ yếu là granit, đá phiến sét
Nhìn chung đất của Đồng Nai đều có địa hình tương đối bằng phẳng, có 82,09% đất có độ dốc < 80, 92% đất có độ dốc <150, các đất có độ dốc >150 chiếm khoảng 8% Trong đó:
Đất phù sa, đất gley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm Đất đen, nâu, xám hầu hết có độ dốc < 80, đất đỏ hầu hết<150
Riêng đất tầng mỏng và đá bọt có độ dốc cao
2.1.4 Khí hậu [4]
Khí hậu Đồng Nai là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có hai mùa tương phản nhau (mùa khô và mùa mưa) Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (khoảng 5 – 6 tháng), mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (khoảng 6 – 7 tháng) Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng 10 đến tháng 12
Trang 18Nhiệt độ không khí trung bình hằng năm từ 25,7 – 26,70 C Mức độ chênh nhau giữa các năm không lớn Chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa tháng nóng nhất
và lạnh nhất là 4,20 C
Nhiệt độ trung bình mùa khô từ 25,4 – 26,70 C, chênh lệch giữa tháng cao nhất
và tháng thấp nhất là 4,80 C Nhiệt độ trung bình mùa mưa từ 26 – 26,80 C So với mùa khô, mức dao động không lớn, khoảng 0,80 C
Lượng mưa tương đối lớn và phân bố theo vùng và theo vụ Địa bàn huyện Tân Phú, phía bắc huyện Định Quán, huyện Vĩnh Cửu có lượng mưa lớn nhất, trên 2.500mm/năm Mùa khô, tổng lượng mưa chỉ từ 210 – 370 mm chiếm 12 – 145 lượng mưa của năm Mùa mưa, lượng mưa từ 1.500 – 2.400 mm, chiếm 86 – 88% lượng mưa của năm Phân bố lượng mưa giảm dần từ phía Bắc xuống phía Nam và
từ giữa ra hai phía Đông và Tây của Đồng Nai
+ Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét: gồm đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phía nam, đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch) Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…
+ Các loại đất hình thành trên phù sa mới, gồm: đất phù sa, đất cát Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…
2.1.6 Nguồn nước
Đồng Nai có 16.666 ha sông suối chiếm tỷ lệ 2,8% diện tích tự nhiên, là một tỉnh có mạng lưới sông suối khá dày đặc Hàng năm các con sông ở đây cung cấp
Trang 19một khối lượng nước khổng lồ 30,2 x 109 m3 Lượng nước này, đủ cung cấp cho sản xuất, sinh hoạt và làm ra điện với công suất lý thuyết hơn 500 nghìn kw/h
Hệ thống sông Đồng Nai với sông chính dài 610 km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài 220 km (tính đến ngã ba sông Lòng Tàu - Nhà Bè) Lưu vực sông rộng 42.600 km2, có hơn 253 sông suối lớn nhỏ là phụ lưu Đây là con sông lớn thứ hai của Nam Bộ, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên về đến cửa biển Xoài Rạp Nhìn chung, về mặt hình thái lưu vực, sông Đồng Nai là một sông lớn, lưu vực gần như nằm trọn trên lãnh thổ nước ta, sông có nguồn nước phong phú và nhiều tiềm năng
về thủy điện
Sông Đồng Nai là con sông dồi dào về nguồn nước và phong phú về cảnh đẹp, bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) chảy ngang qua thành phố Biên Hòa đã tạo nên nhiều phong cảnh đẹp, với nhiều điểm du lịch hấp dẫn, với những cánh đồng lúa xanh ngút ngàn và những vườn cây ăn trái xum xuê, trĩu quả với nhiều đặc sản địa phương của miền nhiêt đới, như: chôm chôm, sầu riêng, bưởi, xoài, ổi, măng cụt, dâu, mít tố nữ, … Có thể nói, từ xa xưa dọc theo dòng sông lịch
sử này đã hình thành nên các khu phố cổ rất sầm uất như: cù lao Phố, làng cổ Bến
Gỗ, các làng nghề truyền thống như: làng gốm Tân Vạn, Hóa An và gắn với dòng sông lịch sử này chính là các làng cá bè Tân Mai, La Ngà, cùng với các khu trọ trên sông đã tạo nên một nét văn hóa đặc sắc, với nếp sinh hoạt và buôn bán tấp nập trên bến dưới thuyền Có địa thế là trung tâm thành phố Biên Hòa, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 30 km, được bao quanh bởi sông Đồng Nai, là điểm sáng
để xây dựng, làm tour sinh thái, văn hóa Với phong cảnh hữu tình, thanh bình, êm
ả, nhưng tràn đầy sức sống Gắn với đặc sắc trung tâm thành phố bên sông thì địa danh này còn có nhiều di tích lịch sử và lễ hội truyền thống
2.1.7 Sinh vật
Đến năm 2015, diện tích rừng của tỉnh Đồng Nai là 177.939 ha, độ che phủ 30,1% Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 119.950ha và diện tích rừng trồng là 57.989ha Rừng của tỉnh Đồng Nai trước đây là rừng nguyên sinh được hình thành dưới ảnh hưởng tương tác và tổng hợp của những điều kiện tự nhiên trong vùng như đặc điểm về vị trí địa lý, sự đa dạng trong cấu tạo địa hình và tính chất thổ nhưỡng
Trang 20kết hợp với chế độ khí hậu ẩm nhiệt đới góp phần hình thành và phát triển hệ thực vật và động vật phong phú, mang lại lợi thế và tiềm năng phát triển các sản phẩm du lịch, như sau:
+ Vườn Quốc gia Cát Tiên: Có nhiều loại gỗ quý như cẩm lai, trắc, gõ đỏ, trai,
giáng hương; nhiều loại thú quý hiếm như bò tót, voi, công xanh, trĩ, sao, tê giác, cá sấu không chỉ có giá trị kinh tế, tài nguyên rừng còn đem lại nguồn dược liệu quý hiếm, khoảng 240 cây lá thuốc và hàng trăm động vật
+ Các khu rừng cảnh quan gắn với di tích lịch sử: Rừng ven hồ Trị An, rừng
Thác Mai - Hồ nước nóng ở lâm trường Tân Phú, rừng Sác ở Nhơn Trạch, Long Thành có nhiều tiềm năng du lịch Tài nguyên rừng tỉnh Đồng Nai gắn liền với các di tích lịch sử của nhiều căn cứ địa cách mạng, giữ vị trí chiến lược quan trọng
về mặt quốc phòng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ Tiêu biểu cho di tích này là Căn cứ Khu ủy Miền Đông, huyện Vĩnh Cửu và Chiến khu rừng Sác huyện Long Thành và Nhơn Trạch
+ Cảnh quan rừng và hệ sinh thái rừng: Tài nguyên rừng Đồng Nai là một
món quà vô giá mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng Tính đa dạng sinh học đã mang lại nhiều lợi ích cho đời sống nhân dân Tuy nhiên, những hậu quả của việc khai thác rừng quá mức để thu lợi ích kinh tế trước mắt sẽ gây ra những tác động lớn đến vấn đề suy giảm môi trường, làm thay đổi tính đa dạng sinh học của rừng, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống của con người
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Hai loài Thằn lằn bóng giống Eutropis Fitzinger, 1843:
- Thằn lằn bóng đuôi dài: Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856)
- Thằn lằn bóng hoa: Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820)
- Tháng 8 và tháng 9 năm 2017: Xử lý số liệu thu được và viết luận văn
2.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm thu mẫu: Tiến hành thu mẫu từng tháng, mẫu vật nghiên cứu được thu thập ở ngoài tự nhiên và trại nuôi thử nghiệm tại tỉnh Đồng Nai
Địa điểm nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân tích mô học: Tại phòng thí nghiệm Động vật học của Đại học Sư Phạm – Đại học Huế
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp thu mẫu
Thu mẫu trực tiếp bằng tay, bằng thòng lọng hoặc bằng câu (dùng mồi là cào cào, nhện, giun đất ) ngoài tự nhiên và trong trại nuôi Thời gian thu mẫu bắt đầu
từ 9 giờ sáng đến 16 giờ trong ngày
Tiến hành thu mẫu theo từng tháng, mỗi tháng thu khoảng 15 - 20 cá thể đực cái (thậm chí là con non) Thu mẫu ở các độ tuổi khác nhau tùy theo mùa Đã phân tích 311 mẫu vật Thằn lằn bóng thu được trên thực địa và 98 tiêu bản mẫu mô
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
- Sau khi làm chết mẫu vật, sử dụng thước kẹp điện tử để xác định các số đo hình thái như chiều dài thân (SVL, mm), chiều dài đầu (HW, mm), rộng bụng (RB, mm)… sử
Trang 22dụng các loại cân điện tử bỏ túi hoặc để bàn (± 0,1 g hoặc ± 0,01 g) để xác định khối lượng cơ thể (BM) Tiến hành quan sát hình thái ngoài, mô tả và xác định loài tương ứng
- Các thông số đo được ghi đầy đủ vào phiếu để xử lý số liệu sau này
- Quan sát hình dáng bên ngoài để:
+ Xác định loài Thằn lằn dựa vào số vạch trên vảy, hình dáng vảy ở đầu mút mỏm, số vảy ở ngón chân
+ Xác định giới tính thông qua màu sắc, số đốm trắng hai bên sườn, màu sắc hai vạch chạy dài từ sau mắt đến chi sau
Từ việc xác định giới tính thông qua hình thái kết hợp với giải phẩu và phân tích tinh hoàn và buồng trứng theo tháng để đánh giá khả năng sinh sản của loài bằng phương pháp mô học
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh sản
Đặc điểm sinh dục đực: Mổ xoang bụng, tách tinh hoàn ra khỏi xoang bụng đặt lên đĩa peptri để đo chiều dài, chiều rộng và mô tả màu sắc từng tinh hoàn phải và trái Sau
đó ngâm tinh hoàn vào dung dịch Bouin để làm tiêu bản mô học tinh hoàn
Đặc điểm sinh dục cái: Mổ xoang bụng, đo chiều dài, chiều rộng buồng trứng hoặc trứng; Đếm số lượng trứng, phân loại và mô tả màu sắc trứng theo 3 mức độ: trứng nhỏ, trứng lớn và trứng già (hoặc phôi) theo từng tháng trong mùa giao phối
Đặc biệt, ở loài Thằn lằn bóng hoa Eutropic multifasciatus (đây là loài sinh
sản noãn thai sinh) phân tích thêm màng ngoài phôi để xác định mối liên hệ nhau
thai với cơ thể mẹ
Thông qua theo dõi sự phát triển của buồng trứng, phôi và tinh hoàn ở các số liệu thu được tại điểm nghiên cứu trong mỗi tháng, từ đó xác định được khả năng sinh sản của mỗi loài Phân tích ảnh hưởng các yếu tố vô sinh đến đặc điểm sinh sản của hai loài Thằn lằn bóng trên
Trang 232.4.4 Phương pháp phân tích mô học cơ quan sinh dục
2.4.4.1 Thu mẫu và bảo quản mẫu
Sau khi nghiên cứu hình thái sinh sản; tách tinh hoàn, buồng trứng, đặc biệt ở
loài Thằn lằn bóng hoa Eutropic multifasciatus (đây là loài sinh sản noãn thai sinh)
tách thêm màng ngoài phôi cho vào lọ có chứa dung dịch Bouin với tỉ lệ mẫu trên dung dịch là 1/10
Thành phần dung dịch Bouin gồm có: 15% dung dịch axít picric bão hòa, 5% formalin ở mức 40% và 1% axít axetic
2.4.4.2 Phương pháp phân tích mô học
Tiêu bản mô học tuyến sinh dục được thực hiện dựa theo phương pháp của Hinton (1990) [15] Tuyến sinh dục sau khi được cố định bằng dung dịch Bouin sẽ được tẩy sạch, đóng khối, cắt, nhuộm tiêu bản và đưa lên kính hiển vi quan sát Mẫu tiêu bản được nhuộm theo phương pháp nhuộm màu Hematoxylin – Eosin
Hình 2.1 Sơ đồ các bước trong quy trình xử lý mẫu (Hinton, 1990)
Trang 24Cắt tỉa và định hướng cho mẫu mô đã được cố định
Mẫu mô có thể được cắt tỉa bằng lưỡi dao cạo hoặc dao mổ để đạt được kích
cỡ mong muốn
Mẫu mô có thể được cắt đôi theo chiều nằm ngang hoặc cắt thẳng đứng dọc giữa
Loại nước, làm trong mẫu, ngấm paraffin
Quá trình loại nước được thực hiện bằng cách nhúng mẫu mô qua một loạt các dung dịch cồn với các nồng độ gia tăng (100 cho mỗi bước) từ cồn 500 đến cồn 800, sau đó nhúng mẫu vài lần trong cồn 950 và cuối cùng là chuyển sang cồn 100% Làm trong mẫu: tiếp theo ngâm mẫu trong dung môi xylen trong thời gian từ
Trang 25Cắt mô đúc trong khối paraffin
Chuẩn bị dao cắt
Đặt dao vào máy cắt, vặn ốc thật chặt Khối mẫu sẽ được cắt thành các lát cắt khi tay quay của máy cắt xoay tròn, mỗi một vòng xoay thì một lát cắt được hình thành
Cắt mẫu
Trước khi tiến hành cắt, phải điều chỉnh độ dày của lát cắt, có thể bắt đầu bằng những lát cắt 10 – 12µm Sau khi đã cắt bằng mặt khối nến và đạt đến vị trí mong muốn, điều chỉnh độ dầy theo từng nghiên cứu cụ thể, thông thường là từ 4 – 6µm Nếu việc đúc khối với paraffin được thực hiện tốt, lưỡi dao sắc, nhiệt độ trong phòng thích hợp, các lát cắt sẽ nối tiếp sẽ dính vào nhau thành một dãy băng dài Dán lát cắt vào phiến kính: Khi dãy băng các lát cắt dài từ 10 – 15cm, chúng
sẽ được lấy ra khỏi lưỡi dao bằng cách chèn kim giải phẫu vào giữa các lát cắt và dao cắt Đặt tạm cả phiến bằng lên giấy vẽ đen và tách các lát cắt ra với độ dài thích hợp Sau đó đặt lát cắt nổi trong một chậu nước ấm (40 – 44oC) để giúp các lát cắt giãn thẳng ra trước khi dán vào phiến kính
Dán lát cắt vào phiến kính bằng dung dịch Mayer’s albumen hoặc gelatin Với dung dịch albumen, cho một giọt rất nhỏ dung dịch lên phiến kính, dùng tay xoay đều để tạo thành một màng mỏng albumen trên phiến kính Sau khi làm giãn thằng lát cắt trong chậu nước ấm, điều chỉnh lát cắt đúng hướng,
từ từ rút phiến kính khỏi nước, lát cắt sẽ được dán chặt vào phiến kính Đối với dung dịch gelatin thì đơn giản hơn, cho dung dịch gelatin vào thẳng trong chậu nước ấm (40 - 45oC) lát cắt sẽ được thả nổi trong dung dịch này và cách dán lát cắt được thực hiện tương tự
Nhuộm mẫu bằng Mayer’s Hematoxylin và Eosin (Hinton, 1990) [15]
Lát cắt được loại paraffin bằng cách sấy qua đêm ở nhiệt độ 56 – 60oC
Phiến mẫu sau khi loại paraffin sẽ được làm ngâm nước theo các bước sau: + Nhúng phiến mẫu vào xylen 2 – 3 phút
+ Chuyển sang xylen sạch 1 – 2 phút
Trang 26+ Nhúng vào cồn tuyệt đối 1 – 2 phút
+ Chuyển lần lượt sang các dung dịch cồn 950, 700 và 500, mỗi dung dịch một phút
+ Rửa mẫu trong nước cất
Chuẩn bị phẩm nhuộm
+ Mayer’s Hematoxylin: Hòa tan 1g tinh thể hematoxylin trong 750ml nước cất Thêm vào 0,2 g NaIO3; 1g acid citric và 50g chloral hydrate Thêm nước vào cho đủ 1l + Dung dịch chuẩn 1% eosin: 1g eosin Y, 20ml nước cất và 80ml cồn 950 Dung dịch nhuộm eosin được chuẩn bị như sau: 1 thể tích dung dịch chuẩn 1% eosin cộng với ba thể tích cồn 800 Trước khi sử dụng thêm vào 0,5ml acid acetic cho mỗi 100ml dung dịch nhuộm eosin
+ Nhúng phiến mẫu trong Mayer’s hematoxylin 15 phút
+ Rửa phiến mẫu dưới vòi nước 20 phút
+ Nhúng phiến mẫu vào dung dịch nhuộm eosin từ 15 giây đến 2 phút, tùy vào mức độ bắt màu của mẫu
Chuyển phiến mẫu sang 2 lần cồn 950, mỗi lần 2 phút để rửa hết eosin thừa Quan sát phiến mẫu bằng kính hiển vi, mẫu đạt yêu cầu khi nền mẫu trong và tế bào chất bắt màu từ hồng nhạt đến cam
Rửa phiến mẫu lại trong cồn 950, sau đó chuyển phiến mẫu sang 2 lần cồn tuyệt đối, mỗi lần 2 phút Làm trong mẫu bằng xylen 2 lần mỗi lần 2 phút Sau khi nhuộm, dán phiến kính mỏng lên trên
Trang 272.4.5 Xử lý và thống kê số liệu
Sau khi phân tích các chỉ số, dữ liệu sẽ được kiểm tra mức sai khác ý nghĩa (P < 0,05 được xem là sai khác có ý nghĩa thống kê) bằng phần mềm thống kê MINITAB 16.0 (Minitab Inc., State College, Pennsylvania, USA) và Excel 2010
Nếu dữ liệu đáp ứng được các giả định bình thường của thống kê, chúng tôi sử dụng một yếu tố ANOVA đối với một số chỉ tiêu của hình thái sinh sản
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 MÔ TẢ HÌNH THÁI BÊN NGOÀI CỦA HAI LOÀI THẰN LẰN BÓNG EUTROPIS (Fitzinger, 1843)
3.1.1 Thằn lằn bóng đuôi dài
Tên Việt Nam: Thằn lằn bóng đuôi dài
Tên tiếng Anh: Long-tailed skink, Long- tailed mabuya
Loài: Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856)
Kích thước: SVL 93 – 110 mm; TaiIL 178 – 269 mm [3]
Mẫu vật
Qua 12 tháng nghiên cứu, chúng tôi đã thu được một tổng số của 51 cá thể Thằn lằn bóng đuôi dài (37 đực và 14 cái), tỷ lệ giới tính (đực/cái) là 2,1875 Khối lượng cơ thể (BW): 12,70 – 33,91mg; rộng đầu (HW): 12,94mm; chiều dài thân
(SVL): 95,30 – 112,30mm (Phụ lục 3)
Mô tả
Hình 3.1 Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856)
Đây là loài Thằn lằn bóng có đuôi rất dài so với thân Đầu dẹp ít phân biệt với
cổ, hình tam giác thuôn dài, phủ vảy tấm đối xứng Mõm tù, tấm mõm dài gấp hai lần cao Lỗ mũi tròn, nằm giữa tấm mũi, phía trước có hai tấm trên mũi chạm nhau
Trang 29Thân dài màu nâu sáng hoặc sẫm mềm mại, có những vảy tròn, nhỏ, bóng xếp tì lên nhau như vảy cá Mặt bụng và phía trước các chi sáng màu hơn trên lưng, thường thấy màu vàng xanh, dưới cằm có màu xanh nhạt Hai bên lưng có những vệt đen (bằng khoảng ba hàng vảy) kéo dài từ sau mắt đến gốc đùi, đôi khi mặt bên lưng có các đốm trắng Có một vệt đen mảnh từ sau mép đến gốc vai Trên đầu thường có các chấm sẫm màu rõ ở những cá thể thân có màu nâu sáng
Bốn chi yếu, ngắn, nằm ngang hai bên thân Mỗi chi có 5 ngón, đầu ngón có vuốt sừng nhọn Đuôi dài, hình trụ thuôn nhọn, màu xám lục
3.1.2 Thằn lằn bóng hoa
Tên Việt Nam: Thằn lằn bóng hoa
Tên tiếng Anh: Many-lined sun skink, Common sun skink
Loài: Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820)
Kích thước: SVL 66 – 122 mm, TaiIL 124 – 195 mm
Mẫu vật
Qua 12 tháng nghiên cứu, chúng tôi đã thu được một tổng số của 260 cá thể
Thằn lằn bóng hoa (131 đực và 129 cái), tỷ lệ giới tính (đực/cái) đối với loài E
multifasciatus là 1,0155 Khối lượng cá thể (BW) 12,34 – 33,29mm, chiều dài thân
Trang 30Cơ thể có kích thước trung bình Đầu phủ vảy tấm đối xứng, ích phân biệt với
cổ Mõm tù, tấm mõm rộng hơn cao Lỗ mũi tròn, nằm giữa tấm mũi; hai tấm trên mũi cách nhau bởi tấm trán - mũi và tấm trán Có một cặp tấm gáy tiếp xúc nhau, đôi khi bị ngăn cách bởi một vảy nhỏ Có hai tấm má; bốn tấm trên chổ mắt Có ba hàng vảy thái dương Tấm cằm rộng hơi cao; một tấm sau cầm lẻ, rộng hơn dài; hai cặp tấm sau cằm: cặp thứ nhất tiếp xúc nhau, cặp thứ hai thường cách nhau bởi một vảy nhỏ Màng nhĩ sau, cao hơn đầu một chút
Vảy thân tương đối đồng đều, xếp theo hình ngói lợp từ trước ra sau Vảy trên lưng có ba gờ rõ vảy phía trước có gờ yếu hơn, vảy bụng nhẵn Vảy ở các chi nhỏ hơn vảy thân.Vảy chi trước nhẵn vảy chi sau ở mặt trên có gờ yếu mặt dưới không có gờ
Thân màu nâu đen, mặt bụng và phía dưới các chi sáng màu hơn trên lưng Trên lưng có từ 5 dải nhỏ màu nâu sẫm (rộng bằng 1/3 chiều rộng của một hàng vảy) chạy dọc từ sau tấm gáy đến gốc đuôi Hai bên thân màu nâu sẵm Những cá thể cái có các đốm trắng dọc hai bên thân từ sau lỗ tai đến 1/3 chiều đài đuôi và ở mặt trên của đùi và cánh tay Mỗi đốm trắng viền đen, nằm trong một vảy
3.1.3 Đặc điểm phân biệt cá thể con đực và con cái
Màu da giữa con đực và con cái
Da con đực thường cứng cáp, thô ráp hơn nhiều trong khi da con cái lại bóng bẩy và trơn mượt hơn Hai bên hông của con đực da thường có màu ngói hường, phần da này thường kéo dài từ bụng lên đến cổ Có nhiều con con đực màu da không giống với màu da truyền thống của Thằn lằn bóng mà ngược lại nó lại có
màu trắng xám
Những cá thể cái có các đốm trắng nằm dọc hai bên thân từ sau lỗ tai đến 1/3 chiều dài đuôi và ở mặt trên của đùi và cánh tay Mỗi đốm trắng viền đen, nằm trong một vảy
Trang 31Hình 3.3 Con đực không có chấm dưới bụng như con cái
Giải phẫu ổ bụng để xác định chính xác giới tính của hai loài Thằn lằn này
Hình 3.4 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820)
A Con cái; B Con đực Kích thước cơ thể giữa con đực và con cái
Qua đó cho thấy kích thước cơ thể và khối lượng thân của Eutropis
multifasciata ở con đực là lớn hơn con cái
Trang 32Qua đó cho thấy kích thước cơ thể và khối lượng thân của Eutropis
longicaudatus ở con đực là lớn hơn con cái
Như vậy, cũng giống như nhiều loài động vật khác, con đực cũng to khoẻ và rắn chắc hơn nhiều so với con cái khả năng sinh trưởng và sống sốt của nó cũng cao hơn Con cái cơ thể thường nhỏ nhắn hơn Chính vì điều này mà nhiều người nuôi thích nuôi con đực để bán cho các nhà hàng, người mua hơn
Cách thức và khả năng di chuyển
Tốc độ di chuyển của con đực là nhanh hơn con cái, đặc biệt với những con đực
to lớn, khoẻ mạnh trong đàn thường có tốc độ di chuyển rất tốt so với phần còn lại Tốc độ di chuyển của con cái tương đối chậm Trong trường hợp đang mang thai, tốc độ di chuyển của nó sẽ luôn bị giảm suốt và nó sẽ là một trong những con cái di chuyển chậm nhất đàn cùng với những con bị dị tật hay chấn thương
Hình 3.5.Con đực đầu to hơn con cái Hình 3.6 Con cái mang thai
di chuyển khá chậm chạp
Trang 333.2 ĐẶC ĐIỂM CƠ QUAN SINH DỤC ĐỰC
3.2.1 Cơ quan sinh dục đực
Ở loài bò sát này, sự sinh sản có liên quan đến việc thụ tinh trong tức là tinh trùng và trứng kết hợp với nhau ở bên trong cơ thể con cái Để có thể thực hiện được điều này, cơ quan sinh sản của con đực phải thực hiện được hai chức năng quan trọng đó là sản sinh tinh trùng (hay sự sinh tinh) và truyền tinh trùng vào cho con cái Các cấu trúc sản sinh ra tinh trùng là tinh hoàn, nó có hai chức năng – sản sinh ra tinh trùng và sản xuất ra testosteron, một hoocmon đực rất quan trọng Cấu tạo: Cơ quan sinh sản của con đực có một đôi tinh hoàn hình khối bầu dục màu trắng, nằm đối xứng ở hai bên cột sống ở phía trước thận Mỗi tinh hoàn chứa hàng trăm ống nhỏ gọi là ống sinh tinh, nơi tạo ra tinh trùng Tinh hoàn ở mỗi bên
đổ vào tinh hoàn phụ (mào tinh hoàn), tinh hoàn phụ đổ vào ống dẫn tinh rồi đổ vào xoang huyệt Bộ phận giao cấu là hai túi rỗng nằm ở dưới da bên bờ phía dưới khe huyệt Bình thường chúng lộn vào bên trong, khi bị kích thích máu dồn tới làm túi cương lên và lộn ra ngoài
Hình 3.7: Cơ quan sinh dục đực Eutropis multifasciatus 3.2.2 Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820)
3.2.2.1 Đặc điểm kích thước và thể tích tinh hoàn
Tiến hành mổ và cân đo kích thước tinh hoàn trên 132 cá thể đực, số lượng mẫu vật đã thu từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 7 năm 2017
Nghiên cứu trong một năm cho thấy: Thể tích và kích thước tinh hoàn của loài
Eutropis multifasciatus biến đổi qua 12 tháng được thể hiện trong bảng 3.1 và hình 3.8
Trang 34Kết quả thống kê ở bảng 3.1 cho thấy ở Eutropis multifasciatus: tinh hoàn trái
có kích thước và thể tích trung bình lớn hơn so với tinh hoàn phải
Hình 3.8 Biểu đồ thể tích trung bình của tinh hoàn
Qua bảng 3.1 thể hiện: Kích thước trung bình tinh hoàn phát triển mạnh vào tháng 1,3,4,5,6 /2017; kích thước nhỏ nhất rơi vào tháng 8/2016 và tháng 7/2017 Hình 3.8 cho ta thấy: Thể tích trung bình của tinh hoàn lớn nhất vào các tháng
9, tháng 1, tháng 3, tháng 4, tháng 5 và tháng 6 Tinh hoàn có thể tích trung bình thấp nhất vào tháng 7, tháng 8, tháng 11, tháng 12 Tuy nhiên, có sự khác biệt nhỏ về sự thay đổi thể tích giữa tinh hoàn phải và tinh hoàn trái Tinh hoàn trái giảm từ tháng 3 cho đến tháng 5, tinh hoàn phải giảm nhẹ từ tháng 3 cho đến tháng 4 sau đó tăng nhẹ vào tháng 5 Sự biến đổi thể tích tinh hoàn trái và phải ở những tháng còn lại tương tự nhau Như vậy, kích thước về chiều dài rộng của tinh hoàn phù hợp với thể tích trung bình của tinh hoàn nghiên cứu trong 12 tháng
Thể tích trung bình của tinh hoàn trong mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm
sau) là 135,55 ± 47,20mm3, kết quả này là lớn hơn trong mùa mưa (tháng 4 đến
tháng 11 năm sau) với thể tích trung bình của tinh hoàn là 113,89 ± 49,32 mm3
Tuy nhiên, sự sai khác này là lại không có ý nghĩa thống kê (ANOVA, F3,23= 2,59,
P = 0,081) Điều này chứng tỏ trong điều kiện khí hậu thuận lợi, con đực Eutropis multifasciatus có khả năng giao phối quanh năm Kết quả này là phù hợp với mức
độ phát triển của tinh hoàn qua 12 tháng nghiên cứu
Trang 35Bảng 3.1 Kích thước và thể tích trung bình của tinh hoàn qua các tháng nghiên cứu
ở Thằn lằn bóng hoa Eutropis multifascitus
THÁNG
Dài L(mm) ± SD
Rộng W(mm) ± SD
Thể tích V(mm 3 ) ± SD
Dài L(mm) ± SD
Rộng W(mm) ± SD
Thể tích
V (mm 3 ) ± SD
Tháng 8 -2016 6, 21 ±0, 96 4,66 ± 0,93 77,35 ±44,14 5,49 ± 0,76 4,14 ±1,01 55,18 ± 35,07 Tháng 9 – 2016 7,78 ± 1,01 6,10 ± 1,03 161,4 ±69,32 6,74 ± 0,99 5,69 ± 1,07 122.21 ± 54,77 Tháng 10- 2016 7,87 ± 1,05 5,54 ± 1,04 134,58±64,44 6,99 ±0,89 5,09 ± 0,73 98,22 ± 34,64 Tháng 11- 2016 6,75 ± 0,89 5,4 ± 0,59 105,68±29,58 6,32 ± 0,76 5,19 ± 0,76 93,40 ± 30,90 Tháng 12 – 2016 6,46 ± 1,47 5,28 ± 0,53 98,59 ± 33,59 6,36 ± 0,78 5,15 ± 0,65 91,48 ± 33,22 Tháng 1 - 2017 7,73 ± 0,48 6,21 ± 0,69 158,94 ±41,02 6,68 ± 0,94 5,56 ± 0,51 111,27 ± 34,37 Tháng 2- 2017 7,44 ± 0,89 5,53 ± 1,22 130,55 ±74,03 6,32 ± 0,98 5,48 ± 1.24 109,69 ± 65,41 Tháng 3 - 2017 8,12 ± 0,66 6,55 ± 0,69 186,58 ±50,84 7,41 ± 0,70 6,20 ± 0,74 152,30 ± 42,48 Tháng 4 - 2017 8,00 ± 0,50 6,23 ± 0,92 168,01 ±53,22 7,13 ± 0,73 5,58 ± 0,92 121,17 ± 48,40 Tháng 5 - 2017 7,96 ± 1,26 6,16 ± 0,55 161,05 ±42,58 7,29 ± 0,96 5,87 ± 0,79 137,01 ± 47,27 Tháng 6- 2017 8,15 ± 0,73 6,49 ± 1,05 187,63 ±68,85 7,36 ± 0,99 5,92 ± 0,95 142,71 ± 61,15 Tháng 7 - 2017 6,27 ± 1,23 5,21 ± 1,19 100,60 ±54,53 6,03 ± 1,18 5,02 ± 0,98 87,75 ± 44,48
Trang 363.2.2.2 Đặc điểm mô học của tinh hoàn
Theo mô tả trong tài liệu nghiên cứu của Hernandez - Franyutti, Uribe (2012) [5] và Goldberg (2013) [13] về sự biến thể hình thái của tinh trùng trong chu kỳ sinh dục theo mùa của Thằn lằn bóng hoa ở Sarawak (Malaysia)
Ở loài Thằn lằn bóng trưởng thành, tinh trùng được tạo ra từ tuyến sinh dục đực nằm trong tinh hoàn Toàn thể dịch hoàn được bọc trong một bao liên kết sợi dày gọi là màng trắng, quan sát tiêu bản ta thấy có nhiều ống sinh tinh Các ống sinh tinh được cấu tạo bởi nhiều lớp tế bào nằm trên một màng đáy mỏng được bao bọc ngoài bởi các tế bào cơ – biểu mô
Giữa các ống sinh tinh là các mô liên kết (gọi là mô kẽ) chứa các tế bào non, mạch máu thần kinh và một loại gian bào đặc biệt (tế bào Leydig) Tế bào Leydig thường nằm thành từng nhóm hay có thể nằm đơn độc, các tế bào này lớn hơi tròn
có nhiều cạnh, ăn màu sậm và có một nhân hình trứng nằm ở giữa
Mỗi ống sinh tinh được bao quanh bởi một màng đáy mỏng, màng này là một tầng biểu mô sinh tinh gồm hai loại tế bào: các tế bào dòng tinh và tế bào Sertoli Đặc tính sắp xếp các loại tế bào này thấy rõ nhất khi cắt ngang một ống sinh tinh Các tế bào Sertoli là những tế bào dinh dưỡng, thường mỏng manh, dài chiếm từ màng bao ngoài tới gần sát lòng ống, tế bào chất thường có các khía dài, nhân hình trứng hơi có vẻ tam giác, nhuộm màu lợt
Các tế bào dòng tinh gồm nhiều loại: Các tinh bào nguyên thủy (spermatogonia) thường nằm sát màng đáy, đó là những tế bào hình tròn với nhân hình cầu ăn màu tím sậm Các tế bào này có khả năng phân bào nguyên nhiễm để tạo ra các tinh nguyên bào mới Sau một thời gian tăng trưởng, tinh nguyên bào di chuyển ra khỏi lớp màng đáy, phát triển to ra để hình thành một tinh bào bậc I nằm ở ngay lớp tế bào nguyên thủy Nhân của tế bào này có nhiều dạng khác nhau vì nhiễm sắc chất ở nhiều trạng thái phát triển Mỗi tinh bào I sẽ gián phân giảm nhiễm để tạo ra tinh bào bậc II
Tinh bào bậc II thường nhỏ hơn tinh bào bậc I, chúng phân bào ngay khi được thành lập và do đó thường rất ít thấy trong tiêu bản mô dịch hoàn Mỗi tinh bào II sẽ phân ra thành hai tiền tinh trùng; tiền tinh trùng là những tế bào rất nhỏ thường nằm
Trang 37từng nhóm sát lòng của ống sinh tinh và sau đó sẽ biến thành tinh trùng Tinh trùng thường thấy ở lòng ống sinh tinh, đầu ăn màu sậm và đuôi hướng trong lòng ống
Hình 3.9 Lát cắt ngang tiêu bản tinh hoàn
Trong suốt quá trình tạo tinh, các tế bào phân chia luôn nằm trong một loại tế bào đã biệt hóa gọi là tế bào Sertoli Các tế bào này hoạt động với chức năng điều khiển, chúng vừa là hàng rào chắn vừa là cấu trúc trung gian vận chuyển giữa các tế bào đang phân chia và mạch máu nằm phía ngoài ống sinh tinh Các tế bào tinh tử kết thúc sự phát triển của mình bằng cách biến tinh trùng chín muồi trong khi vẫn bám chặt với tế bào Sertoli
Trong thời gian tiến hành thí nghiệm, chúng tôi thu được tổng số lượng trong
12 tháng là 131 mẫu vật đã trưởng thành (mỗi tháng thu 10 đến 11 con đực), tiến hành làm được 34 tiêu bản mẫu mô tinh hoàn Quan sát tiêu bản ở phần đầu, phần giữa, phần đuôi của tinh hoàn theo từng tháng đều thấy rõ các tinh nguyên bào, tinh trùng xuất hiện trong ống sinh tinh trong chu kỳ một năm Dựa trên kết quả mô học, chúng tôi chia làm năm giai đoạn tương ứng với sự hình thành tinh trùng (giai đoạn sinh sản, giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn thành thục, giai đoạn biến thái, giai đoạn phát dục) và mô tả như sau:
Giai đoạn I (GĐ2): tinh hoàn ở tháng sáu, tháng bảy (Hình 3.10; Phụ lục 5),
quan sát trên tiêu bản cho thấy, tinh nguyên bào chiếm đa số nằm sát vào thành ống sinh tinh Tinh nguyên bào xuất hiện không lâu trước khi con đực thành thục về giới tính, đây là những tế bào lớn hình tròn, có nhiễm sắc thể phân tán điển hình Lớp
Trang 38tinh nguyên bào (2n) phân chia không ngừng theo lối phân bào nguyên nhiễm Giữa
các tinh nguyên bào là những tế bào Sertoli
Giai đoạn II (GĐ2): Tinh hoàn trong tháng tám, tháng chín và tháng mười (Hình
3.11; Phụ lục 5); trên tiêu bản ta có thể thấy rõ màng bao ống, các tế bào tạo tinh như
tinh nguyên bào, tiền tinh trùng (tinh tử), tinh bào bậc 1, không thấy rõ tinh bào bậc 2
do kích thước rất nhỏ Tinh nguyên bào tăng lên về kích thước và chịu nhiều thay đổi
về cấu tạo bên trong, đến giai đoạn cuối sinh trưởng thì được gọi là tinh bào bậc 1 (2n) sau đó hình thành tinh bào bậc hai Tất cả các dạng tinh bào và tinh tử đều quan sát được nhưng trong ống sinh tinh vẫn còn phân bố nhiều tinh nguyên bào
Giai đoạn III (GĐ3): Tinh hoàn ở tháng mười một và tháng mười hai (Hình
3.12; Phụ lục 5), quan sát tiêu bản thấy ống sinh tinh chứa nhiều tinh bào bậc I, tiền
tinh trùng (tinh tử) Ở giai đoạn này, tinh tử hay còn gọi là tiền tinh trùng chiếm đa
số ở phần trung tâm lòng ống sinh tinh
Giai đoạn IV (GĐ4): Tinh hoàn tháng một, tháng hai và tháng ba; (Hình 3.13;
Phụ lục 5) ở giai đoạn này tiền tinh trùng (tinh tử) phải trải qua giai đoạn biến thái
Giai đoạn này có thể tóm tắt như sau: Nhân tế bào thu nhỏ lại và biến thành đầu tinh trùng, phần lớn tế bào chất dồn về một phía tạo thành phần cổ tinh trùng Một số thể Golgi tập trung ở đầu mút trước của tiền tinh trùng tạo thành Acrosom, Acrosom có màng bọc và xoang Các ty thể chuyển xuống vùng cổ, phần lớn tế bào chất biến đi
chỉ còn lại một lớp mỏng bao quanh miền ty thể và đuôi Quá trình này diễn ra trên
tế bào dinh dưỡng Sertoli trong lòng ống sinh tinh Cuối giai đoạn này, từ tiền tinh trùng sẽ trở thành tinh trùng non chưa hoạt động, chúng được đẩy vào trong lòng ống sinh tinh và đưa về phía phụ dịch hoàn (mào tinh hoàn) một cách thụ động nhờ
áp lực gây ra bởi sự sản sinh liên lục tế bào mới, nhờ tinh dịch trong ống sinh tinh
và nhờ sự chuyển động nhu động của cơ trơn thành ống
Giai đoạn V (GĐ5): Tinh hoàn ở tháng tư và tháng năm (Hình 3.14; Phụ lục
5), ở giai đoạn này quan sát trên tiêu bản ở phần phụ dịch hoàn (mào tinh hoàn) kết
quả thấy được tinh trùng non tiếp tục phát dục và thành thục, trở thành tinh trùng thành thục hoàn toàn hay còn gọi là giao tử đực (n) Chúng được chia thành hai loại: loại mang NST X và loại mang NST Y chuẩn bị cho thời gian giao phối
Trang 39Hình 3.10 Sự tạo tinh ở GĐ1 Hình 3.11 Sự tạo tinh ở GĐ2
Hình 3.12 Sự tạo tinh ở GĐ 3 Hình 3.13 Sự tạo tinh ở GĐ 4
Hình 3.14 Sự tạo tinh ở GĐ 5
Trang 403.2.3 Thằn lằn bóng đuôi dài Eutropis longicaudatus (Hallowell,1856)
3.2.3.1 Đặc điểm kích thước và khối lượng tinh hoàn
Tiến hành phân tích 37 cá thể Eutropis longicaudatus đực thu thập từ tháng
7/2016 đến tháng 8/2017 Do số lượng mẫu thu được ít nên trong quá trình nghiên cứu đặc điểm sinh sản, chúng tôi nhập số liệu hai tháng, thu được kết quả như sau:
Bảng 3.2 Thể tích và kích thước trung bình của tinh hoàn
qua 12 tháng của Eutropis longicaudatus
SD
Thể tích V(mm 3 ) ± SD
Chiều dài L(mm) ±
Qua nghiên cứu nhận thấy, sự biến đổi kích thước và thể tích tinh hoàn của E
longicaudata qua các tháng nghiên cứu trong năm tương tự như E.multifasciata, cụ
thể như sau: tinh hoàn trái dài rộng hơn tinh hoàn phải, thể tích tinh hoàn trái lớn